Thứ Năm, 7 tháng 3, 2024

 

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU DÙNG SÁCH, BÁO XẤU ĐỘC ĐỂ CHUYỂN HÓA TƯ TƯỞNG LỆCH LẠC

 

Với âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa-tư tưởng, một trong những phương thức mà các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng là phát hành các sách, báo có nội dung độc hại, xuyên tạc, phản động. Đáng phê phán là một số cá nhân do nhận thức chính trị hạn chế, thiếu hiểu biết và hám lợi đã “nối giáo cho giặc” khi công khai tán phát, mua bán sách, báo xấu độc. Vì thế, việc ngăn chặn sự thẩm lậu, đấu tranh trực diện với sách, báo xấu độc cần nhất là chủ động, thường xuyên, kịp thời, đi vào thực chất.

Đằng sau một cuốn sách, một bài báo chứa đựng tư tưởng, lý lẽ, tâm tư, tình cảm có tác động đến nhận thức, hành vi của độc giả. Bên cạnh những “bảo thư” soi đường, chỉ lối để con người hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ; rèn luyện, phấn đấu tu thân, tích đức để khẳng định bản thân, cống hiến cho xã hội; cũng không hiếm những “tà thư” đầu độc độc giả đưa đường đến với sự tối tăm, hận thù, bi quan, những hành vi lệch chuẩn, thiếu văn hóa và đạo đức, vi phạm pháp luật...

Khác với loại hình tuyên truyền trực quan như tranh, ảnh, phim; sách, báo xấu độc xâm nhập âm thầm, dùng lý lẽ bề ngoài tưởng chừng rất khách quan, khoa học nhưng ngầm ẩn những dụng ý vô cùng thâm hiểm. Chỉ cần độc giả là người thiếu hiểu biết về chính trị, không kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, có ẩn ức, bất mãn trong đời sống rất dễ bị tiêm nhiễm, dần dần “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lúc nào không hay. Chẳng hạn, khá nhiều sách, báo dưới cái mác nghiên cứu khoa học lịch sử đã “bắn vào quá khứ” khi lập luận rằng: Không cần tiếp thu chủ nghĩa cộng sản, không cần sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Bác Hồ, không cần có Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam cứ “ngoan ngoãn” ở trong “vòng tay bảo hộ” của mẫu quốc Pháp sau Chiến tranh Thế giới thứ hai thì đất nước sẽ phát triển, dân trí nâng cao; rồi sau đó thông qua phương cách hòa bình để có được nền độc lập thì sẽ tốt hơn là phải cầm súng suốt mấy chục năm, làm “kéo lùi lịch sử”. Luận điệu này với những người trưởng thành có hiểu biết lịch sử, có tư duy biện chứng khoa học thì đích thực là phản động, phi thực tế và phản khoa học. Tuy nhiên, nếu là một người trẻ mới mười tám, đôi mươi, sinh ra trong hòa bình thì chưa chắc đã đủ bản lĩnh, trình độ để nhận diện đây là “tà thuyết”.

Khi những ý đồ thâm hiểm không phát huy dưới dạng “chính ngạch”, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động thông qua phương thức cũ đó là tán phát sách, báo xấu độc theo con đường “tiểu ngạch”, nhất là trên không gian mạng. 

Sách, báo xấu độc chủ yếu được xuất bản dưới chế độ cũ trước năm 1975, sau này in ấn ở hải ngoại. Dù là thể loại hư cấu hay phi hư cấu, sách, báo xấu độc đều có chung một số đặc điểm về nội dung, đó là: Ra sức cổ vũ quan điểm thù địch, chống đối Đảng Cộng sản Việt Nam; kêu gọi người dân không chấp nhận Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội; phủ định lý luận về chủ nghĩa xã hội và sự đúng đắn tất yếu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đòi xét lại lịch sử, bôi nhọ nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của các anh hùng dân tộc, lãnh tụ của Đảng, các bậc tiền bối cách mạng; khoét sâu vào những mặt trái của xã hội nhằm phủ nhận thành tựu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân...

Đáng lo ngại là một số cá nhân chuyên kinh doanh sách, báo, dịch vụ in ấn nhận thấy sách, báo xấu độc bị cấm phổ biến, lưu hành là “hàng hiếm” nên đã sưu tập, tái sản xuất, bày bán công khai trên mạng xã hội dưới dạng sách in và sách điện tử. Chỉ cần đặt hàng trên mạng xã hội, bất cứ tác phẩm xấu độc nào trong vài giờ đã có thể chuyển đến tận tay người có nhu cầu.

Vấn đề đáng bàn là vì sao sách, báo xấu độc do các tác giả phản động lại có thể “đội mồ sống dậy” lưu hành dễ dàng mà các cơ quan chức năng chưa kịp thời ngăn chặn?

Chúng ta cần xác định phương thức tán phát, phổ biến sách, báo xấu độc là thủ đoạn mà các thế lực thù địch sẽ không bao giờ từ bỏ. Cho nên, đấu tranh với sách, báo xấu độc là việc làm lâu dài, thường xuyên để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt cần chú ý kết hợp giữa phòng và chống một cách linh hoạt, tùy từng trường hợp cụ thể để mang lại hiệu quả thực chất.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị-xã hội, thuần phong mỹ tục”. 

Quán triệt, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, với lĩnh vực xuất bản, trước hết, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực xuất bản. Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan xuất bản, cơ quan chủ quản trong công tác xuất bản với yêu cầu giữ vững tôn chỉ, mục đích, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, biên tập viên, thực hiện chặt chẽ quy trình xuất bản, thẩm định kỹ nội dung bản thảo, tránh để xảy ra sai sót nội dung nghiêm trọng về chính trị.

Cùng với đó, công tác hậu kiểm cần tiếp tục được đẩy mạnh nhằm ngăn chặn triệt để các xuất bản phẩm có nội dung vi phạm quy định Luật Xuất bản; các cơ quan bảo vệ pháp luật triển khai đồng bộ các giải pháp đấu tranh, xử lý những ấn phẩm lưu hành bất hợp pháp, nhất là các ấn phẩm có nội dung xấu độc. Riêng với các địa chỉ lưu giữ, tán phát xuất bản phẩm xấu độc trên không gian mạng, cần phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng an ninh chính trị nội bộ, an ninh mạng tập trung sử dụng những biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn hoạt động và sức phổ biến, tiếp cận đến với người đọc.        

Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chức năng cần sớm vào cuộc, xử lý bảo đảm đủ răn đe với những hành vi vi phạm pháp luật. Với những nhóm người có chủ ý thu lợi cá nhân hoặc có kế hoạch, chủ động tán phát sách, báo xấu độc cần phải bị xử lý hình sự để răn đe những đối tượng khác. Với những cá nhân nhỏ lẻ, nếu chỉ hám lợi đơn thuần thì sớm tiếp cận, nhắc nhở.

Các cấp ủy Đảng cần chủ động định hướng, cung cấp thông tin thường xuyên để cán bộ, đảng viên không tìm hiểu, không tiếp cận với sách, báo xấu độc; xử lý nghiêm những trường hợp cán bộ, đảng viên phổ biến, giới thiệu sách, báo xấu độc dưới bất cứ hình thức nào. Đặc biệt, đối với các cơ quan quản lý nhà nước cần phải chủ động trong truyền thông chính sách, giúp cho người dân hiểu và làm việc theo pháp luật. Phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong hoạt động tuyên truyền miệng để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân không mua bán, tàng trữ, sử dụng, phổ biến sách, báo xấu độc; đồng thời, nâng cao khả năng nhận diện nội dung xấu độc, tham gia đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

 

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN CHỦ TRƯƠNG “KHƠI DẬY KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC” CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Trước những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân cần tỉnh táo, cảnh giác cao và nhận rõ đó là những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thâm độc, hòng chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng, làm nhụt chí quyết tâm của toàn dân tộc trên con đường phát triển giàu mạnh, phồn vinh. Chúng ta khẳng định: chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta là đúng đắn, khoa học, khả thi với những luận cứ xác đáng, thuyết phục, cụ thể như sau:

Một là, khát vọng phát triển đất nước có vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt

Các nhà kinh điển mác - xít đã khẳng định: vật chất có trước, ý thức có sau; vật chất quyết định ý thức song ý thức có tính độc lập tương đối với vật chất, có tính năng động, sáng tạo nên tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan. C.Mác cho rằng: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”. Để hiện thực hóa sức mạnh ấy, đòi hỏi phải tiến hành công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục, giác ngộ và tổ chức cho quần chúng tham gia các phong trào cách mạng, các hoạt động xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý... Bổn phận của chúng ta là... phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”.

Thực tiễn lịch sử xã hội loài người chứng minh, sự hình thành, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc phụ thuộc trước hết vào khát vọng sống, tồn tại và vươn lên của cộng đồng dân tộc đó. Lúc thuận lợi cũng như khi khó khăn, sức mạnh của tinh thần, của ý chí, nhất là ý chí của cả một dân tộc giữ vai trò hết sức quan trọng, thậm chí là quyết định. Khát vọng phát triển của một dân tộc là nguồn năng lượng nội sinh to lớn và sức mạnh vô địch; là động lực trung tâm của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới tương lai. Sự phát triển “kỳ diệu” của một số quốc gia hùng mạnh trong tiến trình lịch sử nhân loại đều bắt nguồn chính từ những khát vọng vươn lên hùng cường như Mông Cổ trong thế kỷ XIII; Anh trong thế kỷ XIX; Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore trong thế kỷ XX và Trung Quốc trong thế kỷ XXI… 

Đối với Việt Nam, khát vọng phát triển đất nước thật sự là sức mạnh nội sinh phi thường, cội nguồn tạo nên những kỳ tích trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Thời trung đại, Việt Nam đánh thắng tất cả các cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến phương Bắc, giữ vững nền độc lập dân tộc, bắt nguồn từ khát vọng về độc lập, chủ quyền quốc gia. Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đập tan ách áp bức, bóc lột của đế quốc, thực dân, phong kiến; đánh thắng các thế lực xâm lược hùng mạnh, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Những chiến công lừng lẫy đó bắt nguồn từ khát vọng mãnh liệt của toàn dân tộc: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và khát vọng này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý thời đại. Hiện nay, khát vọng phát triển giàu mạnh, hùng cường là một động lực mới thúc đẩy dân tộc ta tiến lên, khắc phục đói nghèo, lạc hậu, vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” và “nguy cơ tụt hậu về kinh tế”.

Rõ ràng, Đảng ta không tuyệt đối hóa vai trò động lực của khát vọng phát triển đất nước mà xác định đây là một trong những động lực cho đổi mới, phát triển; là động lực thúc đẩy chứ không thể thay thế vai trò cơ sở, nền tảng quyết định của yếu tố kinh tế, vật chất, kỹ thuật và đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực.

Hai là, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trên cơ sở cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín đất nước

Khát vọng phát triển đất nước bắt nguồn từ niềm tin vững chắc vào cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Một trong những dấu ấn nổi bật nhất của Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2020 là thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép”: vừa tập trung phòng chống, kiểm soát tốt dịch bệnh Covid-19; vừa tạo điều kiện thuận lợi cho phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam được truyền thông quốc tế ca ngợi là “mảnh đất tiềm năng” (Forbes), “bình minh đang lên” (báo Nga), “ngôi sao sáng” (Asia Times), “phép màu châu Á” (New York Times), “con Hổ châu Á” (Nikkei Asia)...

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được tiến hành toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, “năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng được nâng lên”, “hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước được củng cố và tăng cường”. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tiến hành quyết liệt, đạt được những kết quả quan trọng; tuyệt đại đa số ý kiến người dân (93%) tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế phát triển; chính trị - xã hội ổn định; văn hóa - xã hội có bước phát triển; quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường. Nếu năm 1988, thu nhập bình quân đầu người của nước ta mới chỉ đạt 86 USD/người/năm thì đến năm 2020 Việt Nam đã trở thành một quốc gia có quy mô dân số gần 100 triệu người với mức thu nhập bình quân gần 2.800 USD/người. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững.

Ba là, chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước” là “ý Đảng” hợp “lòng dân”

Quá trình chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII, các Tiểu ban đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ở Trung ương và địa phương, xin ý kiến các đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, tham vấn ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học; tổ chức tọa đàm với một số tổ chức quốc tế. Văn kiện được đánh giá có quá trình chuẩn bị “rất công phu, chu đáo, bài bản, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp tiến hành. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định  đổi mới, giữa kế thừa  phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, dự thảo các văn kiện đã thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hòa quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc”. Các ý kiến, đề xuất tâm huyết, trách nhiệm, kết tinh trí tuệ, ý chí và sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, mong muốn đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh; nhân dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc; dân tộc ta ngày càng cường thịnh, trường tồn. Tất cả những điều đó chứng minh tính khoa học, khách quan của những đánh giá, các mục tiêu, nhiệm vụ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

Đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc là một quá trình cải biến xã hội toàn diện và sâu sắc. Để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp vĩ đại này, cần huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại với những kế hoạch, biện pháp cụ thể của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng trong từng giai đoạn.

Một tín hiệu lạc quan nữa là trong khó khăn, chúng ta vẫn tiếp tục quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, các chủ trương, chính sách phát triển văn hoá, con người được triển khai đồng bộ, có hiệu quả. Việt Nam đã ứng phó, kiềm chế, kiểm soát được dịch bệnh, từng bước chuyển sang trạng thái “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”. Các cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh đã được triển khai nhanh chóng, quyết liệt với tinh thần “lợi ích phải hài hoà, rủi ro cùng chia sẻ”, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.

Quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường; môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được mở rộng, đi vào chiều sâu, triển khai đồng bộ, toàn diện, linh hoạt, hiệu quả trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế; đóng góp tích cực, hiệu quả, có trách nhiệm vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác, phát triển, tiến bộ và công bằng xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

 

"CÓ NÓI SỰ THỰC THÌ VIỆC TUYÊN TRUYỀN CỦA MÌNH MỚI CÓ NHIỀU NGƯỜI NGHE"

 Đây là Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho đội ngũ cán bộ tuyên truyền vào ngày 08/01/1946: “… Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực. Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe. Ta đừng bắt chước những nước tuyên truyền tin chiến tranh quá sai lạc sự thực”. Lời dạy này được đăng trên Báo Cứu quốc, số 137, ngày 09/01/1946.

Lời của Người nhằm huấn thị cán bộ tuyên truyền phải hiểu rõ trong hoàn cảnh, nhiệm vụ nào cũng phải tôn trọng tính khách quan, chân thực, phù hợp với tình hình nhiệm vụ cách mạng, trình độ dân trí, phát huy giá trị nhân đạo truyền thống của dân tộc Việt Nam; qua đó, hình thành thái độ, phương pháp tuyên truyền phù hợp. Hơn thế, Hồ Chí Minh còn nêu lên vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác tuyên truyền là phải “tôn trọng hiện thực khách quan”, có như vậy tuyên truyền mới có nhiều người nghe và đạt được mục đích, hiệu quả tuyên truyền.
Quán triệt lời dạy ấy, đội ngũ cán bộ tuyên truyền từ Trung ương đến địa phương qua các thế hệ đã vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền bảo đảm khách quan, trung thực. Trong lĩnh vực quân sự, cán bộ làm công tác tuyên truyền các cấp luôn nắm vững đường lối kháng chiến, kiến quốc; đổi mới, sáng tạo nhiều hình thức, phương pháp tuyên truyền phong phú, được cán bộ, chiến sĩ quân đội và toàn dân đón nhận. /.
St

KIÊN ĐỊNH ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội chính là con đường cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam lựa chọn, kiên định thực hiện dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tế lịch sử thế giới hiện đại cho thấy rằng, chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế chế độ tư bản; đồng thời, “sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”(1), vì “theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”(2). Lý tưởng cao cả - “chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác”(3) và trong chủ nghĩa xã hội/giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản thì “ai cũng được làm việc, được ăn no mặc ấm, được học hành, người già yếu thì được giúp đỡ, các cháu bé thì được săn sóc. Nói tóm lại, xã hội chủ nghĩa là sung sướng ấm no”(4) vẫn luôn là niềm mơ ước của loài người tiến bộ; và đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn là xu thế tất yếu của xã hội loài người trong thời đại ngày nay. Mà chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh được giải thích giản dị rằng: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”(5); là “nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”(6)… Cho nên, việc Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam lựa chọn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là không có gì thay đổi, bởi đó là câu nói “nằm lòng” của mỗi cán bộ, đảng viên, của mỗi người dân Việt Nam tin tưởng, đồng lòng đi theo Đảng, chịu sự lãnh đạo của Đảng; bởi đó là khát vọng, niềm tin, mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Việt Nam. Con đường cách mạng đó không chỉ tạo nên sự thống nhất về nhận thức, ý chí cũng như hành động của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, mà còn cho thấy việc những người nhân danh dân chủ đòi “từ bỏ con đường cộng sản” vì “chủ nghĩa xã hội mịt mù không thấy đích đến” chỉ là chủ kiến cá nhân, là ý tưởng của những nhóm người “ngáo” dân chủ tư sản Vì đi lên chủ nghĩa xã hội là phải trải qua nhiều thời kỳ, thậm chí là những khúc quanh, khúc ngoặt, cho nên trên những chặng đường lịch sử đó, nhất là ở vào những thời điểm có tính bước ngoặt, đầy cam go, thử thách thì Đảng Cộng sản Việt Nam càng phải được chú trọng xây dựng và chỉnh đốn gắn liền với đấu tranh chống tham nhũng để tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động; để xứng đáng với vai trò tiền phong, lãnh đạo đúng như Tổng Bí thư khẳng định: “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”. Thực tế cũng minh định rằng, là một Đảng Mácxít - Lêninnít chân chính, luôn đoàn kết, thống nhất; trong đó, mọi cán bộ, đảng viên đều tuân thủ các nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết thống nhất, tự phê bình và phê bình, gắn bó mật thiết với nhân dân… nên trong Đảng không có sự “phân chia quyền lực”, “tranh giành quyền lực” như xuyên tạc. Đồng thời, Đảng cũng không có lợi ích gì khác ngoài lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, nên chắc chắn Đảng Cộng sản Việt Nam không thể/không bao giờ “là liên minh của những người tranh giành quyền lực và quyền lợi”. Là một tập thể đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động, nên đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng không phải là đấu đá phe cánh và đương nhiên cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật, sa vào tham ô, tham nhũng là do suy thoái về đạo đức, lối sống chứ không phải do “sự độc quyền của Đảng” đã tạo ra những con sâu mọt, những nhóm lợi ích… như các thế lực thù địch bịa đặt, bôi đen. Hơn nữa, Đảng, Nhà nước Việt Nam đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng là để làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị, chứ tuyệt nhiên không phải là “thanh trừng nội bộ” và đương nhiên cuộc đấu tranh đó sẽ không bao giờ làm cho Đảng “yếu đi” hay “tan rã” như sự kích động của các phần tử cơ hội, phản động. Đồng thời, cũng cần phải khẳng định rằng: 1) Việc tiếp tục xây dựng, “hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân”(7) đều là vì sự phát triển bền vững của đất nước, vì sự tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. 2) Việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và “mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa… Đảng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ” như Tổng Bí thư nhận định là đúng đắn chứ không phải là “tạo ra sự chồng chéo, dẫm đạp lên nhau, kém hiệu quả, lãng phí” như xuyên tạc, bôi đen của các thế lực thù địch. 3) Việc “coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hoá đồng bộ, hài hoà với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” và “xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng” là để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, chứ không phải “bỏ quên người dân” như các thế lực thù địch bôi đen. 4) Việc “tập trung ưu tiên thực hiện thắng lợi đồng bộ các nhiệm vụ chính trị: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”; “kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và thực hiện thành công “trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam"… vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng luôn luôn kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc” đã góp phần làm cho “đất nước ta chưa bao giờ có được vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, chứ không phải là Việt Nam đang “tụt hậu” như xuyên tạc. 5) Việc lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải chỉ là ý chí chủ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, càng không phải là sự gán ghép khiên cưỡng giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà chính là nắm bắt, vận dụng kinh tế thị trường phù hợp xu thế vận động khách quan trong thời đại ngày nay. Đó chính là nhằm “phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân”(8) dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước để xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội trên tinh thần lấy con người làm trung tâm, vì con người và cho con người, nhằm phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, chứ tuyệt nhiên không vì mục đích giành lấy lợi nhuận tối đa bằng mọi giá như chủ nghĩa tư bản và các nhà nước tư sản đã và đang làm… Vì thế, có thể khẳng định rằng, độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và trong đường lối của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc; là để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người dân. Vì thế, nhân dân Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục kiên định với sự lựa chọn này dưới sự lãnh đạo của Đảng, bất chấp sự chống phá của các thế lực thù địch cũng như sự xuyên tạc, bôi đen của các phần tử cơ hội, phản động. Và đương nhiên, lựa chọn chủ nghĩa xã hội là lựa chọn một chế độ chính trị - xã hội với “mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” như Tổng Bí thư khẳng định chính là lựa chọn thực hiện những ưu việt để đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho tất cả những người lao động, chứ không phải là một số ít người của giai cấp tư sản như các nước tư bản chủ nghĩa. Cuối cùng thì câu trả lời đã rõ. Những luận điệu xuyên tạc, bôi đen, bịa đặt về Đảng đều vô nghĩa. Vì rằng, những vấn đề mấu chốt nêu trong bài viết của Tổng Bí thư; những nhận định, đánh giá, khẳng định của Tổng Bí thư về Đảng không chỉ là sự thật, mà còn được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh là đúng đắn. Sự thật chính là, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thì Tổ quốc, giai cấp công nhân và Nhân dân đã lựa chọn Đảng làm đại biểu trung thành cho lợi ích của mình. Sự tin tưởng, đồng lòng ủng hộ, đi theo Đảng và chịu sự lãnh đạo của Đảng là không thể cãi bàn, càng không thể phủ nhận!

ĐỀ CAO VAI TRÒ TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ TRÁCH NHIỆM ĐẢNG VIÊN

 Bài viết “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng” mới đây của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ, nhận thức sâu sắc hơn về chặng đường vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt gần một thế kỷ qua, khích lệ niềm tự hào dân tộc, làm cho chúng ta càng thêm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng, nêu cao ý thức, trách nhiệm trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước.

Trong bài viết, Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Để nhân dân luôn tin tưởng, ủng hộ và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, đồng chí nêu rõ những giải pháp cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, trong đó giải pháp mang tính quyết định là phải tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm thực sự trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến địa phương.
Lĩnh hội sâu sắc tư tưởng, quan điểm trong bài viết, tôi nhận thức rõ rằng để thực hiện hiệu quả hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, trước hết mỗi cán bộ và đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải luôn luôn gương mẫu, đi đầu trong mọi hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện, cũng như trong tác phong công tác, lối sống sinh hoạt, nêu cao tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tích cực phát huy tư duy năng động, sức sáng tạo, sẵn sàng hành động vì lợi ích chung, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết.
Mỗi việc làm của cán bộ, đảng viên phải thiết thực, tạo được sức lan tỏa sâu rộng trong chi bộ, đảng bộ, nhất là trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, từ đó thu hút sự quan tâm của quần chúng, dẫn dắt họ tin tưởng, thực hiện và chấp hành đúng.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy những bài học sâu sắc, đó là cần khắc phục ngay tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, tinh thần trách nhiệm thấp, làm việc cầm chừng, né tránh việc khó, sợ sai, sợ phải chịu trách nhiệm, dẫn đến công việc trì trệ, ảnh hưởng tới việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ.
Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị cần phải tăng cường kiểm tra, giám sát để chấn chỉnh, đồng thời kịp thời động viên, khuyến khích tinh thần làm việc, cống hiến của cán bộ, đảng viên; giương cao ngọn cờ đoàn kết để tạo nên sức mạnh tập thể, tận tâm, tận lực triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao với quyết tâm cao nhất, phấn đấu hoàn thành, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu đã đề ra.
Trong công tác xây dựng Đảng, cần chú trọng thực hiện nghiêm túc, thực chất việc tự phê bình và phê bình trong cấp ủy, chi bộ nhằm khắc phục hiệu quả những hạn chế, bất cập, phát huy tối đa tính tiên phong trong mỗi đảng viên, huy động được trí tuệ tập thể trong thực hiện nhiệm vụ.
Mỗi tổ chức đảng căn cứ vào Điều lệ, kỷ luật của Đảng và trên cơ sở thực tiễn triển khai thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, cần có cách nhìn nhận, đánh giá đảng viên phù hợp, khách quan, công bằng, dân chủ để phát huy đúng mặt mạnh, khắc phục được điểm yếu, giúp mỗi người không ngừng tự hoàn thiện phẩm chất và năng lực.
Đây là tiền đề quan trọng để nâng cao sức mạnh của mỗi tổ chức đảng, góp phần làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong những chặng đường mới./.
St

NỤ CƯỜI HẠNH PHÚC CỦA CÔ GÁI NHỎ MIỀN NAM TRONG VÒNG TAY BÁC

 Là thế hệ diễn viên đầu tiên của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam, với tài năng diễn xuất góp vào thành công của những bộ phim từ những năm 1960, Nghệ sĩ nhân dân Trà Giang vinh dự nhiều lần được gặp Bác Hồ. Những kỷ niệm và lời căn dặn của Bác luôn khắc sâu vào tâm trí cũng như trở thành hành trang trong suốt cuộc đời làm nghệ thuật của nghệ sĩ.

NSND Trà Giang kể lại những lần được gặp Bác và những bài học đi theo bà suốt đời: “Tôi được gặp Bác Hồ lần đầu tiên khi Người đến thăm Trường Điện ảnh Việt Nam. Bác hỏi “Các cháu học về điện ảnh thì học cái gì?”. Chúng tôi thưa với Bác rằng: “Chúng cháu được học tiểu phẩm, học vũ”. Bác nhắc nhở ngay: “Phải nói là học múa mới đúng từ Việt Nam, còn học vũ là chữ Hán”. Lời Bác nói giản dị thôi nhưng khiến chúng tôi cảm thấy rất thấm thía”.
Tiếp lời, NSND Trà Giang kể lại câu chuyện lần thứ 2 được gặp Bác Hồ: "Tôi vinh dự được tham dự Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III, năm 1962 tại Hà Nội. Lần ấy, khi nhà thơ Bảo Định Giang cho biết tôi được chọn đại diện tặng hoa Bác Hồ với tư cách đại biểu trẻ tuổi nhất, tôi đã rất xúc động vì không nghĩ mình lại có vinh dự lớn như vậy. Trong đại hội, Bác nhắn nhủ chúng tôi rằng: “Văn nghệ sĩ cũng là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa”. Ở lần gặp này, nghệ sĩ Trà Giang còn được chụp ảnh chung với Bác. Sau này, bức ảnh đó được nhiếp ảnh gia chú thích là: “Nụ cười hạnh phúc của cô gái nhỏ miền Nam trong vòng tay Bác”.
Bức ảnh được treo một thời gian dài ở Hãng Phim truyện Việt Nam, cho đến khi gia đình nghệ sĩ Trà Giang chuyển công tác vào Nam thì hãng phim tặng lại gia đình bức ảnh để làm kỷ niệm. “Suốt bao nhiêu năm qua, tôi vẫn treo bức ảnh trong phòng khách như một “bảo vật” của gia đình. Hình ảnh đó và những lời dạy của Bác sống mãi trong tâm trí của tôi”, NSND Trà Giang xúc động nói.
Lần thứ 3 NSND Trà Giang được gặp Bác vào năm 1963, khi đoàn làm phim mang bộ phim “Chị Tư Hậu” vào chiếu cho Bác xem. "Hôm đó, tôi không chỉ được ngồi gần xem phim với Bác hơn một tiếng đồng hồ mà còn được kể cho Bác nghe rất nhiều chuyện. Tôi kể cho Bác nghe khi tôi đi dự Liên hoan phim quốc tế tại Moscow, diễn viên các nước mặc rất nhiều quần áo đẹp, còn tôi thì chỉ có vài bộ áo dài. Kể đến đó, tôi dừng lại và rất lo lắng sợ Bác la. Nhưng Bác không la mà ân cần bảo tôi rằng: “Bác thấy áo dài Việt Nam rất đẹp và phụ nữ Việt Nam mặc áo dài rất đẹp”. Từ đó về sau, đi bất cứ sự kiện gì, cả trong hoạt động nghệ thuật, các cuộc giao lưu với đoàn quốc tế, lẫn ngoài đời sống tôi đều chọn mặc áo dài, luôn cảm thấy hãnh diện và tự hào vì đó là trang phục của riêng người Việt Nam”.
Bức ảnh “Nụ cười hạnh phúc của cô gái nhỏ miền Nam trong vòng tay Bác” chụp Bác Hồ với nghệ sĩ Trà Giang năm 1962.Ảnh: Nghệ sĩ cung cấp./.
ST

“NAM NỮ BÌNH QUYỀN” - BÀI VIẾT CỦA BÁC HỒ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA PHỤ NỮ QUỐC TẾ NHÂN NGÀY 08/3/1952

 Ngày 8-3-1952, Bác viết bài “Nam nữ bình quyền” với những lập luận sâu sắc được đăng trên báo Nhân dân ngày 14/4/1955 (Trích từ Sách Hồ Chủ tịch với vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1970, tr.31).

“Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ, chỉ: Hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng bình quyền. Lầm to! Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó. Vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn nǎm để lại. Vì nó ǎn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội. Vì không thể dùng vũ lực mà tranh đấu. Vài thí dụ: Sau khi Trung Quốc cách mạng thành công, chia xong ruộng đất; ban bố luật mới về việc lấy vợ gả chồng, thì có nơi 9 phần 10 vụ kiện thuộc về vấn đề vợ chồng. Ở tỉnh Sơn Đông trong 10 tháng nǎm 1950, có 1200 phụ nữ tự sát, 9 huyện ở tỉnh Giang Tô trong 4 tháng có 119 phụ nữ tự sát. ở khu Tân An (huyện Lục An) trong 6 ngày 4 phụ nữ bị đánh chết. Ngày trước những việc thê thảm như thế còn nhiều gấp mấy. Song không ai lo đến. Ngày nay Chính phủ nhân dân đang ra sức giải thích tuyên truyền giáo dục, cải tạo tư tưởng để chống bọn phong kiến đó. Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, vǎn hoá, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình, đến toàn dân. Dù to và khó nhưng nhất định thành công”./.
ST

Nhân ngày QTPN 8/3.

 Xin được trân trọng giới thiệu tiểu sử của Liệt nữ anh hùng Võ Thị Sáu, người con gái đất đỏ kiên trung, buất khuất anh hùng!

Võ Thị Sáu tên thật Nguyễn Thị Sáu sinh năm 1933 tại xã Phước Thọ, Huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa nay thuộc xã Phước Long Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chị được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Chị Võ Thị Sáu tên thật Nguyễn Thị Sáu có cha tên Võ Văn Hợi và mẹ tên là Nguyễn Thị Đậu, người ở xã Phước Thọ, quận Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa nay thuộc xã Phước Long Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Giống như các anh mình, chị đã tham gia vào các hoạt động bí mật ở địa phương.
Tiểu sử Chị Võ Thị Sáu:
Mới 14 tuổi, chị đã đi theo anh trai tham gia hoạt động cách mạng trốn lên ở trên chiến khu. Năm 1949, chị tham gia đội Công an xung phong Đất Đỏ làm liên lạc, tiếp tế. Năm 1950 tại Trận chiến Đất Đỏ, chị bị chính quyền Pháp bắt sau khi đã ném lựu đạn tại chợ Đất Đỏ, giết chết cai tổng Tòng và gây thương tích cho 20 thường dân. Tại phiên tòa đại hình, tuy mới 16 tuổi, nhưng chị Võ Thị Sáu đã hiên ngang khẳng định: "Yêu nước chống bọn thực dân xâm lược không phải là tội". Và khi quan tòa rung chuông ngắt lời chị, tuyên án: "Tử hình, tịch thu toàn bộ tài sản", chị đã thét lớn: "Tao còn mấy thùng rác ở khám Chí Hòa, tụi bây vô mà tịch thu!. Tiếp đó là tiếng hô: "Đả đảo thực dân Pháp! Kháng chiến nhất định thắng lợi!".
Tòa án binh Pháp kết án tử hình chị vào tháng 4 năm 1951. Sau gần ba năm tra tấn, giam cầm, quân Pháp đưa chị ra giam ở Côn Đảo. Dù các luật sư biện hộ cho chị đã phản đối án tuyên này với lý do chị chưa đủ 18 tuổi. Trước khi bị đưa ra hành án, chị bị đày qua các nhà tù Chí Hòa, Bà Rịa và Côn Đảo. Vì quân Pháp không dám công khai thi hành bản án đối với chị, họ đã lén lút đem chị đi thủ tiêu. Một giai thoại kể khi nhóm đao phủ bảo chị quỳ xuống, chị đã quát lại: "Tao chỉ biết đứng, không biết quỳ!".
Vào 7 giờ sáng ngày 23 tháng 1 năm 1952, Chị bị xử bắn tại Côn Đảo. Biết sắp bị hành hình, suốt đêm 22, chị hát những bài ca cách mạng: Lên đàng, Tiến quân ca, Cùng nhau đi hùng binh... Khi lắng nghe thấy bước chân đao phủ giải chị Sáu đến nơi hành hình, tất cả anh em đồng chí trong ngục cùng đứng dậy hát vang bài Chiến sĩ ca - bài hát dành để bày tỏ lòng cảm phục, tiếc thương và tiễn đưa những người đồng đội ra pháp trường.
Trước khi bị bắn, viên cố đạo làm lễ rửa tội,hắn nói:"Hãy để cha rửa tội cho con.". Chị gạt phắt lời viên cha cố: "Tôi không có tội. Chỉ có kẻ sắp hành hình tôi đây mới là có tội.". Cố đạo kiên nhẫn thuyết phục: "Trước khi chết, con có điều gì ân hận không?". Chị nhìn thẳng vào mặt ông ta và mặt tên chánh án, trả lời: "Tôi chỉ ân hận là chưa tiêu diệt hết bọn thực dân cướp nước và lũ tay sai bán nước". Ra đến pháp trường, chị nói: "Không cần bịt mắt tôi. Hãy để cho đôi mắt tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng và tôi có đủ can đảm để nhìn thẳng vào họng súng của các người!". Nói xong, chị bắt đầu hát bài Tiến quân ca. Khi lính xử bắn lên đạn, chị ngừng hát và hô vang những lời cuối cùng "Đả đảo bè lũ thực dân Pháp. Việt Nam độc lập muôn năm. Hồ Chủ tịch muôn năm!"
Mộ của Võ Thị Sáu hiện đang còn ở Nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo. Ngày 2 tháng 3 năm 1993, Chủ tịch Nước Lê Đức Anh ký Quyết định số 149 truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân./.
ST

“MÓN QUÀ 8-3" Ý NGHĨA TỪ CÁC BÁC SĨ MŨ NỒI XANH VIỆT NAM

 Nhằm thiết thực kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ (8-3), Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 5 tham gia Phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan (UNMISS) đã thực hiện chương trình khám bệnh thiện nguyện dành cho phụ nữ và trẻ em gái là người dân địa phương ở thị trấn Bentiu, bang Unity, Nam Sudan.

Chương trình có sự phối hợp của các sĩ quan cá nhân một số nước làm việc tại phái bộ, Bệnh viện cấp 1 thuộc Tiểu đoàn bảo vệ Mông Cổ và các y, bác sĩ địa phương. Chương trình đã triển khai gói thăm khám bao gồm khám sức khỏe tổng quát kèm khám phụ khoa cho khoảng 50 phụ nữ địa phương. Các y, bác sĩ đã siêu âm tổng quát, siêu âm sản khoa, tư vấn sức khỏe sinh sản, tư vấn cách phát hiện sớm những bất thường và bệnh lý phụ khoa thường gặp, đặc biệt là hướng dẫn cách chăm sóc và vệ sinh phụ khoa đúng cách cho chị em. Sau buổi thăm khám, các chị em được phát 50 phần quà, gồm có áo, dép, mũ, dung dịch vệ sinh phụ nữ...
Trong quá trình tầm soát, các y, bác sĩ đã phát hiện nhiều bệnh lý mà chính người bệnh không biết, giúp người bệnh có nhiều thông tin về bệnh lý của mình, hướng và cách xử trí tiếp theo. Theo bác sĩ Huỳnh Thị Thanh Giang (phụ trách chính về thăm khám sản khoa và tư vấn), buổi tầm soát đã phát hiện 2 ca sỏi túi mật, sỏi niệu quản. Đặc biệt, phát hiện 1 ca thai sớm (bản thân thai phụ không biết mình mang thai) và 1 ca theo dõi thai ngưng tiến triển, cả 2 trường hợp này được hẹn tái khám, hướng dẫn chi tiết và đề xuất hướng xử trí tiếp theo cho người bệnh. Người bệnh và thân nhân đi cùng rất cảm động vì sự tận tụy của các bác sĩ Việt Nam giúp họ bảo đảm sức khỏe. Các tổ chức địa phương đánh giá cao về tinh thần và thái độ của các y, bác sĩ Việt Nam, đặc biệt là ý nghĩa của chương trình thiện nguyện mà Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 5 chủ trì tổ chức.
Được biết để bảo đảm chương trình thiện nguyện diễn ra hiệu quả và mang tới niềm vui cho người dân địa phương, Thiếu tá Trần Thuận Trang, Điều dưỡng trưởng Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 5 cùng Tổ trưởng Tổ Phụ nữ, Điều dưỡng Nguyễn Thị Thanh Hằng, đã lên kế hoạch chu đáo từ trước. Những gói quà được gói cẩn thận, đẹp mắt. Các thành viên tổ phụ nữ còn pha 50 lít trà sữa để mang tới chương trình thiện nguyện, mời các bệnh nhân tới khám và đồng nghiệp quốc tế cùng thưởng thức, mang lại bầu không khí thân thiện, tạo ấn tượng tốt đẹp với người dân địa phương và bạn bè quốc tế. Nhiều người còn mong muốn bệnh viện sẽ sớm quay lại và tổ chức thêm các hoạt động ý nghĩa như thế này trong thời gian tới. Tại buổi thiện nguyện, các nữ bác sĩ Việt Nam đã dành tặng các nữ đồng nghiệp quốc tế tham gia lời chúc tốt đẹp nhân ngày 8-3.
Bentiu là vùng đất nghèo khó và bất ổn do sự tranh giành ảnh hưởng từ các nhóm quân sự. Người dân tại đây sống gần như nhờ vào trợ cấp của Liên hợp quốc. Trong đó, các đối tượng trẻ em gái, người già và phụ nữ là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, cần được quan tâm và bảo vệ nhất. Liên hợp quốc đánh giá cao và khuyến khích các hoạt động thiện nguyện đóng góp và hỗ trợ cho cộng đồng, quan tâm đến các đối tượng dễ bị tổn thương.
Theo Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Hà Ngọc- Giám đốc Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 5, bệnh viện đã chủ động đề xuất với các đơn vị bạn và cơ quan tại phân khu Bentiu, xây dựng kế hoạch chi tiết, phối hợp với các đầu mối tổ chức thành công chương trình thiện nguyện. Chỉ huy Phân khu Bentiu ủng hộ và đánh giá cao hoạt động này vì thiết thực góp phần hưởng ứng Tuần lễ hành động vì Phụ nữ và Trẻ em nhân ngày Quốc tế Phụ nữ./.
St

BỨC THƯ THỨ 4 CỦA BÁC HỒ CHÚC MỪNG NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ

 Trên Báo Nhân Dân, số 735, ngày 8-3-1956, với bút danh C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài Chúc mừng ngày Phụ nữ Quốc tế "8-3"

“Ngày Phụ nữ quốc tế năm nay có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt: Trên thế giới thì lực lượng hoà bình phát triển ngày càng mạnh. Trong nước thì phong trào thi đua xây dựng ngày càng lên cao.
Dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, phụ nữ ta đã được bình quyền về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Cho nên trong cuộc kháng chiến vĩ đại vừa qua, cũng như trong công việc xây dựng từ ngày hoà bình trở lại, phụ nữ ta đã góp phần xứng đáng.
Phụ nữ ta có nhiều thành tích to, nhưng phụ vận ta còn có thiếu sót: Ít chú ý vận động gia đình các cán bộ và các nhà thủ công nghiệp, gia đình các nhà công thương và các chị em nội trợ. Kinh nghiệm của phụ vận Trung Quốc chứng tỏ rằng: Khéo vận động, tổ chức và hướng dẫn, thì những chị em phụ nữ ấy có tác dụng lớn đối với xã hội. Cách làm của phụ vận Trung Quốc giản đơn, thiết thực và kết quả to, gọi là "5 tốt":
- Gia đình và xóm giềng đoàn kết và giúp đỡ nhau tốt,
- Sinh hoạt và công việc trong nhà sắp đặt tốt,
- Giáo dục con em tốt,
- Khuyến khích chồng con, anh em sản xuất, công tác và học tập tốt,
- Tự mình học tập tốt.
Phụ vận ta nên cố gắng thực hiện kinh nghiệm ấy.
Để kỷ niệm ngày 8-3 một cách thiết thực và xứng đáng, chúng ta cần động viên:
Chị em phụ nữnông thônTHI ĐUA góp sức hoàn thành tốt cải cách ruộng đất và lập những tổ đổi công tốt.
Chị emcông nhân và công chứcTHI ĐUA làm trọn nhiệm vụ của mình.
Chị emtrí thứcTHI ĐUA góp phần vào việc phát triển văn hoá.
Nữ thanh niêntuỳ theo cương vị của mình, THI ĐUA học và hành, xung phong trong mọi công việc.
Mọi chị em, mọi giới phụ nữ đều thi đua góp sức hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1956, đều hăng hái tham gia công cuộc củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam, để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Đồng thời, phụ nữ ta cần đoàn kết với chị em các nước bạn và phụ nữ dân chủ các nước khác để giữ gìn hoà bình thế giới và xây dựng hạnh phúc cho cả loài người. Đó là trách nhiệm rất vẻ vang của phụ nữ Việt Nam ta!
St

CÁN BỘ QUÂN ĐỘI THỰC HIỆN “7 DÁM” LÀ PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY!

 Phương châm xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ quân đội “7 dám” theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương là sự tiếp nối và cụ thể hóa những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn hiện nay. Đây là sự phát triển tư duy lý luận với nội hàm mới, yêu cầu mới, đòi hỏi ngày càng cao đối với phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ quân đội trong giai đoạn cách mạng mới. Vì thế, mọi sự rêu rao, xuyên tạc về vấn đề này cần kiên quyết vạch trần, bác bỏ.

Sự xuyên tạc trơ trẽn
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020-2025, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương có bài phát biểu quan trọng, mang tầm chiến lược, định hướng căn bản để Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo quân đội thực hiện tốt mọi nhiệm vụ đề ra trong những năm tới, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Trong bài phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh về công tác cán bộ và chú trọng xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ quân đội theo tinh thần “7 dám”: “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”. Đây là sự đúc kết sâu sắc lý luận và thực tiễn, thể hiện nét đặc sắc trong tư duy lý luận của người đứng đầu Đảng ta và Quân ủy Trung ương về công tác cán bộ quân đội trong giai đoạn cách mạng mới.
Thế nhưng, thời gian qua, trên một số diễn đàn, trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị đã cố ý tung tin sai trái, xuyên tạc ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chúng rêu rao rằng, “xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội “7 dám” chỉ là khẩu hiệu suông”; “làm gì có cán bộ nào thực hiện được “7 dám”, “cán bộ “7 dám” chỉ là lý luận hão huyền”. Chúng còn lợi dụng một số hạn chế trong công tác cán bộ và một vài cán bộ trong quân đội vi phạm pháp luật đã bị xử lý hình sự rồi tung hỏa mù thật giả lẫn lộn, đánh đồng hiện tượng với bản chất, cố tình lèo lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực nhằm gây mất lòng tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ nói riêng và đối với Đảng, Nhà nước ta nói chung.
Sự đúc kết sâu sắc về xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ. Người chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Cách đây 62 năm, trong “Thư gửi đồng bào và cán bộ xã Nam Liên” ngày 13-2-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tư tưởng bảo thủ là như những sợi dây cột chân cột tay người ta, phải vất nó đi. Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm”. Người đã cổ vũ tinh thần đổi mới, mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm trong phát triển sản xuất và xây dựng hợp tác xã. Người yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải nêu gương cho quần chúng trong việc chủ động, kiên quyết khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, đường mòn lối cũ, chậm đổi mới.
Suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và khẳng định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Do vậy, công tác cán bộ luôn được Đảng xác định là khâu “then chốt của then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhất quán xác định bảo vệ cán bộ là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chủ trương: “Khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”. Quán triệt tinh thần đó, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”, trong đó yêu cầu: “Cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, gương mẫu, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung”.
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29-9-2023 của Chính phủ “Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” đã quy định: “Cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung phải được khuyến khích, bảo vệ”.
Để việc bảo vệ cán bộ bằng thể chế ngày càng thiết thực và hiệu quả, Đảng ta và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu: Thể chế bảo vệ cán bộ không trái với các khuôn khổ, nguyên tắc vận hành hệ thống chính trị, đặc biệt là Hiến pháp và Điều lệ Đảng; thể chế bảo vệ cán bộ phải xác định được các chủ thể tham gia với những quy định chi tiết về quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ; thể chế bảo vệ cán bộ cần xác lập được các tiêu chí đánh giá cụ thể, phù hợp; thể chế bảo vệ cán bộ cần xác lập được cơ chế kiểm soát cán bộ và phương pháp thực hiện đúng đắn.
Nhờ chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng đội ngũ cán bộ nên công tác cán bộ ở nước ta ngày càng đạt nhiều kết quả quan trọng. Quy trình thực hiện công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch. Điều đó minh chứng việc xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ quân đội “7 dám” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một chủ trương lớn, thể hiện tầm nhìn, tư duy chiến lược; tình cảm, niềm tin và yêu cầu cao của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đó cũng là kim chỉ nam, phương châm hành động trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh” và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Tinh thần cán bộ quân đội “7 dám” được khẳng định trong gian khó.
Với tinh thần nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đảng ta chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là người đứng đầu ở nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị chưa tạo sự lan tỏa sâu rộng... Những hạn chế này có nguyên nhân từ một số khâu trong công tác cán bộ chậm được đổi mới; chính sách cán bộ chưa thật sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc; chưa có cơ chế hiệu quả để bảo vệ cán bộ dám đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm...
Thời gian qua, một số cán bộ quân đội mắc sai phạm, bị xử lý hình sự và kỷ luật chủ yếu do không chịu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về đạo đức, lối sống, làm tổn hại đến danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam. Một vài cá nhân đó sai phạm xuất phát từ lý do chủ quan, chứ tuyệt nhiên không phải do sai lầm từ chủ trương, đường lối trong công tác cán bộ của Đảng, lại càng không phải là biểu hiện mất dân chủ, thiếu minh bạch, “áo gấm đi đêm” vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ; đồng thời, cũng không phải là hệ quả của chủ trương “xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội “7 dám” vì đó là khẩu hiệu suông” như các thế lực thù địch rêu rao.
Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cho thấy, đại đa số cán bộ, đảng viên trong quân đội vẫn tuyệt đối trung thành và một lòng một dạ phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Điều đó được thể hiện sinh động trong cuộc chiến chống “giặc Covid-19” đã có hàng nghìn cán bộ, đảng viên, các y sĩ, bác sĩ, chiến sĩ quân đội tự nguyện gác lại việc riêng, tình nguyện xung phong đến tuyến đầu chống dịch, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, thậm chí hy sinh tính mạng để hết lòng hết sức cứu chữa bệnh nhân, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Sự xuất hiện đúng lúc, kịp thời của đội ngũ cán bộ chỉ huy các cấp trong quân đội ở những “điểm nóng” đại dịch Covid-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương... và nhiều tỉnh, thành phố trong năm 2021 là biểu hiện rõ nét của tinh thần cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tiên phong đương đầu, dám hành động vì lợi ích chung ngay cả đối với những việc khó khăn, phức tạp, chưa có tiền lệ và trong những tình huống nóng bỏng nhất. Đó là bằng chứng về “lòng son dạ sắt” của những cán bộ hội tụ phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời bình.
Phương châm xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ quân đội “7 dám” theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là sự tiếp nối và cụ thể hóa những đặc trưng, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây là sự phát triển tư duy lý luận với nội hàm mới, yêu cầu mới, đòi hỏi ngày càng cao đối với phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ quân đội trong giai đoạn cách mạng mới. Khi cán bộ các cấp trong quân đội hội tụ đầy đủ “Tâm - Tầm - Tài”, uy tín và luôn thấm nhuần, thể hiện tinh thần “7 dám”, quân đội ta sẽ có nền tảng vững chắc, tạo động lực mạnh mẽ để xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có sức mạnh tổng hợp và sức chiến đấu cao, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi tình huống./.
ST

ĐẢNG LÀ ĐỘI TIỀN PHONG CỦA GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC

Lịch sử là không thể bẻ cong! Vì sự thật là từ năm 1930 đến nay, ngoài Đảng Cộng sản - đội tiền phong của giai cấp và dân tộc, thì ở Việt Nam không có đảng phái, tổ chức chính trị của nhân sĩ, trí thức yêu nước hay của giai cấp tư sản dân tộc nào đủ năng lực, uy tín chính trị để lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vị thế, vai trò lãnh đạo của Đảng cũng không chỉ được ghi rõ trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, chuyên đề của Đảng; trong các công trình nghiên cứu, đánh giá, tổng kết về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn được các tầng lớp nhân dân tin tưởng và các chính đảng khác (Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội/Việt Cách, Việt Nam Quốc dân Đảng/Việt Quốc, Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội…) ghi nhận chính là sự thật. Thực tế, với Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); với Văn kiện 13 kỳ Đại hội đúng đắn của Đảng, đáp ứng được yêu cầu của lịch sử và đòi hỏi của dân tộc, thời đại, Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc, thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất (1930 -1975); đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng (1975 - nay). Một đất nước Việt Nam ngày càng phát triển ổn định về mọi mặt, khẳng định được vị thế trong khu vực và trên thế giới trước những diễn tiến khó lường của tình hình quốc tế, trước những thách thức của biến đổi khí hậu, môi trường, an ninh lương thực… chính là minh chứng chứng minh nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Nhìn lại chặng đường 1930 - 1975, chúng ta rất đỗi tự hào, tin tưởng và biết ơn sâu sắc Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại đã luôn luôn sáng suốt lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi vang dội này đến thắng lợi vang dội khác, viết tiếp vào lịch sử của Dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng những trang vàng chói lọi, được thế giới ngưỡng mộ, đánh giá cao: Tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám long trời lở đất, giành chính quyền về tay Nhân dân, đưa nước ta ra khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc vào năm 1945; trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, kết thúc bằng Hiệp định Giơnevơ và thắng lợi của chiến dịch Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, vừa đấu tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ trên không và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử” trong bài viết nêu trên là hoàn toàn chính xác. Đồng thời, cũng chứng minh niềm tự hào: “Với tất cả sự khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại! Nhân dân ta thật là anh hùng! Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” của Tổng Bí thư cũng như của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam là không có gì sai. Bởi rằng, trên thực tế, “nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và tăng trưởng liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 40 năm qua với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300 USD năm 2023; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD)… Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2023. Đầu tư nước ngoài liên tục phát triển, vốn đăng ký tăng 32%, vốn thực hiện tăng 3%, đạt 23 tỉ USD trong năm 2023, cao nhất từ trước đến nay; và Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia hàng đầu ASEAN về thu hút FDI. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức quốc tế đánh giá đứng thứ 46/132 nước được xếp hạng” đúng như Tổng Bí thư đã khẳng định. Những con số “biết nói”, những kết quả đạt được đó không chỉ được nhân dân đồng tình, ủng hộ, tin tưởng mà còn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao; không chỉ cho thấy việc Đảng “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", "đổi mới tư duy" đã đề ra Đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” như Tổng Bí thư nhận định là không thể phủ nhận, mà còn cho thấy Đảng đại diện cho quyền lợi của giai cấp, dân tộc, đủ uy tín chính trị, trí tuệ, bản lĩnh, năng lực để lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong 94 năm qua. Điều đó cũng có nghĩa là, những luận điệu xuyên tạc cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc tài”, là “công cụ của một số chính trị gia” hay “Đảng chăm lo đến phát triển kinh tế, một phần vì dân, nhưng chủ yếu là cho Đảng” và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “nói là khiêm tốn”, nhưng thật ra “niềm tự hào” đó “chứa đầy sự kiêu ngạo cộng sản” chỉ là sự suy diễn của các phần tử cơ hội, phản động, các thế lực thù địch! Việc Đảng Cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài chính trị; khẳng định được vị trí, vai trò lãnh đạo cách mạng là sự thật và điều đó đã được hiến định tại Điều 4, Hiến pháp 2013. Sự thừa nhận, tôn vinh của các tầng lớp nhân dân và cả hệ thống chính trị mới là sự thật; sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, vì nhân dân phụng sự mới là sự thật và sự tự hào của Tổng Bí thư về Đảng cũng là sự thật chứ không phải “là tự hào một cách hoang tưởng”. Vì thế, có thể khẳng định chắc chắn rằng, nhận định của Tổng Bí thư “ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”trong bài viết là hoàn toàn đúng đắn.

LỊCH SỬ CHÍNH LÀ NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC!

 Xin trích câu câu chuyện về chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để chúng ta cùng tham khảo.

Tháng 10/2011, trong một buổi nói chuyện với Tổng bí thư Trung Quốc khi đó là Hồ Cẩm Đào đã nói với đại ý: “Tôi là người Trung Quốc tôi không nói Nam Sa - Tây Sa là của tôi thì tôi không phải là người Trung Quốc.
Cũng như các đồng chí là người Việt Nam mà không nói Hoàng Sa - Trường Sa là của các đồng chí thì các đồng chí không phải là người Việt Nam”.
Đây có thể nói chính là thứ lý lẽ ngụy biện bởi “một cái gì đó hoặc là của anh, hoặc là của tôi".
Cũng trong cuộc gặp đó ông Hồ Cẩm Đào còn nói với đại ý rằng: “Tôi không thể bỏ đường 9 đoạn được vì đường chín đoạn là cái lịch sử để lại, nếu chúng tôi bỏ nó thì người dân Trung Quốc không theo chúng tôi”.
Đáp lại câu nói này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Các đồng chí nói như vậy là sai rồi, "cái đường đó..." đâu phải là đường lịch sử để lại. Đường đó là của Tưởng Giới Thạch. Mà cả chúng tôi và các đồng chí đều không công nhận Tưởng Giới Thạch thì làm sao có thể công nhận sản phẩm của họ được?
Nếu các đồng chí nói lịch sử thì lẽ ra phải nói đến “Nhị thập tứ sử” hay “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ chứ”. Đến đây, Hồ Cẩm Đào chỉ còn biết im lặng…
Về "Nhị thập tứ sử" là bộ chính sử được các triều đại Trung Quốc thừa nhận. Bộ sử ký này ghi chép từ thời Thượng cổ đến thời nhà Thanh. Trong đó các mục Địa lý đều không đề cập đến các hòn đảo ở xa hơn đảo Hải Nam.
Về Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” - Tập bản đồ Địa dư toàn đồ tới các tỉnh của TQ được thực hiện dưới thời nhà Thanh, xuất bản năm 1904 trong đó ghi rõ cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam.
Qua câu chuyện trên ta thấy sự thông thái về lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm cho Hồ Cẩm Đào vừa nể phục vừa ngượng ngùng và bẽ mặt, bị chặn họng vì đã đọc được âm mưu...
Màn đối đáp lịch sử đầy trí tuệ, khí chất Việt Nam như một đội quân tinh nhuệ, thiện chiến đẩy lùi và đánh tan sự xâm lăng của quân xâm lược từ trong trứng nước, đồng thời tôn thêm niềm tự hào, tự tôn dân tộc./.
St

THẾ GIỚI KHÔNG CÓ NGƯỜI THỨ 2

 Hình ảnh bên phải là phi công James H. Kasler - một trong những phi công lừng lẫy nhất lịch sử không quân Hoa Kỳ, được gọi là "kẻ hủy diệt MiG" hoặc "vua không chiến" trong Chiến tranh Triều Tiên bởi thành tích bắn hạ 6 máy bay MiG trong giai đoạn 1950 - 1953. James H. Kasler được công nhận là phi công đạt đẳng cấp ACE - một thành tích huy hoàng dành cho những phi công bắn hạ từ 5 máy bay địch trở lên. Ông cũng nhận được tổng cộng 76 huân, huy chương các loại - nhiều nhất lịch sử không quân Hoa Kỳ. James H. Kasler cũng là phi công hấp dẫn nhất, đẹp trai nhất trong số các phi công Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam. Trên phim ảnh, James H. Kasler cũng chính là một trong số các hình tượng để xây dựng lên nhân vật phi công Pete "Maverick" Mitchell do Tom Cruise thủ vai trong loạt phim huyền thoại Top Gun. James H. Kasler tham chiến tại Chiến tranh Việt Nam với nhiệm vụ hủy diệt các phi công Việt Nam, chấm dứt "huyền thoại" về các máy bay MiG, đánh gục ý chí chiến đấu của không quân Việt Nam, dạy cho một nền không quân non trẻ như Việt Nam biết thế nào là "không chiến đích thực". Nhưng huyền thoại James H. Kasler với hơn 3000 giờ bay lại bị một chàng trai phi công Việt Nam mới ở độ tuổi 30, chỉ có chưa đầy 200 giờ bay thực tế, hạ gục trong một trận không chiến vào tháng 6/1966. Điều bất ngờ là chàng trai này chỉ lái MiG-17, một phương tiện bay lạc hậu hơn rất nhiều so với một chiếc F-4 Phantom II hoặc F-105 Thunderchief mà phi công James H. Kasler lái.

Chàng trai 30 tuổi này tên là Nguyễn Văn Bảy (hình bên trái) hay còn gọi là Bảy A, trước đó đã bắn hạ 2 máy bay khác, đến chiếc máy bay của James H. Kasler là chiếc thứ 3. Tổng thành tích hạ gục của chàng trai Nguyễn Văn Bảy trong cuộc đời chiến đấu là 7 chiếc và đạt đẳng cấp ACE.
Có thể nói James H. Kasler có một cuộc đời chiến binh đầy hào hùng cho đến khi gặp phi công Nguyễn Văn Bảy. Sau khi bị bắn hạ, James H. Kasler phải ngồi tù tại Hỏa Lò cho đến tận năm 1973, được trả về sau khi Hiệp định Paris được kí.
Thành tích mà chàng trai Nguyễn Văn Bảy khi bắn hạ James H. Kasler được gọi là “ACE bắn hạ ACE” - thành tích vô tiền khoáng hậu trên thế giới, chưa được bất cứ phi công nào trên thế giới lặp lại từ Thế chiến II cho đến tận thời điểm hiện tại….
Và thành tích này sẽ tồn tại rất lâu nữa và thậm chí sẽ không bao giờ tái hiện được. /.
St

TD10-XUẤT BẢN SÁCH ĐIỆN TỬ BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

 Kịp thời thực hiện Hướng dẫn số 141-HD/BTGTW, ngày 5-2-2024 của Ban Tuyên giáo Trung ương về triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung bài viết “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản sách điện tử bài viết trên trang web: sachquocgia.vn.

Nhân dịp kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930/3-2-2024), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết đặc biệt quan trọng cả về lý luận và thực tiễn: “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”.
Bài viết ngay sau khi được công bố đã nhận được sự quan tâm, hưởng ứng sâu rộng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống lịch sử vẻ vang của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, dân tộc Việt Nam anh hùng; củng cố niềm tin son sắt vào sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, vào công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc. Nhằm triển khai sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung bài viết quan trọng này, tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn hệ thống chính trị, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách "Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng" gồm toàn văn bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Ấn phẩm gồm 3 phần: “Đảng ta ra đời, lãnh đạo đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”; “Đảng lãnh đạo khắc phục hậu quả chiến tranh; tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế; xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”; “Phát huy hơn nữa truyền thống yêu nước và cách mạng vẻ vang, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025 và năm 2030, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”.
Tài liệu này kịp thời đáp ứng nhu cầu nghiên cứu của cán bộ, đảng viên, bạn đọc, phục vụ các tổ chức đảng, đoàn thể, cơ quan, đơn vị, các cấp ủy, chi bộ trong sinh hoạt và sinh hoạt chuyên đề./.
St