Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2024

Tác phẩm “Đường Cách mệnh” với vấn đề giải quyết mối quan hệ dân tộc – giai cấp của cách mạng Việt Nam

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam nhiều di sản vô cùng quý báu, một trong những di sản đó là tác phẩm “Đường Cách mệnh”. 

Tác phẩm “Đường Cách mệnh”

Tác phẩm “Đường Cách mệnh”

Tác phẩm là kết quả tập hợp những bài giảng của Người dùng trong các lớp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) vào những năm 1925, được Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông tập hợp, in thành sách “Đường Cách mệnh” vào năm 1927. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu, hàm chứa giá trị lý luận, thực tiễn to lớn và sâu sắc, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, trong việc kết hợp phong trào công nhân và yêu nước với chủ nghĩa Mác, tạo lập các tiền đề tư tưởng, lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tác phẩm “Đường cách mệnh” ra đời trong bối cảnh phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản các nước trên thế giới phát triển mạnh mẽ, phong trào giải phóng dân tộc ở trong nước đã xuất hiện nhiều tổ chức yêu nước mang sắc thái chính trị khác nhau, thực tiễn lịch sử đòi hỏi phải có một tổ chức kiểu mới, có đường lối, tổ chức đúng đắn, chặt chẽ thì mới lãnh đạo cách mạng đi đến thành công. Do đó, Tác phẩm có ý nghĩa và vai trò như “kim chỉ nam” cho đường lối của cách mạng Việt Nam. Một trong những nội dung cơ bản của Tác phẩm đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vận dụng linh hoạt và sâu sắc trong lãnh đạo cách mạng, đó là vấn đề giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp của cách mạng.

TƯ TƯỞNG CỐT LÕI CỦA VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC – GIAI CẤP

Tác phẩm “Đường Cách mệnh” với vấn đề giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp là kết tinh sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc Việt Nam và tính nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng, Đảng ta luôn nhận thức về sự thống nhất nói trên. Tác phẩm đã thể hiện rất rõ và sâu sắc tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, thực chất là vấn đề giải phóng và phát triển dân tộc; vấn đề giai cấp, thực chất là vấn đề giải phóng các giai cấp, tầng lớp khỏi tình trạng áp bức bóc lột, đem lại cơm ăn áo mặc, tự do hạnh phúc cho nhân dân.

Trong điều kiện đất nước bị xâm lược, vấn đề giai cấp luôn được Hồ Chí Minh đặt trong mối quan hệ biện chứng với vấn đề dân tộc. Lợi ích của giai cấp thống nhất chặt chẽ với lợi ích dân tộc và lợi ích dân tộc thống nhất với lợi ích quốc tế. Điều đó có nghĩa là chỉ có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”. Khi đất nước giành được độc lập rồi thì giải phóng giai cấp chính là phải từng bước xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới xây dựng cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc thật sự cho tất cả mọi người. Người cho rằng, sau khi giành được độc lập dân tộc rồi, mà nhân dân lao động vẫn chưa được giải phóng, “không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Đây là vấn đề nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc - giai cấp thể hiện sâu sắc trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”.

Theo Hồ Chí Minh, việc giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp là yêu cầu khách quan để đi đến sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp; quốc gia và quốc tế, là cơ sở để huy động mọi nguồn lực của dân tộc cho thắng lợi của cách mạng. Tư tưởng này được Người đúc rút từ các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, từ Cách mạng Mỹ (1776) đến Cách mạng Pháp (1789), từ Công xã Pari (1871) đến Cách mạng Tháng mười Nga (1917). Trong quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tư tưởng này đã được Người và Đảng ta giải quyết thành công mối quan hệ đó và được chứng minh qua thực tiễn giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.

TÁC PHẨM “ĐƯỜNG CÁCH MỆNH” VỚI VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC – GIAI CẤP TRONG CÁC GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG

Giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp vô sản có mối quan hệ biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện rất rõ trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”. Trong nội dung giải phóng dân tộc bao hàm nội dung giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Sự nghiệp giải phóng dân tộc càng tiến hành triệt để và thắng lợi bao nhiêu thì sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng xã hội càng thuận lợi bấy nhiêu. Giai cấp vô sản được hoàn toàn giải phóng cả về chính trị và kinh tế thì độc lập sẽ vững bền hơn bao giờ hết. Xác định cách mạng Việt Nam “đi tới xã hội cộng sản” được ghi trong Cương lĩnh của Đảng là một định hướng đúng, phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp. Đặt cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội làm cho quan điểm Hồ Chí Minh mang tính toàn diện và triệt để.

Dưới góc độ giải phóng, độc lập dân tộc mới chỉ là cấp độ đầu tiên. Giải phóng về mặt chính trị tự bản thân nó chưa phải là công cuộc giải phóng hoàn toàn, độc lập dân tộc là tiền đề đầu tiên để tiến lên chủ nghĩa xã hội, đưa con người đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Những thiếu sót và thất bại của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu (cũ), cũng như những khó khăn của Việt Nam từ sau 1975 đó cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, cũng như việc lựa chọn con đường và bước đi cụ thể, phù hợp với khả năng và điều kiện của từng nước.

Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của loài người khi bước vào thế kỷ XXI. Song, việc xử lý mối quan hệ giữa các dân tộc, giai cấp và nhân loại trong xu thế này đang trở thành một vấn đề vừa có tính thời sự cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài đối với mỗi quốc gia - dân tộc. Đối với Việt Nam, để giữ vững chủ quyền, độc lập dân tộc và xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố dân tộc, giai cấp, nhân loại trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... trong quá trình hội nhập quốc tế. Muốn vậy, Đảng, Nhà nước và nhân dân cần kiên định nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đường lối nhất quán và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Do vậy, việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp và quốc tế được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo vào các giai đoạn cách mạng của nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam phải hết sức sáng tạo, phải tùy thuộc vào tình hình cụ thể của đất nước.

Do ở phương Đông, dân tộc được hình thành sớm, ý chí tinh thần dân tộc cao, phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc mạnh mẽ nên Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chủ nghĩa dân tộc được Hồ Chí Minh xem là động lực to lớn của người Việt Nam và khi chủ nghĩa dân tộc thắng lợi dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân sẽ thống nhất với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Đường lối cách mạng của Việt Nam được vận dụng sâu sắc từ tư tưởng của Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”. Qua đó cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta từ năm 1930 đến nay đã rất coi trọng việc bồi dưỡng tinh thần dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi áp bức bất công, giải phóng dân tộc, thực hiện quyền tự quyết dân tộc theo lập trường giai cấp công nhân. Qua các giai đoạn cách mạng, đường lối xuyên suốt và nhất quán cách mạng Việt Nam là: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Để đảm bảo cho sự nghiệp đổi mới, trong tất cả các văn kiện của Đảng luôn khẳng định mục tiêu cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Điều kiện cơ bản đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng là trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và cũng có nghĩa là trung thành với lợi ích cơ bản lâu dài của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và lợi ích dân tộc.

Sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp khi tiến hành công cuộc đổi mới ở Việt Nam được thể hiện trong sâu sắc Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân, với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”. Như vậy, tư tưởng đoàn kết dân tộc và xem việc phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc là động lực phát triển đất nước hiện nay chính là sự quán triệt và vận dụng quan điểm lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào Việt Nam.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐÊ GIẢI QUYẾT QUAN HỆ DÂN TỘC – GIAI CẤP TRONG TÁC PHẨM “ĐƯỜNG CÁCH MỆNH” PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN MỚI               

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung phát triển năm 2011), Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Mặt khác, thể hiện những quan điểm cụ thể trong giải quyết quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội Việt Nam: các giai cấp, các tầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Cũng trong Cương lĩnh này, vấn đề quan hệ các dân tộc (với nghĩa các tộc người) cũng được khẳng định: Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng tiến bộ.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã rút ra 6 bài học chủ yếu của 10 năm đổi mới. Trong đó bài học đầu tiên là: “Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Cùng với bài học đã nêu là mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả dân tộc, để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên, giành những thành tựu to lớn hơn, cần thực hiện tốt hơn nữa việc mở rộng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, cả ở trong nước và ở nước ngoài, phát huy dân chủ, động viên tối đa sức mạnh của toàn thể dân tộc.

Đặc biệt, trong Đại hội IX, một luận điểm mang tầm khái quát lý luận lớn của Đảng về quan hệ giai cấp, lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: “Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục thể hiện nhiều quan điểm mới của Đảng trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc. Trước hết, Đảng tiếp tục khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng trước những khó khăn, thách thức và những biến động bất lợi trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế: Đảng ta đã giữ vững bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, “kim chỉ nam” cho hành động của Đảng. Kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Tiếp tục công cuộc đổi mới trong Văn kiện Đại hội XI, XII của Đảng, đặc biệt là trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng tiếp tục thể hiện những quan điểm mới, sáng tạo khi vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết các quan hệ dân tộc - giai cấp - quốc tế đó là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội… Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”.

Tiếp tục các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VII đến Đại hội XII về giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp trong thời kỳ mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng năm 2021 khẳng định quan điểm chỉ đạo: “Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng… Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

Kiên định đường lối đổi mới của Đảng, trong thời gian tới phải tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, phát huy truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng. Đây là nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, muốn vậy, phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng. Làm được như vậy là Đảng ta đã thực hiện được ý nguyện trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc... phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Tác phẩm “Đường Cách mệnh” nói chung và tư tưởng về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp và vấn đề quốc tế trong Tác phẩm là một sáng tạo lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tác phẩm “Đường Cách mệnh” đến nay vẫn giữ nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đó là bài học quý, đòi hỏi Đảng ta cần phải vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện mới của đất nước trong quá trình hội nhập sâu rộng quốc tế trên tất cả các lĩnh vực, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay./.

ST.

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn khoa học, hiện thực cách mạng. Người ta thường cho rằng Hồ Chí Minh là một nhà triết học hành động thì cũng có thể nói nhà nhân văn Hồ Chí Minh là một nhà nhân văn hành động - hành động nhằm giải phóng con người.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi ở chiến khu Việt Bắc, năm 1950. (Ảnh: Nguyễn Hồng Nghi)

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi ở chiến khu Việt Bắc, năm 1950. (Ảnh: Nguyễn Hồng Nghi)

Yêu thương và quý trọng con người là một trong những đức tính đặc sắc nhất của đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong cuốn sách “Học tập đạo đức Hồ Chí Minh” (*), đồng chí Võ Nguyên Giáp có bài viết nêu rõ: “Nghiên cứu cuộc đời và tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh,  chúng ta thấy rất rõ ở Người chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái, truyền thống văn hóa phương Đông, phương Tây và sự phát triển chủ nghĩa nhân đạo hiện thực của chủ nghĩa Mác. Sự tổng hợp đó hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh - hiện thân cao nhất của chủ nghĩa nhân văn hiện thực của người Việt Nam trong thời đại cách mạng giải phóng dân tộc và xã hội chủ nghĩa”.

Đồng chí còn viết cụ thể: “Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh còn biểu hiện ở tấm lòng thương yêu con người, thương yêu nhân dân hết sức rộng lớn, sâu sắc. Người đã từng khái quát về triết lý cuộc sống: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ và bị áp bức”.

Cùng với ý ấy, Giáo sư Trần Văn Giàu viết: Như phần nhiều các nhà hiền triết cổ kim Đông Tây, thương người là một đức tính lớn của Cụ Hồ, nó quán triệt mọi lời nói, việc làm của Cụ từ ngày Cụ hoạt động cách mạng... Suốt sáu mươi năm, một lòng thương người, vì người, một lòng nhân ái.

Giáo sư đặt câu hỏi: “Vậy nếu thương người là nhân ái thì nhân ái của Cụ Hồ có gì khác với nhân ái Khổng, Mặc chăng hay chỉ là một?”. Và tự trả lời: “Có phần khác không nhỏ”. Thương người (của Cụ Hồ) là biết xót xa đến thân phận những người cùng khổ nhất trong số những người cùng khổ,... cũng là thương các dân tộc mang xiềng xích thực dân. Thương không phải là tỏ mối thông cảm từ trên và từ ngoài mà tìm cách làm cho người lao khổ và dân tộc bị áp bức tự mình cởi ách ngựa trâu, chứ không phải bằng cách mòn bánh xe, móng ngựa để du thuyết các vương hầu. Mỗi thời đại một khác. Đi vào cách mạng, Người đặt vấn đề tự do và vấn đề hạnh phúc đi đôi. Có người Mỹ nói Cụ Hồ vừa là Washington vừa là Lincoln. Đúng là như vậy. Mà Cụ Hồ còn đi xa hơn nữa trên hướng nhân ái thiết thực.

Vẫn theo lời đồng chí Võ Nguyên Giáp: Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn khoa học, hiện thực cách mạng. Người ta thường cho rằng Hồ Chí Minh là một nhà triết học hành động thì cũng có thể nói nhà nhân văn Hồ Chí Minh là một nhà nhân văn hành động - hành động nhằm giải phóng con người.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng - người học trò xuất sắc cũng là người cộng sự gần gũi của Bác Hồ - đã viết rất ân tình: Những tư tưởng lớn của Hồ Chủ tịch là những tình cảm lớn. Bác Hồ là “muôn vàn tình thương yêu” đối với đồng chí, đồng bào. Trong tình thương yêu đó, có chỗ cho mọi người, không quên, không sót một ai. Thương yêu và quan tâm chăm sóc mọi tầng lớp đồng bào, trai gái, già trẻ, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, kiều bào ở nước ngoài. Bác Hồ đặc biệt ân cần chăm lo các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang nhân dân, là những người chiến đấu quên mình trên tiền tuyến; các cháu thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, là lớp người thừa kế sự nghiệp cách mạng; chị em phụ nữ anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang trong sản xuất và chiến đấu; đồng bào các dân tộc ít người, đã và sẽ tiếp tục có cống hiến cao quý vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Trong lòng Bác, đồng bào miền Nam, thành đồng Tổ quốc, chiếm một vị trí đặc biệt,...

Đã có biết bao câu chuyện sống động về tư tưởng nhân văn, lòng thương yêu con người và đức hy sinh cao cả của Bác, kể sao cho xiết.

Cả cuộc đời làm cách mạng, Bác “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được độc lập, dân tộc ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Bác “ăn không ngon ngủ không yên khi đồng bào còn chịu khổ”.

Bác nêu tấm gương kính già, yêu trẻ. Kính già đến mức gửi thư chúc một phụ lão cứu quốc ở tuổi thượng thọ đã không tổ chức lễ mừng mà đem số tiền 500 đồng tiết kiệm được quyên vào Quỹ Kháng chiến, Hồ Chủ tịch tự xưng mình là cháu: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn cụ và trân trọng chúc cụ sống lâu và hoàn toàn mạnh khỏe”. Yêu trẻ đến mức Tết Trung thu nào cũng có lời thơ chúc. “Trung thu trăng sáng như gương/ Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng”. Và các cháu thì hát vang: “Không ai yêu Bác Hồ Chí Minh bằng chúng em nhi đồng”.

Với đồng bào các dân tộc, Bác từng nói: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê-đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”.

Với đồng bào các tôn giáo, bao giờ Bác cũng nêu lên cái tinh hoa của giáo lý. Với đồng bào theo đạo Thiên chúa, Bác viết: “Kinh thánh có câu: Ý dân là ý Chúa. Con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hoàn toàn đúng.” Với đồng bào theo đạo Phật, Bác viết: “Đồng bào Phật giáo cả nước, từ Bắc đến Nam đều cố gắng thực hiện lời Phật dạy là: Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha” (Đem lại lợi ích và vui sướng cho mọi người. Quên mình vì người khác).

Với những người lầm đường, lạc lối, Người cũng mở lượng khoan dung: “Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Phải thực hành chữ BÁC ÁI”.

Nhà thơ Tố Hữu nói tự đáy lòng mình:

Người là Cha, là Bác, là Anh
Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ

Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già.

Và:
Bác ơi, tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người!

Tư tưởng nhân văn hiện thực, tình yêu thương bao la và cuộc sống bình dị của Bác có sức cảm hóa lớn. Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng cao đẹp của một nhân cách Con Người tầm cỡ thế giới.

Nhà báo Jean Roux trong báo Chiến đấu (Pháp) viết: “Từ ba mươi năm nay, trong số các nhân vật mà tôi gặp được, chắc chắn Cụ Hồ là đáng khâm phục nhất. Cụ là người hoàn toàn đáng được mọi người ca ngợi, bởi vì Cụ đã kết hợp đến mức nhuần nhuyễn phi thường chủ nghĩa anh hùng với đầu óc sáng suốt, lòng yêu nước tuyệt vời, tinh thần cách mạng trong sáng, thái độ cứng rắn trước cuộc sống với lòng nhân đạo đối với con người”.

Nhà báo Montaron trên báo Bằng chứng Thiên chúa giáo, cũng viết: “Cụ Hồ Chí Minh là một trong những chiến sĩ lần đầu tiên của thế giới thứ ba, của các dân tộc nghèo đói nhằm thèm khát một cuộc sống cho ra người… Cụ đã đem hết sức mình để mang lại cơm ăn nước uống cho những ai đói khát. Cụ đã bênh vực cho những người yếu hèn và mang lại nhân phẩm cho những người nghèo khổ”.

Burchett, nhà báo Australia nổi tiếng, nhận xét: Nói tới một người mà cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh… Người ta không thể trở thành một Hồ Chí Minh nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một điều gì làm cho mình tốt hơn.

Và thật cảm động, Thủ tướng Jawaharlal Nehru trong cuộc tiếp đón Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Ấn Độ (năm 1958) đã nói một cách chân tình: “Chúng ta đã được tiếp xúc với một người. Người đó là một phần của lịch sử châu Á. Ngoài phần gặp gỡ một con người vĩ đại, chúng ta đã gặp một mảng lịch sử của lịch sử. Do đó, có lẽ chúng ta không chỉ được tăng thêm về suy nghĩ mà còn được tăng thêm cả về tầm vóc”.

Sẽ không thừa nếu nhắc lại: Năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức UNESCO đã vinh danh Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới./.

NHẬN DIỆN SỰ THẬT - KHÔNG ĐỂ LÒNG TIN BỊ LỢI DỤNG


Đến tận bây giờ, khi cơn bão số 3 đã qua được 2 tuần thì nhiều đối tượng vẫn đang trục lợi từ cơn bão số 3, từ hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra qua hàng loạt tin giả xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội, được lan truyền chóng mặt trên nhiều diễn đàn và trang cá nhân, đặc biệt là các trang bán hàng online. Điều đáng nói là trong khi các cơ quan, đoàn thể, cá nhân đang nỗ lực chung tay hỗ trợ bà con khắc phục hậu quả thì những đối tượng này ung dung đăng tin, câu like, thậm chí cắt ghép hình ảnh, giật title giật gân thu hút hàng chục nghìn lượt xem

Các chuyên gia bảo mật thậm chí còn cảnh báo về hiện tượng kẻ xấu tạo ra những hình ảnh đáng thương liên quan đến bão lũ… bằng công nghệ AI, sau đó lợi dụng lòng thương để lừa các nạn nhân chuyển tiền từ thiện.

Quân đội nhân dân Việt Nam rất đẹp, đẹp vì luôn hết mình vì nhân dân, phục sự nhân dân, phục sự Tổ quốc. Hãy để Bộ đội Cụ Hồ đi vào lòng dân, nhận tình yêu của nhân dân một cách đúng đắn nhất chứ đừng lợi dụng họ để tô vẽ, làm màu, câu like như cách các trang mạng không chính thống, các trang bán hàng online đang lợi dụng và cộng đồng mạng cần tỉnh táo tìm đến những nguồn tin chính thống, tin cậy, tránh vô tình bị các đối tượng lợi dụng, trục lợi.

KHÔNG ĐỦ KIẾN THỨC VÀ BẢN LĨNH, NGƯỜI TRẺ SẼ BỊ MẠNG XÃ HỘI "NHẤN CHÌM"

 

Trên không gian mạng xã hội, nhìn chung, giới trẻ đang có nhiều hoạt động tích cực như bày tỏ tình yêu đất nước, tham gia các hoạt động cộng đồng và chia sẻ về những vấn đề cuộc sống... Tuy nhiên, đôi khi vẫn xuất hiện những hành vi thiếu chuẩn mực. Những hành vi này cần được góp ý, phê bình một cách phù hợp, không nên đẩy vấn đề đi xa bằng cách quy chụp hay suy diễn quá mức. Người trẻ cần được gia đình, nhà trường giáo dục và định hướng thay vì nhận lại sự chỉ trích nặng nề của cộng đồng.

Nhân lên những xu hướng tích cực

Trong thời đại công nghệ số, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của giới trẻ. Không chỉ là nơi để chia sẻ thông tin và kết nối bạn bè, mạng xã hội còn trở thành một công cụ mạnh mẽ để giới trẻ thể hiện lòng yêu nước qua những hình ảnh, video và các trào lưu mang đậm tính biểu tượng.

Những nền tảng như Facebook, TikTok đã trở thành nơi mà nhiều bạn trẻ Việt Nam chọn để bày tỏ tình yêu với đất nước. Thời điểm mừng Lễ Quốc khánh 2/9 vừa qua, thông qua các “trend” (xu hướng) như “Chụp ảnh với lá cờ Tổ quốc” hay “Cờ Tổ quốc ở trong mắt - Tổ quốc ở trong tim”, giới trẻ không chỉ thể hiện lòng tự hào dân tộc mà còn khơi dậy tinh thần yêu nước trong cộng đồng mạng, tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ người xem.

Ngoài các trào lưu này, việc biến mái nhà thành hình ảnh của lá cờ Tổ quốc cũng đã thu hút sự tham gia của nhiều người trẻ. Trên TikTok, họ còn thể hiện lòng yêu nước thông qua các video biến hình dựa trên nền bài hát “Khát vọng tuổi trẻ,” tái hiện hình ảnh những anh hùng dân tộc, những người đã hy sinh vì độc lập và hòa bình của đất nước. Những video này không chỉ thể hiện sự sáng tạo mà còn là một cách để giới trẻ tri ân công lao của thế hệ đi trước.

Tự do sáng tạo nhưng cần chuẩn mực

Có thể thấy rõ một ví dụ cần rút kinh nghiệm trong những trend về ngày kỷ niệm 79 năm Quốc khánh vừa qua, đó là mặt trái của câu chuyện vẽ lá cờ Tổ quốc trên mái nhà. Sẽ không có gì là xấu khi trào lưu biến mái nhà thành lá cờ Tổ quốc của một TikToker ở Vĩnh Phúc được lan rộng ra toàn quốc, sau đó có nhiều biến tấu. Ban đầu, người dân sử dụng mái tôn đỏ có sẵn trên mái nhà, đo đạc và vẽ hình ngôi sao, sau đó sơn màu vàng để hoàn thiện ngôi sao trên nền tôn đỏ, tạo nên hình ảnh lá cờ Tổ quốc. Với những mái nhà không có tôn đỏ, người dân vẽ toàn bộ nền đỏ và ngôi sao vàng năm cánh lên mái nhà. Nhiều người thậm chí còn vẽ cờ lên mái ngói, cửa cuốn. Hàng trăm video, hình ảnh về lá cờ Tổ quốc liên tục được đăng tải lên mạng xã hội, có những video thu về hàng triệu lượt xem và hàng trăm nghìn lượt tương tác. Tuy nhiên, trào lưu này đã nhanh chóng nhận về những chỉ trích về việc vẽ lá cờ không đúng kích thước và vẽ ở những vị trí không phù hợp. Vì vậy, nhiều tài khoản mạng xã hội, đa số là những người trẻ đã phải xin lỗi và có hành động sơn sửa kịp thời.

Nhìn từ câu chuyện của trào lưu trên, PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, việc thể hiện lòng yêu nước trên mạng xã hội, ngoài việc phải xuất phát từ niềm tự hào đích thực, cũng cần được hướng dẫn để không vô tình dẫn đến những cách hiểu sai, sử dụng không đúng cách hoặc thiếu tôn trọng những nhân vật, biểu tượng quốc gia

“Điều hết sức quan trọng là phải chỉ cho họ thấy được tính hai mặt của mạng xã hội, đặc biệt là những hậu quả, hệ lụy của việc sử dụng mạng xã hội một cách tùy tiện, thái quá. Chỉ dẫn cho họ biết cách ứng xử và khả năng miễn dịch khi tiếp xúc với những thông tin xấu độc, mời gọi, khiêu khích, lôi kéo… đăng tải tràn lan trên các trang mạng xã hội. Đồng thời, giáo dục nâng cao ý thức, trách nhiệm xã hội cho người trẻ, làm cho họ biết làm chủ và kiểm soát được các hành vi của bản thân. Các thông tin tung lên mạng phải đúng với quy định của pháp luật, của đơn vị, địa phương, phù hợp với thuần phong mỹ tục và chuẩn mực đạo đức xã hội; phải hết sức thận trọng khi đăng tải những thông tin, hình ảnh của cá nhân và các hoạt động của đơn vị, nhất là các cơ quan nhà nước, những nhà chức trách đang thực thi công vụ lên các trang mạng xã hội”, bà Thúy nêu quan điểm.

 

Sống có tình, làm việc có tâm, ắt sẽ có tầm

 Sống có tình, làm việc có tâm, ắt sẽ có tầm" là một câu nói mang nhiều ý nghĩa sâu sắc và đáng suy ngẫm. Câu nói này nhấn mạnh vai trò quan trọng của tình thương và sự chân thành trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong công việc.

Trước hết, "sống có tình" là cách sống biết yêu thương, quan tâm và chia sẻ với những người xung quanh. Tình yêu thương không chỉ giới hạn trong gia đình, bạn bè mà còn mở rộng ra cộng đồng, xã hội. Khi sống có tình, chúng ta tạo ra một môi trường sống tích cực, giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau vượt qua khó khăn. Tình thương là sợi dây gắn kết mọi người, làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và tràn đầy niềm vui.

Tiếp theo, "làm việc có tâm" là cách làm việc với tấm lòng chân thành, tận tụy và trách nhiệm. Khi làm việc với tâm huyết, chúng ta không chỉ hoàn thành công việc một cách xuất sắc mà còn tạo ra giá trị thực sự cho bản thân và cho xã hội. Làm việc có tâm cũng đồng nghĩa với việc luôn nỗ lực, kiên trì và không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng. Người làm việc có tâm luôn biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng hy sinh và cống hiến vì mục tiêu lớn hơn.

Cuối cùng, "ắt sẽ có tầm" là hệ quả tất yếu khi chúng ta sống có tình và làm việc có tâm. Người có tình và tâm sẽ nhận được sự tôn trọng, tin yêu từ người khác, từ đó tạo dựng được uy tín và vị thế trong xã hội. Tầm ở đây không chỉ là tầm nhìn, tầm vóc mà còn là tầm ảnh hưởng. Người sống có tình, làm việc có tâm sẽ có khả năng lãnh đạo, định hướng và truyền cảm hứng cho người khác, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ.

Tóm lại, câu nói "Sống có tình, làm việc có tâm, ắt sẽ có tầm" là kim chỉ nam cho mỗi chúng ta trong cuộc sống và công việc. Khi biết yêu thương và làm việc với tấm lòng chân thành, chắc chắn chúng ta sẽ đạt được thành công và tầm cao như mong đợi.

"Sống có tình, làm việc có tâm, ắt sẽ có tầm" là một câu nói mang nhiều ý nghĩa sâu sắc và đáng suy ngẫm. Câu nói này nhấn mạnh vai trò quan trọng của tình thương và sự chân thành trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong công việc.

Trước hết, "sống có tình" là cách sống biết yêu thương, quan tâm và chia sẻ với những người xung quanh. Tình yêu thương không chỉ giới hạn trong gia đình, bạn bè mà còn mở rộng ra cộng đồng, xã hội. Khi sống có tình, chúng ta tạo ra một môi trường sống tích cực, giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau vượt qua khó khăn. Tình thương là sợi dây gắn kết mọi người, làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa và tràn đầy niềm vui.

Tiếp theo, "làm việc có tâm" là cách làm việc với tấm lòng chân thành, tận tụy và trách nhiệm. Khi làm việc với tâm huyết, chúng ta không chỉ hoàn thành công việc một cách xuất sắc mà còn tạo ra giá trị thực sự cho bản thân và cho xã hội. Làm việc có tâm cũng đồng nghĩa với việc luôn nỗ lực, kiên trì và không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng. Người làm việc có tâm luôn biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng hy sinh và cống hiến vì mục tiêu lớn hơn.

Cuối cùng, "ắt sẽ có tầm" là hệ quả tất yếu khi chúng ta sống có tình và làm việc có tâm. Người có tình và tâm sẽ nhận được sự tôn trọng, tin yêu từ người khác, từ đó tạo dựng được uy tín và vị thế trong xã hội. Tầm ở đây không chỉ là tầm nhìn, tầm vóc mà còn là tầm ảnh hưởng. Người sống có tình, làm việc có tâm sẽ có khả năng lãnh đạo, định hướng và truyền cảm hứng cho người khác, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ.

Tóm lại, câu nói "Sống có tình, làm việc có tâm, ắt sẽ có tầm" là kim chỉ nam cho mỗi chúng ta trong cuộc sống và công việc. Khi biết yêu thương và làm việc với tấm lòng chân thành, chắc chắn chúng ta sẽ đạt được thành công và tầm cao như mong đợi../

TÌM HIỂU GIÚP BẠN:GỬI CÁC BÁC LÃNH ĐẠO VÀ CÁC NHÀ LÀM PHIM 90 TẬP THIÊN NHIÊN SỬ THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH!

SỐNG NHƯ ANH!
Thời kỳ chống pháp chống Mỹ rất nhiều gương hy sinh như LÊ VĂN TÁM , VÔ THỊ SÁU, BẾ VĂN ĐÀN, TÔ VĨNH DIỆN...  nhưng hôm nay tôi muốn viết về tấm gương sáng không tỳ vết của anh hùng liệt sĩ NGUYỄN VĂN TRỖI. Anh Nguyễn Văn Trỗi là ngọn đuốc soi đường cho lớp trẻ xếp bút lên đường đánh mỹ bảo vệ Tổ quốc. Điều tôi muốn nói ở đây trong thời gian nay vtv trình chiếu bộ phim tài liệu 90 tập thiên niên kỷ thời đại Hồ Chí Minh. Trong phim có đoạn nói về anh trỗi. (sau khi bị bại lộ anh Trỗi bị bắt và anh đã nhận hết tội về mình) đây là lời bình lập lờ không đầu không cuối dễ hiếu nhầm. Vậy tôi có ý kiến như sau. Anh Trỗi nhận hết tội về mình là tội gì? Bại lộ? Dùng từ có không đúng? mong đoàn làm phim nói rõ cho toàn dân biết. Không được hỗn và xúc phạm những anh hùng liệt sĩ.

Tôi đã được học được biết về anh Nguyễn Văn Trỗi như sau: anh Trỗi sinh năm 1940 quê anh giàu truyền thống cách mạng Tam Kỳ Quảng Nam. Anh vào Sài Gòn làm công nhân (nay là Thành phố HCM). Anh đã gia nhập cách mạng năm 20 tuổi. Anh cưới vợ năm 24 tuổi vợ anh tên là Quyên chị quyên đẹp người đẹp nết . Anh trỗi rất yêu thương vợ. Anh là một người chồng mẫu mực mỗi lần vợ đi làm về muộm anh xách nước sẵn cho vợ tắm đó là những hành động cứ chỉ đẹp của người chồng đó cũng là ước mơ niềm vui và hạnh phúc nhất của người phụ nữ khi được người chồng chăm sóc và yêu thương. Sau khi cưới vợ được vài tháng anh nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý để giết tên bộ trưởng quốc phòng độc ác khét tiếng McNamara.    Nhưng trong lúc làm nhiệm vụ anh bị phát hiện và bị bắt vì trên đoạn đường này mỹ ngụy canh phòng nghiệm ngạt. Địch bắt được anh chúng tra tấn vô cùng giá man không trừ một thú đoạn nào. Chúng đóng đinh vào đầu mười ngón tay ngón chân, lấy sắt thọc vào miệng vào tai... Nhưng anh nhất quyết không khai một lời. Chúng đưa vợ anh đến để anh nao núng tinh thần bắt anh khai ra các cơ sở cách mạng lúc đó chị Quyên vợ anh đang mang thai. Biết là thương vợ thương con nhưng phải nén đau thương nén riêng tư để bảo vệ cơ sở cách mạng. Gương anh Trỗi đã lan rộng cả nước và toàn thế giới. Những cuộc biếu tình trong nước liên tục từ thành thị đến nông thôn đòi thả tự do cho anh. Trên đất nước Mỹ có thanh niên tự thiêu phản đổi cuộc chiến xâm lược của mỹ trên đất nước Việt Nam và đòi thả tự do cho anh Trỗi. Đặc biết đất nước anh em dầu mỏ Venezuela bắt một tên đại tá Mỹ để đổi mạng sống cho anh Trỗi. Bọn Mỹ đã đồng ý. Khi Venezuela thả tên đại tá Mỹ thì chúng lập tức đưa anh Trỗi xử bắn ở khám Chí Hoà. Trước khi bắn chúng còn dụ dỗ anh lần cuối cho một linh mục nói với anh rằng nếu anh khai ra ai chỉ đạo và cơ sở cách mạng nếu anh làm việc này thì anh không có tội không bị bắn có sự chứng kiến của nhà báo. Anh gạt phăng chiếc thánh giá trên tay linh mục và trả lời rằng tôi không có tội. Tôi giết đế quốc Mỹ là vì đế quốc Mỹ đã xâm lược đất nước chúng tôi. Để quốc mỹ giết hại đồng bào tôi. Cuối cùng mười tên ngụy đã bắn anh. Nhưng lũ khốn khiếp chúng không bắn anh một lúc mười viên đạn mà chúng bắn anh từ từ từng viên cho anh chết đau đớn. Phát đạn đầu tiên anh ngục xuống nhưng anh vươn người hô vang đả đảo đế quốc Mỹ đả đảo Nguyễn Khánh. Hồ Chí Minh muôn năm, Hồ Chí Minh muôn năm, Hồ Chí Minh muôn năm. Việt Nam muôn năm. Sau khi xử bắn anh bọn mỹ đã thông báo cho toàn đất nước biết cách hành giã man. Những hình ảnh tử hình anh trỗi và sự tra tấn thật độc ác giá man bọn chúng hồng lấy đây để đàn áp và dập tắt phong trào yêu nước của nhân dân ta nhưng chúng không ngờ cái chết của anh đã hóa thành bất tử. Anh là ngọn lửa rực chảy là tấm gương không tỳ vết cho mọi người noi theo. Thanh niên xung phong, sinh viên sung phong, học sinh sung phong, phụ nữ xung phong, thiếu nhiên xung phong lên đường tòng quân diệt Mỹ cứu nước. Trong mỗi người dân Việt Nam, trong nhà ,trường học trong các ba lô của các chiến sĩ đều có tác phẩm sống như anh. Nhất là lực lượng vũ trang với khí thế noi gương anh Trỗi với khẩu hiệu mở dọc trường sơn đi cứu nước .
Sau khi chúng xử bắn anh Trỗi chúng bắt chị Quyên vợ anh tra tấn giá man và chị bị sẩy thai. Sau một thời gian chị được giải cứu cách mạng đưa chị tập kết ra bắc học tập.khi học xong chị trở về hoạt đồng cách mạng chị về lại làm cán bộ ở quê nhà.  
Trong nhà trường lớp trẻ chúng tôi mãi mãi ghi ơn anh Trỗi những bài văn những bài thơ chúng tôi học thuộc lòng in vào mỗi người dân. Thơ văn ca ngợi anh Trỗi đã đi vào năm tháng từ thế hệ này qua thế hệ khác. 

Anh Nguyễn Văn Trỗi anh đã chết rồi anh còn sống mãi. 
Chết như sống anh hùng vĩ đại. Hỡi người anh đã khép chặt đôi môi.  
Tiếng anh hô hãy nhớ lấy lời tôi. 
Đả đảo đế quốc Mỹ, đả đảo Nguyễn Khánh. 
Hồ Chí Minh muôn năm. Hồ Chí Minh muôn năm. Hồ Chí Minh muôn năm. Việt Nam muôn năm. 
Phút dây thiêng liêng anh gọi Bác ba lần. 
Anh chết vậy như thiên thần yên nghỉ. 
Chẳng cần chi cây thánh giá sắt tây./.



Yêu nước ST.

CHÚNG TA CÓ QUYỀN TỰ HÀO, NHƯNG CHÚNG TA KHÔNG ĐƯỢC TỰ MÃN

 “Về mặt văn hóa, thì dù ai mù quáng đến mấy cũng phải thấy rằng chế độ xã hội chủ nghĩa của ta thắng lợi vẻ vang.

Chúng ta có quyền tự hào, nhưng chúng ta không được tự mãn”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Một thắng lợi vẻ vang”, bút danh T.L, đăng trên Báo Nhân dân, số 2389, ngày 03 tháng 10 năm 1960.
Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập (02/9/1945), Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu sự nghiệp giáo dục, đào tạo và xây dựng nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nền văn hoá do nhân dân lao động sáng tạo, giữ gìn và hưởng thụ - đó là nền văn hoá xã hội chủ nghĩa tiến bộ, hiện đại, nhân văn và không ngừng phát triển.
Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị, sức mạnh và sự cần thiết của việc coi trọng xây dựng và phát triển văn hoá, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, nghị quyết nhằm xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển văn hoá đi đôi với phát triển kinh tế, xã hội để hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước. Quan tâm xây dựng nền văn hóa VIệt Nam tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc; không ngừng phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, nếp sống văn hóa, văn minh; cải thiện nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, huy động, khơi dậy tinh thần giữ gìn, sáng tạo văn hóa của cộng đồng xã hội. Qua đó, đã không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; các nền tảng giá trị đạo đức được quan tâm gìn giữ, các qui tắc ứng xử văn hóa được hình thành, từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh trên địa bàn dân cư.
Khắc ghi lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn nêu cao ý thức, trách nhiệm trong xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, truyền thống tốt đẹp của quân đội, trở thành một giá trị văn hoá quân sự với những nét đặc trưng tiêu biểu được thể hiện tập trung trong 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân. Thực hiện chất lượng, hiệu quả phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, gắn với phong trào thi đua Quyết thắng, các chương trình hành động và được cụ thể hóa thành cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội”, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, tiêu biểu, đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Nhân dân giao phó./.
St

VIỆT NAM QUYẾT ĐỊNH MỞ ĐẠI SỨ QUÁN Ở IRELAND

 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vui mừng thông báo với các lãnh đạo Ireland việc Việt Nam đã quyết định và đang tiến hành các bước mở Đại sứ quán Việt Nam tại Ireland nhằm phát triển quan hệ hai nước.

Ngày 3/10, tại thủ đô Dublin, Ireland, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến với Thủ tướng Ireland Simon Harris, Chủ tịch Thượng viện Ireland Jerry Buttimer và Phó Chủ tịch Hạ viện Catherine Connolly.
Hội kiến với Thủ tướng Simon Harris, hai lãnh đạo đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi nước, trao đổi về định hướng hợp tác nhằm làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam và Ireland.
Thủ tướng Simon Harris tin tưởng chuyến thăm sẽ tạo xung lực mới thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ song phương và nhấn mạnh Việt Nam là đối tác quan trọng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn tăng cường quan hệ với Ireland.
Ireland là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam tại thị trường châu Âu với kim ngạch thương mại song phương tăng trưởng liên tục trong những năm gần đây, đạt 3,5 tỷ USD trong năm 2023.
Chính phủ Ireland đã dành cho Việt Nam những khoản hỗ trợ phát triển quan trọng, góp phần giúp Việt Nam đạt trước thời hạn nhiều Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và hiện thực hóa các Mục tiêu phát triển bền vững.
Hợp tác giáo dục - đào tạo, nông nghiệp, dược phẩm, hàng điện tử, văn hóa và giao lưu nhân dân có những bước tiến đáng kể.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vui mừng thông báo với Thủ tướng Simon Harris việc Việt Nam đã quyết định và đang tiến hành các bước mở Đại sứ quán Việt Nam tại Ireland nhằm đóng góp tích cực vào sự phát triển quan hệ hai nước.
Về hợp tác kinh tế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ, tận dụng hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA). Trong đó, xem xét tạo thuận lợi cho mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của mỗi nước tiếp cận thị trường của nhau.
Việt Nam hoan nghênh Ireland có chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Ireland tăng cường đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực thế mạnh như ch.uyển đ.ổi s.ố, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao…
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đề nghị Ireland sớm hoàn tất thủ tục phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA) nhằm tạo thuận lợi cho quan hệ đầu tư bình đẳng, cùng có lợi giữa hai bên.
Hai lãnh đạo nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác trong nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn, chuyển đổi hệ thống thực phẩm bền vững, nuôi trồng thủy sản; ch.uyển đ.ổi s.ố, chuyển đổi xanh; ứng phó với biến đổi khí hậu...
Đối với an ninh khu vực và quốc tế, hai bên bày tỏ quan ngại về leo thang căng thẳng ở Trung Đông và xung đột Nga - Ukraine; kêu gọi các bên liên quan kiềm chế, không dùng vũ lực, đối thoại nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình cho xung đột vì ổn định, hợp tác và phát triển của các khu vực và trên toàn thế giới.
Về vấn đề Biển Đông, hai lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh và tự do hàng hải tại Biển Đông; cần giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.
Nhân dịp này, hai bên ra Tuyên bố chung về thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - Ireland. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Ireland cũng chứng kiến ký kết Thỏa thuận thiết lập Đối tác chiến lược về giáo dục đại học giữa Bộ GD&ĐT và Bộ Giáo dục Đại học, Nghiên cứu, Đổi mới và Khoa học Ireland.
Hội kiến với Chủ tịch Thượng viện Jerry Buttimer, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thông báo những kết quả quan trọng đã đạt được trong hội đàm với Tổng thống Ireland Michael Higgins và Thủ tướng Simon Harris.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hoan nghênh và đánh giá cao việc Quốc hội Việt Nam thành lập nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Ireland và Quốc hội Ireland thành lập nhóm Nghị sĩ quốc hội Ireland - Việt Nam. Các nhóm Nghị sĩ hữu nghị sẽ là cầu nối quan trọng góp phần tăng cường quan hệ giữa hai Quốc hội nói riêng và hai nước nói chung.
Chủ tịch Thượng viện Jerry Buttimer bày tỏ ấn tượng trước những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Chủ tịch Thượng viện hoan nghênh việc Việt Nam quyết định mở Đại sứ quán ở Ireland; cho rằng cả hai nước là những quốc gia đã trải qua nhiều thử thách trong quá khứ và ngày nay đang có tầm ảnh hưởng trên trường quốc tế.
Hai bên nhất trí sẽ tiếp tục làm sâu sắc hơn quan hệ song phương thông qua tăng cường trao đổi đoàn các cấp, trong đó có ủy ban, nhóm Nghị sĩ Quốc hội hai nước; tổ chức hoạt động trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm lập pháp, đối thoại chính sách, hội thảo lý luận.
Hai nhà lãnh đạo nhất trí phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại diễn đàn liên nghị viện khu vực và thế giới, thúc đẩy thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), bình đẳng giới, ứng phó với biến đổi khí hậu và thách thức toàn cầu...
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Quốc hội Ireland sớm thông qua Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA) để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho đầu tư song phương và thúc đẩy Ủy ban châu Âu (EC) sớm gỡ bỏ "thẻ vàng" IUU đối với thủy sản Việt Nam.
Các lãnh đạo bày tỏ vui mừng về việc Việt Nam chuẩn bị mở Đại sứ quán tại Dublin, góp phần đẩy mạnh hợp tác song phương nói chung và Quốc hội hai nước nói riêng./.
St

TƯỞNG NHỚ 11 NĂM NGÀY MẤT CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP (04-10-2013/04-10-2024): SUỐT CUỘC ĐỜI QUÁN TRIỆT TINH THẦN "DĨ CÔNG VI THƯỢNG"

 Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị tướng tài ba, là “người Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ một thầy giáo dạy lịch sử, được hoạt động nhiều năm bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và trở thành người học trò xuất sắc, dù ở đâu và trong hoàn cảnh nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng luôn quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động thực tiễn.

Đặc biệt, thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm cách mạng phải “Dĩ công vi thượng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, đưa ông trở thành vị “Đại tướng của nhân dân”.
1. Luôn thấu triệt sâu sắc tinh thần “Dĩ công vi thượng”
“Dĩ công vi thượng” là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Bản thân Người là một tấm gương mẫu mực về “Dĩ công vi thượng”. Đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đạo đức mới, nó tiếp thu, kế thừa và phát triển đạo đức truyền thống của dân tộc thương nước thương nòi, tương thân tương ái, kết hợp với đạo đức của nhân loại và đạo đức cộng sản chủ nghĩa. “Dĩ công vi thượng” là cốt cách người cách mạng, nếu ai không làm được điều này thì không thể trở thành người cách mạng, người cán bộ, đảng viên chân chính. Quán triệt sâu sắc tư tưởng đó, sinh thời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Làm cách mạng phải dĩ công vi thượng, nghĩa là việc dân, việc Đảng đặt lên trên hết, không nghĩ đến cá nhân. Điều tâm đắc đó trở thành máu thịt trong tôi”.
Xuất phát từ quan điểm đúng đắn đó, kế thừa truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương và sớm được tiếp thu tư tưởng cách mạng vô sản, Võ Nguyên Giáp đã giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng khi mới 14 tuổi (1925). Mười lăm năm sau, người chiến sĩ cách mạng ấy được kết nạp vào Đảng và được Trung ương cử sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (1940) khởi đầu quá trình phát huy tài năng, đức độ, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Trước Cách mạng Tháng Tám, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tích cực, chủ động thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, tuyên truyền, giác ngộ, vận động quần chúng nhân dân tham gia cách mạng với phương pháp sáng tạo, hiệu quả cao; được lãnh tụ Hồ Chí Minh ủy quyền công bố Sắc lệnh thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22-12-1944). Thông qua hoạt động thực tiễn, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã góp phần quan trọng vào xây dựng, chuẩn bị lực lượng chính trị, quân sự vững mạnh, bảo đảm cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945.
2. Là hiện thân của tinh thần “Dĩ công vi thượng”
Trong cuộc đời cầm quân, Đại tướng luôn dành tình yêu thương cho cán bộ, chiến sĩ. Khi cầm quân, ra trận, cái đích cần đến của Đại tướng là “Quyết đánh, quyết thắng”, nhưng không phải thắng bằng mọi giá, mà quyết chiến, quyết thắng trên cơ sở hạn chế thấp nhất sự hy sinh tính mạng và tài sản của bộ đội và nhân dân. Khi xây dựng kế hoạch tác chiến, Đại tướng luôn tỉ mỉ, chu đáo cốt là để làm sao hạn chế sự hy sinh xương máu, giành được thắng lợi. Trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi nghe tin một đại đội ở Thành cổ Quảng Trị chỉ còn vài cây súng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã không cầm được nước mắt. Biết tin bộ đội, chiến sĩ, đồng bào ta ở Huế hy sinh nhiều, Tổng Tư lệnh trầm tư, suy nghĩ, nhiều đêm thao thức không ngủ. Thượng tướng Trần Văn Trà đã viết: “Võ Nguyên Giáp là một Tổng Tư lệnh biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh”.
Là Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân, nhưng bữa ăn và quần áo mặc hằng ngày của Đại tướng rất giản dị. Đại tướng thường nhấn mạnh đến công lao, tài năng, đạo đức của chiến sĩ và cán bộ chỉ huy các cấp, nhưng rất ít nói đến bản thân mình. Ở Đại tướng, sự độ lượng, đức khoan dung thật sâu rộng, tác phong sâu sát quần chúng, quyết đoán, nhưng rất gương mẫu, liêm khiết, giản dị về lối sống. “Ở góc độ nào ông cũng thể hiện phẩm chất sáng ngời của một vị Đại tướng giản dị, gần dân. Về Quảng Bình, Đại tướng là lão nông, xuống dòng sông Kiến Giang quê hương Đại tướng cũng như một ngư dân, lên Điện Biên thì Đại tướng như một người dân tộc thực thụ, Đại tướng nói và sinh hoạt như đồng bào vậy”. Chính sự liêm khiết, giản dị, gần dân của Đại tướng nên nhân dân đặc biệt yêu mến, vinh danh Tổng Tư lệnh là “Đại tướng của nhân dân”. Đối với các thế hệ quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng bao giờ cũng là vị Tổng Tư lệnh tối cao mẫu mực, người Anh Cả kính mến. Đối với bạn bè năm châu, Võ Nguyên Giáp là vị tướng huyền thoại, người anh hùng hiện thân của sự đoàn kết, sự trường tồn của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Trên thế giới hiếm có một nhà lãnh đạo nào nhận được sự tin yêu, ngưỡng mộ của toàn dân, toàn quân và bạn bè quốc tế. Hằng năm cứ đến dịp sinh nhật, ngày lễ tết, luôn có hàng trăm đoàn khách xa, gần đến nhà Đại tướng để chúc mừng. Ngày Đại tướng mất, cả nước đau buồn tiễn đưa. Giáo sư Vũ Khiêu xúc động viết: “Bao nhiêu nước mắt khóc Bác Hồ, giờ khóc Bác Giáp”. Nhà giáo Hồ Cơ trong câu đối kính dâng Đại tướng đã khái quát toàn bộ tài năng, đức độ của vị tướng huyền thoại trong lịch sử “Văn lo vận nước, văn thành võ. Võ thấu lòng dân, võ hóa văn”.
Lịch sử đã minh chứng, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đại tướng cũng thể hiện bản lĩnh của người chiến sĩ cộng sản trung kiên, giữ vững khí tiết, tư tưởng tiến công, ý chí tự lực tự cường, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó. Luôn đề cao công lao, sự hy sinh to lớn của nhân dân, quân đội, những người trực tiếp chiến đấu trên chiến trường và chỉ nhận mình là “hạt nước giữa đại dương” bình đẳng với mọi người lính. Đại tướng từng nói: “Vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng như giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình. Tôi hoàn thành nhiệm vụ cũng như những người lính hoàn thành nhiệm vụ. Trên bình diện nhiệm vụ thì tôi cũng là người lính bình đẳng, cho nên tôi rất tôn trọng người lính”.
Đất nước hòa bình, thống nhất, trên các cương vị là Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ (Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng đã cùng tập thể Ban Chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Được Đảng, Nhà nước phân công làm Phó thủ tướng phụ trách khoa học - kỹ thuật, dù công việc rất mới mẻ, nhưng Đại tướng đã nêu cao tinh thần “Dĩ công vi thượng”, trực tiếp làm việc với nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các trí thức, văn nghệ sĩ... thành tâm lắng nghe tâm tư nguyện vọng cũng như những đề đạt, nguyện vọng của họ với Đảng và Nhà nước... Nhờ đó Đại tướng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần đưa khoa học, kỹ thuật Việt Nam từng bước sánh kịp trình độ các nước trong khu vực, góp phần hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Đối với Đảng, Đại tướng luôn nhấn mạnh: Phải xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh, phải giữ nguyên tắc Đảng; sử dụng thật hiệu quả vũ khí tự phê bình và phê bình; đoàn kết thống nhất đi đôi với mở rộng dân chủ trong Đảng từ Trung ương đến cơ sở. Ngay cả khi sức khỏe giảm sút, phải nằm trên giường bệnh, nhưng nhận được tin Trung ương Đảng tổ chức thành công Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Đại tướng rất vui mừng, phấn chấn, khỏe mạnh hơn, rất tin tưởng vào sức mạnh đồng tâm, nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta với ý chí quyết tâm chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; khắc phục bệnh quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng nhân dân để Đảng ta luôn luôn xứng đáng là lương tâm, trí tuệ, là đạo đức, là văn minh, niềm vinh dự, tự hào của giai cấp công nhân, nhân dân và của toàn dân tộc Việt Nam.
3. Những giá trị mãi trường tồn
Với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổ quốc, dân tộc và Đảng là trên hết, không gì thiêng liêng, cao cả hơn thế. Đại tướng luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc và nơi gửi gắm niềm tin của nhân dân, cán bộ, đảng viên. Đại tướng khẳng định: “Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó”. Tại Hội thảo kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (2005), Đại tướng Võ Nguyên Giáp có bài tham luận với tựa đề: “Làm theo lời Bác - Dĩ công vi thượng”. Đại tướng nhấn mạnh: “Hơn 60 năm đã trôi qua, lời dạy ấy vẫn còn văng vẳng bên tai tôi. Bác chỉ nói ngắn gọn trong bốn chữ như vậy mà tôi nhớ mãi và phấn đấu làm theo lời Người suốt đời cho tới hôm nay”.
Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, học tập và làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết phải học, hiểu về tinh thần “Dĩ công vi thượng”. Đó là, làm gì cũng phải đặt lợi ích của chung lên trên hết, lợi ích của dân tộc, lợi ích của đất nước lên trên lợi ích của gia đình, lợi ích của bản thân mình. Đại tướng luôn gương mẫu và chỉ bảo, hướng dẫn mọi người cùng thực hiện theo chức trách, nhiệm vụ được giao, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho Tổ quốc. Tiếp thu, vận dụng sáng tạo, thành công tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhất là các vấn đề: Phương pháp cách mạng; vai trò của quần chúng nhân dân; chiến tranh du kích và chiến tranh nhân dân; người trước, súng sau, chính trị trọng hơn quân sự...
Là một trong những cán bộ được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ dạy, được gần gũi, gắn bó gần 30 năm, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã sớm nghiên cứu viết về tư tưởng và cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi thôi đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, quản lý, chấp hành sự phân công của Trung ương Đảng, với tinh thần trách nhiệm cao, Đại tướng đã chuyên tâm nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và có nhiều đóng góp đặc biệt quý báu, góp phần xây dựng nền móng cho bộ môn khoa học Hồ Chí Minh học. Cùng với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ, Đại tướng đã góp phần quan trọng đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để lại nhiều “Di sản quý báu”, trong đó việc suốt đời quán triệt tư tưởng “Dĩ công vi thượng” có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đó là những vấn đề về nghệ thuật quân sự, khoa học quân sự, lý luận quân sự mà Đại tướng đã đúc kết từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội cũng như thực tiễn chỉ đạo kháng chiến trong 30 năm chiến tranh giải phóng. Đồng thời, những vấn đề nghệ thuật quân sự, khoa học quân sự, lý luận quân sự còn được đúc kết từ chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng. Do đó, trách nhiệm của chúng ta hôm nay là phải tiếp tục nghiên cứu, vận dụng những quan điểm, tư tưởng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những vấn đề về nghệ thuật quân sự, khoa học quân sự, lý luận quân sự của Đại tướng vào điều kiện cách mạng mới. Đó cũng là cách để cán bộ, chiến sĩ toàn quân nắm bắt, tiếp thu những vấn đề về chiến tranh và cách mạng vận dụng vào thực tiễn huấn luyện, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Cùng với đó, cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời, là hiện thân của tinh thần “Dĩ công vi thượng”, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Hiện nay, cùng với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và học tập tấm gương của các vị lãnh đạo cách mạng tiền bối, chúng ta cần học tập tấm gương đạo đức cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, qua đó toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thêm tự hào về lịch sử cách mạng của Đảng, của dân tộc, về những con người làm nên lịch sử. Đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội, đó là niềm tự hào và là biểu tượng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng!./.
St