Thứ Tư, 6 tháng 3, 2024

PHÒNG CHỐNG LỐI SỐNG ÍCH KỶ, THỰC DỤNG TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 Các tổ chức Đảng cần làm tốt công tác giám sát, kiểm tra, tuyên truyền, giáo dục, quản lý đảng

viên; thực hiện tốt quy chế lãnh đạo các mặt trọng yếu, không để cá nhân lạm dụng hoặc lộng

quyền trong thực thi công vụ; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế về xây dựng, chỉnh

đốn Đảng, quản lý kinh tế – xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kịp thời khắc phục

những bất cập, bịt kín những khoảng trống;kẽ hở; để không thể tham nhũng, tiêu cực; từngbước xây dựng cơ chế để không dám và không cần tham nhũng. Bên cạnh đó, rất cần mỗi đảng

viên có đủ bản lĩnh, dũng khí đấu tranh, thẳng thắn phê bình, góp ý cho đồng chí mình sửa chữa,

khắc phục. Tự phê bình và phê bình đòi hỏi mỗi người phải có tinh thần tự giác, trách nhiệm rất

cao với tình thương yêu đồng chí thật sự và phải có dũng khí đấu tranh thẳng thắn, chân tình.

Như vậy mới đạt kết quả vững chắc thực sự.

Quan tâm xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; thực hiện nghiêm túc quy

định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh cải cách hành chính trong tổ chức

Đảng, chính quyền; rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các quy định, nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ

cán bộ, đảng viên; làm tốt việc đấu tranh phê bình và tự phê bình. Đồng thời, tăng cường công

tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả kiểm tra, giám sát; đề cao trách nhiệm người cán bộ

chủ trì; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân

dân; kiên quyết thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản hằng năm của cán bộ, đảng viên, nhất là

trước khi bầu cử, bổ nhiệm, điều động cán bộ; công khai, minh bạch tài sản của cán bộ theo đúng

quy định. Tiến hành số hóa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ); hạn chế giao dịch bằng

tiền mặt, tăng cường các biện pháp quản lý tài sản công.

 Chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng trong cán bộ, đảng viên phải luôn gắn chặt

với đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Để Đảng ta

đủ “tâm”, đủ “tầm” và đủ “tín” lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội

nhập quốc tế. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không phải là việc gì lý thuyết, cao siêu mà là những

công việc, nhiệm vụ rất cụ thể để mỗi tổ chức Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, có những

đảng viên gương mẫu, tiên phong. Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xóa bỏ thói hư tật xấu hay xử lý

kỷ luật, truy tố cán bộ, đảng viên vi phạm là công việc thường xuyên, cần phải làm như là quét

nhà, rửa mặt hằng ngày. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định “Đảng ta là Đảng của

Bác Hồ, không có mục đích nào khác là vì nước vì dân”.

LỐI SỐNG ÍCH KỶ, THỰC DỤNG

 Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, bệnh ích kỷ được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là một trong

12 bệnh mà nếu mắc phải sẽ làm hỏng việc. Bác coi bệnh ích kỷ cũng như bệnh chủ quan, bệnh

hẹp hòi là kẻ địch của tổ chức Đảng và nhân dân. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhiều

lần nhắc nhở “danh dự mới là điều thiêng liêng cao quý nhất”. Người biết trọng danh dự, liêm sỉ

luôn đối nghịch với người có lối sống thực dụng, ích kỷ. Người đảng viên cộng sản chân chính

luôn gìn giữ thanh danh, phẩm giá trước mọi cám dỗ vật chất, tiền bạc, không có gì có thể đánh

đổi, mua chuộc được họ.

Đấu tranh với những người thực dụng, ích kỷ vô cùng khó khăn, phức tạp vì ranh giới giữa người

công minh, chính trực vì lợi chung của Đảng, của dân tộc với người có bản tính ích kỷ, hẹp hòi

rất gần nhau. Đôi lúc khó nhận biết, khó phân biệt bởi những chiêu trò tinh vi, xảo trá lồng luồn,

đan xen lẫn nhau. Người có thói ích kỷ, thực dụng thường không coi trọng thanh danh, phẩm giá

mà thường “yêu của, ghét người”. Các cơ quan, tổ chức mà không nhận biết rõ, sử dụng những

con người này, nhất là vào làm những công việc nhạy cảm, liên quan nhiều đến nhân sự, vật

chất, kinh phí, xăng dầu, đất đai, tài nguyên thì việc người đó lo vun vén cá nhân chỉ là sớm hay

muộn.

Một số cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ cấp cao trong thời gian vừa qua bị kỷ luật, bị truy tố trách

nhiệm hình sự đã để lại những bài học sâu sắc về tinh thần đấu tranh của đảng viên, tổ chức

Đảng. Nhiều người không dám lên tiếng, không dám đấu tranh, thậm chí còn làm ngơ trước

những sai trái của đồng chí, đồng đội. Trong các tổ chức Đảng, có đảng viên vi phạm nếu mỗi

đảng viên phát huy được tinh thần đấu tranh, có dũng khí, dám đương đầu với những biểu hiện

sai trái, lệch lạc bất kể người đó là ai; đấu tranh từ trong trứng nước, từ việc nhỏ, thì sẽ giữ được

cán bộ và giúp người đó không mắc phải những sai phạm lớn, không bị khai trừ ra khỏi Đảng,

không bị “bóc lịch” trong chốn lao tù.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG GỬI THƯ CHÚC MỪNG PHỤ NỮ QUÂN ĐỘI!

     Ngày 6-3, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã gửi Thư chúc mừng Phụ nữ Quân đội nhân dịp kỷ niệm 114 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ, 1984 năm Khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu toàn văn thư của Đại tướng Phan Văn Giang!

Thân ái gửi cán bộ, hội viên Phụ nữ Quân đội

Các đồng chí thân mến!
Nhân dịp kỷ niệm 114 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ (8-3-1910 / 8-3-2024) và 1984 năm Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 2024), thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tôi thân ái gửi tới toàn thể cán bộ, hội viên phụ nữ đã và đang công tác trong Quân đội lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Năm 2023, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, của Tổng cục Chính trị và Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trực tiếp là cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân; được sự quan tâm, giúp đỡ, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội, cán bộ, hội viên Phụ nữ Quân đội đã phát huy bản chất tốt đẹp, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" của Phụ nữ Việt Nam; luôn đoàn kết, sáng tạo, khắc phục khó khăn, tổ chức hiệu quả công tác phụ nữ và phong trào phụ nữ trong Quân đội, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; tích cực tham gia huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nghiên cứu khoa học, giảng dạy, lao động, sản xuất và các mặt công tác khác; tham gia gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, các phong trào, cuộc vận động của các cấp, các ngành, chăm lo xây dựng gia đình hạnh phúc; góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xứng đáng với lời khen tặng của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng: Phụ nữ Quân đội “Yêu nước, đoàn kết, sáng tạo, trung hậu, đảm đang”.

Tôi nhiệt liệt biểu dương, khen ngợi những thành tích, nỗ lực và quyết tâm cao của cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội trong năm qua. Mong rằng, năm 2024 và những năm tiếp theo, các đồng chí tiếp tục phát huy truyền thống và thành tích đã đạt được, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và phong trào thi đua “Phụ nữ Quân đội trí tuệ - bản lĩnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng gia đình hạnh phúc, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”, xây dựng người Phụ nữ Quân đội “Trí tuệ, bản lĩnh, kỷ cương, nhân ái”; tham gia xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, tiêu biểu, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân.

Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và không ngừng tiến bộ.
Chào thân ái và quyết thắng!
Đại tướng Phan Văn Giang./.
Yêu nước ST.

“XÂY ĐỂ CHỐNG” TRONG VĂN HÓA LỄ HỘI

 Lễ hội truyền thống là bộ phận cấu thành của văn hóa quốc gia, chứa đựng trong đó những giá trị

cốt lõi của bản sắc dân tộc. Nó là một lĩnh vực của kiến trúc thượng tầng, được quyết định bởi hạ

tầng cơ sở, trực tiếp là đời sống kinh tế-xã hội của đất nước. Trong bối cảnh đất nước ngày càng

hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, tất yếu đời sống văn hóa nói chung, văn hóa lễ hội

nói riêng sẽ bị ảnh hưởng, chi phối. Quy luật giao thoa, tiếp biến của văn hóa, bên cạnh việc hấp

thu những tinh hoa của văn hóa thế giới, tất yếu sẽ nảy sinh những nhân tố, yếu tố tiêu cực, phản

văn hóa. Những hạn chế, yếu kém, bất cập trong đời sống văn hóa nói chung, văn hóa lễ hội nói

riêng đã được Đảng ta đúc kết, chỉ rõ. Dưới góc nhìn biện chứng, khách quan, những bất cập,

hạn chế, yếu kém trong hoạt động lễ hội là một thách thức tất yếu. Bất cứ quốc gia, vùng lãnh

thổ, dân tộc nào trong môi trường hội nhập quốc tế cũng phải chấp nhận và đương đầu với những

thách thức đó. Bản lĩnh, sứ mệnh, trách nhiệm của Đảng cầm quyền là đề ra chủ trương, quyết

sách đúng đắn để lãnh đạo đất nước, lãnh đạo toàn dân tộc xây dựng được môi trường văn hóa

lành mạnh, tiến bộ; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Đại hội lần thứ XIII và Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 của Đảng đã chỉ rõ: Sự tác động

của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc tế và cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa-tư tưởng

sẽ diễn ra quyết liệt, phức tạp hơn. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số, xã hội

số, văn hóa số… vừa đem lại những cơ hội, vừa tạo ra thách thức mới trong việc xây dựng và

phát triển văn hóa. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta xác định, cần quan tâm hơn nữa đến việc

bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, những giá trị văn hóa vật thể và phi vật

thể của các vùng, miền, của đồng bào các dân tộc, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa của thời

đại. Hệ thống các lễ hội truyền thống của dân tộc là di sản văn hóa quý báu do tổ tiên, cha ông ta

mấy nghìn năm để lại. Chúng ta có trách nhiệm phải giữ gìn, trân trọng và phát huy.

Chấn hưng văn hóa lễ hội là gột rửa, loại bỏ những thứ đi ngược, làm trái với thuần phong mỹ

tục; củng cố, tô đậm hơn những nét đẹp của sắc thái văn hóa vùng, miền, bản sắc văn hóa dân

tộc. Tẩy chay, loại bỏ những tư tưởng thù địch; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên

tạc về văn hóa lễ hội; lật tẩy những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong

quản lý văn hóa để xuyên tạc chính trị, phủ nhận đường lối, chủ trương của Đảng về văn hóa…

cũng chính là giải pháp quan trọng để chấn hưng văn hóa, trong đó có văn hóa lễ hội.

Văn hóa là hệ thống những tri thức rộng lớn, vốn sống phong phú. Không ai có thể tự tin cho

rằng mình hiểu hết các lĩnh vực của văn hóa lễ hội. Lắng nghe những ý kiến phản biện, vì thế, là

một thái độ văn hóa của những người làm văn hóa. Tuy nhiên, làm văn hóa cũng không thể “đẽo

cày giữa đường”. Phản biện văn hóa, trước hết phải bắt đầu bằng một thái độ văn hóa. Lấy cớ

phản biện để bỉ bai, xuyên tạc, hạ thấp giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc, hạ bệ uy tín của

Đảng, Nhà nước… là thái độ thù địch của văn hóa, cần phải đấu tranh thẳng thắn, quyết liệt.

Từ môi trường lễ hội truyền thống, cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ làm văn hóa, quản lý

văn hóa ở các cấp, các địa phương cần nhất quán quan điểm “lấy xây để chống” trong tổ chức,

quản lý, điều hành, quảng bá, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực văn

hóa. Đừng bàng quan, thờ ơ, né tránh, để cho những tư tưởng cực đoan, phản động có cơ hội sinh

sôi, phát triển trong môi trường văn hóa.

LÀM RÕ ÂM MƯU THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI VĂN HÓA LỄ HỘI

 Việc bám vào những hạn chế, bất cập trong môi trường tổ chức lễ hội và văn hóa lễ hội để kích

động, xuyên tạc, quy chụp… mà nhiều đối tượng có tư tưởng thù địch đã và đang thực hiện là

hành vi phản văn hóa. Trên không gian mạng, không ít thành phần bất mãn trong nước và một số

đối tượng lưu vong ở nước ngoài lớn tiếng chỉ trích, xuyên tạc, cho rằng văn hóa Việt Nam đang

đi “thụt lùi”, “suy đồi”, “mạt hạng”… Đơn cử, Lễ hội tịch điền ở Duy Tiên (Hà Nam) là một lễ

hội văn hóa truyền thống thể hiện đặc trưng sắc thái văn hóa nông nghiệp của người Việt ở Đồng

bằng Bắc Bộ. Bám vào hình ảnh “con trâu đi trước, cái cày theo sau” mang tính biểu trưng của lễ

hội, các đối tượng cực đoan và truyền thông mang tư tưởng thù địch ở hải ngoại lại xuyên tạc,

cho rằng người Việt đang “kéo lùi lịch sử”. Họ lập luận rằng, công nghiệp thế giới phát triển như

vũ bão mà Việt Nam vẫn tôn vinh, chung thủy với hình thức sản xuất thô sơ, lạc hậu thì bao giờ

mới khá lên được?

Nêu một dẫn chứng như vậy để thấy rõ hơn âm mưu đằng sau những luận điệu xuyên tạc về văn

hóa dân tộc nói chung, văn hóa lễ hội nói riêng mà các thế lực thù địch đã và đang ra sức thực

hiện. Muốn phản biện, phê phán một vấn đề về văn hóa, phải đứng trên phương diện văn hóa.

Lấy văn hóa làm cái cớ để xuyên tạc chính trị, bỉ bai đường lối, chủ trương của Đảng, bôi đen

bức tranh thượng tầng kiến trúc của đất nước… là cách làm xấu xa, bắt nguồn từ thái độ ti tiện,

phản văn hóa. Chúng ta cần nhận diện thấu đáo để có phương pháp đấu tranh, phản bác kịp thời,

hiệu quả, không để những tư tưởng thù địch làm hoen ố môi trường văn hóa lễ hội truyền thống

của dân tộc.

THẲNG THẮN, KHÁCH QUAN TRONG QUẢN LÝ CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

 Lễ hội truyền thống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống văn hóa tinh thần, nhu cầu tín

ngưỡng của các thế hệ người Việt. Nền văn minh lúa nước, văn hóa làng xã của người Việt tích

tụ từ hàng nghìn năm đã sản sinh, nuôi dưỡng, bảo tồn, phát triển một hệ thống di sản phong phú,

đồ sộ của lễ hội, trải đều khắp đất nước. Theo thống kê của Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch,

hiện Việt Nam có gần 9.000 lễ hội truyền thống, là một trong những quốc gia có số lượng lễ hội

truyền thống nhiều nhất khu vực và châu lục. Lễ hội truyền thống ở nước ta được tổ chức trên

khắp các vùng, miền, tỉnh, thành phố và diễn ra sôi động nhất vào mùa xuân, sau Tết Nguyên

đán. Nhiều lễ hội lớn đã trở thành thương hiệu văn hóa du lịch, thu hút hàng trăm nghìn lượt du

khách, đem về cho địa phương nguồn thu lớn từ các dịch vụ của ngành công nghiệp không

khói…

Chính vì số lượng lễ hội nhiều, hình thức lễ hội phong phú, đa dạng nên công tác tổ chức, quản

lý, quảng bá… ở các địa phương không thể tránh khỏi những yếu kém, bất cập. Hạn chế phổ biến

nhất là sự thương mại hóa trong nhiều phân khúc lễ hội, làm phai nhạt sắc thái phong tục, lợi

dụng tín ngưỡng để “buôn thần bán thánh” trục lợi cá nhân, lợi ích nhóm… Những mặt trái, tiêu

cực của đời sống xã hội trong nền kinh tế thị trường đã len lỏi, phơi bày trong nhiều phân khúc,

thời điểm của văn hóa lễ hội. Những bất cập, tồn tại này đã được Đảng, Nhà nước ta nhận thức

sâu sắc. Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú

Trọng nhấn mạnh: Môi trường văn hóa vẫn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, tham nhũng, tiêu

cực… Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa còn lúng túng, chậm trễ, nhất là trong việc thể

chế hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa… Đặc biệt, trong công tác

lãnh đạo, quản lý, chúng ta chưa nhận thức thật đầy đủ, sâu sắc và toàn diện về đường lối văn

hóa của Đảng, nhất là trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Phương thức lãnh đạo và quản lý văn hóa

chậm được đổi mới, chưa thích ứng kịp thời với sự vận động và phát triển văn hóa trong thời kỳ

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế…

Từ những đánh giá tổng quan ở tầm vĩ mô, soi rọi trong môi trường văn hóa lễ hội, chúng ta thấy

rõ sự thẳng thắn, khách quan, không né tránh hạn chế, khuyết điểm của Đảng trong lãnh đạo, chỉ

đạo công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TIKTIK ĐỐI VỚI THANH THIẾU NIÊN

 TikTok từng đối mặt với nguy cơ bị cấm sử dụng ở nhiều nơi do những tác động tiêu cực của nó

đối với lứa tuổi thanh thiếu niên. Ở Mỹ, có thiếu niên suýt mất mạng khi thực hiện thử thách

uống hàng chục viên thuốc chống dị ứng một lúc. Đầu năm 2021, một bé gái 10 tuổi tại Italy bị

chết não do bắt chước chơi trò Thử thách bất tỉnh; trên TikTok bằng cách quấn thắt lưng quanh

cổ để quay clip…

Thực tế, mạng xã hội nào cũng có hai mặt, tích cực và tiêu cực. TikTok chứa nội dung vô bổ một

phần cũng là lỗi của người dùng và việc quản lý, kiểm soát nội dung phản cảm, độc hại trên nền

tảng này đang là vấn đề nhức nhối. TikTok đang cho thấy nhiều lỗ hổng trong cách thức kiểm

duyệt nội dung dựa trên "Tiêu chuẩn cộng đồng".

TikTok từng vướng phải nhiều cuộc chiến pháp lý liên quan đến phân bổ nội dung cho người

dùng trẻ tuổi. Chỉ một ngày sau khi đạt cột mốc 1 tỉ lượt tải về, TikTok đã chiếm sóng truyền

thông sau khi nhận án phạt kỷ lục 5,7 triệu USD từ Ủy ban Thương mại liên bang Hoa Kỳ (FTC)

vì vi phạm đạo luật bảo vệ thông tin cá nhân trực tuyến của trẻ em.

Ứng dụng đã tự thu thập thông tin của người dùng dưới 13 tuổi, trong khi theo luật thì phải có

phần hướng dẫn để các em nhỏ xin ý kiến cha mẹ trước khi đồng ý để ứng dụng thu thập thông

tin cá nhân của mình.

Trong khi đó, các nhà bảo vệ trẻ em cũng cho rằng thuật toán của TikTok liên quan đến các nguy

cơ về rối loạn ăn uống, ngược đãi bản thân và thậm chí tự tử ở trẻ em.

Trẻ em ngày nay đang được lớn lên trong thời đại của MXH. Nhiều đứa trẻ thậm chí còn học

theo những con người được các nền tảng này tô hồng; một cách thái quá, và điều này có thể sẽ

để lại hậu quả nghiêm trọng lên tâm lý và thể chất của trẻ. . Ứng dụng này cho phép những tài

khoản có lượng người theo dõi dù là nhỏ nhất cũng có thể lan truyền; và trở thành người nổi

tiếng chỉ sau một đêm. TikTok hấp dẫn đến nỗi nhiều bạn trẻ đã chọn hướng đi trở thành

TikToker để phát triển sự nghiệp, kiếm tiền.

Một người dùng TikTok chỉ có thể chọn giữ riêng các video của mình hoặc công khai cho tất cả

những người khác cùng xem. Không có chế độ bạn bè; hay quy định đối tượng được xem. Đây

vừa là cách để ai cũng có thể nổi tiếng trên TikTok, nhưng cũng vừa là lỗ hổng các mối lo về an

toàn, bảo mật thông tin của người dùng, nhất là khi TikTok thu hút một lượng lớn người dùng

nhỏ tuổi.

“MA TRẬN” TRÊN TIKTOK

 TikTok là một trong những nền tảng truyền thông xã hội phát triển nhanh nhất thế giới, với phần

lớn người dùng là giới trẻ.

Là một nền tảng MXH chia sẻ video, ứng dụng cho phép người dùng sáng tạo các đoạn video

ngắn có nội dung như nhảy, hát nhép lại video gốc, các clip nhảy nhót, ẩm thực, vui chơi, chia sẻ

cách chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, dạy kỹ năng... Mọi người có thể đăng video, sử dụng một loạt

các bản nhạc phim và bộ lọc có thể biến đổi khuôn mặt hoặc tạo ra các hiệu ứng hình ảnh hấp

dẫn khác để video thêm cuốn hút.

Người dùng có thể theo dõi các tài khoản khác và tạo nguồn cấp nội dung mới từ những người

sáng tạo mà họ yêu thích nhất. Ngoài ra còn có nguồn cấp dữ liệu; hiển thị một

loạt video ngẫu nhiên từ những người khác. Cơ chế hoạt động này cung cấp cho người dùng một

kho nội dung mới vô tận để xem, đây chính là bản chất gây nghiện cao của TikTok và cũng

chính là điều khiến TikTok trở thành một nền tảng hấp dẫn.

Rất nhiều video bắt đầu từ những thử thách nhảy vô nghĩa, trong giai đoạn đại dịch COVID-19,

một số nội dung trở nên kỳ dị và nhiều trường hợp còn nguy hiểm. Ví dụ một số thử thách và xu

hướng xấu như: giới trẻ phá hoại phòng tắm của trường học, xếp nhiều thùng sữa lên nhau rồi đi

qua, mài răng và ăn ngô được gắn trên máy khoan điện…

Không những vậy, môi trường này cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác, từ bắt nạt trực tuyến, tới

xâm phạm đời tư, đến gây ra chứng trầm cảm cho người dùng.

Một hình thức bắt nạt trên mạng chủ yếu xảy ra ngày càng nhiều trong TikTok là body shaming.

Rất nhiều người dùng TikTok nổi tiếng đã lên tiếng về trải nghiệm cá nhân của họ khi bị ám ảnh

trong phần bình luận của video và đối mặt với vô số bình luận có hại về hình dạng và kích thước

cơ thể của họ. Điều này có thể có những ảnh hưởng sâu rộng đến những người dùng trẻ tuổi vẫn

đang phát triển về tinh thần và thể chất, có khả năng dẫn đến cảm giác vô giá trị và bị sỉ nhục.

Trướcma trận; video trong thế giới TikTok, nếu không được trang bị những kiến thức cần thiết

và các biện pháp sử dụng nền tảng một cách an toàn, trẻ em, thanh thiếu niên rất dễ bị đầu độc

bởi những nội dung xấu và thậm chí trở thành nạn nhân của những thử thách nguy hiểm trên nền

tảng này.

VỊ THẾ CỦA PHỤ NỮ QUÂN ĐỘI

 Ngay từ khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22/12/1944) đã ghi dấu sự

đóng góp tích cực của ba nữ nuôi quân, cùng các chị em khác làm công tác mua sắm vũ khí,

ngụy trang giữ bí mật, vận chuyển lương thảo, vận động nhân dân địa phương tích cực ủng hộ,

góp phần làm nên hai trận thắng vang dội đầu tiên của Quân đội ta là Phay Khắt và Nà Ngần.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, lực lượng Phụ nữ Quân đội ngày càng

phát triển cả về số lượng, chất lượng và hiệu quả hoạt động. Hội viên phụ nữ có mặt trên mọi

lĩnh vực, trên khắp các mặt trận, các chiến trường, trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến

đấu. Các hoạt động của PNQĐ luôn gắn kết chặt chẽ với phong trào thi đua yêu nước do Trung

ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động. Phong trào Phụ nữ 5 tốt “Tất cả để đánh

thắng địch ở Điện Biên Phủ”, “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Ba đảm đang chống

Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội” của PNQĐ đã góp phần cùng toàn quân, toàn dân

thi đua giết giặc lập công, làm nên những chiến thắng vang dội, “chấn động địa cầu”. Tên tuổi

của các nữ đồng chí: Nguyễn Thị Minh Khai, Mạc Thị Bưởi, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Định,

Đinh Thị Vân, Kan Lịch, Trần Thị Lý, Tạ Thị Kiều, La Thị Tám, Đặng Thùy Trâm… đã đi vào

lịch sử giữ nước vẻ vang của dân tộc.

Trong thời kỳ đổi mới, lực lượng Phụ nữ Quân đội có mặt ở hầu hết các lĩnh vực công tác, luôn

phát huy truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, nêu cao tinh thần trách

nhiệm, ý chí tự lực, tự cường, thi đua “Đoàn kết-sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xứng danh

Bộ đội Cụ Hồ”.

HẬU QUẢ CỦA CĂN BỆNH “CHỦ QUAN”

 Đảng ta đánh giá, trong những năm vừa qua, chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận có

bước được nâng lên; nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về lý luận chính trị được ban hành, tổ

chức thực hiện đạt được những kết quả quan trọng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên có bước phát triển

về nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị và năng lực tư duy. Tuy nhiên, nhiệm vụ đấu tranh

chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phòng, chống “tự diễn

biến”, “tự chuyển hóa” vẫn còn bị động, hiệu quả chưa cao. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên

cứu lý luận chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Hệ thống, chương trình đào tạo, bồi

dưỡng lý luận chính trị còn nhiều bất hợp lý. Phương pháp giảng dạy, học tập lý luận chính trị

còn lạc hậu.

Hậu quả hết sức nguy hiểm là: một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên đang có biểu hiện phai

nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xa rời tôn

chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những

nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận

và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ

trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Từ thực trạng đó, Đảng xác định phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập,

nghiên cứu, vận dụng và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình

hình mới.

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CĂN BỆNH “CHỦ QUAN”

 Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăngghen đã viết: “về mặt thực tiễn, những người

cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất..., là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt

lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình

và kết quả chung của phong trào vô sản”. Đây chính là quan niệm kinh điển về tính tiên phong

của người cộng sản. Nó phải được thể hiện ở cả hai phương diện: tư tưởng và hành động.

Trên tinh thần đó, khi nói về khuyết điểm của đảng viên và cán bộ, Bác Hồ nói: khuyết điểm có

nhiều thứ. Trong đó trước hết, rất nguy hiểm là khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ

quan.Theo Người, nguyên nhân của bệnh chủ quan là do: “Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc

lý luận suông”. Vì thế, Người đã khuyên bảo: lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng

cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi.

Nhưng, lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý

luận suông. Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành,

thì khác nào một cái hòm đựng sách. Xem nhiều sách để mà lòe,để làm ra ta đây, thế không phải

là biết lý luận. Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải học lý luận,phải đem lý luận áp dụng vào công

việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông.

XÂY DỰNG PHONG CÁCH, TÁC PHONG CÔNG TÁC CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU, CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 Thứ nhất, phong cách tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo

Lãnh đạo là công việc lớn lao của Đảng, quyết định đến thành bại của cách mạng. Đối với cán

bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu, phải nhận thức được hoạt động lãnh đạo

như việc cầm lái, dẫn đường. Đó là sự hội tụ của trình độ lý luận, trí tuệ, của sự thấu hiểu thực

tiễn, hoàn cảnh của đất nước và cuộc sống, lợi ích của giai cấp, dân tộc và nhân dân. Lãnh đạo

đúng đòi hỏi xử lý các mối quan hệ, nhất là quan hệ giữa chiến lược và sách lược phù hợp với

hoàn cảnh cụ thể, tức là học tập, xây dựng cho mình phong cách tư duy độc lập, tự chủ và sáng

tạo “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Trên mọi vấn đề, phải luôn suy nghĩ, tìm tòi một cách độc lập,

không lệ thuộc vào người khác hay cái có sẵn; không vận dụng một cách giáo điều mà tự mình

tìm tòi, suy nghĩ, truy đến tận cùng bản chất của sự vật, hiện tượng để tìm ra chân lý cách mạng,

phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn của đất nước, đặc điểm thời đại làm định hướng cho

hành động cách mạng.

Học tập phong cách tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong nghiên cứu lý luận cần nắm vững

phép biện chứng duy vật để vận dụng sáng tạo và phát triển vào điều kiện cụ thể của Việt Nam;

tránh giáo điều, bảo thủ, xơ cứng; phải nắm bắt tinh thần, phương pháp khoa học để giải quyết

các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra.

Thứ hai, phong cách lãnh đạo dân chủ, nhưng quyết đoán

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, đảng viên, nhất là người lãnh đạo, người đứng đầu

cần có tác phong làm việc, lãnh đạo dân chủ, quần chúng, tôn trọng quyền bình đẳng của mọi

người, phát huy trí tuệ tập thể. Người coi “Dân chủ là chìa khóa vạn năng” để giải quyết mọi

công việc, nhất là những công việc có liên quan trực tiếp với nhân dân. Theo Người, phải quyết

định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của

dân chúng. Vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta;

phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong;

phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được.

Gắn bó với quần chúng, phát huy vai trò của nhân dân và hướng tới mục đích vì dân, phong cách

lãnh đạo, làm việc dân chủ, quần chúng phải được thể hiện trong nội dung và phong cách lãnh

đạo thực tế của Đảng, của từng cán bộ, đảng viên với nhân dân, chứ không chỉ trong lời nói, bởi:

Dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không

nên. Do vậy, trong công tác lãnh đạo, quản lý cần thực hiện nhất quán các nguyên tắc: Việc gì

cũng phải học hỏi và bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân, tin vào nhân dân. Đưa mọi

vấn đề cho nhân dân thảo luận và dựa vào ý kiến của nhân dân để tìm cách giải quyết, sửa chữa

cán bộ và tổ chức của ta.

Chú ý thực hiện và phát huy dân chủ trong nội bộ Đảng cũng như đối với quần chúng, phát huy

tinh thần làm chủ của mỗi người. Đối với cán bộ, đảng viên ở cương vị lãnh đạo, đòi hỏi phải có


phong cách lãnh đạo dân chủ thực sự chứ không phải giả tạo, hình thức. Bởi vì, mọi sự giả tạo

đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể; mọi thói hình thức chủ nghĩa sớm muộn sẽ làm xói

mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ. Thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải chú trọng

bàn bạc, học hỏi quần chúng, nhưng tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Vì, trong dân

chúng có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Đối với người lãnh

đạo, nhất là người giữ trọng trách trước Đảng, trước dân, phải có bản lĩnh cách mạng, trong

những công việc và những thời điểm nhất định, người lãnh đạo phải có tính quyết đoán, dám

làm, dám chịu trách nhiệm. Cán bộ lãnh đạo phải nhận định đúng thời cơ và biết chớp thời cơ

hành động. Kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách với vai trò, trách

nhiệm của người đứng đầu, khắc phục tình trạng dựa dẫm, ỷ vào tập thể hoặc trốn tránh trách

nhiệm làm suy yếu bộ máy lãnh đạo.

Thứ ba, phong cách lãnh đạo sâu sát

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu làm việc phải có mục đích rõ ràng, tập trung; nghiên cứu tỉ mỉ, kỹ

lưỡng để xây dựng chương trình, kế hoạch làm việc sát hợp, tiết kiệm, hiệu quả. Muốn công việc

đạt được hiệu quả, người cán bộ lãnh đạo làm việc phải đi sâu, đi sát, nắm việc, nắm người, nắm

tình hình cụ thể, (khó khăn, thuận lợi) để chỉ đạo kịp thời. Người lãnh đạo, nhất là người đứng

đầu phải biết sử dụng bộ máy, sử dụng những người cộng sự, những cơ quan giúp việc để nắm

được những thông tin cần thiết, chính xác; sàng lọc những thông tin sai lệch, những báo cáo dối

trá, những phản ánh lựa chiều thiếu trung thực. Do đó, phải xem xét, đối chiếu, so sánh những ý

kiến khác nhau để lựa chọn ý kiến đúng, không nhầm lẫn đúng với sai. Kết hợp việc điều tra,

nghiên cứu để tham mưu của bộ máy giúp việc và sự đánh giá, đối chiếu của người lãnh đạo;

người lãnh đạo phải tỉnh táo, khách quan để đề ra yêu cầu với bộ máy giúp việc và chính bản

thân mình. Làm việc sâu sát là phải dựa vào kết quả điều tra, nghiên cứu chính xác, phải nắm

chắc, phải “hiểu thấu” mới có thể đi đến quyết định đúng đắn. Muốn lãnh đạo đúng, trước hết

phải quyết định mọi vấn đề một cách đúng đắn. Nếu đưa ra quyết định sai, cấp dưới và quần

chúng càng tích cực thực hiện thì hậu quả càng lớn, tổn thất càng nhiều. Phải chân đi, mắt thấy,

tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ, cần phải lãnh đạo toàn diện và cụ thể, phải cẩn thận mà

nhanh nhẹn, kịp thời, làm đến nơi đến chốn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán “bệnh hữu danh

vô thực”; “Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm

cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng

xét kỹ lại thì rỗng tuếch... Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không thiết thực,

báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm”(4).

Thứ tư, khéo dùng người, trọng dụng người tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Dụng nhân như dụng mộc”, người nào dùng vào việc ấy. Người

đặc biệt quý trọng và chú trọng sử dụng người tài, vì đây là tầng lớp tinh hoa của đất nước,

những “người tài đức, những người có thể làm được những việc ích nước, lợi dân”. Chủ tịch Hồ

Chí Minh yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải biết tôn trọng và trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm

“thui chột” nhân tài; phải biết chăm lo phát hiện nhân tài, phải biết đào tạo, bồi dưỡng nhân tài

và phải biết sử dụng nhân tài một cách hợp lý. Việc trọng dụng nhân tài phải làm thường xuyên,

liên tục, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ,

trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta. Trọng dụng nhân tài phải biết tùy

tài mà dùng người: phân công đúng người, đúng việc, vị trí việc làm phù hợp với năng lực và sở

trường của họ; và phải cho họ hiểu rõ mọi mặt các công việc họ phải phụ trách. Dùng người tài

mà không đúng, công việc sẽ không chạy, không được việc, làm thui chột nhân tài và có hại cho

Đảng. Muốn sử dụng người tài phải quý trọng nhân cách của họ.

Thứ năm, phong cách lãnh đạo khoa học, năng động, sáng tạo


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm tự xây dựng cho mình một phong cách làm việc khoa học. Để

chiếm lĩnh được “lâu đài” khoa học, chiến thắng sự dốt nát, chỉ có con đường duy nhất là không

ngừng học tập, nâng cao trình độ mọi mặt của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần căn

dặn cán bộ, đảng viên hãy nhớ lời dạy của V. I. Lê-nin: Học, học nữa, học mãi. Đối với Chủ tịch

Hồ Chí Minh, học trong nhà trường chỉ là khởi điểm, hữu hạn, mà học trong trường đời đấu

tranh cách mạng của nhân dân mới là vô hạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa hoạt động thực tiễn,

vừa tự học, vừa tổng kết kinh nghiệm để từng bước chiếm được đỉnh cao của trí tuệ, của văn

minh.

Muốn xây dựng được phong cách làm việc khoa học, cần khắc phục triệt để lối tư duy chủ quan,

duy ý chí, áp đặt khi đề ra đường lối, chính sách và cả những chủ trương, biện pháp cụ thể. Phải

nắm vững lý luận, những quy luật khách quan, nâng cao năng lực vận dụng sáng tạo quy luật vào

thực tiễn của đất nước, của từng địa phương, từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động. Phải nắm bắt

thực tiễn vốn rất phong phú, sinh động, am hiểu thực tiễn một cách cặn kẽ, thì mới có thể vận

dụng thành công lý luận vào thực tiễn đời sống và công việc.

Phong cách khoa học còn thể hiện rõ ở việc quý trọng thời gian, sử dụng thời gian một cách hợp

lý và có hiệu quả nhất. Phải biết sắp xếp công việc hằng ngày đến từng buổi, từng giờ, theo kế

hoạch, chương trình công tác đặt ra. Phương pháp lãnh đạo khoa học là phải phản ánh đúng quy

luật vận động khách quan, gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành, tránh giáo điều, sáo

rỗng, lý luận suông, nói một đằng, làm một nẻo. Cần rèn luyện, nâng cao năng lực tư duy chiến

lược, có tầm nhìn xa, năng lực dự báo, từ nắm vững những vấn đề tổng thể, vĩ mô để xử lý đúng

những mục tiêu và giải pháp cụ thể.

Khoa học là khách quan, do đó phương pháp lãnh đạo khoa học là không được nôn nóng, chủ

quan, duy ý chí; phải linh hoạt, sáng tạo, trên cơ sở thường xuyên nghiên cứu, cập nhật tình hình

cụ thể để có sự lãnh đạo sâu sát, kịp thời. Trên cơ sở lý luận, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn,

đồng thời tổng kết thực tiễn, kịp thời rút kinh nghiệm, để khái quát phát triển lý luận, soi rọi

phục vụ thực tiễn. Phải bỏ lối làm việc theo kiểu “tư duy nhiệm kỳ”, chỉ tập trung giải quyết

những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; lối làm việc này không chỉ cần được phê

phán mạnh mẽ mà còn phải bị loại bỏ khỏi hoạt động lãnh đạo, quản lý.

Thứ sáu, phong cách nêu gương

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và

đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(5). Nêu

gương phải bằng hành động, việc làm, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, Chủ tịch Hồ Chí

Minh nói: Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ

yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân,

mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước.

YÊU CẦU ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 Để đảm đương, hoàn thành được vai trò, vị trí vừa là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân,

vừa là người lãnh đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính

sách, pháp luật của Nhà nước, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải học tập, rèn luyện

tu dưỡng để trở thành người có đức, có tài, trong đó “đạo đức là gốc”. Người nói: Người cách

mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân

dân, vì cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, sự nghiệp cách mạng muốn hoàn thành thắng lợi,

thì phải được nhân dân ủng hộ, tham gia. Người cán bộ, đảng viên muốn cho dân tin, dân phục,

dân ủng hộ, thì phải thấm nhuần đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, không

phải cứ “viết lên trán chữ “cộng sản” mà được nhân dân yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến

những người có tư cách, đạo đức”. Người lãnh đạo phải hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ

của dân; hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân...; phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin,

phải làm gương cho dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “bất kỳ việc to việc nhỏ, hễ thêm điều lợi,

trừ điều hại cho quần chúng, giúp quần chúng giải quyết vấn đề khó khăn, tăng kết quả của việc

làm, tăng sức sản suất của xã hội, đánh đổ sức áp bức của quân thù, đó đều là sáng kiến”; Chủ

tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, mỗi người cán bộ, đảng viên khi đã dấn thân vào con đường cách

mạng, thì phải một lòng vì nước, vì dân, xứng đáng là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật

trung thành của nhân dân; phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện học hỏi để trở thành người cán

bộ vừa Hồng, vừa Chuyên.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm tiên liệu những vấn đề tiêu cực

sẽ nảy sinh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, như xa rời quần chúng, thoái hóa, biến chất; các

phần tử cơ hội sẽ không từ một thủ đoạn nào để chui vào Đảng mưu đặc quyền đặc lợi. Đó là

nguyên nhân làm cho Đảng đông mà không mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo, quyền lãnh

đạo của Đảng sẽ không còn được thừa nhận khi: Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày

hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai, vẫn được mọi

người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân.

Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm

nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật

trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

 Xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn hiện nay, xây dựng phong cách, tác phong công tác

của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

nhằm chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và xã hội, tăng cường

xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là một nhiệm vụ cấp

bách.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của cán bộ với sự nghiệp cách mạng: “Cán bộ là tiền

vốn của Đoàn thể”. Có vốn mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì

thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”; cán bộ là gốc của mọi

công việc; cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động

cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ là người lãnh đạo quần

chúng, đồng thời là “cầu nối” Đảng, Nhà nước với nhân dân. Theo đó, cán bộ là người truyền đạt

và đồng thời tổ chức nhân dân triển khai thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,

pháp luật của Nhà nước; là người nắm bắt và phản hồi thông tin từ phía nhân dân, để Đảng và

Nhà nước có căn cứ hoạch định, điều chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách. Do đó, để hoàn

thành chức trách, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với cán bộ với tư cách “người lãnh đạo”, là “cầu

nối”, thì phải có Đức - Tài. Đó là mối quan hệ biện chứng giữa con người với công việc, giữa lực

lượng lãnh đạo với quần chúng, nhân dân - lực lượng tiến hành cách mạng.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐẢNG DUY NHẤT CẦM QUYỀN, LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM.

Ngày 23/02/2024, trên trang Blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Cải tổ chính trị ở Việt Nam thế nào trong bối cảnh chiến tranh lạnh mới – phần 2”, bài viết kêu gọi Việt nam cần “cải tổ chính trị” theo hướng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Có thể khẳng định, đây là tiếng kêu lạc loài đi ngược lại với ý chí nguyện vọng của Nhân dân và dân tộc Việt Nam.

Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện trọng trách lớn lao đối với đất nước, dân tộc. Đảng đã lãnh đạo dân tộc đứng lên Tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong thế kỷ XX. Hoàn thành trọng trách lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là Đảng duy nhất cầm quyền đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới. Đó là những minh chứng sinh động chỉ rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng có bản lĩnh, có trí tuệ, phấn đấu vì mục tiêu “Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, xứng đáng là Đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền ở Việt Nam.

Sau hơn 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. “Thực tiễn đó đã khẳng định một chân lý, ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Khi nói về chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (tháng 2/1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: “Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản; hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn thể phong trào. Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là một bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”.

Vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng đã được khẳng định như một tất yếu lịch sử, một sự lựa chọn đúng đắn của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là Đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền. Với tinh thần đó, lần đầu tiên trong lịch sử các kỳ đại hội, văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã đưa ra cụm từ Đảng “cầm quyền, lãnh đạo” đối với Nhà nước và xã hội. Do đó, để thực hiện tốt mục tiêu Đại hội hội XIII của Đảng đề ra là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”, từ đó góp phần phát triển quê hương, đất nước ngày càng giàu, đẹp thì mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực sự mẫu mực về phẩm chất và năng lực; đức và tài, phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng; không thể sống khác, làm khác chuẩn mực đạo đức của người cộng sản, đi ngược lại giá trị và lợi ích, sự lựa chọn, niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân./.

.Ankhe.nvc.

HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẠT KẾT QUẢ TO LỚN

 


Chúng ta đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược quan trọng với sự phát triển và an ninh của đất nước, đưa các quan hệ đã xác lập vào thực chất, hiệu quả. Chủ động, tích cực tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học – công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến, khai thác hiệu quả các thỏa thuận đã được ký kết, đặc biệt là các khu vực mậu dịch tự do. Việc thúc đẩy và nâng cao hiệu quả các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế đã góp phần thiết thực cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu được đẩy mạnh tăng cường cả về chiều rộng và chiều sâu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, Châu Á-Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu. Từ một quốc gia hội nhập sau, Việt Nam đã trở thành một quốc gia tích cực tham gia tiến trình hội nhập quốc tế, chủ động đề xuất sáng kiến, thúc đẩy các liên kết. Việt Nam cũng chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng vào trật tự kinh tế, chính trị toàn cầu, trở thành thành viên có trách nhiệm và uy tín trong cộng đồng quốc tế.

Hội nhập quốc tế là một trong những lĩnh vực của công tác đối ngoại được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng và thực chất. Thành công của hội nhập kinh tế tạo nền tảng để hội nhập chính trị. Đến lượt mình, kết quả của hội nhập chính trị sẽ thúc đẩy hội nhập kinh tế và hội nhập các lĩnh vực khác. Hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng – an ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng vừa để phục vụ và hỗ trợ cho các chính sách hội nhập toàn diện của Đảng và Nhà nước ta,vừa để phục vụ cho sự phát triển của các ngành liên quan trong bối cảnh môi trường an ninh – quốc phòng trên thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp. Việt Nam đã từng bước tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh – quân sự trong khu vực và trên toàn cầu. Hội nhập trên lĩnh vực văn hóa – xã hội của nước ta với cộng đồng thế giới đã được đẩy mạnh, đa dạng về hình thức, phương thức, đối tác, đi vào chiều sâu thực chất và có chuyển biến về chất lượng, thu hút bạn bè quốc tế đối với Việt Nam ngày càng nhiều hơn.

CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI GÓP PHẦN TRIỂN KHAI CÓ HIỆU QUẢ NHỮNG QUAN HỆ CƠ BẢN KHÁC

 


Triển khai đồng bộ nhiệm vụ của công tác đối ngoại vì mục tiêu tối thượng là lợi ích quốc gia – dân tộc do Cương lĩnh của Đảng đề ra, trong thời gian qua, chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn. Trong đó, công tác đối ngoại góp phần triển khai có hiệu quả những quan hệ cơ bản khác.

Chúng ta đã chủ động tham gia vào việc liên kết khu vực Đông Á, thúc đẩy việc hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á, hướng Đông Á trở thành một cộng đồng mới, có quan hệ hài hòa với các nước Đông Á. Tích cực tham gia và đóng góp hiệu quả cho việc hình thành Cộng đồng ASEAN, tạo dựng một hình ảnh Việt Nam là thành viên tích cực trong nhận thức của các nước ASEAN và cộng đồng quốc tế. Đẩy mạnh quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ, đưa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ lên Đối tác chiến lược  toàn diện; quan hệ kinh tế phát triển nhanh, quan hệ an ninh, quân sự từng bước được thiết lập; hợp tác khoa học kỹ thuật, giáo dục, y tế không ngừng mở rộng. Đưa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt-Nga đi vào hoạt động thực chất, hiệu quả, cùng có lợi; củng cố chặt chẽ hợp tác quốc phòng, an ninh với Nga, đưa Nga trở thành đối tác kinh tế thương mại quan trọng của Việt Nam; phát triển hiệu quả mối quan hệ hợp tác về dầu khí, khoa học kỹ thuật. Thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng với Nhật Bản và Hàn Quốc bằng những hành động cụ thể, chú trọng đặc biệt vai trò của Nhật Bản và Hàn Quốc trong đầu tư và chuyển giao công nghệ cho Việt Nam. Tăng cường hợp tác với Ấn Độ, đưa quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước đi vào chiều sâu, thúc đẩy hợp tác về quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa… Thúc đẩy hợp tác với EU, chủ động tham gia hợp tác với EU trong khuôn khổ diễn đàn hợp tác Á-Âu, thực hiện vai trò cầu nối giữa EU với ASEAN, thúc đẩy ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU. Tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các định chế đa phương quốc tế như IMF, WB, WTO, Liên hợp quốc và các tổ chức thành viên để nâng cao vị thế quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam.

 

CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI GÓP PHẦN CỦNG CỐ VÀ TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ VỚI CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG

 


Triển khai đồng bộ nhiệm vụ của công tác đối ngoại vì mục tiêu tối thượng là lợi ích quốc gia – dân tộc do Cương lĩnh của Đảng đề ra, trong thời gian qua, chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn. Trong đó, công tác đối ngoại góp phần củng cố và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng.

Quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa Việt Nam và Lào tiếp tục được củng cố và có những bước phát triển, ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thiết thực. Quan hệ Việt Nam và Campuchia được củng cố và tăng cường về nhiều mặt. Quan hệ với Trung Quốc có những bước phát triển, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, thương mại. Trong bối cảnh tình hình Biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, chúng ta đã xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh, kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích của đất nước; đồng thời kiên trì giữ vững môi trường hòa bình và ổn định, kiên trì quan hệ hữu nghị với nhân dân Trung Quốc; kiên trì chủ trương giải quyết những bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc và Luật biển 1982…, kiên trì tôn trọng thỏa thuẫn giữa ASEAN và Trung Quốc về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC), nỗ lực cùng các nước liên quan xây dựng Bộ quy tắc ứng xử (COC) có hiệu lực hơn trong việc quản lý tranh chấp và ngăn ngừa xung đột trên Biển Đông. Những chủ trương và giải pháp của Đảng, Nhà nước ta được nhân dân đồng tình và dư luận quốc tế ủng hộ.

 

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI ĐƯỢC MỞ RỘNG VÀ NGÀY CÀNG ĐI VÀO CHIỀU SÂU

 

Triển khai đồng bộ nhiệm vụ của công tác đối ngoại vì mục tiêu tối thượng là lợi ích quốc gia – dân tộc do Cương lĩnh của Đảng đề ra, trong thời gian qua, chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn. Trong đó, quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu.

 Đã mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị, tiếp tục từng bước đưa quan hệ với các đối tác quan trọng đi vào chiều sâu, ổn định hơn. Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đóng góp ngày càng tích cực, có trách nhiệm vào đời sống chính trị khu vực và thế giới, phát huy vai trò tích cực trong Cộng đồng ASEAN; đã nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên các diễn đàn đa phương. Việt Nam đã góp vai trò quan trọng trong hợp tác ASEAN - Trung Quốc, hợp tác ASEAN - Ấn Độ, ASEAN - Nhật Bản, ASEAN - Hàn Quốc. Thông qua khuôn khổ hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, Việt Nam đóng vai trò cầu nối giữa các đối tác, đưa hoạt động của khuôn khổ hợp tác này đi vào chiều sâu, thực chất.

CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI GÓP PHẦN BẢO ĐẢM MÔI TRƯỜNG HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH

 

 


Triển khai đồng bộ nhiệm vụ của công tác đối ngoại vì mục tiêu tối thượng là lợi ích quốc gia – dân tộc do Cương lĩnh của Đảng đề ra, trong thời gian qua, chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn. Trong đó, công tác đối ngoại đã góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta đã mở rộng quan hệ đối ngoại, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia; phá vỡ thế bao vây, cấm vận thời kỳ đầu khi thực hiện Cương lĩnh; bình thường hóa, thiết lập quan hệ ổn định, lâu dài với các nước; tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ yếu tố thuận lợi của môi trường quốc tế để phát triển; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ tiếp tục được giữ vững.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với việc phối hợp triển khai nhiệm vụ quốc phòng – an ninh, công tác đối ngoại đã tham gia tích cực vào việc giữ vững và xây dựng đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng; kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích của đất nước trên Biển Đông, không để các tranh chấp leo thang thành các xung đột. Thực hiện nhiệm vụ đối ngoại, chúng ta đã đấu tranh kiên quyết trong vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, kịp thời xử lý các khía cạnh đối ngoại phức tạp, góp phần bảo đảm ổn định chính trị – xã hội của đất nước.