NHẬN DIỆN,
ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN CHỦ TRƯƠNG “KHƠI DẬY KHÁT VỌNG PHÁT
TRIỂN ĐẤT NƯỚC” CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trước những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ
trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán
bộ, đảng viên, nhân dân cần tỉnh táo, cảnh giác cao và nhận rõ đó là những âm
mưu, thủ đoạn nham hiểm, thâm độc, hòng chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng,
làm nhụt chí quyết tâm của toàn dân tộc trên con đường phát triển giàu mạnh,
phồn vinh. Chúng ta khẳng định: chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất
nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng ta là đúng đắn, khoa học, khả thi với những
luận cứ xác đáng, thuyết phục, cụ thể như sau:
Một
là, khát vọng phát triển đất nước có vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt
Các nhà kinh điển mác - xít đã khẳng định: vật
chất có trước, ý thức có sau; vật chất quyết định ý thức song ý thức có tính
độc lập tương đối với vật chất, có tính năng động, sáng tạo nên tác động trở
lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan. C.Mác cho rằng: “Vũ khí
của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực
lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận
cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”. Để
hiện thực hóa sức mạnh ấy, đòi hỏi phải tiến hành công tác tuyên truyền, vận
động, giáo dục, thuyết phục, giác ngộ và tổ chức cho quần chúng tham gia các
phong trào cách mạng, các hoạt động xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý... Bổn phận của chúng ta là...
phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu
nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc
kháng chiến”.
Thực tiễn lịch sử xã hội loài người chứng
minh, sự hình thành, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc phụ thuộc trước hết
vào khát vọng sống, tồn tại và vươn lên của cộng đồng dân tộc đó. Lúc thuận lợi
cũng như khi khó khăn, sức mạnh của tinh thần, của ý chí, nhất là ý chí của cả một
dân tộc giữ vai trò hết sức quan trọng, thậm chí là quyết định. Khát vọng phát
triển của một dân tộc là nguồn năng lượng nội sinh to lớn và sức mạnh vô
địch; là động lực trung tâm của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới
tương lai. Sự phát triển “kỳ diệu” của một số quốc gia hùng mạnh trong tiến
trình lịch sử nhân loại đều bắt nguồn chính từ những khát vọng vươn lên hùng
cường như Mông Cổ trong thế kỷ XIII; Anh trong thế kỷ XIX; Mỹ, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Singapore trong thế kỷ XX và Trung Quốc trong thế kỷ XXI…
Đối với Việt Nam, khát vọng phát triển
đất nước thật sự là sức mạnh nội sinh phi thường, cội nguồn tạo nên những
kỳ tích trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Thời trung đại, Việt
Nam đánh thắng tất cả các cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến phương Bắc,
giữ vững nền độc lập dân tộc, bắt nguồn từ khát vọng về độc lập, chủ quyền quốc
gia. Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, nhân dân ta đã đập tan ách áp bức, bóc lột của đế quốc, thực dân,
phong kiến; đánh thắng các thế lực xâm lược hùng mạnh, bảo vệ độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã
hội. Những chiến công lừng lẫy đó bắt nguồn từ khát vọng mãnh liệt của toàn dân
tộc: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và khát vọng này đã được Chủ
tịch Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý thời đại. Hiện nay, khát vọng phát
triển giàu mạnh, hùng cường là một động lực mới thúc đẩy dân tộc ta tiến lên,
khắc phục đói nghèo, lạc hậu, vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” và “nguy cơ
tụt hậu về kinh tế”.
Rõ ràng, Đảng ta không tuyệt
đối hóa vai trò động lực của khát vọng phát triển đất nước mà xác định đây là
một trong những động lực cho đổi mới, phát triển; là động lực thúc đẩy chứ
không thể thay thế vai trò cơ sở, nền tảng quyết định của yếu tố kinh tế, vật
chất, kỹ thuật và đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực.
Hai là, khơi dậy
khát vọng phát triển đất nước trên cơ sở cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín đất
nước
Khát vọng phát triển đất nước bắt
nguồn từ niềm tin vững chắc vào cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước
sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới. “Đất nước ta chưa bao giờ có được
cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là
động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân
ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới
toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”.
Một trong những dấu ấn nổi bật nhất của Việt
Nam trong giai đoạn 2016 - 2020 là thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép”: vừa tập
trung phòng chống, kiểm soát tốt dịch bệnh Covid-19; vừa tạo điều kiện thuận
lợi cho phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam được truyền thông
quốc tế ca ngợi là “mảnh đất tiềm năng” (Forbes), “bình minh đang lên” (báo
Nga), “ngôi sao sáng” (Asia Times), “phép màu châu Á” (New York Times), “con Hổ
châu Á” (Nikkei Asia)...
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống
chính trị được tiến hành toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, “năng lực lãnh
đạo, năng lực cầm quyền của Đảng được nâng lên”, “hiệu lực, hiệu quả quản lý
của Nhà nước được củng cố và tăng cường”. Công tác phòng, chống tham nhũng,
tiêu cực được tiến hành quyết liệt, đạt được những kết quả quan trọng; tuyệt
đại đa số ý kiến người dân (93%) tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu
tranh phòng, chống tham nhũng.
Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế phát triển; chính trị
- xã hội ổn định; văn hóa - xã hội có bước phát triển; quốc phòng, an ninh được
củng cố, tăng cường. Nếu năm 1988, thu nhập bình quân đầu người của nước ta mới
chỉ đạt 86 USD/người/năm thì đến năm 2020 Việt Nam đã trở thành một quốc gia có
quy mô dân số gần 100 triệu người với mức thu nhập bình quân gần 2.800 USD/người.
Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu; Việt Nam là bạn,
là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Vị
thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Độc
lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững.
Ba là, chủ trương
“khơi dậy khát vọng phát triển đất nước” là “ý Đảng” hợp “lòng dân”
Quá trình chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội
XIII, các Tiểu ban đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ở Trung ương và địa
phương, xin ý kiến các đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước,
tham vấn ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học; tổ chức tọa đàm với một số tổ
chức quốc tế. Văn kiện được đánh giá có quá trình chuẩn bị “rất công phu, chu
đáo, bài bản, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới
quan trọng về nội dung và phương pháp tiến hành. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc
kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên
định và đổi mới, giữa kế thừa và phát
triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, dự thảo các văn kiện đã thực
sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể
hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hòa quyện cùng quyết tâm và ý
chí phát triển của dân tộc”. Các ý kiến, đề xuất tâm huyết, trách nhiệm, kết
tinh trí tuệ, ý chí và sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta,
mong muốn đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh; nhân dân ta ngày càng ấm
no, hạnh phúc; dân tộc ta ngày càng cường thịnh, trường tồn. Tất cả những điều
đó chứng minh tính khoa học, khách quan của những đánh giá, các mục tiêu, nhiệm
vụ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.
Đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc
là một quá trình cải biến xã hội toàn diện và sâu sắc. Để hoàn thành thắng lợi
sự nghiệp vĩ đại này, cần huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại với những kế
hoạch, biện pháp cụ thể của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành, của cả hệ
thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng trong từng giai đoạn.
Một tín hiệu lạc quan nữa là trong khó khăn,
chúng ta vẫn tiếp tục quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Sau Hội
nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, các chủ trương, chính sách phát triển văn hoá,
con người được triển khai đồng bộ, có hiệu quả. Việt Nam đã ứng phó, kiềm chế,
kiểm soát được dịch bệnh, từng bước chuyển sang trạng thái “Thích ứng an toàn,
linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”. Các cơ chế, chính sách hỗ trợ
người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh đã được triển khai nhanh
chóng, quyết liệt với tinh thần “lợi ích phải hài hoà, rủi ro cùng chia sẻ”,
góp phần bảo đảm an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.
Quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố,
tăng cường; môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững, tạo thuận lợi cho phát
triển kinh tế - xã hội. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được mở rộng, đi
vào chiều sâu, triển khai đồng bộ, toàn diện, linh hoạt, hiệu quả trường phái
ngoại giao “cây tre Việt Nam”. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta ngày càng
được nâng cao trên trường quốc tế; đóng góp tích cực, hiệu quả, có trách nhiệm
vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác, phát triển, tiến bộ và công bằng xã hội
trên phạm vi toàn thế giới.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét