Thứ Tư, 6 tháng 3, 2024

Ngăn chặn âm mưu dùng sách, báo xấu độc để chuyển hóa tư tưởng lệch lạc

 Với âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, một trong những phương thức mà các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng là phát hành các sách, báo có nội dung độc hại, xuyên tạc, phản động. Đáng phê phán là một số cá nhân do nhận thức chính trị hạn chế, thiếu hiểu biết và hám lợi đã “nối giáo cho giặc” khi công khai tán phát, mua bán sách, báo xấu độc. Vì thế, việc ngăn chặn sự thẩm lậu, đấu tranh trực diện với sách, báo xấu độc cần nhất là chủ động, thường xuyên, kịp thời, đi vào thực chất.

(Hình minh họa)


ÂM MƯU ĐẦU ĐỘC NHẬN THỨC

Đằng sau một cuốn sách, một bài báo chứa đựng tư tưởng, lý lẽ, tâm tư, tình cảm có tác động đến nhận thức, hành vi của độc giả. Bên cạnh những “bảo thư” soi đường, chỉ lối để con người hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ; rèn luyện, phấn đấu tu thân, tích đức để khẳng định bản thân, cống hiến cho xã hội; cũng không hiếm những “tà thư” đầu độc độc giả đưa đường đến với sự tối tăm, hận thù, bi quan, những hành vi lệch chuẩn, thiếu văn hóa và đạo đức, vi phạm pháp luật...

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU “NHÂN NHÂN QUYỀN CAO HƠN CHỦ QUYỀN”, “QUYỀN CON NGƯỜI LÀ GIAI CẤP”!

         Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được ghi nhận, bảo đảm bằng pháp luật quốc gia và quốc tế. Thực chất, không có quốc gia nào trên thế giới chấp nhận “nhân quyền cao hơn chủ quyền” và trong từng quốc gia luôn có giai cấp đóng vai trò trung tâm. Thế nên, những ai cổ xúy cho quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “quyền con người là phi giai cấp” là hoàn toàn sai trái, cần phải bác bỏ!
Sự phi lý của luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”

Quyền con người (nhân quyền) là tổng hợp các quyền và tự do cơ bản để đánh giá địa vị pháp lý của cá nhân. Quyền con người và pháp luật luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó, quyền con người là vấn đề quan trọng của mọi hệ thống pháp luật; khi thực tiễn lịch sử đã minh chứng quyền con người chỉ có thể ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật.

Quyền con người vốn là vấn đề thuộc lĩnh vực đạo đức, song trong bối cảnh tồn tại giai cấp đối kháng, quyền con người luôn bị một số quốc gia phương Tây chính trị hóa. Lâu nay, các nước phương Tây thường rêu rao cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “quyền lực nhà nước ở một quốc gia không được đàn áp nhân quyền”. Về thực chất, quan điểm này đã đối lập quyền con người với chủ quyền quốc gia. Họ lập luận một cách phi lý rằng, vấn đề quyền con người không thuộc công việc nội bộ của một nước.

Thậm chí, một số nước phương Tây còn quy chụp rằng: “Việc Việt Nam nhấn mạnh chủ quyền quốc gia cao hơn tất cả, trên thực tế là lấy danh nghĩa duy trì chủ quyền quốc gia để duy trì quyền lực thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!).

Việc cho rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là hoàn toàn phi lý. Bởi lẽ, muốn hiện thực hóa được các quyền con người phải có các tiền đề, điều kiện nhất định. Điều kiện tiên quyết là đất nước phải được độc lập, chủ quyền quốc gia phải được tôn trọng theo luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam và nhiều nước trên thế giới trải qua đấu tranh giành độc lập, giữ vững chủ quyền dân tộc đã chứng minh, đất nước bị nô lệ thì người dân không có tự do, các quyền con người sẽ bị chà đạp nghiêm trọng. Do vậy, các dân tộc bị áp bức đã quyết tâm giành và giữ nền độc lập.

Tất yếu, chủ quyền quốc gia không tách khỏi nhân quyền và nhân quyền không thể cao hơn chủ quyền. Cho nên có thể khẳng định: Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là điều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền con người.

Mặt khác, để bảo đảm quyền con người, trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia. Trách nhiệm có tính chất pháp lý này đã được Liên hợp quốc quy định trong các văn kiện nhân quyền quốc tế, chẳng hạn như: Nghị quyết 2625 của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24-10-1970 đã đưa ra Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật Quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, trong đó khẳng định các nguyên tắc, như nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào những vấn đề thuộc thẩm quyền của các quốc gia khác.

Chính Liên hợp quốc cũng nhấn mạnh: “Không quốc gia nào, kể cả Liên hợp quốc, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia”. Xét cho cùng, trong luật pháp quốc tế, quốc gia giữ vị trí quan trọng nhất. Do vậy, “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là một đòi hỏi phi lý.

Trên thế giới đã có nhiều nước lớn nhân danh “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, dẫn đến nhiều hệ lụy như bất ổn chính trị, xáo trộn sự ổn định xã hội, kinh tế không phát triển. Điều đó chỉ nhằm phục vụ lợi ích cho các thế lực cường quyền.

Hơn ai hết, mỗi người dân Việt Nam đều thấu hiểu độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là đòi hỏi hàng đầu trong việc bảo đảm và thực thi quyền con người. Bản chất của Nhà nước Việt Nam là nhà nước vì con người và bảo vệ quyền con người. Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, ngay sau khi giành được độc lập, quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp năm 1946 ghi nhận và sau đó tiếp tục được củng cố, mở rộng trong các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013.

Điều 3 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện cơ bản các cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội”.

Do vậy, quyền con người luôn cần phải được bảo vệ bằng chủ quyền quốc gia. Thực tiễn và cơ sở pháp lý đó không một ai, không một thế lực nào có thể bác bỏ được.

Không có cái gọi là “quyền con người là phi giai cấp” trên thế giới
Hiện nay, có một số nhà khoa học nhân danh “tự do học thuật” đã lớn tiếng rêu rao luận điểm “quyền con người là phi giai cấp” làm cho không ít người mơ hồ về vấn đề này. Thực chất, những người đưa ra luận điểm này cố tình đánh tráo khái niệm, đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xa rời bản chất giai cấp công nhân; phá vỡ sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong nghiên cứu khoa học. Ý đồ sâu xa hơn, các “học giả” đưa ra luận điểm “quyền con người là phi giai cấp” nhằm phủ nhận quan điểm của Đảng ta về quyền con người.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, bản chất quyền con người và thực hiện quyền con người luôn mang tính giai cấp sâu sắc. Bởi lẽ, con người sinh ra vốn đã có đặc quyền, đó là quyền tự nhiên.

Các quyền này tồn tại dưới dạng những nhu cầu, do chính phẩm giá con người quy định. Nhưng để trở thành quyền, những nhu cầu ấy cần phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Song, pháp luật luôn gắn liền với nhà nước, luôn bị chi phối bởi các thể chế chính trị cụ thể. Cho nên, nội dung của pháp luật luôn nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội. Khi pháp luật thừa nhận quyền của giai cấp thống trị cũng đồng thời hạn chế quyền của giai cấp đối lập, không thể có quyền trừu tượng siêu giai cấp, quyền con người phi giai cấp chỉ là ảo tưởng.

Bên cạnh đó, sự tồn tại của giai cấp thống trị luôn gắn liền với sự tồn tại của xã hội. Nhằm bảo vệ địa vị thống trị và do kết quả đấu tranh giai cấp nên bất kỳ giai cấp thống trị nào cũng đều buộc phải thừa nhận những mức độ nhất định về quyền của các giai cấp khác. Sự phát triển của lịch sử nhân loại luôn khẳng định sự kế thừa và phát triển của các giai đoạn lịch sử về sau đối với giai đoạn trước, luôn vận động theo quy luật tiến tới những giá trị tiến bộ, văn minh, nhân đạo, nhân văn. Do vậy, tính giai cấp luôn gắn liền với tính nhân loại của quyền con người.

Trong phạm vi quốc gia, quan điểm giai cấp thể hiện ở các chính sách bảo vệ hệ thống chính trị và chế độ xã hội hiện hữu, bảo vệ lợi ích giai cấp cầm quyền và các giai cấp, tầng lớp xã hội đã đấu tranh bảo vệ xã hội đó. Trên phạm vi quốc tế, tính giai cấp của quyền con người được thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng, tiến bộ với các lực lượng phản động, phản tiến bộ.

Trong thế kỷ 20, tính giai cấp của quyền con người được biểu hiện bằng cuộc đấu tranh giữa hệ thống tư bản chủ nghĩa với hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN). Hiện nay, cuộc đấu tranh này biểu hiện dưới hình thức thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và đấu tranh chống lại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của thế lực phản động đối với các nước đi theo con đường XHCN và độc lập dân tộc.

Trong xã hội Việt Nam, tính giai cấp của quyền con người thống nhất với tính nhân loại, tính phổ cập của quyền con người. Điều đó đã được thể hiện rõ trong các văn kiện pháp lý quan trọng như: Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013, cùng với hơn 13.000 văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã dành hẳn chương II để hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Hiến pháp năm 2013 là dấu mốc quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, vì Hiến pháp đề cập toàn diện các quyền con người và cách thức tổ chức, bộ máy bảo đảm và bảo vệ quyền con người.

Đến nay, Việt Nam đã là thành viên của hầu hết điều ước quốc tế chủ yếu về quyền con người, trong đó có hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966. Theo quy định của Luật Nhân quyền quốc tế, khi điều ước quốc tế có hiệu lực đối với các quốc gia thành viên thì quốc gia phải tận tâm thực hiện điều ước, theo nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện điều ước quốc tế.

Như vậy, ở Việt Nam, quyền con người của tất cả mọi người đều được tôn trọng và bảo đảm, không có sự phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, giới tính. Điều 16 Hiến pháp năm 2013 hiến định: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Thực chất bảo đảm quyền con người ở Việt Nam nằm trong mục tiêu xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định nhất quán phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Cốt lõi của việc thực hiện và bảo đảm quyền con người là trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước luôn "lấy dân làm gốc”.

Trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Xã hội XHCN là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng trong xã hội”.

Như vậy có thể khẳng định rằng, quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là giá trị chung của các dân tộc. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, quyền con người là một phạm trù lịch sử và biến đổi trong lịch sử; là kết tinh của xã hội loài người trên 5 phương diện: Tái sản xuất vật chất, tinh thần, con người, nhu cầu và ý thức.

Suy cho cùng, quyền con người gồm các quyền sống, quyền lao động và quyền tự do. Các quyền này thể hiện 3 phương diện cơ bản nhất của đời sống xã hội của con người: Con người trước hết phải được tồn tại (quyền sống); con người phải được hoạt động (quyền lao động) và con người phải được khẳng định, được phát triển (quyền tự do). Quyền con người gắn với nhà nước và pháp luật, giành lấy quyền con người là mục tiêu cơ bản của cách mạng XHCN.

Ngày nay, quyền con người được xem là thước đo sự tiến bộ và trình độ văn minh của các xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển và bản sắc văn hóa. Đồng thời, quyền con người chứa đựng những giá trị chung toàn nhân loại, nhưng chỉ trong điều kiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; các quyền sống, quyền lao động, quyền mưu cầu hạnh phúc mới bảo đảm cho mỗi người và cho mọi dân tộc.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định bảo đảm quyền con người thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN ở nước ta, là trách nhiệm của hệ thống chính trị. Bảo đảm quyền con người của nhân dân Việt Nam, đồng thời tôn trọng quyền con người của các dân tộc khác nhằm thúc đẩy hòa bình, phát triển ở mỗi quốc gia và trên thế giới thông qua đối thoại, hợp tác quốc tế./.
Yêu nước ST.

Quân đội với cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội

(ĐCSVN) - Sự phát triển của Internet đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, trong đó có xây dựng, củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, qua đó góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh những tiện ích hết sức to lớn do Internet mang lại thì những mặt trái, tiêu cực của nó cũng hàng ngày, hàng giờ tác động không hề nhỏ, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường xã hội của chúng ta bằng vô số những thông tin, hình ảnh có nội dung xấu độc được phát tán lên các trang wesbite, blog, mạng xã hội, trên phần bình luận phản hồi của các báo điện tử… Đặc biệt trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng những hạn chế trong quản lý, điều hành đất nước, cùng các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tăng cường chống phá nền tảng, tư tưởng của Đảng bằng nhiều hình thức, thủ đoạn ngày càng trắng trợn, tinh vi, thâm độc hơn, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Họ rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ có giá trị ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đến nay không còn phù hợp nữa; sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là minh chứng cho sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin… Từ đó, họ ngụy biện rằng chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, với mục đích đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là một luận điểm rất nguy hiểm, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam, sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch cũng không nằm ngoài sự chống phá của chúng đối với cách mạng Việt Nam, nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Để thực hiện mục tiêu đó, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, cương lĩnh của Đảng…, làm cho cán bộ, chiến sĩ và bộ đội từng bước phai nhạt, dẫn đến xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thiếu niềm tin, phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội… Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên internet, mạng xã hội đang là yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi các cơ quan, đơn vị phải quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên (Ảnh tư liệu, nguồn: tapchicongsan.org.vn) Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp cả về tổ chức, lực lượng, nội dung, hình thức, phương tiện để đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội. Trong đó, công tác giáo dục chính trị được đặt lên hàng đầu, góp phần nâng cao nhận, thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quân sự quốc phòng của Đảng; nhiệm vụ của Quân đội, đơn vị. Đồng thời nhận rõ quan điểm sai trái, âm mưu thủ đoạn, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch, luận giải, làm rõ những giá trị bền vững, tính đúng đắn khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu lý tưởng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Các cơ quan, đơn vị tổ chức nhiều hoạt động, thu hút được đông đảo lực lượng tham gia đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực phản động, thù địch. Nhiều trang website, blog của các tổ chức, cá nhân phục vụ tốt cho công tác thông tin, tuyên truyền, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch. Báo chí quân đội đã tích cực mở các chuyên trang, chuyên mục đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với nhiều bài viết sắc sảo, tính chiến đấu cao, có cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết phục, được dư luận, cán bộ, chiến sĩ đồng tình ủng hộ. Quán triệt, thực hiện Chỉ thị 28-CT/TW, ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI “về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng”; Chỉ thị 15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới, Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng, tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 87-CT/TW, ngày 08/7/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, các cơ quan, đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc với nhiều cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả. Các cơ quan thông tấn, báo chí mở nhiều chuyên mục về nội dung này, với nhiều bài viết chuyên sâu về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt chuyên mục mỗi ngày một lời Bác Hồ dạy đã góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc cho quân đội và xã hội. Công tác thông tin, truyền thông, văn hóa, văn nghệ có nhiều đổi mới giữ vững định hướng bám sát và phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của đất nước, Quân đội đáp ứng ngày càng tốt hơn đời sống văn hóa, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Qua đó, bồi đắp lý tưởng cách mạng, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; ngăn chặn, hạn chế sự tác động của quan điểm sai trái, thông tin xấu độc đến cán bộ, chiến sĩ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Thời gian tới, các thế lực phản động, thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước tiếp tục triệt để tận dụng mạng Internet, mạng xã hội, để tán phát tài liệu chống phá quyết liệt nền tảng tư tưởng, đường lối, cương lĩnh, nhân sự của Đảng; nói xấu lãnh tụ, cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội; thổi phồng những hạn chế trong quản lý, phát triển kinh tế xã hội, phòng chống tham nhũng; lợi dụng những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong một số cơ quan, đơn vị để công kích Đảng, nói xấu chế độ. Qua đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” nhằm từng bước chuyển hóa bản chất cách mạng của Quân đội ta. Do vậy, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên Internet, mạng xã hội; cấp ủy, chỉ huy các cơ quan đơn vị cần quán triệt, triển khai thực hiện tốt một số vấn đề sau: Một là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về tinh thần chủ động đấu tranh phòng chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên Internet, mạng xã hội cho cán bộ, chiến sĩ. Mục tiêu của công tác tuyên truyền, giáo dục trong thời gian tới là làm cho cán bộ, đảng viên và bộ đội nhận thức sâu sắc những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Muốn vậy, phải tập trung nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng, niềm tin sắt đá vào độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiến thức và bản lĩnh chính trị vững vàng để có sức đề kháng tốt trước các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Tuyên truyền, trang bị cho cán bộ, đảng viên và bộ đội những kỹ năng cơ bản trong việc phân biệt các thông tin “thật”, “giả” trên mạng Internet, mạng xã hội không để họ bị chi phối bởi những từ ngữ “hot”, những sự kiện “nóng” đang diễn ra để tránh bị lợi dụng vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; thiết lập các đường dây nóng, trang thông tin tiếp nhận tin báo từ cán bộ, đảng viên và bộ đội về những cá nhân, tập thể, trang, nhóm đăng tải, lan truyền thông tin sai sự thật trên Internet, mạng xã hội; tăng cường công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ trên mạng Internet, mạng xã hội. Cùng với việc nhận rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông thống nhất, đa dạng, rộng rãi có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả, sức lan tỏa. Hai là, phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, lực lượng nòng cốt, vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của kẻ thù Cấp ủy, chỉ huy cơ quan chính trị, cần nắm chắc tình hình tư tưởng, dư luận xã hội của cán bộ, đảng viên và bộ đội trong thực hiện nhiệm vụ cũng như trên môi trường Internet, mạng xã hội; kịp thời định hướng tư tưởng dư luận xã hội, thực hiện tốt quy tắc ứng xử trên mạng xã hội, nhất là những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, bình luận chưa có cơ sở; quản lý chặt chẽ nội bộ, thực hiện tốt quy chế về kỷ luật phát ngôn; giáo dục, nhắc nhở, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Các cấp ủy đảng tiếp tục thực hiên có hiệu quả các giải pháp xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh về chính trị tư tưởng, tổ chức và đạo đức; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến’’, “tự chuyển hóa” trong thực tiễn cuộc sống cũng như trong môi trường mạng xã hội. Cấp ủy cần phát huy tốt sức mạnh đoàn kết cán bộ, đảng viên; thực hiện tốt công tác giám sát và phát huy dân chủ ở cơ sở; đặc biệt là cung cấp kịp thời chính xác đến cán bộ, đảng viên và bộ đội những thông tin chính thống về các sự kiện, sự việc tích cực cũng như tiêu cực trên các lĩnh vực, tránh những trường hợp phân tích, nhận định chưa có cơ sở. Cấp ủy, chỉ huy cơ quan chính trị quan tâm chỉ đạo sơ kết, tổng kết công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị theo định kỳ, đúng quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo 35 nhằm kịp thời rút ra những thuận lợi, khó khăn, kinh nghiệm và định hướng chỉ đạo theo từng giai đoạn cụ thể, đặc biệt là biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân điển hình tiêu biểu, tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ba là, xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên sâu trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Chú trọng xây dựng đội ngũ nòng cốt, chuyên sâu là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, chế độ và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Từ đó cần tập trung tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiêm đấu tranh; cung cấp những thông tin, cập nhật nội dung, phương pháp, trang bị phương tiện, công nghệ để họ đấu tranh trên mạng xã hội. Phát huy tốt vai trò của đội ngũ những nhà khoa học, cán bộ chủ trì, chủ chốt ở các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, cơ quan, đơn vị; đội ngũ phóng viên, biên tập viên các cơ quan thông tấn báo chí, xuất bản, lực lương nòng cốt, tiên phong trong đấu tranh bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng. Chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chặn lọc thông tin, không để các thế lực thù địch lợi dụng internet chống phá. Bốn là, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên Internet, mạng xã hội. Các cơ quan, đơn vị cần chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, nghiên cứu, khai thác, hiệu quả các phần mền kiểm soát, phân loại thông tin trên mạng xã hội. Tiếp tục phát triển các giải pháp công nghệ truyền thông; đầu tư nâng cấp trang, thiết bị kỹ thuật phục vụ lực lượng tham gia đấu tranh trên internet, mạng xã hội; kịp thời bóc gỡ thông tin xấu độc không để cán bộ, chiến sĩ và bộ đội tiếp cận được với thông tin này. Duy trì, tổ chức tốt hội nghị rút kinh nghiệm và tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, làm cơ sở cho các lực lượng, nhất là lực lượng nòng cốt, chuyên sâu nâng cao kỹ năng đấu tranh trên mạng xã hội. Chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương trao đổi thông tin, kinh nghiệm hay, cách làm mới, hiệu quả trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, quyết định sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Hiện nay, trước sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên internet, mạng xã hội và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, phát huy vai trò của quân đội trong đấu tranh bảo vệ nền tảng của Đảng góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo về vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Bảo vệ tổ quốc trên không gian mạng- nhiệm vụ chiến lược, cấp bách hiện nay

Những giải pháp cơ bản bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng Từ vị trí, vai trò, thực trạng và những vấn đề đặt ra cho thấy: để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng đòi hỏi sự nỗ lực, phấn đấu của các cấp, ngành, địa phương, lực lượng, cả hệ thống chính trị và toàn dân với tổng thể các giải pháp thống nhất, đồng bộ. Trong tình hình hiện nay, cần tập trung nắm vững và thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản dưới đây. Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Đây vừa là nguyên tắc, đồng thời cũng là giải pháp quan trọng hàng đầu, quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Vì vậy, thời gian tới, cùng với phát triển, hoàn thiện phương thức, cơ chế lãnh đạo của Đảng, các cấp, ngành, lực lượng, địa phương,... cần nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng và yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ quan trọng này; đồng thời, thường xuyên quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trọng tâm là Nghị quyết số 29-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Nghị quyết số 30-NQ/TW về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, v.v. Trên cơ sở đó, chủ động đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả theo phạm vi, chức năng, nhiệm vụ; chú trọng tận dụng thế mạnh của không gian mạng để tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng tự bảo vệ cho mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân; thực hiện nghiêm quy định trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, chính quyền các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện; đồng thời, phát huy tốt vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là lực lượng nòng cốt, chuyên trách. Cùng với đó, đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, điều hành của Chính phủ, việc tổ chức triển khai thực hiện của các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Tiếp tục xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý đồng bộ về lĩnh vực thông tin, truyền thông và an ninh mạng; có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, răn đe những hành vi, thủ đoạn lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Bổ sung, điều chỉnh các quy chế, quy định về bảo vệ, quản lý, sử dụng tài nguyên thông tin, dữ liệu của quốc gia, người dân và doanh nghiệp; các văn bản quy phạm pháp luật về chống thông tin giả, xấu, độc hại; các quy định, chính sách liên quan đến công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối,... phù hợp với truyền thống văn hoá Việt Nam và bối cảnh mới. Đẩy mạnh kiện toàn tổ chức, bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về không gian mạng và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng từ Trung ương đến cơ sở. Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ các hoạt động cung cấp, sử dụng dịch vụ viễn thông, Internet, mạng truyền hình và các dịch vụ mạng xã hội, cũng như các hoạt động xây dựng, phát triển, bảo vệ và khai thác hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu số, cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia. Thường xuyên định hướng hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, nhất là trang thông tin điện tử, báo điện tử theo quy định của pháp luật; đồng thời, phát huy tốt vai trò của các cơ quan báo chí, nhất là báo điện tử trong tuyên truyền, cung cấp thông tin chính thống đến cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, được dư luận quan tâm. Kịp thời bổ sung, hoàn thiện và thực hiện tốt cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin và quy trình phối hợp giữa các ban, bộ, ngành, địa phương; giữa các cơ quan, tổ chức và người dân; giữa Việt Nam với các nước trong xử lý các tình huống trên không gian mạng. Thực hiện tốt Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Xây dựng môi trường mạng trung thực, văn minh, an toàn, lành mạnh, tạo lập niềm tin số, xã hội số, công dân số. Đẩy mạnh đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của các cấp, các ngành; làm tốt công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, nhất là sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, nhằm không ngừng bổ sung, phát triển lý luận trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Ký kết kế hoạch phối hợp thực hiện công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng giữa Văn phòng Quốc hội và Bộ Tư lệnh 86. Ảnh: daibieunhandan.vn Hai là, đẩy mạnh phát triển không gian mạng quốc gia an toàn, lành mạnh, rộng khắp gắn với nâng cao năng lực phòng, chống tấn công mạng, tội phạm mạng. Đây là giải pháp rất quan trọng, trực tiếp góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, nội dung bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Bởi vì, xây dựng cũng là cách tốt nhất để bảo vệ; ngược lại, bảo vệ cũng góp phần xây dựng, phát triển không gian mạng an toàn, lành mạnh, rộng khắp, phục vụ đắc lực cho sự phát triển của đất nước. Thực hiện giải pháp này, thời gian tới, Chính phủ cần tập trung đầu tư phát triển hạ tầng không gian mạng quốc gia hiện đại, đồng bộ, kết nối thông suốt từ Trung ương đến địa phương; giữa các cấp, các ngành, các tổ chức, người dân, doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước, tạo động lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và tăng cường quốc phòng, an ninh. Ưu tiên phát triển hệ thống thông tin phục vụ cho hạ tầng thiết yếu, quan trọng của quốc gia. Tiếp tục phát triển siêu xa lộ thông tin trong nước và kết nối băng thông rộng quốc tế gắn với bảo đảm an toàn thông tin. Đẩy mạnh xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia toàn diện; xây dựng và thực hiện tốt cơ chế cung cấp, chia sẻ, khai thác thông tin gắn với nhu cầu sử dụng, xác thực, bảo mật thông tin; phát triển hạ tầng chứng thực số và mật mã quốc gia đáp ứng yêu cầu bảo vệ an toàn thông tin cho hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Có chính sách động viên, khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư phát triển công nghệ mạng, mở rộng thị trường dịch vụ viễn thông, Internet cả ở trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó, tiếp tục nâng cao năng lực phòng, chống chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng, gián điệp mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao. Muốn vậy, cần nâng cao hiệu quả ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho phát triển, làm chủ, quản lý, bảo vệ không gian mạng quốc gia. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, nhất là Quân đội, Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, cơ quan Tuyên giáo và các lực lượng khác trong xác lập, quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; đồng thời, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Có cơ chế kiểm soát hữu hiệu đối với một số trang mạng xã hội dựa trên nền tảng xuyên biên giới, như: Facebook, YouTube, TikTok,… để ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin xấu độc, vi phạm pháp luật Việt Nam. Xây dựng và tổ chức luyện tập thuần thục các phương án điều phối, xử lý sự cố mất an toàn thông tin mạng theo phân cấp, bảo đảm thông suốt, hiệu quả, đúng chức năng, thẩm quyền. Đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng, an ninh đồng bộ, hiện đại, độc lập và có khả năng kết nối linh hoạt với hạ tầng thông tin quốc gia. Tăng cường ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, số hóa, thông minh hóa, hiện đại hóa trang thiết bị nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính quân sự, an ninh, tự động hóa chỉ huy, góp phần hiện đại hóa lực lượng vũ trang, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hoạt động cài cắm gián điệp, tấn công mạng, xâm phạm an ninh quốc gia. Nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình; kết hợp phòng thủ tích cực, vững chắc với tiến công đáp trả kịp thời các hoạt động chống phá, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng và các loại hình chiến tranh, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Ba là, xây dựng và phát huy tốt vai trò của lực lượng chuyên trách trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”1. Trong khi đó, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là nhiệm vụ mới, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi không chỉ có trang thiết bị hiện đại mà cần có con người với chất lượng toàn diện để hình thành lực lượng nòng cốt, chuyên trách. Hiện nay, thực hiện chủ trương của Đảng, lực lượng chuyên trách được bố trí chủ yếu ở Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, ngoài ra còn có lực lượng đảm bảo an toàn thông tin, an ninh mạng thuộc các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương và các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có năng lực về công nghệ thông tin, an ninh mạng. Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng, thời gian tới, lực lượng chuyên trách ở các cơ quan, địa phương, đơn vị cần chủ động liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau trong hoạt động tác chiến, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công, phân nhiệm rõ ràng. Theo đó, Quân đội, mà nòng cốt là lực lượng tác chiến không gian mạng, bao gồm lực lượng tác chiến không gian mạng cấp chiến lược, chiến dịch; lực lượng công nghệ thông tin các đơn vị, doanh nghiệp Quân đội có vai trò quan trọng hàng đầu trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, lực lượng này cần được xây dựng tiến thẳng lên hiện đại với sự đồng bộ cả về con người, vũ khí, trang bị và phương thức tác chiến không gian mạng phù hợp với nền nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong quá trình thực hiện, cần bám sát phương châm: “Trinh sát kịp thời, ngăn chặn hiệu quả, phòng thủ vững chắc”, bảo vệ tuyệt đối an toàn hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng và hệ thống thông tin quan trọng của quốc gia. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn và phối hợp xử lý các lỗ hổng bảo mật, phần mềm gián điệp, mã độc, các hoạt động tấn công mạng. Tiếp tục nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng, Nhà nước xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về lĩnh vực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông và các bộ, ngành liên quan, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các nguy cơ, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng nếu xảy ra. Bộ Công an, trực tiếp là lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ an ninh mạng quốc gia, phòng, chống tội phạm. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, lực lượng này cần được tiếp tục đầu tư phương tiện kỹ thuật hiện đại; tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ, phẩm chất, năng lực cho cán bộ, chiến sĩ. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các lực lượng liên quan nắm chắc tình hình trên không gian mạng, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các nguy cơ, sự cố an ninh mạng, tội phạm mạng, các lỗ hổng bảo mật, phần mềm độc hại; bảo vệ tuyệt đối an toàn hệ thống thông tin quan trọng của quốc gia. Chủ động phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với những tổ chức, cá nhân lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm hại lợi ích của cá nhân, tổ chức. Thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống gián điệp mạng, khủng bố mạng, tội phạm mạng; thường xuyên thiết lập và duy trì có hiệu quả hệ thống đường dây nóng, hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin về tội phạm mạng từ quần chúng nhân dân. Đẩy mạnh xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên không gian mạng phù hợp với thực tiễn chuyển đổi số quốc gia; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm quốc gia để kịp thời phát hiện, điều phối, ứng cứu với các sự cố an ninh mạng, bảo vệ an ninh, an toàn vùng lãnh thổ đặc biệt của Tổ quốc. Các cơ quan thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông cần tiếp tục thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về an toàn thông tin, an ninh mạng, thúc đẩy phát triển không gian mạng quốc gia an toàn, rộng khắp, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ an toàn cho cá nhân, tổ chức trên môi trường mạng; tiếp tục phát triển các phần mềm ứng dụng để tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và phổ biến kiến thức về an toàn thông tin cho người sử dụng; hỗ trợ bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng; hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội, bao gồm: Quy tắc Tôn trọng, tuân thủ pháp luật; Quy tắc Lành mạnh; Quy tắc An toàn, bảo mật thông tin; Quy tắc Trách nhiệm. Tiếp tục phát huy tốt vai trò nòng cốt của Ban chỉ đạo 35 các cấp, cơ quan tuyên giáo, hệ thống báo chí, cơ quan đấu tranh tư tưởng, đồng thời mở rộng các kênh, lực lượng thông tin rộng khắp, làm chủ không gian mạng; xây dựng cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Kết hợp thông tin phản bác của các cơ quan báo chí chính thống với các kênh truyền thông khác, theo phương thức lấy thông tin chủ đạo từ các cơ quan báo chí chính thống làm thông tin nguồn để lan tỏa trên không gian mạng. Giám sát, phản ứng sự cố an toàn thông tin 24/7 của Viettel Security. Ảnh: VGP Bốn là, phát huy sức mạnh của toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng. Đảng ta khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử”2. Với ý nghĩa đó, việc phát huy sức mạnh của toàn dân bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng hiện nay sẽ tạo ra bức tường thành vững chắc để ngăn chặn, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Theo cơ quan chức năng, tính đến tháng 6/2023, Việt Nam có khoảng 78,59% người dân sử dụng Internet; 101,12 triệu thuê bao sử dụng điện thoại thông minh; là một trong những quốc gia có số lượng người sử dụng Facebook, YouTube và TikTok nhiều nhất thế giới3. Đây là thuận lợi lớn để chúng ta tận dụng cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại để phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, nếu không quản lý tốt, mức độ “sát thương” do các cuộc tấn công mạng gây ra cũng sẽ rất lớn, bởi vì nhân dân chính là đối tượng chủ yếu mà các thế lực thù địch hướng đến để tuyên truyền, chuyển hóa tư tưởng, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân, kích động, gây rối, biểu tình, bạo loạn lật đổ. Để mỗi người dân Việt Nam là một chiến sĩ, mỗi tài khoản của người dân là một phần trong thế trận quốc phòng toàn dân, mỗi nhóm tài khoản là một khu vực phòng thủ, mỗi một bài viết đấu tranh với những quan điểm sai trái là một mũi tiến công trên không gian mạng,… đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp và cơ quan chức năng cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của không gian mạng đối với sự phát triển của cá nhân, cộng đồng, quốc gia - dân tộc; đồng thời, cũng nhận biết rõ những nguy cơ, thách thức hiện hữu từ không gian mạng, nhất là âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, nguy cơ chiến tranh mạng, gián điệp mạng, thủ đoạn hoạt động của tội phạm mạng,... từ đó, giúp mọi người đề cao cảnh giác, có biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, bảo vệ hiệu quả. Cùng với tuyên truyền để toàn dân nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, cần tiếp tục phổ biến sâu rộng về những hành vi bị cấm trong Luật An ninh mạng, nhất là các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước; tổ chức, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; các hành vi tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi. Quan tâm bồi dưỡng kỹ năng nhận diện và biện pháp phòng, chống các âm mưu, thủ đoạn tấn công mạng, lừa đảo trên mạng; kiến thức, kỹ năng phòng tránh, tự vệ và đấu tranh trên không gian mạng, cũng như biện pháp kỹ thuật để khắc phục hậu quả bị tấn công mạng. Đặc biệt, quan tâm xây dựng, củng cố thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên không gian mạng. Đồng thời, chú trọng nhân rộng những mô hình hay, cách làm sáng tạo trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, như mô hình: “Hội nhóm, trang mạng xã hội vì môi trường mạng an toàn, lành mạnh” (ở Đà Nẵng); Cuộc vận động: “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp trên mạng xã hội” (ở Bình Phước, Trung ương Đoàn); hay hoạt động của Lực lượng 47 trong Quân đội,… đã và đang góp phần tích cực bảo vệ không gian mạng quốc gia an toàn, lành mạnh, rộng khắp. Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp, phù hợp với từng đối tượng, như: thông qua sinh hoạt các tổ chức; tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng; nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật; các cuộc thi tìm hiểu về an toàn thông tin, an ninh mạng tại các cơ quan, địa phương, đơn vị, v.v. Năm là, đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, tiến tới chủ động về công nghệ, trang thiết bị và dịch vụ mạng, đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế về an ninh mạng. Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải “lấy con người, trí tuệ con người làm trung tâm, là nhân tố quyết định, đồng thời tranh thủ tối đa những thành tựu khoa học, công nghệ”4. Theo đó, trong thời gian tới, chúng ta cần tập trung đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là kỹ sư hệ thống thông tin, viễn thông, chuyên gia an ninh mạng, v.v. Muốn vậy, cần ưu tiên đầu tư, nâng cấp các cơ sở đào tạo, nghiên cứu về công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ mạng, an toàn thông tin, trí tuệ nhân tạo; có cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút, “giữ chân”, trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực này. Đồng thời, có chính sách ưu đãi đối với lực lượng tác chiến không gian mạng, an ninh mạng và các lực lượng tham gia bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chuyển giao công nghệ, nghiên cứu sản xuất các sản phẩm, công nghệ nền tảng, cốt lõi về viễn thông và công nghệ thông tin, công nghệ mạng. Tăng cường đầu tư, phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, tiến tới tự chủ trong bảo đảm trang bị các hệ thống tự động hóa chỉ huy và điều khiển vũ khí, tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử trong lực lượng vũ trang. Ưu tiên phát triển và sử dụng các công cụ, dịch vụ trên không gian mạng do Việt Nam sản xuất. Đẩy mạnh thực hiện Chiến lược quốc gia về phát triển trí tuệ nhân tạo, sớm đưa Việt Nam trở thành một “cường quốc mạng”, góp phần gia tăng sức mạnh quốc gia, nâng cao vị thế quốc tế. Cùng với đó, cần tăng cường hợp tác quốc tế về đảm bảo an toàn, an ninh mạng; tích cực tham gia, tiến tới chủ trì các diễn đàn khu vực và quốc tế về không gian mạng, nhằm lan tỏa những quan điểm tích cực của Việt Nam, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, sớm phát hiện và triệt tiêu các nguy cơ, thách thức, nhằm xây dựng không gian mạng quốc gia hòa bình, ổn định, an toàn, rộng khắp, vì người dân, doanh nghiệp và sự phát triển an toàn, bền vững của đất nước; đồng thời, góp phần tích cực kiến tạo môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của khu vực và thế giới, v.v. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả những giải pháp nêu trên sẽ thiết thực góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng trong thời kỳ mới./.

BÓC MẼ CÁI GỌI LÀ GIẢI THƯỞNG DÀNH CHO NGƯỜI ÂM Ỉ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM!

     Chúng ta luôn trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng, bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam!
1. Một “sự kiện” văn học vừa làm xôn xao văn đàn Việt: Viện Hàn lâm Pháp trao giải thưởng văn học Prix Mondial Cino Del Duca cho Dương Thu Hương, một nhà văn Việt Nam nhưng đã rời bỏ Tổ quốc sang sinh sống tại Pháp. “Sự kiện” tạo ra dư luận trái chiều không chỉ trong văn giới mà lan rộng ra xã hội, vì đây là “giải thưởng” của nước Pháp-một quốc gia có nhiều tác gia văn học lại nổi tiếng văn minh. Giá trị “giải thưởng” lại cao (200.000 euro), chỉ sau giải Nobel. Rất nhiều người băn khoăn: Liệu giải có mang màu sắc chính trị? Có kẻ cơ hội còn “tát nước theo mưa” rằng vì “trong nước không có tự do sáng tạo nên những nhà văn tài năng như Dương Thu Hương bị vùi dập”. Lại có người than thở “muốn mở mày mở mặt với thế giới thì nhà văn Việt Nam phải sang phương Tây”... Vậy bản chất của “giải thưởng” này là gì, việc trao giải có công tâm, khách quan, trung thực hay vì một lẽ gì khác?

Là người Việt Nam, chúng ta vui mừng trước những thành tựu của các văn nghệ sĩ Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Đã là người Việt thì ở đâu cũng là đồng bào. Nghĩa “đồng bào” của Việt Nam rất được thế giới chú ý. Dù ở trong nước hay ở ngoài nước, đã là người Việt Nam thì đều coi nhau là người trong một nhà. Thế nên Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới có ngày Giỗ Tổ. Do vậy, người mang dòng máu Việt thành công ở đâu cũng thật đáng quý, đáng tự hào. Dĩ nhiên “năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài”, có người thế này có người thế khác, chắc chỉ có người nào nhạt nghĩa nguồn cội, thờ ơ với lịch sử dân tộc mới đem lòng đố kỵ với thành công của đồng bào mình.

Trên thế giới có rất nhiều giải thưởng văn học, mỗi nơi có một tiêu chí riêng nên tất yếu sẽ có dư luận đồng tình hay phản đối. Đó là chuyện bình thường. Giải thưởng mang tên Prix Mondial Cino Del Duca của Viện Hàn lâm Pháp không phải là một giải thưởng chuyên về văn học mà còn trao cho nhiều người ở nhiều ngành nghề khác nhau, mà theo họ là có “đóng góp”. Là công dân Việt Nam, chúng ta tôn trọng việc làm ấy của họ, theo tiêu chí, quan niệm của họ. Tất nhiên, chúng ta cũng tiếp nhận những thông tin về giải thưởng, chất lượng và đóng góp cho sự tiến bộ, văn minh chung của giải thưởng theo quan niệm của chúng ta. Đó cũng là lẽ thường tình. Bởi một trong những căn cứ để hội nhập, toàn cầu hóa mà triết học văn hóa đề ra là “tôn trọng sự khác biệt”.

Ban tổ chức trao giải cho Dương Thu Hương với căn cứ đó là “một nhà văn lớn mà tác phẩm và nhân cách độc đáo chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chúng ta thấy ngay cách dùng các khái niệm là thiếu chính xác, dễ gây ngộ nhận, dễ đánh lừa người đọc. Dương Thu Hương là nhà văn có thể có năng khiếu viết văn nhưng chưa phải là “nhà văn lớn”. Thế nào là nhà văn lớn? Xin phép không định nghĩa ở đây mà chỉ xin nói những điều được thế giới khẳng định. Dương Thu Hương có thể có nhiều “tác phẩm” nhưng rõ ràng bà ta chưa tương xứng với những nhà văn cùng thời, như: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu...; càng chưa thể so sánh với Nam Cao, Vũ Trọng Phụng... Thế giới, và chính nước Pháp cũng khẳng định, những nhà văn lớn phải là những nhà tư tưởng, thì chỉ có là những Victor Hugo, Balzac... Nói Dương Thu Hương là “nhà văn lớn” thì vô hình trung lại hạ thấp những bậc đại văn hào ấy sao (?). Bà ta có thể có “cá tính” chứ chưa thể là “nhân cách độc đáo”.

Cũng không thể nói tác phẩm của Dương Thu Hương “chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chủ nghĩa nhân văn nào thì cũng hướng con người tới chân-thiện-mỹ. Trong khi đó, một số “tác phẩm” đã công bố của Dương Thu Hương thì không như vậy. Thậm chí với thái độ bất mãn, hằn học, cực đoan, bà ta thể hiện rõ sự khinh bỉ, rẻ rúng, hạ thấp con người. Những cuốn sách (chứ không thể gọi là tác phẩm) như “Bên kia bờ ảo vọng”, “Những thiên đường mù”, "Đỉnh cao chói lọi", “Chốn vắng”... của bà ta chứng minh rất rõ điều đó. Nguy hiểm hơn, những cuốn sách này còn hàm chứa nội dung công kích, hạ bệ, phủ nhận thành tựu cách mạng, thể hiện ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam rất tinh vi, nham hiểm.

Xin nói về trường hợp “Đỉnh cao chói lọi” của Dương Thu Hương. Là người có nghiên cứu về tiểu sử, cuộc đời và trước tác Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi đọc cuốn này, chúng tôi khẳng định đây là cuốn sách xuyên tạc rất ác ý về Bác Hồ. Nhân đây xin cập nhật những đánh giá mới nhất của thế giới về Bác. Cuộc Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh gần đây nhất vào ngày 18-4-2023 tại thủ đô Roma (Italia) có tên “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italia”. Trước đó, ngày 14-5-2022 tại Ấn Độ có Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” (Ho Chi Minh and India) tổ chức ở Kolkata. Trước nữa, tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” (Global Ho Chi Minh) được tổ chức tại thành phố New York (Mỹ). Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp ba luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều khách quan nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người đang được cả nhân loại đón nhận. Thế mà có một người Việt Nam đã đi ngược lại thế giới thì thử hỏi người đó có lương tâm Việt Nam không?

Nhân “sự kiện” về Dương Thu Hương, có người “kêu gọi” cần “cởi trói” cho “tự do sáng tạo” của văn nghệ sĩ. Xin được nói rõ cần hiểu khái niệm “tự do” trong mối quan hệ rộng rãi ở bất kỳ chế độ xã hội nào sẽ đều thấy không có một “tự do tuyệt đối” mà chỉ có tự do trong khuôn khổ pháp luật. Nhà văn cũng là một công dân. Dù nhà văn có tài năng đến đâu, khi sáng tạo tác phẩm cũng chịu sự quy chiếu quyền lợi chung của quốc gia, dân tộc, con người. Không thể có chuyện lấy “quyền” nhà văn đi công kích, phủ nhận, chối bỏ dân tộc mình, đất nước mình. Có người còn kêu gọi “tự do tư tưởng” cho văn nghệ sĩ (!). Mục đích của “tự do tư tưởng” chẳng phải là để tìm ra chân lý sao? Ngày hôm nay thế giới càng khẳng định chân lý chẳng phải là cái gì trừu tượng, xa xôi mà chính là lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Điều này Bác Hồ đã nói 67 năm trước (năm 1956): “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân-tức là phục tùng chân lý”. Hãy viết về nhân dân, vì nhân dân, vì đất nước, dân tộc. Đó là tự do của văn nghệ sĩ. Trên thực tế đã có ai cấm hay ngăn cản văn nghệ sĩ quyền tự do sáng tạo theo chân lý ấy đâu?

2. Hôm nay thế giới đã vượt qua quan niệm nhà văn là “thư ký của thời đại” vì cho rằng thư ký là ghi chép thôi nên nhà văn phải là người góp phần “kiến tạo hiện thực”, tức là phải tạo ra một mô hình thế giới riêng. Mô hình này luôn thoát thai từ đời sống nên là mô hình của đời sống chứ không phải bản thân đời sống. Do vậy, chất lượng tác phẩm phụ thuộc chủ yếu vào chủ thể sáng tạo nhà văn. Gọi tác phẩm là “con đẻ tinh thần” của nhà văn là vì thế. Nhà văn sống với đời sống thế nào thì có tác phẩm như vậy. Cho nên “tự do sáng tạo” là khái niệm chỉ mối quan hệ tác giả với đời sống. Chỉ có “tự do” ngụp lặn xuống tận đáy dòng chảy cuộc đời, phải lam lũ sống cùng đời sống nhân dân, vui cái vui, đau cùng nỗi đau của người lao động mới có “vật liệu” để xây dựng tác phẩm. Lịch sử văn chương thế giới cho thấy chưa có nhà văn lớn nào thành công mà thoát ly thực tế đời sống lao động của nhân dân, tách ra khỏi số phận của đất nước họ.

Đạo lý Việt Nam là “Uống nước nhớ nguồn”, “Chim có tổ người có tông”... Người Việt trân trọng những anh hùng liệt sĩ và bao người con ưu tú đã hy sinh cuộc sống vì hạnh phúc của nhân dân, tương lai của đất nước, nhưng cũng khinh bỉ những kẻ vô ơn bất nghĩa. Chúng ta ghi nhớ công ơn những người đã làm nên chiến thắng năm 1975. Họ đã hy sinh một phần tuổi trẻ, có người hy sinh một phần thân thể, có người mãi mãi ngã xuống để mang lại độc lập tự do cho Tổ quốc, mở ra tương lai rạng rỡ cho dân tộc. Nhưng với riêng Dương Thu Hương, trong một lần trả lời phỏng vấn về ngày Giải phóng miền Nam 30-4-1975, thì ngay cách nói của bà ta đã cho thấy bà sớm đi ngược lại dân tộc mình, nhân dân mình: “Mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc”. Như vậy bà ta đã nhận thức sai từ rất sớm, ngay sau ngày giải phóng miền Nam.

Chúng ta trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Trong số đó có bà Dương Thu Hương. Tất nhiên, chúng ta không chấp nhận việc tung hô, cổ xúy những con người như bà Hương. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

3. Quay trở lại vấn đề trên thì giải thưởng nói chung ở bất kỳ đâu vì luôn đặt ra tiêu chí, mục đích riêng nên tự giới hạn không gian, thời gian. Do vậy có những giải thưởng không thể tồn tại ý nghĩa lâu dài. Chưa nói tới việc giải thưởng bị lạm dụng ý nghĩa. Ví như giải Nobel tầm quốc tế thế mà có thời điểm còn bị điều chỉnh để thiên về mục đích chính trị. Chúng ta nhớ lại Giải Nobel Hòa bình năm 1973 từng được Ủy ban Nobel trao cho đồng chí Lê Đức Thọ và cho cả ông Henry Kissinger, tức họ “đánh đồng” kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, để thế giới hiểu rằng người Mỹ “đem lại hòa bình cho Việt Nam” chứ không hề xâm lược. Sự phi lý này, đã qua nửa thế kỷ mà cho đến hôm nay vẫn còn dư luận bàn tán chế giễu, chê bai. Là bạn của nước Pháp, chúng ta tôn trọng họ, ủng hộ những việc làm của họ vì hòa bình, vì tương lai tốt đẹp của nhân loại. Chúng ta coi việc họ trao giải cho Dương Thu Hương là quyền của họ và họ chịu trách nhiệm trước việc làm ấy. Nhưng chúng ta không coi việc đó là có giá trị đối với dân tộc, đất nước Việt Nam chúng ta./.
Ảnh: Hội thảo quốc tế: Di sản Hồ Chí Minh đối với nhân loại được tổ chức ngày 6-9-2022.
Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CÁC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

         Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới!
Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).

Qua thực tiễn tình hình trong nước, có thể nhận thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng cơ bản vẫn tập trung vào một số nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội. Kích động hoạt động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền và “tự do Internet”, khuyến khích các đối tượng này chống phá quyết liệt hơn bằng cách trao các giải thưởng, đề cử vinh danh hay đưa Việt Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet”, vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền.

Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau; đặc biệt phát triển các kênh truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số (Mông, Khơ me…) hướng tới đối tượng tuyên truyền là đồng bào dân tộc thiểu số.

Cổ súy tư tưởng chống phá, định kiến của một số người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát tán, giật tít các bài viết của các đối tượng này lên Internet, mạng xã hội. Lợi dụng lợi ích cá nhân của một bộ phận người dân trong giải quyết vấn đề đất đai, các vụ án kinh tế… để kích động lôi kéo người dân tham gia vào các hoạt động gây rối, mất an ninh chính trị trên mạng xã hội, từ đó lan truyền, hiện thực hóa trên thực địa... Sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng; trước khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, phát tán ồ ạt những tin bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, hướng lái dư luận thông qua những tiêu đề “giật gân”, “câu khách”.

Thu hút, lôi kéo người dân vào tổ chức; thâm nhập vào các diễn đàn, mạng xã hội dành cho giới trẻ để phát hiện, lôi kéo đầu mối; sử dụng các hình thức liên lạc qua mạng để móc nối, huấn luyện và chỉ đạo cơ sở phản động thực địa. Sử dụng truyền thông mạng xã hội để lừa gạt, lôi kéo nhân dân, hình thành và công khai hóa tổ chức núp dưới danh nghĩa các tổ chức xã hội dân sự hay tổ chức phản biện xã hội.

Cùng với đó, chúng lợi dụng các sự kiện chính trị, kinh tế, quân sự… trên thế giới (xung đột quân sự Nga-Ukraine, đảo chính quân sự ở Niger…), sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các vụ án về kinh tế, hoạt động khẳng định chủ quyền biển đảo, biên giới... đề dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả; xuyên tạc tình hình chính trị, xã hội, kinh tế trong nước và có thời điểm tổ chức hoạt động tuyên truyền chống phá thành “chiến dịch” dưới nhiều hình thức.

Lợi dụng hạn chế, bất cập trong công tác quản lý kiểm duyệt nội dung trên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc; lợi dụng chính sách của mạng xã hội, thành lập hàng nghìn hội nhóm tổ chức chính trị phản động, trong đó bao gồm cả hội nhóm công khai, bí mật với số lượng thành viên tham gia lớn, lôi kéo, thu hút, mời chào thành viên tham gia, hoạt động có đường hướng, tôn chỉ, mục đích cụ thể. Tạo lập các trang mạng, tài khoản mạng xã hội giả mạo các cơ quan của nhà nước, các đồng chí lãnh đạo, các cá nhân có ảnh hưởng... để đăng tải thông tin phản động; xuyên tạc, lợi dụng sự hiếu kỳ của người dân và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân để kích động cộng đồng mạng tham gia phát tán thông tin xấu độc.

Trước tình hình diễn biến trên không gian mạng ngày càng phức tạp cùng với các hoạt động chống phá có tổ chức, xây dựng và lên kế hoạch tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, theo chúng tôi cần thực hiện một số vấn đề mang tính giải pháp sau:
Thứ nhất, sử dụng thông tin chính thống đóng vai trò dẫn dắt định hướng dư luận. Các ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí cần phát huy được vai trò trong cung cấp thông tin chính thống kịp thời và chính xác, tránh tạo khoảng trống thông tin để các đối tượng phản động lợi dụng phát tán các thông tin xuyên tạc, để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận với thông tin chính thống trước khi tiếp cận với thông tin phản động. Hệ thống các kênh truyền thông của các cấp từ Trung ương đến địa phương cần được xây dựng đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các kênh truyền thông để tạo ra sức ảnh hưởng lớn với dư luận.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài Quân đội có thế mạnh trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và trên báo chí, Trong đó lực lượng của Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp có cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, yêu cầu thực hiện đúng theo pháp luật Việt Nam, hợp tác trong việc xóa bỏ các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phối hợp lực lượng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cung cấp trao đổi thông tin kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng Internet mạng xã hội để tổ chức các hoạt động phát tán tin giả, thông tin sai sự thật nguy hại đến chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ ba, nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đấu tranh. Xây dựng và khai thác có hiệu quả các trọng tâm nghiên cứu công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực, từ đó có kế hoạch để triển khai các nhiệm vụ truyền thông, đấu tranh với thông tin xấu bảo đảm sự bài bản, tính chính xác, hiệu quả. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp, ứng dụng sức mạnh của khoa học, công nghệ thông tin để tăng cường khả năng theo dõi, bám nắm, giám sát tình hình; hỗ trợ cho công tác quản lý, đánh giá chất lượng các hình thức đấu tranh. Nghiên cứu, xây dựng nội dung, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ hoạt động triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc.        

Xây dựng hệ thống kênh chỉ đạo điều hành đồng bộ từ chỉ huy đến cấp thực hiện, kênh liên lạc giữa các lực lượng tham gia đấu tranh. Hệ thống cho phép điều hành tổ chức các nhiệm vụ triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc trên Internet, mạng xã hội đồng thời là kênh để cán bộ thực hiện có thể chia sẻ kinh nghiệm cách thức tổ chức xử lý thông tin xấu độc. Trang bị cho lực lượng đấu tranh các hệ thống hiện đại để giám sát phát hiện thông tin phát hiện kịp thời các thông tin xuyên tạc trước khi bị phát tán ra nhiều tài khoản mạng xã hội tiếp cận đến số lượng lớn cộng đồng mạng.

Thứ tư, nâng cao nhận thức, vai trò cán bộ, đảng viên và quần chúng trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nâng cao hơn nữa nhận thức, vai trò, trách nhiệm, tiền phong, gương mẫu nêu gương trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Phát huy tính hiệu quả, thiết thực việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền tải, nhân rộng những yếu tố tích cực, tấm gương tiêu biểu, người tốt, việc tốt, những giá trị văn hóa nhân văn, tinh thần tương thân, tương ái của quốc gia, dân tộc. Đồng thời, tích cực đấu tranh chống các thông tin sai trái, phản động, bịa đặt trên mạng xã hội, phê bình, phản đối các hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội để chia sẻ, thông tin, bình luận, đăng tải những hình ảnh phản cảm, thiếu tinh thần trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm với những khó khăn, mất mát của nhân dân./.
Yêu nước ST.

 Ngày 05/3, trang fanfage Việt Tân đăng bài: “Hai tháng đầu năm, hơn 23.000 người Việt xuất khẩu lao động” xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đưa người đi lao động ở nước ngoài rằng: “chưa thấy nước nào lại tự hào về số dân xuất khẩu lao động cao như ở Việt Nam. Nó được chính quyền xem như một thành tích đáng ngưỡng mộ, con số xuất khẩu càng cao thì càng được ca ngợi”; trơ trẽn hơn họ còn vu cáo: đây là hoạt động tổ chức “buôn người” quy mô lớn của chính quyền nhằm kiếm tiền môi giới và thu ngoại tệ.

          Cần khẳng định: đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng đối với mỗi quốc gia, nhất là với các nước đang phát triển như Việt Nam, nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập, phân công lại lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng nguồn thu ngoại tệ và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là hoạt động mang lại lợi ích cho chính người lao động, cộng đồng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Dân số Việt Nam hiện đang ở trong giai đoạn dân số vàng, đây là cơ hội để chúng ta tận dụng lợi thế, đề ra các chính sách về phát triển nguồn nhân lực để tăng trưởng kinh tế. Người Việt Nam nói chung với đặc tính là cần cù, thông minh và năng động. Tuy nhiên, phần lớn người lao động lại gắn với ngành nghề nông nghiệp truyền thống, thu nhập thấp, hạn chế về trình độ học vấn và chuyên môn, thiếu nhiều kỹ năng làm việc trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Do đó, xuất khẩu lao động như một cánh cửa mở ra cơ hội cho người lao động phổ thông bước ra thế giới, tiếp cận và hoàn thiện kỹ năng làm việc trong môi trường hội nhập quốc tế và quan trọng hơn hết, là tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Hiện nay, Việt Nam đang có khoảng 650.000 lao động đang làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; nhờ làm việc ở nước ngoài, người lao động Việt Nam có nhiều cơ hội tìm kiếm nguồn thu nhập tốt. Theo thông tin từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, được biết: ước tính cả năm 2023, số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng khoảng 155.000 người, là số lượng cao nhất từ trước đến nay và tăng 8,55% so với năm 2022. Bình quân mỗi năm, khoảng 120.000 đến 143.000 lao động ra nước ngoài làm việc, kiều hối từ lực lượng lao động này gửi về nước đạt 3,5 - 4 tỉ USD, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Trung bình mỗi năm, số lao động Việt Nam đi nước ngoài chiếm xấp xỉ 10% chỉ tiêu việc làm cần giải quyết. Trung bình 03 năm làm việc tại nước ngoài, người lao động có thể tích lũy được từ 500 - 700 triệu đồng. Tính chung, người lao động đi làm việc ở nước ngoài thu nhập bình quân cao hơn từ 5 đến 8 lần so với thu nhập ở trong nước. Với số tiền tích lũy được, nhiều gia đình đã vươn lên thoát nghèo, người lao động sau khi về nước có khả năng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, phát triển sản xuất, quan trọng hơn là tay nghề, trình độ của họ cũng trở thành một nguồn lực quý. Đây là nguồn vốn lớn bổ sung vào đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân trong nước. Dòng tiền của người Việt ở nước ngoài gửi về cho người thân, đảm bảo đời sống của nhiều gia đình, hỗ trợ an sinh xã hội trong nước. Mới đây, Báo cáo về Di trú và Phát triển do Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Hợp tác quốc tế về người di cư (KNOMAD) cho biết: lượng kiều hối về Việt Nam thường xuyên đạt trên 10 tỉ USD/năm kể từ năm 2010 đến nay. Đặc biệt, năm 2023 vừa qua, Việt Nam đã thu hút được khoảng từ 14 - 15 tỉ USD và nằm trong tốp 3 quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tốp 10 quốc gia trên thế giới. Đây là một tín hiệu tích cực về nguồn lực tài chính, giúp Việt Nam có thể bù đắp, giảm sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đất nước.
Cùng với đó, những lợi ích từ xuất khẩu lao động còn có ý nghĩa quan trọng về đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội, góp phần giải quyết việc làm cho người dân - một trong những thách thức lớn với một đất nước đang phát triển như Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là giải pháp để quốc gia thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhờ những kiến thức, kỹ năng, phong cách lao động mà người lao động tiếp thụ được trong quá trình tham gia xuất khẩu lao động; nhất là, những người làm việc trong các ngành công nghệ cao, như công nghiệp điện tử, công nghiệp ô tô, v.v.
Như vậy, xuất khẩu lao động thực sự là chủ trương, chính sách mang lại lợi ích kép “ích nước, lợi nhà”, không phải chỉ riêng Việt Nam đang thực hiện mà nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới cũng đang tăng cường thực hiện; thậm chí có quốc gia còn xác định xuất khẩu lao động trở thành động lực quan trọng để phát triển đất nước, như: Ấn Độ, Mexico, Trung Quốc, Philippines, v.v. Vì lẽ đó, Việt Tân rêu rao: “đây là hoạt động tổ chức “buôn người” quy mô lớn của chính quyền” là giọng điệu xuyên tạc trơ trẽn hòng bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Do đó, cần lên án và đấu tranh bác bỏ./.
NTT ST

 

Bộ Công an cho biết Nhóm Hỗ trợ người Thượng - MSGI và Người Thượng vì công lý - MSFJ là tổ chức khủng bố có ý đồ lôi kéo người dân tộc thiểu số sử dụng bạo lực, tiến hành khủng bố, đòi ly khai

Ngày 6/3, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an thông báo 2 tổ chức đã và đang tiến hành hoạt động khủng bố.

Thứ nhất là tổ chức khủng bố “Nhóm Hỗ trợ người Thượng” có tên tiếng Anh là “Montagnard Support Group, Inc.”, viết tắt MSGI; do các đối tượng Y Mut Mlô và Y Duen Bdăp (nguyên là thành viên tổ chức “Quỹ người Thượng - MFI” ở Mỹ) tuyên bố thành lập năm 2011 nhằm móc nối, lôi kéo người dân tộc thiểu số sử dụng bạo lực, tiến hành khủng bố, kích động biểu tình, bạo loạn vũ trang đòi ly khai, tự trị, thành lập nhà nước riêng ở Tây Nguyên.

Trụ sở đặt tại: P.O.BOX 668843, Charlotte, NC 28266, USA; các kênh truyền thông gồm: “www.montagnardsupportgroup.blogspot.com,” “Montagnard Support Group.”

Đối tượng cầm đầu, chỉ huy là Y Mut Mlô sinh năm 1960 tại Đắk Lắk (Chủ tịch); Y Duen Bdăp (Phó Chủ tịch); Y Bion Mlô (phụ trách đối ngoại); Y Lhưl Byă (phụ trách truyền thông); các thành viên cốt cán khác gồm: Y Čhik Niê sinh năm 1968 tại Đắk Lắk; Y Chanh Byă sinh năm 1984 tại Đắk Nông; Y Bé Êban sinh năm 1982 tại Đắk Nông; Y Niên Êya sinh năm 1977 tại Đắk Nông, Y Sôl Niê sinh năm 1979 tại Đắk Lắk...

MSGI hoạt động theo phương thức bạo động; chủ trương lôi kéo, tuyển mộ thành viên ở trong nước, huấn luyện phương thức hoạt động, kích động biểu tình, bạo loạn vũ trang; tài trợ tiền, vũ khí, phương tiện, chỉ đạo tiến hành tấn công khủng bố, giết hại cán bộ và người dân, phá hoại tài sản của Nhà nước và nhân dân nhằm đòi li khai, tự trị, thành lập “Nhà nước Đêga” ở Tây Nguyên.

Thứ hai là tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý” có tên tiếng Anh là “Montagnard Stand for Justice - MSFJ,” do các đối tượng Y Quynh Bdap, Y Phik Hdok, Y Pher Hdrue, Y Aron Êban, H’ Sarina Krong, H’ Tlun Bdap, Y Ruing Knul, H Mla Hdruẽ thành lập tháng 7/2019 tại Thái Lan và hoạt động tại Mỹ từ tháng 4/2023.

Trụ sở: Số 49/312 Kraorattana, Soi 6, Bang Rak Phatthana, huyện Bang Bua Thong, tỉnh Nonthaburi, 11110, Thái Lan; trang web và các kênh truyền thông: “msfjustice.org,” “Montagnard Stand for Justice,” “Người Thượng Vì Công Lý,” “Klei Kpă Ênô Kơ Anak Cữ Chiăng,” “BHRM Montagnards,” “MSFJ TV.”

Đối tượng cầm đầu là Y Quynh Bdap sinh năm 1992 tại xã Ea Bhôk, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, quốc tịch Việt Nam; Y Phik Hdok sinh năm 1993 tại buôn M’Duk, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Y Pher Hdrue sinh năm 1979 tại buôn Êa Khít, xã Êa Bhôk, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk; H’ Biăp Krông sinh năm 1987 tại buôn Kwăng, xã Cư Bao, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk; Y Aron Êban sinh năm 1985 tại huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk...

MSFJ hoạt động theo phương thức tuyên truyền, lôi kéo, tuyển mộ thành viên, phân công nhiệm vụ, huấn luyện phương thức hoạt động; tài trợ tiền, chỉ đạo mua sắm vũ khí, phương tiện, tiến hành tấn công khủng bố, giết hại cán bộ và người dân, phá hoại tài sản của Nhà nước và nhân dân nhằm thành lập “Nhà nước riêng” ở Tây Nguyên.

Theo thông tin từ Bộ Công an, “Nhóm Hỗ trợ người Thượng - MSGI” và “Người Thượng vì công lý - MSFJ” là tổ chức khủng bố; do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do hai nhóm này tổ chức; hoạt động theo chỉ đạo của “Nhóm Hỗ trợ người Thượng - MSGI” và “Người Thượng vì công lý - MSFJ”… là phạm tội “Khủng bố,” “Tài trợ khủng bố” và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật./.

BỆNH “KINH NGHIỆM CHỦ NGHĨA”

 Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa được đề cập ở đây là muốn nói đến những sai lầm trong phương

pháp tư duy cũng như trong cải tạo thực tiễn. Thực chất của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là sự

cường điệu hoặc tuyệt đối hoá kinh nghiệm, coi kinh nghiệm là hìa khoá vạn năng trong việc

giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra. Biểu hiện của những người mắc bệnh kinh nghiệm

là đề cao kinh nghiệm cảm tính, coi thường tri thức lý luận, tri thức khoa học, vận dụng kinh

nghiệm để giải mã những vấn đề thực tiễn một cách máy móc, dẫn đến tình trạng áp đặt kinh

nghiệm trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Vậy, họ lấy những kinh nghiệm đó ở

đâu? Về đại thể, đó là sự từng trải của bản thân, kinh nghiệm của người khác, kinh nghiệm của

địa phương này hay địa phương nọ, kinh nghiệm của nước này hay nước khác, kinh nghiệm của

các thế hệ trước… Tuy nhiên, trong số nguồn kinh nghiệm đó thì xu hướng chủ yếu là tuyệt đối

hoá kinh nghiệm bản thân. Những người mắc bệnh kinh nghiệm không hiểu được rằng:

Thứ nhất, những kinh nghiệm của bản thân họ chỉ mang tính chất cục bộ, chứ không phải là cái

phổ biến và càng không phải là tri thức kinh nghiệm phổ biến theo quan điểm của chủ nghĩa Mác

- Lênin.

Thứ hai, những kinh nghiệm này họ vay mượn của người khác, hoặc của quá khứ chưa hẳn đã là

những kinh nghiệm được bảo tồn và phát triển theo "quan điểm chọn lọc". Hơn nữa, những tri

thức kinh nghiệm mới chỉ là sự khái quát từ một thực tiễn, một hoàn cảnh cục bộ, riêng biệt, và

trong nhiều trường hợp, chúng chỉ mới phản ánh được cái bề ngoài ngẫu nhiên, nhưng trong thực

tế cụ thể, sự việc đã diễn ra một cách khác mà chúng ta đã không thể (và bất cứ ai cũng không có

thể) dự đoán được, nó đã diễn ra một cách độc đáo hơn và phức tạp hơn nhiều.

Thứ ba, Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ

tính tất yếu.

Con người Việt Nam vốn mang đậm nét "tư duy kinh nghiệm;. Vì vậy, mặc dù đã được trang bị

chủ nghĩa Mác -Lênin, đặc biệt là phép biện chứng duy vật, nhưng ở một số nhà quản lý của

chúng ta ít nhiều vẫn mắc bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Với căn bệnh này, trong hoạt động thực

tiễn, họ đã rơi vào tình trạng mò mẫm, sự vụ,tuỳ tiện, tự ti, không nhất quán trong việc thi hành

các chủ trương, chính sách của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế - xã

hội, và bản thân họ cũng trở nên bảo thủ, lạc hậu và trì trệ bởi phương pháp hành động cũ kỹ.

Hậu quả đó sẽ trở lên nghiêm trọng hơn khi bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa đan kết chặt chẽ với

bệnh chủ quan duy ý chí

NGUY CƠ TỪ CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

 Bất kể là ai, nếu mắc bệnh chủ quan, duy ý chí thì hệ quả là, đưa ra quan điểm lệch lạc, thiếu tính

trung thực, nhìn nhận sự việc từ một phía, một chiều không tránh khỏi võ đoán, rơi vào siêu

hình. Đó là cách nhìn phi thực tế, chỉ thấy mọi người yếu kém, khuyết điểm; còn mình chỉ toàn

ưu điểm, thậm chí cường điệu, phóng đại những cống hiến của mình, những người thuộc “phe

của mình”. Từ đó chỉ chích, khích bác, gán ghép những khuyết điểm, sai phạm cho người khác

mà họ không có; gây nghi ngờ, đố kỵ, bất đồng chính kiến, mất đoàn kết nội bộ, làm phức tạp

tình hình trong Đảng, cơ quan, đơn vị.

Trong các bài viết, bài nói của mình, Bác Hồ đã phê phán gay gắt những cán bộ, đảng viên lợi

dụng phê bình và tự phê bình để “thanh toán, “triệt hạ lẫn nhau”, “làm cho nhau không thể mở

mày mở mặt”. Bác chỉ ra hạn chế cơ bản của biện pháp phê bình này là “nhỏ nhen, hẹp hòi, ích

kỷ”, “chỉ suy từ bụng ta ra bụng người”, ghen tỵ, đố kỵ; lúc nào cũng “sợ người khác hơn mình.

Tính nguy hại của sự góp ý, phê bình kiểu này là “làm thui chột ý chí phấn đấu” của đồng chí,

đồng đội vì nó không động viên, cỗ vũ người khác, làm cho họ ngại phấn đấu, thiếu hăng hái, và

ngược lại, nó tạo ra bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng trong Đảng, “gây mất đoàn kết” trong

nội bộ, làm cho đồng chí mình “tự ty”, mặc cảm, giảm nhuệ khí, mất động lực, không còn ý chí

khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên. Bác gọi cách làm này là “lợi cho mình, hại cho tập thể”.

Ai mắc phải bệnh này cần phải chữa trị ngay, không để lây lan sang người khác.

Thực tế chỉ ra rằng, ở đâu, nơi nào và ở người nào đó, nếu chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy, phát triển

thì ở nơi đó, người ấy tạo ra mâu thuẫn nội bộ, bất đồng chính kiến diễn ra liên miên, tình trạng

“trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” hiện hình, rất khó khắc phục. Các căn bệnh tha hóa, biến chất,

nghi kỵ, kèn cựa, làm thui chột ý chí, động cơ phấn đấu của những cán bộ, đảng viên thực đức,

thực tài; làm cho tổ chức Đảng suy yếu, thậm chí không hoàn thành nhiệm vụ.

NGUY CƠ TỪ “CHỦ NGHIA CA NHAN"

 Trong các bài viết, bài nói của mình, Bác Hồ đã phê phán gay gắt những cán bộ, đảng viên lợi

dụng phê bình và tự phê bình để “thanh toán, “triệt hạ lẫn nhau”, “làm cho nhau không thể mở

mày mở mặt”. Bác chỉ ra hạn chế cơ bản của biện pháp phê bình này là “nhỏ nhen, hẹp hòi, ích

kỷ”, “chỉ suy từ bụng ta ra bụng người”, ghen tỵ, đố kỵ; lúc nào cũng “sợ người khác hơn mình.

Tính nguy hại của sự góp ý, phê bình kiểu này là “làm thui chột ý chí phấn đấu” của đồng chí,

đồng đội vì nó không động viên, cỗ vũ người khác, làm cho họ ngại phấn đấu, thiếu hăng hái, và

ngược lại, nó tạo ra bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng trong Đảng, “gây mất đoàn kết” trong

nội bộ, làm cho đồng chí mình “tự ty”, mặc cảm, giảm nhuệ khí, mất động lực, không còn ý chí

khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên. Bác gọi cách làm này là “lợi cho mình, hại cho tập thể”.

Ai mắc phải bệnh này cần phải chữa trị ngay, không để lây lan sang người khác.

Thực tế chỉ ra rằng, ở đâu, nơi nào và ở người nào đó, nếu chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy, phát triển

thì ở nơi đó, người ấy tạo ra mâu thuẫn nội bộ, bất đồng chính kiến diễn ra liên miên, tình trạng

“trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” hiện hình, rất khó khắc phục. Các căn bệnh tha hóa, biến chất,

nghi kỵ, kèn cựa, làm thui chột ý chí, động cơ phấn đấu của những cán bộ, đảng viên thực đức,

thực tài; làm cho tổ chức Đảng suy yếu, thậm chí không hoàn thành nhiệm vụ.

ĐẤU TRANH, PHÒNG CHỐNG CĂN BỆNH “CHỦ QUAN, DUY Ý CHÍ”

 Để phòng, chống căn bệnh chủ quan, duy ý chí trong cán bộ, đảng viên có nhiều việc cần làm,

nhiều biện pháp phải thực hiện. Nhưng quan trọng trước hết là việc học tập, nghiên cứu nâng cao

trình độ lý luận của bản thân mỗi cán bộ, đảng viên. Lý luận là kim chỉ nam chỉ ra phương hướng

cho thực tiễn, đồng thời lý luận gắn với thực tiễn là cơ sở cho phương pháp hành động phù hợp,

hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Trình độ lý luận vững cũng là nền tảng cho phong

cách tư duy khoa học. Cán bộ, đảng viên nếu thiếu phong cách tư duy khoa học thì sớm hay

muộn cũng vướng vào tư duy kinh viện, tư duy nhiệm kỳ, chủ nghĩa giáo điều, duy ý chí. Trong

nhiều văn kiện, Đảng ta đã chỉ rõ những hạn chế, sự non kém về lý luận khiến cho cán bộ, đảng

viên thiếu tư duy biện chứng, thiếu cái nhìn toàn diện, lịch sử, cụ thể và đó chính là nguyên nhân

chủ yếu dẫn đến căn bệnh chủ quan, duy ý chí.

Cùng với học tập nâng cao trình độ lý luận, chúng ta cần chống lối suy nghĩ và hành động giản

đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng, ý chí chủ quan. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên

rèn luyện cho mình phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực và hiệu quả. Bởi đây là

cơ sở nền tảng giúp cán bộ, đảng viên không mắc vào căn bệnh chủ quan, duy ý chí. Nếu thiếu

phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực, hiệu quả thì căn bệnh chủ quan, duy ý chí

rất dễ tái phát. Cán bộ, đảng viên sẽ rất khó hoàn thành tốt nhiệm vụ, khó có uy tín trong quần

chúng nếu thiếu phương pháp, tác phong làm việc khoa học, thiết thực, hiệu quả.

Mặt khác, cán bộ, đảng viên phải đề cao ý thức dân chủ, phát huy tốt dân chủ, thực hiện tốt

quyền dân chủ của quần chúng nhân dân. Dân chủ cũng là biểu hiện của phương pháp, tác phong

làm việc khoa học trong mỗi cán bộ, đảng viên. Đề cao dân chủ sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên

chống được căn bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, phát huy tốt tính tích cực, năng động,

sáng tạo của quần chúng nhân dân và trí tuệ của tập thể trong thực hiện các nhiệm vụ. Đảng ta

luôn coi phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực, hiệu quả là một phẩm chất quan

trọng không thể thiếu của người cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một trong

những phẩm chất quan trọng của người cán bộ cách mạng là phải có phương pháp, tác phong làm

việc khoa học, thiết thực, hiệu quả”.

ẢNH HƯỞNG CỦA “CHỦ QUAN, DUY Ý CHÍ” TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

 Chủ quan, duy ý chí là một trong những căn bệnh diễn ra khá phổ biến ở nước ta trong thời kỳ

trước đổi mới. Nhưng nói như thế không có nghĩa là trong giai đoạn hiện nay căn bệnh này đã

hết. Nơi này, nơi kia những biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí vẫn bộc lộ, gây tác hại

không nhỏ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội

chủ nghĩa hiện nay. Do chủ quan, duy ý chí mà một số bộ, ngành, địa phương đề ra chỉ tiêu kế

hoạch quá xa vời, quá cao, không phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tiễn, dẫn đến không thực

hiện được, gây ra sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế. Từ thực tế Việt Nam bước ra hội

nhập nền kinh tế khu vực và thế giới với xuất phát điểm rất thấp, do đó trong nội bộ đã xuất hiện

tư tưởng, quan điểm phải chấp nhận đánh đổi để đẩy nhanh phát triển kinh tế bằng mọi giá, phải

lấy chỉ số tăng trưởng làm thước đo... Do tham vọng tăng trưởng nhanh mà chính quyền một số

địa phương sẵn sàng làm mọi cách để chèo kéo nhà đầu tư, trong đó có việc bỏ qua hoặc hạ thấp

yêu cầu tiêu chuẩn về quản lý xã hội và bảo vệ môi trường. Chính tư tưởng nôn nóng ấy đã dẫn

đến trong quản lý, điều hành chúng ta không giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị,

chỉ nhấn mạnh phát triển kinh tế mà không quan tâm đúng mức đến những vấn đề văn hóa-xã hội

và môi trường. Sự cố ô nhiễm môi trường biển ở các tỉnh bắc miền Trung là một ví dụ điển hình

cho thấy điều ấy. Những hạn chế trong quản lý, điều hành ở Hà Tĩnh không chỉ dẫn đến sự cố về

môi trường mà còn làm nảy sinh biết bao nhiêu vấn đề về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

phức tạp khác mà cho đến nay chúng ta vẫn đang phải giải quyết.

MỘT SỐ BÀI HỌC VỀ “CHỦ QUAN, DUY Ý CHÍ”

 Trong thực tiễn Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những bài học thấm thía về căn bệnh này. Trong

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã chỉ rõ:

"Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng

đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng Đảng đã phạm sai

lầm chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan: Nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa,

xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp

nặng, duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp…";. Từ nhận định đó cho

thấy chủ quan, duy ý chí là một trong những nhân tố chủ yếu dẫn đến những sai lầm, khuyết

điểm trong việc hoạch định đường lối, chính sách, trong hoạt động thực tiễn của Đảng và Nhà

nước ta suốt một thời gian dài.

“CHỦ QUAN, DUY Ý CHÍ” TRONG CÁN BỘ

 Cán bộ, đảng viên khi mắc phải căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn đến đề ra các chủ trương,

quyết sách lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành xã hội xa rời thực tiễn; đường lối, chủ trương,

quyết sách không phản ánh lợi ích của tập thể, không thể hiện được ý chí của quần chúng nhân

dân mà chỉ là lợi ích, ý chí của một bộ phận, một nhóm người nào đó. Mặt khác căn bệnh chủ

quan, duy ý chí sẽ khiến con người ta tuyệt đối hóa vai trò cá nhân, biện pháp mệnh lệnh hành

chính, hành động bất chấp quy luật khách quan. Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có

chức, có quyền mắc bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng chức quyền, mất

dân chủ, thờ ơ với tâm tư, nguyện vọng của quần chúng... Những hệ lụy tiêu cực từ căn bệnh chủ

quan, duy ý chí đối với đời sống kinh tế-xã hội là hết sức khó lường. Người mắc bệnh chủ quan,

duy ý chí giữ chức vụ càng cao, vị trí càng quan trọng thì ảnh hưởng càng lớn, hậu quả càng

nặng nề. Căn bệnh này nếu không được phát hiện, sửa chữa có thể dẫn đến khủng hoảng và thất

bại; nếu được phát hiện và sửa chữa cũng sẽ trả giá cho những tổn thất, làm chậm tốc độ phát

triển của xã hội.

BẢN CHẤT CỦA CĂN BỆNH “CHỦ QUAN, DUY Ý CHÍ”

 Một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng

cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,

lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa; trong nội bộ, đã chỉ ra là: “Duy ý chí,

áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của

người khác”.

Thực chất của duy ý chí là tuyệt đối hóa vai trò của ý chí con người trong cải tạo thực tiễn mà bỏ

qua, ít tính đến điều kiện thực tiễn, coi thường hoặc thoát ly quy luật khách quan. Biểu hiện phổ

biến của chủ quan duy ý chí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, đốt cháy giai đoạn,

bắt thực tiễn chạy theo ý chí chủ quan của con người, bất chấp quy luật khách quan. Chính căn

bệnh chủ quan, duy ý chí đã dẫn đến việc tạo ra chế độ hành chính mệnh lệnh, cơ chế tập trung

quan liêu, bao cấp. Và ngược lại, chế độ hành chính mệnh lệnh, cơ chế tập trung quan liêu,