Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2024

 Quân và dân phải luôn luôn đoàn kết nhất trí


 Là người trực tiếp tổ chức thành lập, giáo dục và rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trong đó, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết quân dân luôn được Người quan tâm đặc biệt, thường xuyên nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Lời căn dặn của Bác ngắn gọn nhưng sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần về trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm của quân đội đối với nhân dân. Thấm nhuần lời căn dặn của Hồ Chủ tịch, hơn 60 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân; gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng thương yêu dân, quý trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân; ngược lại, nhân dân cũng hết lòng yêu thương, đùm bọc, chăm sóc, giúp đỡ quân đội. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, trong khó khăn cũng như hoạn nạn, mối quan hệ quân dân “cá-nước”, đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả, làm cho tình đoàn kết giữa nhân dân và quân đội ngày càng thêm bền vững.

Hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực, trong nước; nhất là trước âm mưu, thủ đoạn chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân, tiến tới làm suy yếu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội... thì lời căn dặn của Bác càng có giá trị, góp phần quan trọng định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết với nhân dân.

Thực hiện tốt lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn có ý thức sâu sắc về nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm đối với nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua rèn luyện phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới. Ra sức thực hiện lời dạy của Bác về “Dân vận khéo”, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quan hệ chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương nơi đóng quân, tăng cường các hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa đơn vị quân đội với địa phương; tích cực giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế-xã hội, góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa mới; đặc biệt, luôn chủ động, dũng cảm, kịp thời giúp dân phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn...

 PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Suốt thời gian qua, một số tổ chức và cá nhân nước ngoài có tư tưởng đổi lập và thù địch đã đưa ra những luận điệu sai trái để xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam. Trong bài viết: “Hội nghị thượng đỉnh về tự do tôn giáo Quốc tế 2024: Nói gì về Việt Nam và Trung Quốc” trên trang mạng “quyenduocbiet”, Việt Nam bị cáo buộc vi phạm quyền tự do tôn giáo, dù thực tế không phản ánh đúng điều này. Những cáo buộc như vậy không chỉ gây tổn hại đến hình ảnh quốc gia mà còn tạo ra sự hiểu lầm nghiêm trọng trong dư luận quốc tế, cố tình xuyên tạc tình hình tôn giáo, nhân quyền ở Việt Nam. 

Thứ nhất, chính sách tôn giáo của Việt Nam thể hiện sự tôn trọng đa dạng tôn giáo

Một trong những luận điệu phổ biến là cáo buộc Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng của người dân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Điều này được quy định rõ ràng trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể, Điều 24 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.". Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo với sự hiện diện của nhiều tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và nhiều tín ngưỡng dân gian khác. Các tôn giáo này tồn tại và phát triển một cách hòa bình, với sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng tôn giáo. Điều này, được thể hiện qua việc chính quyền tạo điều kiện cho việc xây dựng và tu bổ các cơ sở thờ tự, tổ chức các lễ hội tôn giáo lớn và hỗ trợ các hoạt động xã hội của các tổ chức tôn giáo. Ví dụ, vào năm 2022, Nhà nước đã cấp phép cho Giáo hội Công giáo xây dựng Nhà thờ Chính tòa Phú Cường tại Bình Dương, một công trình có sức chứa lớn và được đánh giá là một trong những kiến trúc Công giáo hiện đại nhất tại khu vực. Sự kiện này thu hút hàng ngàn người dân và tín đồ tham gia, minh chứng cho sự tôn trọng và hỗ trợ của chính quyền đối với các hoạt động tôn giáo.

Thứ hai, Việt Nam ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá nhà nước

Một luận điệu khác là Việt Nam sử dụng các biện pháp cứng rắn đối với các tổ chức tôn giáo. Tuy nhiên, cần hiểu rõ rằng, Việt Nam chỉ ngăn chặn và xử lý các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá nhà nước, gây rối an ninh trật tự. Đây là hành động cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm sự ổn định và phát triển của đất nước. Việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo. Điều 8 của luật này cấm các hành vi “lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; xâm hại đạo đức xã hội; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; chia rẽ dân tộc, tôn giáo; chia rẽ nhân dân với chính quyền, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội”. Một ví dụ điển hình là trường hợp của Lê Đình Lượng, một thành viên của tổ chức phản động Việt Tân. Lượng đã lợi dụng tôn giáo để kêu gọi, lôi kéo các tín đồ tham gia biểu tình, chống phá nhà nước. Năm 2018, Lượng bị bắt và xét xử với tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” và bị tuyên án 20 năm tù giam.

Thứ ba, sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về tự do tôn giáo ở Việt Nam

Không chỉ riêng trong nước, mà cộng đồng quốc tế cũng đã ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo. Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và đã ký kết nhiều công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo. Một minh chứng quan trọng là báo cáo của Liên Hợp Quốc về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Trong các báo cáo này, Liên Hợp Quốc đã ghi nhận những tiến bộ của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền tự do tôn giáo, đồng thời đánh giá cao các chính sách của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Cụ thể, trong cuộc đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) vào năm 2023, phía EU đã ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo cho người dân. Ngoài ra, Việt Nam cũng tổ chức nhiều cuộc đối thoại về nhân quyền với các quốc gia khác, như cuộc đối thoại với Hoa Kỳ vào tháng 5 năm 2022. Những cuộc đối thoại này đã góp phần nâng cao hiểu biết và sự hợp tác giữa Việt Nam với các nước khác trong lĩnh vực nhân quyền.

Để bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam, việc phản bác các luận điệu sai trái và xuyên tạc là vô cùng cần thiết. Thông qua việc đưa ra các minh chứng cụ thể và khách quan, chúng ta có thể khẳng định rằng Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của mọi người dân. Đồng thời, cần tiếp tục đẩy mạnh đối thoại quốc tế và hợp tác với các tổ chức toàn cầu để nâng cao nhận thức và xây dựng hình ảnh đúng đắn về tự do tôn giáo ở Việt Nam./.

 NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” HIỆN NAY

Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức chống phá trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Âm mưu của chúng nhằm đưa nước ta chệch hướng con đường CNXH mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng bấy lâu nay. Để thực hiện mưu đồ này, các thế lực thù địch dùng rất nhiều thủ đoạn, trong đó có gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng ta. Để đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, mỗi chúng ta phải hiểu rõ về những mưu đồ này.

“Tự diễn biến” là quá trình thay đổi theo chiều hướng tiêu cực về tư tưởng chính trị của con người, cán bộ, đảng viên. “Tự chuyển hoá” là sự tiếp nối của quá trình “tự diễn biến”, nhưng ở cấp độ cao hơn. Đó là sự chuyển hoá được bản chất chính trị của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng, trở thành thù địch, đối lập với Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Chủ thể của “tự diễn biến” là chính người cán bộ, đảng viên, bất kể ở vị trí nào. Song, vị trí trong nội bộ hệ thống chính trị càng cao, hậu quả của “tự diễn biến” càng lớn. Còn chủ thể của “tự chuyển hoá” vừa là cán bộ, đảng viên, vừa là tổ chức của những cán bộ, đảng viên đó có vai trò lãnh đạo chủ chốt.

Xét về quy luật diễn biến vủa tư tưởng con người từ suy nghĩ đến hành động, quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” thường diễn ra với ba giai đoạn, ứng với ba mức độ, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Ban đầu chỉ là sự hoang mang, giao động thật sự về tư tưởng chính trị, hoài nghi về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò và vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến việc chủ động tiếp nhận những thông tin trái chiều, những luận điệu chống đối hoặc lý luận phản động để hình thành lý lẽ riêng, móc nối, liên hệ với các phần tử chống đối ở trong và ngoài nước, ở mức độ cao của “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, đối tượng hoàn toàn có tư tưởng phản động, chống đối và bắt đầu có hành vi vi phạm pháp luật, thậm chí sẵn sàng hành động để làm thay đổi hệ thống chính trị.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” là hai vấn đề, song có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. “Tự diễn biến” là quá trình thẩm thấu từng ngày, từng hoạt động, còn “tự chuyển hoá’ là đích đến của sự “tự diễn biến”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá’ diễn ra trong một thời gian nhất định, thời gian dài hay ngắn phụ thuộc vào từng con người, từng tổ chức, phụ thuộc vào độ vững vàng về chính trị của từng cán bộ, đảng viên và độ liêm về đạo đức, lối sống của họ.

Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có những biểu hiện bằng nhóm vi phạm tiêu chuẩn chính trị, đạo đức của cán bộ, đảng viên, công chức; nhóm hành vi vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia ở mức độ chưa nghiêm trọng, còn có thể cảm hoá, giáo dục được và nhóm hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng, phản bội lại lợi ích của Đảng và Tổ quốc.

Tính chất của các hành vi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” mang tính nguy hiểm cao. Bởi vì một mặt nó làm biến chất, mục rỗng nội bộ ta, hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, hoạt động chống Đảng, Nhà nước ngay trong nội bộ; mặt khác, đây chính là cơ sở bên trong để các thế lúc thù địch, phản động móc nối, cấu kết, sử dụng hoạt động chống phá, lật đổ chế độ. Trong khi đó, việc nhận diện, đấu tranh gặp nhiều khó khăn, dễ gây chủ quan, mất cảnh giác. Vì vậy, nhận thức tốt về “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phòng ngừa những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ cán bộ, đảng viên hiện nay./.

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2024

TỪ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐẾN GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ

 

Có dịp cùng đoàn cán bộ Quận ủy Thanh Xuân (Hà Nội) đến thăm Đại tá, cựu chiến binh Dương Niết ở phố Nguyễn Viết Xuân, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân (Hà Nội), qua hồi tưởng của ông, một thời quân ngũ hào hùng như hiện ra trước mắt chúng tôi.

Dương Niết sinh năm 1934, quê ở xã An Vinh, huyện Quỳnh Phụ (trước đây là xã Quang Vinh, huyện Quỳnh Côi), tỉnh Thái Bình; tham gia hoạt động cách mạng từ khi 15 tuổi; 16 tuổi đã là chiến sĩ quân báo huyện Quỳnh Côi; 19 tuổi nhập ngũ, làm chiến sĩ Điện Biên và vinh dự có mặt trong đội hình được Bác Hồ chọn về giải phóng Thủ đô ngày 10-10-1954.

Đầu năm 1953, khi đang hoạt động cách mạng tại địa phương, Dương Niết trốn nhà đi đăng ký tuyển quân để được vào Quân đội. Sau thời gian huấn luyện tại Thanh Hóa, tháng 12-1953, Dương Niết nhận lệnh cùng đơn vị hành quân lên Điện Biên. Sau gần 50 ngày đêm hành quân, đơn vị của Dương Niết tới địa bàn huyện Tuần Giáo (Điện Biên).

Tháng 9-1954, Đại đoàn 308 vinh dự được Bác Hồ giao nhiệm vụ về tiếp quản Thủ đô. Tiểu đoàn Bình Ca thuộc Đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ vào trước các vị trí binh lính Pháp đang đóng quân ở Hà Nội để bảo vệ nhân dân, chống địch phá hoại. 214 cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn Bình Ca tuổi đời còn rất trẻ, chỉ từ 19 đến 22 vinh dự được Bác Hồ lựa chọn thực hiện nhiệm vụ đặc biệt đó. Chiều 9-10-1954, khi toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi cầu Long Biên thì cả Hà Nội bừng lên, tràn ngập cờ hoa. Ngày 10-10-1954 là ngày hội lịch sử của toàn dân tộc-Thủ đô Hà Nội hoàn toàn giải phóng”, Đại tá Dương Niết nhớ lại.

Khi được hỏi về cảm xúc của 70 năm trước đây, Đại tá Dương Niết bộc bạch: “Chúng tôi cảm nhận rất rõ về khao khát hòa bình, tự do, trong niềm vui vô bờ bến. Âm mưu của những kẻ bại trận lúc đó trao trả chúng ta một Hà Nội tan hoang. Chúng tôi thì bằng mọi giá phải chặn đứng âm mưu này. Phương thức đấu tranh khi đó phải tránh nổ súng. Lúc đó, chúng tôi bước vào cuộc chiến đấu hoàn toàn mới so với cuộc chiến ở chiến trường Điện Biên Phủ. Nhưng chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ được nhân dân và giữ lại tài sản, không để địch phá hoại hoặc lấy đi. Sau khi tiếp quản, hệ thống điện, nước của Thủ đô vẫn hoạt động; mọi sinh hoạt, hoạt động của thành phố vẫn diễn ra bình thường”.

Sau khi tham gia tiếp quản Thủ đô, Dương Niết tiếp tục tham gia nhiều nhiệm vụ, có mặt trong nhiều trận đánh trên nhiều cương vị khác nhau cho đến ngày đất nước được hoàn toàn độc lập. Từ một thanh niên yêu nước "trốn nhà" đi bộ đội, đến khi nghỉ hưu ông mang quân hàm Đại tá, với chức vụ Phó hiệu trưởng Trường Trung cao Không quân (nay là Học viện Phòng không-Không quân)./.

St


Ý NGHĨA LỊCH SỬ NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ 10/10/1954

Cuộc kháng chiến ở Hà Nội tiêu biểu cho tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Giải phóng Thủ đô khỏi ách xâm lược của đế quốc Pháp là sự nghiệp cách mạng vẻ vang của toàn Đảng, toàn dân, trực tiếp là sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân Thủ đô.

Trước kẻ thù xâm lược có quân đội được trang bị hiện đại, có bộ máy thống trị với những thủ đoạn đàn áp tàn bạo, nhân dân Hà Nội chỉ với vũ khí thô sơ trong tay, đã dũng cảm đứng lên quyết chiến và quyết. Biết bao người con ưu tú của Thủ đô đã chiến đấu kiên cường bất khuất, lớp trước ngã xuống, lớp sau tiến lên, quyết tâm đánh bại kẻ thù xâm lược.

Chiến đấu ở nơi trung tâm đầu não xâm lược của thực dân Pháp, cuộc kháng chiến ở Hà Nội là một nét tiêu biểu của sức mạnh chiến tranh nhân dân, là một điển hình kháng chiến toàn dân trên mặt trận đô thị. Cuộc kháng chiến toàn dân trong lòng thành phố còn làm phong phú thêm kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo quân dân Thủ đô đấu tranh vũ trang chống đế quốc xâm lược.

Để đưa cuộc kháng chiến ở Thủ đô đến thắng lợi, xuất phát từ vị trí, đặc điểm và những điều kiện cụ thể của chiến trường Hà Nội - một căn cứ quân sự, một địa bàn chiến lược quan trọng nhất của miền bắc Đông Dương, Đảng bộ Hà Nội đã vận dụng đúng đắn đường lối, chính sách, chủ trương kháng chiến, đặc biệt là phương châm nhiệm vụ công tác trong vùng bị địch tạm chiếm; đoàn kết, huy động sức mạnh toàn dân đánh giặc, chăm lo xây dựng, bồi dưỡng lực lượng trong suốt quá trình kháng chiến, trước hết là lực lượng chính trị quần chúng, trên cơ sở đó tổ chức lực lượng vũ trang (bao gồm bộ đội địa phương và dân quân, du kích, tự vệ); kết hợp chặt chẽ phong trào đấu tranh kinh tế, chính trị của quần chúng với đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao; vừa đẩy mạnh tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân, vừa tuyên truyền vận động ngay trong hàng ngũ địch tạo nên sức mạnh tổng hợp giành chiến thắng.

Tuy nhiên, phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn, ác liệt, Đảng bộ Hà Nội có nơi, có lúc không tránh khỏi những thiếu sót do phân tích thiếu chính xác tương quan lực lượng giữa ta và địch, do mắc sai lầm trong phương pháp công tác trên địa bàn thành phố bị địch chiếm đóng lâu dài, dẫn đến phong trào có những tổn thất.

Trong muôn vàn khó khăn, thử thách, nhờ có đường lối kháng chiến sáng suốt và sự chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, sự ủng hộ và quyết tâm kháng chiến của nhân dân Thủ đô, Đảng bộ Hà Nội đã vượt qua mọi gian nan, sóng gió, cùng cả nước đánh bại thực dân Pháp xâm lược.

Tám năm lãnh đạo quân dân Hà Nội kháng chiến trong lòng địch, mặc dù còn những hạn chế nhưng Đảng bộ ngày càng trưởng thành cả về chính trị tư tưởng và tổ chức.

Từ thực tiễn của cuộc kháng chiến, cán bộ đảng viên ngày càng hiểu sâu sắc đường lối kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện, đoàn kết rộng rãi nhân dân chống đế quốc xâm lược, giành độc lập thống nhất và dân chủ thực sự. Cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong gương mẫu, không ngại gian khổ, không sợ hy sinh, có tinh thần trách nhiệm cao, gắn bó mật thiết với quần chúng. Đó là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh để Đảng bộ đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân Thủ đô tới thắng lợi./.

St

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI NGUYÊN BÍ THƯ THÀNH ỦY HÀ NỘI NGUYỄN VĂN TRÂN

 

Bức ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt tay nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân (1917-2018) do Đại tá, Nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Hồng, nguyên phóng viên Báo Quân đội nhân dân chụp cách đây gần 2 thập kỷ đã để lại dấu ấn sâu đậm với người xem.

Giờ đây, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân đều đã về với Bác Hồ, với tổ tiên và các nhà cách mạng tiền bối nhưng hình ảnh rất đỗi bình dị, cử chỉ bắt tay vô cùng thân thương, gần gũi của một vị tướng đã kinh qua trận mạc với người lãnh đạo cao nhất của Thủ đô Hà Nội trong thời gian từ năm 1967 đến năm 1974 vẫn mãi in đậm trong lòng đồng bào Thủ đô và cả nước.
Hôm nay, cách đây 11 năm (4-10-2013), Đại tướng Võ Nguyên Giáp- người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam đã trút hơi thở cuối cùng. Mặc dù Đại tướng đã về cõi vĩnh hằng nhưng với mỗi người dân Việt Nam, Đại tướng vẫn sống mãi.
Đã từng ghi vào ống kính hàng nghìn tác phẩm nhiếp ảnh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhưng cho đến tận bây giờ, bức ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt tay nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân và cuộc trò chuyện của hai người chiến sĩ cách mạng năm xưa vẫn mãi in đậm trong tâm trí Nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Hồng.
Theo Nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Hồng, khi đó, ông đã chụp rất nhiều bức ảnh và cuối cùng chọn được tác phẩm ghi lại khoảnh khắc tình cảm, gần gũi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân.
Mặc dù, Hà Nội không phải là quê hương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhưng mảnh đất này chính là nơi Đại tướng gắn bó lâu nhất trong cuộc đời của mình. Bởi thế, Đại tướng luôn dành tình cảm đặc biệt cho Hà Nội mến yêu.
Hà Nội- thành phố vì hòa bình-Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người giờ đây đã “vươn mình”, đạt được nhiều thành tựu trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Có lẽ, ở miền mây trắng, chứng kiến một Hà Nội đã “thay da đổi thịt” từng ngày, hai người chiến sĩ cộng sản sẽ rất vui mừng bởi thế hệ ngày nay đã kế tục và tiến bước vững chắc trên con đường đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất đỗi vinh quang và tự hào của bao thế hệ đi trước.
Trong hàng nghìn bức ảnh chụp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có rất nhiều tác phẩm mà Nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Hồng đã ghi vào ống kính những khoảnh khắc bình dị khi Đại tướng tiếp các đoàn khách tại nhà riêng ở Hà Nội./.

CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050

 Để đạt được mục tiêu đề ra trong Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050[5], các cấp, các ngành, các địa phương tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; Luật Phòng, chống thiên tai, Luật Phòng thủ dân sự, Chiến lược, Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia. Tập trung nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai; tiếp tục rà soát, hoàn thiện các chương trình, kế hoạch, kịch bản phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm lồng ghép trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, từng vùng, từng địa phương, ngành, lĩnh vực.

Thực hiện linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả phương châm "bốn tại chỗ" tại cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương theo từng thời kỳ. Tập trung hướng dẫn, nâng cao nhận thức, kỹ năng quản lý, ứng phó với thiên tai, nhất là ở cấp cơ sở và các địa bàn có nguy cơ cao; tập trung rà soát, hoàn thiện các quy trình, quy chế tổ chức vận hành, phối hợp trong phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai. Ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, kỹ thuật đồng bộ, tiên tiến, công nghệ hiện đại; tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách để sử dụng hiệu quả Quỹ phòng, chống thiên tai. Khẩn trương hoàn thành Chương trình phân vùng rủi ro thiên tai, xây dựng bản đồ phân vùng sạt lở đất, lũ quét tỷ lệ lớn, chi tiết đến cấp xã, thôn bản. Tập trung bố trí sắp xếp, di dời người dân vùng có nguy cơ cao gắn với tạo việc làm, sinh kế bền vững tại nơi ở mới, bảo đảm bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Rà soát quy hoạch, xây dựng các công trình bảo đảm phòng, chống lũ quét, sạt lở đất. Tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao chất lượng rừng, nhất là rừng tự nhiên, phòng hộ.

Làm tốt công tác thông tin truyền thông, nhất là những mô hình tốt, cách làm hay, gương điển hình tiên tiến để nhân rộng. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, huy động sự hỗ trợ, giúp đỡ của các nước, tổ chức quốc tế, đối tác bên ngoài, nhất là về đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ, mô hình quản trị, điều hành tiên tiến, góp phần đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai trong giai đoạn mới./.

St

ĐẢNG TA ĐỦ KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG HIỆU QUẢ


Thực tế cho thấy, bản chất cách mạng, tính tiền phong và năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn là nhân tố cơ bản quyết định, bảo đảm Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ khả năng để chống tham nhũng hiệu quả.

Theo báo cáo của TI, trong lúc tình hình không được cải thiện hoặc tồi tệ hơn ở 86% các quốc gia trong bảng xếp hạng thì chỉ số CPI của Việt Nam liên tục được cải thiện... Đó là kết quả của cả một quá trình PCTNTC rất quyết liệt do Đảng ta lãnh đạo. Với nhận thức, tham nhũng là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, Đảng ta xác định đấu tranh PCTNTC là một việc làm cần thết, tất yếu, hợp lòng dân và xu thế phát triển của nhân loại. Vì vậy, tiếp nối kết quả từ những nhiệm kỳ trước, Đại hội XIII của Đảng đề ra phương châm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”.   

Dấu ấn nổi bật là việc Bộ Chính trị quyết định bổ sung, mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng để chỉ đạo cả công tác phòng, chống tiêu cực. Từ đây, cuộc đấu tranh PCTNTC bước sang giai đoạn mới, đi vào chiều sâu, gắn

kết chặt chẽ hơn giữa “xây” và “chống”, giữa PCTNTC với xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Ngay sau đó, Ban chỉ đạo đã quyết định đưa một số vụ việc tiêu cực vào diện theo dõi, chỉ đạo, qua đó, các cơ quan chức năng đã làm rõ, xử lý nghiêm hành vi tiêu cực của nhiều cán bộ, đảng viên.

Công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh. Các cơ quan chức năng đã chủ động phát hiện, quyết liệt đấu tranh, khởi tố, điều tra, xử lý nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, xảy ra trên diện rộng, trong các lĩnh vực chuyên môn sâu, hoạt động khép kín, vi phạm có tính hệ thống, có tổ chức, cả trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước. Qua xử lý các sai phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực đã xử lý trách nhiệm chính trị của người đứng đầu trong việc để xảy ra vi phạm, khuyết điểm trong lĩnh vực được phân công quản lý, phụ trách theo đúng nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”.. Đảng ta đã “nói đi đôi với làm”, chống tham nhũng, tiêu cực đã “tắm từ trên đầu xuống”, không phải chỉ “tắm từ vai xuống” như có ý kiến băn khoăn, lo lắng thời gian trước./.

St

ĐẢNG TA NGÀY CÀNG XỨNG ĐÁNG LÀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO, ĐẢM ĐƯƠNG TRỌNG TRÁCH DẪN DẮT ĐẤT NƯỚC PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ, BỀN VỮNG, NHÂN VĂN TRÊN CON ĐƯỜNG XHCN

Một nội dung quan trọng trong đổi mới phương thức, lãnh đạo cầm quyền của Đảng ta hiện nay, đó là kiểm tra, kiểm soát, giám sát và thanh tra một cách dân chủ, chặt chẽ, cụ thể, phù hợp đối với quyền theo trách nhiệm. Kiểm soát quyền lực luôn là công việc trung tâm tuy rất khó khăn, luôn là nguy cơ sinh tử của mọi thể chế dân chủ. Quyền lực luôn thu hút những kẻ không có đạo đức. Sự nghiêng ngả, sụp đổ của một số thể chế chính trị trên thế giới, một trong những nguyên nhân là, do đánh mất vai trò kiểm soát, phá vỡ và đánh mất sự cân bằng quyền lực chính trị của đảng cầm quyền.

Tiếp tục đổi mới mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ chính là Đảng lãnh đạo công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp, bảo đảm quyền lực được thực thi toàn diện, thống nhất và được kiểm soát một cách toàn diện, chặt chẽ, cụ thể, hiệu quả theo Điều lệ Đảng và pháp luật, đúng vị thế và chức năng để Đảng không bao biện, làm thay, lấn sân Nhà nước và ngược lại Đảng cũng không "khoán trắng", buông lỏng lãnh đạo. Các tổ chức của Đảng và đảng viên gương mẫu, đi đầu trong thực hành dân chủ, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trên cơ sở phân định, thể chế hóa nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trên từng lĩnh vực và cấp chính quyền, nhất là đối với quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Hoàn thiện cơ chế của Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam và Nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.

Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước phải được toàn dụng song hành, càng đặc biệt quan trọng đối với người đứng đầu cấp ủy và cấp ủy, trong bối cảnh đổi mới bộ máy đảng và hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, không trùng chéo, liên thông, hiệu lực, hiệu quả. Không định vị đúng quyền và phạm vi quyền được trao sẽ không thể định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy và cấp ủy; ngược lại, trách nhiệm phải trên cơ sở và tương dung thống nhất với quyền được trao. Không thể dung thứ tình trạng dùng quyền mà không chịu trách nhiệm về quyền được trao cũng như tình trạng quyền và trách nhiệm không cân xứng.

Vì vậy, nếu bảo đảm quyền phải gắn liền với trách nhiệm thì trao quyền tới đâu phải kiểm soát vô điều kiện quyền được trao theo trách nhiệm tới đó, không kể là ai hay bất cứ cấp nào. Càng phân cấp, phân quyền đối với người đứng đầu và cấp ủy càng phải siết chặt công tác kiểm tra, giám sát một cách đa diện, dân chủ. Không thể để bất cứ tình trạng quyền được trao ở bất cứ ai, ở bất cứ cấp nào nằm ngoài sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của Đảng, sự phản biện của MTTQ và sự giám sát của Nhân dân theo luật định. Điều đó cũng đồng nghĩa với không thể để và không dung thứ tình trạng lạm quyền, lộng quyền, mạo quyền, tiếm quyền, sở hữu quyền được trao (dưới mọi hình thức, tính chất và mức độ) ở bất cứ ai. Cần đặc biệt phòng ngừa và xử lý nghiêm khắc tệ “đạo vị” (ăn cắp chức vụ) - tham nhũng chính trị - nguồn gốc đẻ ra các tệ nạn khác nguy hiểm (mua bán chức vụ, ban phát quyền lực, nạn “chạy” chức vụ, thành tích, luân chuyển, bằng cấp...).

Đồng thời, đổi mới, thực thi cơ chế giám sát chặt chẽ, nghiêm ngặt về đạo đức của người đứng đầu cấp ủy ở mọi nơi, mọi lúc song hành với vận hành cơ chế kiểm soát, giám sát quyền lực nhằm chống tham nhũng quyền lực, tha hóa và thoái hóa quyền lực. Đạo đức chính trị và quyền lực chính trị phải trở thành đối tượng của công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát từ mọi phía Đảng, Nhà nước, Nhân dân, công luận. Vì, khi đạo đức bị suy thoái, sa đọa rất dễ dẫn tới tha hóa về chính trị, thậm chí thoái hóa về quyền lực chính trị.

Kỷ luật là sức mạnh của sự lãnh đạo của Đảng. Nếu buông lỏng công tác kiểm tra là xâm hại sự lãnh đạo của Đảng, coi nhẹ giám sát kỷ luật trong Đảng là vô hình trung dung túng cho nguy cơ sử dụng quyền được trao biến thành sở hữu quyền được trao và tác họa sẽ khôn lường; nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới suy thoái chính trị, lâm vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “Đảng hóa Nhà nước” hoặc “Nhà nước hóa Đảng”, vô hình tự đánh mất quyền và trách nhiệm lãnh đạo, cầm quyền.

Việc lâu dài nhưng cần kíp là, đổi mới hệ thống tổ chức, xác định rõ vị thế, trách nhiệm của cơ quan kiểm tra và kỷ luật của Đảng ở các cấp theo hướng trao quyền ngang tầm, mạnh mẽ, tổ chức bộ máy gọn, tinh thông trong việc giữ nghiêm kỷ luật theo Điều lệ Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi những chứng bệnh của một đảng cầm quyền; đổi mới cơ quan thanh tra nhà nước. Đồng thời, đổi mới cơ chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra của Đảng - thanh tra của Nhà nước - cơ quan giám sát, phản biện của MTTQ Việt Nam một cách đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả. Trước mắt, củng cố đội ngũ những người làm công việc kiểm tra trong Đảng, thanh tra phía Nhà nước thật sự thạo việc, trung trực, liêm chính trên cơ sở trao quyền quyết định tương xứng cho ngành kiểm tra, thanh tra ngang tầm trọng sự được giao. Đồng thời, gắn chặt với sự giám sát của công luận, của Nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị đối với các tổ chức đảng và đảng viên ở mọi lúc, mọi nơi, dù trong nước hay công tác ở nước ngoài. Nghiêm ngặt kiểm tra, giám sát tổng thể, toàn diện, cụ thể đối với đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu trong công vụ và cuộc sống hàng ngày.

Mỗi quyết nghị bảo đảm "7 định".

Nội dung tiếp theo, đó là thể chế hóa thực thi quyền, trách nhiệm, phương pháp, lề lối, phong cách lãnh đạo, cầm quyền theo Điều lệ Đảng, thống nhất với pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục nghiên cứu xây dựng hệ thống quy chế, quy định, chế độ một cách thống nhất, đồng bộ, cụ thể về sự lãnh đạo của Đảng trên tất cả mọi phương diện, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cải cách xây dựng các ban tham mưu của Đảng gọn nhẹ, liên thông, tinh nhuệ, hành động, đặc biệt đạo đức chính trị ngang tầm trọng trách. Quy định và kiểm tra công việc cần có của người đứng đầu, cấp ủy, trước hết là việc chủ trì đổi mới quy trình ra và tổ chức thực thi nghị quyết. Mỗi quyết nghị của tập thể cấp ủy bảo đảm tối thiểu 7 yêu cầu, với 7 “định”: Định hướng, định tính, định lượng, định hình, định việc, định người và định kiểm. Mỗi quyết nghị của cấp ủy phải là một chương trình hành động, chứ không phải là chương trình nghị luận "suông".

Như thế mới bảo đảm sự tập trung của các quyết sách trên cơ sở thực thi dân chủ, có tính khả thi, kiểm soát chủ động việc thi hành quyết nghị. Thực hiện đồng bộ, chặt chẽ và thiết thực; chú trọng điều tra, làm thử, rút kinh nghiệm và nhân rộng kinh nghiệm; phát huy trí tuệ cấp ủy, đội ngũ đảng viên thật sự dân chủ trong thực hiện nghị quyết, bảo đảm cho các quyết nghị được tuân thủ kịp thời, đúng đắn và hiệu quả; kiểm tra chặt chẽ việc thực thi nghị quyết, chống lối quyết nghị “suông”, chỉ đạo miệng, nói nhiều làm ít, nói nhưng không làm, nói một đường làm một nẻo, thậm chí chống lại nghị quyết… Đó là thước đo về sự trưởng thành chính trị, trí tuệ, uy tín, phương pháp, phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ; đồng thời là sự kiểm chứng giữa quyền và trách nhiệm theo nhiệm vụ của người đứng đầu, cấp ủy và tổ chức đảng.

Các cấp có thẩm quyền thể chế hóa nghị quyết của Đảng về vấn đề này thống nhất thành quy chế, chế độ tại các cơ quan (của Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, MTTQ Việt Nam các cấp và các đoàn thể chính trị) để các cơ quan này giám sát và phản biện. Quy chế hóa về tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng thật cụ thể, thiết thực và hiệu quả; xác định đúng trọng tâm, trúng trọng điểm cần giải quyết; định tính, định lượng và định vị rõ ràng; dân chủ và minh bạch hóa; định lượng và thưởng phạt kịp thời, minh bạch…

Có thể hình dung gồm 10 phương diện định chế thống nhất. 1-Định chế đối thoại dân chủ trong Đảng, đối thoại với cơ sở và nhân dân song hành với định chế kỷ luật theo Điều lệ Đảng và pháp luật. Đó là con đường tiếp tục xây dựng nội bộ đảng vững mạnh và phát triển cơ sở xã hội - chính trị của Đảng vững chắc và rộng rãi ngay từ nền tảng, với tinh thần dân chủ, minh bạch, mà người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trước hết và trực tiếp. Khuyến khích, cổ vũ và bảo vệ mọi sự tìm tòi, sáng tạo thực hiện hiệu quả nghị quyết của Đảng ở tất cả các cấp ủy, các ngành, các địa bàn...

2- Định chế trách nhiệmtrước cấp trên, cùng cấp, cấp dưới và đảng viên. Đó là thước đo của việc đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, lề lối làm việc của cấp ủy, phong cách lãnh đạo của người đứng đầu cấp ủy.

3- Định chế bầu cử, ứng cử, tiến cử, thi tuyển… một cách dân chủ trong Đảng và hệ thống chính trị, theo hướng tranh cử (nhiều ứng viên cho một chức vụ), bảo cử dân chủ (chịu trách nhiệm đồng thời với người được tiến cử) và đặc biệt thi tuyển minh bạch… Định lượng thời gian “khảo thí”, “khảo chức” sau giữ chức vụ.

4- Định chế luân chuyển, điều động… đối với người đứng đầu các cấp ủy một cách phù hợp, thống nhất trong thế bố trí chiến lược đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp. Thể chế hóa công việc này. Chẳng hạn Luật Hồi tỵ thời Hồng Đức (1470 - 1497) để lại không ít kinh nghiệm có thể tham chiếu hiện nay về phương pháp bố trí, kiểm soát vĩ mô cán bộ các cấp.

5- Định chế về miễn nhiệm, từ chức của người đứng đầu, sửa đổi, bổ sung các hình thức, mức độ kỷ luật khác (huyền chức, hạ chức, cách chức, tước bỏ chức vụ…) đối với người giữ các chức vụ trong Đảng và hệ thống chính trị, trên cơ sở quyền gắn với trách nhiệm theo nhiệm vụ, không có vùng cấm, không trừ ngoại lệ, không đợi hết nhiệm kỳ, không vì bất cứ lý do nào khác.

6- Định chế kiểm tra, thanh tra định kỳ và bất thường kết hợp của các cơ quan đảng với định chế giám sát của đảng viên, của nhân dân và công luận để sàng lọc, lựa chọn, bố trí thành viên cấp ủy, nhất là người đứng đầu cấp ủy các cấp.

7- Định chế báo cáo, giải trình trách nhiệm một cách công khai, minh bạch, dân chủ của cá nhân, tổ chức trong Đảng theo Điều lệ Đảng và tại cơ quan, đơn vị theo pháp luật của Nhà nước về các công việc lãnh đạo, mối quan hệ cộng đồng, thân nhân và mối quan hệ thân tộc, tài sản của cá nhân (trước và sau khi giữ chức vụ) và tổ chức mà các cơ quan của Đảng, cơ quan thanh tra của Nhà nước yêu cầu, công luận phát hiện…

8- Định chế sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết một cách sát thực về hoạt động của tổ chức đảng cùng cấp và cấp dưới theo các quy chế, trước hết là cấp ủy và người đứng đầu, không chỉ cơ quan đảng mà cả với tổ chức đảng trong các cơ quan chính quyền và tổ chức của hệ thống chính trị các cấp, các doanh nghiệp và những địa bàn trong nước và ở nước ngoài có tổ chức đảng.

9- Định chế độ khen thưởng, kỷ luật một cách dân chủ, nghiêm minh, kịp thời đối với công việc thực thi phương thức lãnh đạo của người đứng đầu cấp ủy nói riêng và công tác đảng nói chung theo Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước. Kết quả công việc, sự hài lòng của đảng viên, nhân dân là thước đo hiệu quả của đổi mới phương thức lãnh đạo, phẩm hạnh và tư cách của đảng viên. Lập Quỹ Dưỡng liêm để bảo vệ, cổ vũ đảng viên, cấp ủy các cấp.

10- Định chế đổi mới, hiện đại hóa các phương tiện làm việc theo hướng hoàn thiện khung pháp lý và các cơ sở dữ liệu, nền tảng ứng dụng trên nền tảng số và công nghệ hiện đại nhằm đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, chỉ đạo từ truyền thống sang điện tử và dựa trên dữ liệu số, ở tất cả các cấp, các phương diện một cách đồng bộ, thống nhất, trực tiếp, ngang tầm, hiệu quả./.


Trong thế giới hiện nay, trước yêu cầu phát triển đất nước giai đoạn mới, theo quy mô, tốc độ, chiều sâu của công cuộc đổi mới, Đảng ta ngày càng xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân vừa là “đứa con nòi” của dân tộc, đảm đương trọng trách lịch sử dẫn dắt đất nước phát triển mạnh mẽ, bền vững và nhân văn trên con đường XHCN và đồng hành cùng nhân loại trong thế kỷ XXI./.


TS. Nhị Lê - Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN TÂN CƯƠNG: TOÀN QUÂN ĐÃ THỰC HIỆN TỐT NHIỆM VỤ “CHIẾN ĐẤU TRONG THỜI BÌNH"

Sáng 4-10, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì Hội nghị giao ban Bộ Tổng Tham mưu tháng 9-2024.

Tham gia hội nghị có Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; cùng lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan đơn vị thuộc Bộ Tổng Tham mưu.

Hội nghị đánh giá, trong tháng 9 vừa qua, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam đã chỉ đạo toàn quân triển khai thực hiện hoàn thành tốt các nhiệm vụ theo kế hoạch. Toàn quân duy trì nghiêm chế độ trực SSCĐ, nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu, xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ; phối hợp giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn cả nước và các sự kiện trọng đại của đất nước. Chỉ đạo huấn luyện, diễn tập, hội thi, hội thao cho các đối tượng chặt chẽ, đúng chương trình, kế hoạch. Làm tốt công tác chuẩn bị các cuộc diễn tập do Bộ Quốc phòng chỉ đạo năm 2024; tổ chức diễn tập HN-24 đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Chấp hành nghiêm các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về chỉ đạo ứng phó, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả bão số 3 và mưa lũ sau bão. Tổ chức, chỉ đạo việc huy động lực lượng, phương tiện giúp nhân dân các địa phương khắc phục hậu quả của bão, sớm ổn định đời sống...

Phát biểu kết luận hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương ghi nhận, biểu dương kết quả trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng mà các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tổng Tham mưu đã thực hiện trong tháng 9. Đặc biệt là toàn quân đã thực hiện tốt nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình", trong ứng phó và khắc phục hậu quả bão số 3, thể hiện vai trò là lực lượng nòng cốt trong ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai, tìm kiếm cứu nạn...

Về nhiệm vụ trong tháng 10, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương yêu cầu toàn quân duy trì nghiêm chế độ SSCĐ, theo dõi nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu, xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động bất ngờ. Chuẩn bị tốt nội dung tổ chức Hội nghị cấp Bộ Quốc phòng tổng kết Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng năm 2015. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị toàn quân tổ chức huấn luyện, diễn tập, hội thi, hội thao cho các đối tượng chặt chẽ, đúng chương trình, kế hoạch. Chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức diễn tập chiến thuật có bắn đạn thật, đạn hơi, thuốc nổ trong các cuộc diễn tập do Bộ chỉ đạo năm 2024. Tổ chức Hội thao Thể thao quốc phòng năm 2024. Hoàn thiện việc xây dựng kế hoạch chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, địa phương việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2025 nhằm đảm bảo tốt chất lượng theo yêu cầu.

Thượng tướng Nguyễn Tân Cương yêu cầu các cơ quan, đơn vị tiếp tục duy trì nghiêm chế độ nền nếp chính quy, quản lý kỷ luật, bảo đảm an toàn khi tham gia giao thông. Tuần tra canh gác bảo vệ an toàn cơ quan, đơn vị, kho tàng. Thực hiện tốt các hoạt động nghỉ lễ Nhà nước và Quân đội. Duy trì nghiêm chế độ ứng trực cứu hộ, cứu nạn ở các cấp, chủ động nắm chắc tình hình, tham mưu đề xuất xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống sự cố thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, dịch bệnh và thảm họa môi trường./.

St.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ CHUYỂN ĐỘNG MANG TÍNH THỜI ĐẠI TRONG THẾ GIỚI NGÀY NAY

 Trong những thập kỷ vừa qua, thế giới có nhiều chuyển động từ chính trị, kinh tế đến an ninh, văn hóa, xã hội; từ tầng sâu vật chất, kỹ thuật, công nghệ đến thượng tầng quyền lực quốc gia và quốc tế.

Có thể nhận diện một số chuyển động có tính thời đại, tác động trong dài hạn đến an ninh và phát triển của mọi quốc gia dân tộc gồm: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư từ đầu thế kỷ 21 đang khai sinh một thời đại kinh tế mới; quá trình toàn cầu hóa đang biến mọi chủ thể quốc gia thành bộ phận của toàn thế giới; phát triển bền vững trở thành mục tiêu, yêu cầu chung của nhân loại; sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản toàn cầu như giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa tư bản; phong trào đấu tranh nhân dân rộng lớn trên thế giới tìm kiếm những phương án thay thế chủ nghĩa tư bản; quá trình cải cách, đổi mới chủ nghĩa xã hội trên thế giới đang khẳng định chủ nghĩa xã hội là một thực thể tham gia định hình thế giới hiện đại.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra một thời đại kinh tế mới và bước ngoặt vận động của thế giới. Với các công nghệ nền tảng: Internet vạn vật, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ in 3 chiều, công nghệ chuỗi khối, công nghệ sinh học hiện đại…, từ đầu thế kỷ 21, cuộc cách mạng này mở ra thời đại số hóa. Nó chế tạo ra ngày càng nhiều tư liệu sản xuất hiện đại không chỉ thay thế lao động chân tay, lao động trí óc mà còn mô phỏng được nhiều trạng thái tinh thần của con người; xóa đi ranh giới giữa thế giới vật thể, thế giới thực và thế giới số hóa, thế giới ảo; phá bỏ mọi khoảng cách về không gian và thời gian; biến toàn bộ thế giới thành một thực thể ngày càng nhất thể hóa cao độ.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra một thời đại kinh tế mới và bước ngoặt vận động của thế giới. Với các công nghệ nền tảng: Internet vạn vật, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ in 3 chiều, công nghệ chuỗi khối, công nghệ sinh học hiện đại…, từ đầu thế kỷ 21, cuộc cách mạng này mở ra thời đại số hóa.

Chưa bao giờ, dự đoán của C.Mác về việc khoa học-công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trở thành hiện thực như trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn bộ nền sản xuất vật chất của loài người sẽ được triển khai bằng các công cụ sản xuất khác trước, được quản lý bằng cách thức khác trước, buộc toàn bộ đời sống con người phải tái cấu trúc lại với quá trình hình thành nền kinh tế số, xã hội số và chính quyền số.

Toàn cầu hóa, quốc tế hóa, khu vực hóa tiếp tục là chuyển động to lớn, bao trùm lịch sử thế giới. Đây là một xu thế khách quan, ra đời nhờ sự phát triển của các lực lượng sản xuất hiện đại do các cuộc cách mạng công nghiệp tạo ra. Từ cuối thế kỷ 20 đến nay, xu thế này có xung lực mới trên mọi lĩnh vực và ở phạm vi toàn cầu.

Các tổ chức liên kết, hợp tác quốc tế ở mọi cấp độ toàn cầu, liên khu vực, khu vực và tiểu khu vực được củng cố, mở rộng, thành lập mới. Xu thế đó vừa tiếp tục được triển khai mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư; vừa được mở rộng sang các lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học-kỹ thuật, an ninh, quốc phòng… thông qua hoạt động của các thiết chế đa phương và quản trị toàn cầu.

Riêng quá trình khu vực hóa là sự thiết lập liên minh, liên kết, hợp tác giữa các quốc gia, các chủ thể trong cùng một khu vực trên cơ sở tương đồng về địa lý, văn hóa, lịch sử. Hiện nay, các nước có chế độ xã hội khác nhau cùng tham gia vào một quá trình liên kết khu vực trên mọi bình diện kinh tế, văn hóa, khoa học-kỹ thuật, quốc phòng, an ninh, chính trị…

Trước tất yếu khách quan và tính chất không thể đảo ngược của toàn cầu hóa, quốc tế hóa, khu vực hóa, các quốc gia, dân tộc ngày nay đều thực hiện hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện, từng bước nhất thể hóa hàng loạt các lĩnh vực của đời sống quốc gia theo chuỗi giá trị toàn cầu./. 

Quan hệ giữa Việt Nam với OIF và Pháp ngày càng sâu rộng

Nhận lời mời của Tổng thống Cộng hòa Pháp Emmanuel Macron, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 19 và thăm chính thức Cộng hòa Pháp từ ngày 4 đến 7-10.

Với Tổ chức quốc tế Pháp ngữ (OIF), chuyến tham dự Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 19 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục khẳng định vai trò của Việt Nam là thành viên chủ chốt của cộng đồng Pháp ngữ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng như sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của Việt Nam vào các hoạt động của cộng đồng Pháp ngữ nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung, góp phần tăng cường, củng cố chủ nghĩa đa phương, hợp tác và đoàn kết quốc tế.

Quan hệ hợp tác Việt Nam-OIF tiếp tục phát triển tốt đẹp trong những năm qua. Về chính trị-ngoại giao, OIF coi trọng vai trò và những đóng góp của Việt Nam, xem Việt Nam như hình mẫu về phát triển kinh tế-xã hội, lấy Việt Nam làm trung tâm trong các hoạt động hợp tác Pháp ngữ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Về kinh tế-thương mại, với 88 quốc gia và vùng lãnh thổ thành viên (trong đó 54 quốc gia là thành viên chính thức), quy mô dân số khoảng 1,2 tỷ người, chiếm 16% tổng sản phẩm trong nước (GDP) và 20% thương mại toàn cầu, OIF có nhiều tiềm năng và dư địa để đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh vực như nông nghiệp, năng lượng, số hóa/chuyển đổi số. Đến nay, Việt Nam đã có trao đổi thương mại với 44/54 quốc gia thành viên chính thức của OIF. Tính đến hết tháng 6-2024, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam với các nước thành viên OIF đạt 16,8 tỷ USD, tăng 12,15% so với cùng kỳ năm 2023.

Với Pháp, đây là chuyến thăm đầu tiên tới Pháp của Chủ tịch nước Việt Nam sau 22 năm, nhằm đưa quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Pháp đi vào chiều sâu, thiết thực, trên cơ sở quan hệ song phương phát triển rất tích cực trong chặng đường hơn 50 năm qua. Về chính trị-ngoại giao, hai nước thường xuyên duy trì tiếp xúc, trao đổi đoàn; hai bên phối hợp và ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, ASEM, ASEAN-EU và cộng đồng Pháp ngữ.

Hợp tác kinh tế-thương mại tiếp tục là trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Pháp hiện là đối tác thương mại lớn thứ 4, nhà đầu tư lớn thứ 2 và đứng đầu về viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam trong Liên minh châu Âu (EU). Kim ngạch thương mại song phương tăng 42% trong 10 năm qua, đạt 4,8 tỷ USD trong năm 2023 và 2,96 tỷ USD trong 7 tháng năm 2024. Pháp có tổng vốn đầu tư đăng ký tại Việt Nam đạt 3,62 tỷ USD, tổng vốn vay ưu đãi ODA đạt 3,3 tỷ USD.

Về hợp tác giáo dục-đào tạo, Pháp luôn coi đây là mục tiêu ưu tiên trong hoạt động hợp tác tại Việt Nam, tập trung chủ yếu vào việc giảng dạy và phát triển tiếng Pháp. Cùng với đó, hằng năm, Chính phủ Pháp dành 80 suất học bổng cho sinh viên Việt Nam sang Pháp học tập, nghiên cứu ở bậc thạc sĩ, tiến sĩ, nhằm giúp Việt Nam trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trên nhiều lĩnh vực: Quản lý kinh tế, ngân hàng, tài chính, luật, công nghệ mới...

Hợp tác văn hóa-du lịch, giao lưu văn hóa giữa hai nước ngày càng phát triển. Mỗi năm, Chính phủ Pháp dành khoảng 5 triệu euro cho ngân sách hợp tác văn hóa với Việt Nam. Pháp đứng thứ 7 trong các nước, vùng lãnh thổ có đầu tư nhiều nhất vào lĩnh vực du lịch tại Việt Nam, với 14 dự án có tổng trị giá 188 triệu USD. Trong khi đó, Việt Nam xác định Pháp là thị trường khách trọng điểm. Hai bên đã phối hợp tổ chức thành công năm chéo Việt Nam-Pháp tại hai nước nhân kỷ niệm 40 năm (1973-2013) và 50 năm (1973-2023) thiết lập quan hệ ngoại giao; 10 năm quan hệ đối tác chiến lược (2013-2023).

Hợp tác trong các lĩnh vực khoa học-công nghệ, quốc phòng, an ninh, y tế và hợp tác địa phương diễn ra sôi động và ngày càng được tăng cường, mở rộng. Cộng đồng người Việt Nam tại Pháp có khoảng 350.000 người, là cộng đồng người Việt Nam lớn nhất ở châu Âu, có nhiều đóng góp cho sở tại và gắn kết với quê hương.

Chúng ta tin tưởng rằng chuyến tham dự Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 19 và thăm chính thức Cộng hòa Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thành công tốt đẹp, góp phần thúc đẩy quan hệ Việt Nam-OIF và quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Pháp phát triển ngày càng sâu rộng, thiết thực; qua đó, tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam./.

QĐND

Tuyên truyền, vận động nông dân bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địc

Giai cấp nông dân là lực lượng to lớn, có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Hơn 90 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp nông dân luôn tin tưởng, trung thành, gắn bó với Đảng trong các giai đoạn cách mạng. Nông dân luôn tích cực thực hiện đường lối phát triển kinh tế - xã hội, tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Lợi dụng trình độ nhận thức còn hạn chế của một số nông dân, các thế lực thù địch sử dụng các âm mưu, thủ đoạn, ra sức lôi kéo, kích động nông dân chống phá sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do vậy, tuyên truyền, vận động, nhận diện âm mưu thủ đoạn của địch, phát huy vai trò của nông dân bảo trong vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là hết sức cấp bách và cần thiết.

1. Nông dân là lực lượng đông đảo trong xã hội, có những phẩm chất tốt đẹp, đó là lòng yêu nước; lòng nhân ái, vị tha, hòa hiếu, khoan dung; tình làng, nghĩa xóm, truyền thống đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau; bản chất dũng cảm, kiên cường, bất khuất, mưu trí, sáng tạo, cần cù, chịu khó...

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nông dân lao động là lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh chắc chắn của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân. Muốn dựa vào nông dân ắt phải bồi dưỡng lực lượng của họ”(1).

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, trải qua các thời kỳ cách mạng, trong bất cứ hoàn cảnh nào, giai cấp nông dân vẫn luôn tin tưởng, kề vai, sát cánh, đoàn kết theo Đảng làm cách mạng, không quản ngại gian khổ, hy sinh, giành những thắng lợi vẻ vang.

Giai cấp nông dân luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, phát huy tốt vai trò chủ thể, trung tâm trong phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững quốc phòng, an ninh. Nông dân tích cực tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

2. Nông dân với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Hiện nay, dân số của Việt Nam là 100,3 triệu người (năm 2023), trong đó khu vực nông thôn là 62,1 triệu người (chiếm 61,9%); lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,8 triệu người(2) và một lực lượng lớn lao động phi chính thức làm việc trong hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản. Nông dân Việt Nam là lực lượng đông đảo và cư trú rộng khắp trên toàn vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, thuộc các dân tộc, có tỷ lệ lớn là tín đồ các tôn giáo. Trong hội nhập quốc tế, nhiều nông dân đã đi lao động ở nước ngoài.

Cùng với sự phát triển của đất nước, nông dân Việt Nam đã có sự trưởng thành toàn diện, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định về nhận thức, trình độ nên dễ bị lôi kéo, kích động. Mặt trái của cơ chế thị trường, sự tác động tiêu cực, ảnh hưởng của mạng xã hội, internet; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên, các tiêu cực, tệ nạn xã hội đã tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của nông dân. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng, khoét sâu vào những hạn chế, thổi phồng những khuyết điểm để chống phá, làm cho một bộ phận nông dân mất cảnh giác, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá cách mạng với nhiều hình thức khác nhau, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi. Chúng lợi dụng nhận thức còn hạn chế của nông dân ở một số địa phương, sử dụng các chiêu bài về dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, tuyên truyền chống phá bằng những luận điệu xuyên tạc, kích động, lôi kéo biểu tình, chống đối; đồng thời quay phim, chụp hình rồi bóp méo sự thật đăng lên các trang mạng xã hội để làm lung lạc niềm tin của nhân dân, ảnh hưởng đến việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự vững mạnh của chính quyền cơ sở, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc…

Một bộ phận nông dân có biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, có những nhận thức lệch lạc, những hành động sai trái, vi phạm pháp luật. Trên một số địa bàn nông thôn để xảy ra điểm nóng về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Trước tình hình đó, các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, nhất là Hội Nông dân ở cơ sở đã tích cực tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các cấp ủy, cơ quan, ban ngành, đoàn thể kịp thời định hướng, giáo dục nông dân phát huy truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước và nâng cao ý thức cảnh giác trước âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch.

Các cấp, các ngành tổ chức cho nông dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền biên giới, hải đảo; phối hợp với lực lượng chức năng ngăn chặn các hành vi lôi kéo người dân tham gia biểu tình, tụ tập đông người. Các cấp, các ngành quan tâm, giải quyết các vấn đề bức xúc, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân ở nông thôn, không để các thế lực thù địch, các phần tử xấu lợi dụng kích động, thổi phồng thành các điểm nóng chính trị - xã hội.

Đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nông dân tích cực tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, tham gia thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Qua đó, giúp cho nông dân nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, có khả năng nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Tuy nhiên, một số nơi, nông dân vẫn chưa nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đang hướng vào nông dân ở vùng sâu, vùng xa, trên những địa bàn chiến lược, trọng yếu, biên giới, hải đảo. Công tác tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước, truyền thống dân tộc và các phong trào bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn ở một số nơi chưa hiệu quả, còn những kẽ hở mà các thế lực chống phá có thể lợi dụng.

Công tác tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vẫn còn hạn chế. Một bộ phận nông dân chưa nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân ở nông thôn còn lúng túng trong nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Một bộ phận nông dân bị các đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, chống tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ biển đảo, môi trường... để kích động tham gia chống đối chính quyền. Tình trạng khiếu kiện đông người, tố cáo vượt cấp vẫn diễn ra ở một số nơi gây mất an ninh chính trị, trật tự xã hội ở địa bàn nông thôn.

3. Một số giải pháp vận động nông dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Để vận động nông dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của nông dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch

Cấp ủy, chính quyền, Hội Nông dân các cấp cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng sâu rộng đến hội viên và nông dân về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, về tình hình nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh, vướng mắc liên quan đến nông dân, giữ vững ổn định chính trị, tạo sự thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong nông dân về đường lối, quan điểm và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền, vận động nông dân không chia sẻ những nội dung xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, những thông tin sai sự thật, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tích cực tuyên truyền cho nông dân về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Triển khai sâu rộng Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thực hiện đồng thời nhiều hình thức phong phú, sinh động, sáng tạo, hấp dẫn, phù hợp với nông dân mỗi vùng miền, dân tộc, tôn giáo nhằm nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, khả năng “tự đề kháng, tự miễn dịch” trước những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch.

Tăng cường tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là Luật An ninh mạng năm 2018; qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của nông dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội.

Trình độ của nông dân ngày càng nâng cao, họ có khả năng sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin hiện đại, do đó, cấp ủy, chính quyền, Hội Nông dân các cấp cần động viên, khuyến khích hội viên, nông dân ra sức đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc, những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch. Các thành viên nòng cốt Ban Chỉ đạo 35 ở các cấp, các ngành, địa phương, cơ sở cần tăng cường hoạt động; tích cực vận động hội viên, nông dân hưởng ứng Cuộc vận động “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp” trên mạng xã hội. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng môi trường văn hóa, tham gia mạng xã hội lành mạnh để phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, ý thức trách nhiệm, sự hiểu biết cho hội viên, nông dân trước thông tin thật, giả, đúng, sai, tăng cường khả năng “miễn dịch”, nâng cao “sức đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Hai là, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cho nông dân

Các cơ quan chức năng cần tăng cường bồi dưỡng những vấn đề cốt lõi về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nông dân luôn kiên định, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, tập huấn kỹ năng cho hội viên, nông dân nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Chú trọng phổ biến, quán triệt yêu cầu, nhiệm vụ và trao đổi nội dung, phương pháp, kinh nghiệm nhận diện, đấu tranh; bồi dưỡng kinh nghiệm, kỹ năng khai thác, sử dụng trang mạng xã hội, như: Blog, facebook, zalo, youtube, thành lập các fanpage làm diễn đàn trung tâm để chia sẻ tin, bài, hình ảnh, bình luận, viết và đăng tải bài về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Ba là, tăng cường công tác tư tưởng, nắm chắc tình hình địa phương, cơ sở không để xảy ra điểm nóng chính trị - xã hội

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, điều kiện trước hết là tình hình nhân dân ở các địa phương, cơ sở phải ổn định, tư tưởng phải thông suốt, có sự đồng thuận từ trên xuống dưới, nông dân có khả năng nhận diện, tự phòng, chống khỏi tác động bởi các quan điểm sai trái, thù địch.

Do vậy, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở nông thôn thường xuyên lãnh đạo, định hướng tư tưởng, cung cấp thông tin để nông dân nắm vững tình hình, nhiệm vụ, đối tượng, đối tác, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình tư tưởng nông dân, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm, phức tạp.

Bốn là, phát huy vai trò của Hội Nông dân trong tuyên truyền, giáo dục, vận động nông dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Xây dựng Hội Nông dân vững mạnh. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy Hội Nông dân các cấp tinh gọn, hoạt động hiệu quả. Hội Nông dân ở cơ sở quan tâm giáo dục, bồi dưỡng hội viên, nông dân về đạo đức, lối sống, phát huy lòng yêu nước, đoàn kết và giữ vững truyền thống, bản sắc văn hóa của dân tộc; truyền thống cách mạng, tinh thần cảnh giác với âm mưu “diễn biến hòa bình” và các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Tổ chức thực hiện các phong trào nông dân tham gia bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền, biên giới, biển, đảo của Tổ quốc.

Trên cơ sở xác định nông dân là lực lượng nòng cốt đấu tranh của địa phương, Hội Nông dân các cấp chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền kiện toàn các tổ chức, lực lượng, bảo đảm các điều kiện vật chất, phương tiện, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, thành viên các tổ chức thực hiện Nghị quyết 35 về kỹ năng đấu tranh, rút kinh nghiệm hoạt động. Tăng cường trao đổi, chia sẻ, học tập kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo; kịp thời sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng tổ chức hội, cán bộ, hội viên, nông dân tích cực tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả và kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, yếu kém.

Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ hội nông dân ở cơ sở, chi hội, tổ hội. Mỗi cán bộ hội phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW; tích cực học tập lý luận chính trị để trang bị kiến thức, nâng cao “khả năng miễn dịch”, tăng cường “sức đề kháng” trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Tiên phong tuyên truyền, lan tỏa thông tin tích cực theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, cổ vũ, khích lệ tinh thần trách nhiệm của người nông dân yêu nước tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch.

Năm là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân

Tiếp tục thực hiện các chính sách phát triển triển kinh tế - xã hội nông thôn, xây dựng nông thôn mới, tăng cường xóa đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, hải đảo. Từ đó, hình thành thế hệ nông dân mới làm kinh tế giởi, có đời sống tinh thần phong phú, có ý thức trách nhiệm công dân cao, yêu nước yêu chủ nghĩa xã hội.

Thực hiện tốt Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022. Quan tâm lắng nghe, giải quyết tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nông dân. Giải quyết dứt điểm đơn thư khiếu nại, tố cáo, những vấn đề bức xúc ở nông thôn, không để xảy ra các điểm nóng chính trị, để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá.

Các cơ quan chức năng cần phối hợp bảo đảm an ninh, an toàn ở nông thôn, đấu tranh chống các loại tội phạm, tiêu cực, tệ nạn xã hội ở nông thôn (ma túy, cờ bạc, tín dụng đen, truyền đạo trái phép,...), giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, các địa phương.

Cấp ủy, chính quyền các cấp cần tiếp tục thực hiện tốt công tác dân vận, nhất là dân vận chính quyền, củng cố, tăng cường niềm tin của nông dân vào cấp ủy, chính quyền, từ đó vững vàng, tin tưởng tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ.

Cấp ủy, chính quyền ở nông thôn tăng cường lãnh đạo các tổ chức, các lực lượng ở địa phương, cơ sở, trong đó có Hội Nông dân tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên cần tích cực tu dưỡng, rèn luyện, kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực sự tiên phong, gương mẫu trong lời nói, việc làm, gắn bó mật thiết với nhân dân, thường xuyên nắm bắt tình hình, chăm lo đời sống nhân dân.

Sáu là, phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở khu vực nông thôn

Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng ở khu vực nông thôn, sự phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm trao đổi, cung cấp thông tin, kinh nghiệm hoạt động, xử lý các tình huống khi có những vấn đề phức tạp nảy sinh.

Từng tổ chức xây dựng chương trình, quy chế hoạt động phù hợp với đặc điểm, chức năng và yêu cầu về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Định kỳ sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả phối hợp với từng lực lượng, rút kinh nghiệm những vấn đề bất cập nảy sinh; xác định phương hướng, nhiệm vụ phối hợp hoạt động trong thời gian tới có chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm, đạt hiệu quả thiết thực.

Quan tâm xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội ở nông thôn như Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và các tổ chức xã hội như: Hội Người cao tuổi, Hội Khuyến học... vững mạnh, và phát huy vai trò của các tổ chức này tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chú trọng phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng dân cư ở nông thôn (già làng, trưởng bản, trưởng họ, người làm kinh tế giỏi,...), vai trò của công chức, viên chức, trí thức nghỉ hưu ở nông thôn tham gia lực lượng nòng cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

4. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn dân và toàn quân; trong đó nông dân là lực lượng đông đảo, có vai trò quan trọng. Đây là nhiệm vụ rất khó khăn, do đó, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, trong đó có Hội Nông dân các cấp cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, tiến hành bằng các hình thức sáng tạo, linh hoạt gắn với đặc điểm nông dân ở địa phương; giúp nông dân hiểu đúng, phát huy nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch./.

 Tạp chí Lý luận Chính trị

HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 

 Thời gian qua, nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị, cùng với sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán xảy ra. Đó là minh chứng sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ; truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta. Càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản, để xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, đất nước tiếp tục đi lên, dân tộc phát triển cường thịnh, trường tồn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam” Trong đó, phải kể đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được Đảng ta đặc biệt quan tâm, đạt nhiều kết quả tích cực. Cụ thể:

Thứ nhất, chất lượng lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ngày càng được nâng cao. Nhờ vậy, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đúng đắn sách lược của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Quán triệt rõ, công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, đồng thời là trách nhiệm của toàn dân nhằm đấu tranh hiệu quả với những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần tạo nên sức mạnh tổng thể của cả hệ thống chính trị, kết hợp với sức mạnh của nhân dân. Trên cơ sở quán triệt nhận thức, tư duy, xác định rõ tính chất nguy hại và tác động tiêu cực của những quan điểm sai trái, thù địch đối với an ninh, trật tự, an toàn xã hội; nhận diện rõ các quan điểm sai trái, thù địch để có chủ trương, biện pháp chỉ đạo phù hợp; phân định được sự khác biệt của quan điểm sai trái, thù địch với nhận thức lệch lạc, phiến diện, ý kiến phê bình, nhưng thiếu xây dựng. Từ đó, có cách thức phản biện khoa học, phương thức đấu tranh phù hợp, giải pháp áp dụng phát huy hiệu quả cao.

Thứ hai, sử dụng đa dạng giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Lấy giá trị thực tiễn làm phương thức đấu tranh, nhưng luôn bảo đảm tính khách quan, thuyết phục; đồng thời, sử dụng biện pháp đấu tranh mềm dẻo, cương quyết, nhưng dân chủ. Áp dụng biện pháp khoa học - kỹ thuật để nhận diện, đấu tranh và xử lý kịp thời thông tin vu khống, xuyên tạc, nội dung xấu, độc, luận thuyết sai trái (phủ nhận giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh...). Sử dụng hiệu quả công cụ pháp lý để bảo đảm tính tuân thủ, bình đẳng, khách quan trước pháp luật; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa làm công cụ về thể chế để đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ ba, Đảng ta đã sử dụng các phương thức, giải pháp có tính bản lề, kết hợp “xây” và “chống”. Phương thức này bảo đảm các giá trị về tạo lập tinh thần cách mạng, có sự kết hợp với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, “xây” là chính và “chống” là quan trọng, cấp bách, đã được quan tâm, thường xuyên triển khai thực hiện. Xác định rõ trọng tâm, cốt lõi về mặt bản chất, Đảng ta đã trưởng thành từ nhân dân và “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”(9). Do vậy, bằng nhiều phương thức khác nhau, Đảng ta đã xây dựng được niềm tin của nhân dân theo tinh thần “Dân tin thì Đảng còn và ngược lại”. Quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc, xây dựng và củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”, Đảng ta đã dựa vào nhân dân, thông qua sự ủng hộ, bằng sức mạnh của nhân dân để hình thành tổ chức và lực lượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thông qua các diễn đàn, phương tiện truyền thông, người dân thẳng thắn bày tỏ quan điểm, tinh thần yêu nước, ủng hộ Đảng và chế độ. Trên các phương tiện truyền thông xã hội thời gian qua, nhiều tài khoản đã tham gia tích cực vào công tác này, như nhóm “Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc” với 91.468 thành viên; trang “Chống luận điệu xuyên tạc” có 44.000 người thích, 48.000 người theo dõi; trang “Tiếng nói thế hệ trẻ” có 14.392 người thích, 15.224 người theo dõi; trang “Thông tin chống phản động” có 149.000 người thích, 190.000 người theo dõi; trang “Chống phản động” có 189.349 người thích, 229.136 người theo dõi(10)...

Thứ tư, kết hợp cùng lúc nhiều phương thức, giải pháp, như đấu tranh, phản bác với nêu gương; tuyên truyền, phổ biến với giáo dục ý thức cách mạng, chủ nghĩa yêu nước; đấu tranh, phản biện với chứng minh, đối chứng, so sánh (“chứng cứ thật, giá trị thật”); đấu tranh, phản biện với sử dụng biện pháp mạnh (“xử lý không có vùng cấm”, “không chấp nhận lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm”, “trục lợi chính sách”)./.

St.

KHÔNG GIAN MẠNG - NƠI CHIẾN ĐẤU CỦA MỖI "ĐẢNG VIÊN"

Mạng xã hội ngày nay là một phần không thể thiếu của cuộc sống con người. Tuy nhiên, không gian mạng cũng có nhiều rủi ro và nguy cơ tiềm ẩn mà chúng ta - nhất là đảng viên cần phải khắc phục và sử dụng nó một cách hiệu quả nhất để bảo vệ, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ðồng thời, tuyên truyền, lan toả rộng rãi sự đúng đắn của nền tảng tư tưởng của Ðảng.

Nhận diện rõ nguy cơ trên không gian mạng

Việt Nam có lượng người dùng Internet được đánh giá cao, những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hàng ngày, các tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng công chúng hiểu sai lệch, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Ðảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh cứng rắn, hữu hiệu sẽ gây nên hệ luỵ khôn lường.

Các thông tin xấu, độc trên không gian mạng với những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Ðảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Ðảng, kinh tế, văn hoá, xã hội..., trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Ðảng ta, như: đòi Ðảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, chúng xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung và giá trị tư tưởng của Người; chúng chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Ðảng ta; chúng phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xoá bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hoá nền kinh tế, xoá bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước; cổ suý phi chính trị hoá lực lượng vũ trang, phủ nhận bản chất cách mạng và Nhân dân của lực lượng vũ trang, chia rẽ quân đội Nhân dân và công an Nhân dân; tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Ðảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật; thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam; tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá...

“Làm chủ” không gian mạng để bảo vệ Ðảng

Ðại hội XIII của Ðảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên Internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”.

Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào những vấn đề tư tưởng, lý luận, đồng thời sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta. Do đó công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Ðảng. Theo đó, chúng ta thực hiện một số giải pháp:

Một là, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh, phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức “tính hai mặt” của không gian mạng, “nhận diện” rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong việc sử dụng không gian mạng để chống phá cách mạng nước ta. Từ đó, nêu cao nhận thức, có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, có nhãn quan chính trị đúng đắn, đủ sức “phản biện” trước các thông tin xấu, độc trên không gian mạng.

Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Ba là, phát huy vai trò và sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Ðặc biệt, hiện nay trong thời đại công nghệ 4.0, mỗi đảng viên được tiếp cận trình độ khoa học công nghệ hiện đại, đều có thể truy cập vào các trang mạng, tự mình thiết lập, sử dụng các tài khoản, trang thông tin cá nhân (thư điện tử: Gmail, Yahoo...), Facebook, Zalo, Blog, Line, Tiktok... để viết tin, bài đấu tranh, phản bác chống quan điểm sai trái, thù địch. Ðặc biệt, phải chủ động làm chủ không gian mạng, để không gian mạng trở thành phương tiện, công cụ đắc lực phục vụ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.

Bốn là, phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Lực lượng này là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, năng lực tốt, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Ðảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa./.

HAI THẾ HỆ, MỘT KỲ TÍCH CHO NGÀNH ĐIỆN VIỆT NAM!

Cách đây gần 3 thập kỷ, khi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đề xuất xây dựng đường dây 500kV Bắc - Nam, nhiều chuyên gia quốc tế đã hoài nghi. Họ cho rằng đây là "một dự án điên rồ", "điều không tưởng" đối với một quốc gia vừa thoát khỏi chiến tranh như Việt Nam. Tuy nhiên, với tầm nhìn chiến lược và quyết tâm sắt đá, chỉ trong vòng 2 năm, công trình huyền thoại dài 1.487 km đã hoàn thành, kết nối điện lực ba miền, đưa ánh sáng đến những vùng còn tăm tối.

Nhớ lại thời điểm đó, miền Nam thiếu điện trầm trọng đến mức "cứ 1 ngày có điện thì sẽ bị cúp 2-3 ngày sau đó". Nhiều gia đình thậm chí không đủ điện để thắp sáng một bóng đèn. Đường dây 500kV Bắc - Nam đã thực sự là "mạch máu" nuôi dưỡng sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước suốt 28 năm qua.

Và giờ đây, lịch sử một lần nữa lặp lại. Trước tình trạng thiếu điện nghiêm trọng ở miền Bắc trong mùa nắng nóng kỷ lục 2023, dự án đường dây 500kV mạch 3 Quảng Bình - Hưng Yên ra đời. Một lần nữa, nhiều người nghi ngờ khả năng hoàn thành dự án trong thời gian ngắn. Nhưng chỉ sau hơn 7 tháng thi công, kỳ tích đã được tái hiện.

Cả hai công trình đều là minh chứng hùng hồn cho tinh thần đoàn kết, ý chí và năng lực của người Việt Nam. Từ "điều không tưởng" năm xưa đến "kỳ tích" ngày nay, ngành điện Việt Nam đã và đang viết nên những trang sử đáng tự hào. Điều này không chỉ khẳng định năng lực kỹ thuật, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo đất nước, tạo niềm tin vững chắc cho người dân vào sự phát triển bền vững của quốc gia.

Từ đường dây 500kV Bắc - Nam đến mạch 3 Quảng Bình - Hưng Yên, Việt Nam đã chứng minh rằng: với tinh thần đoàn kết và quyết tâm cao, không có điều gì là không thể. Đây chính là nguồn cảm hứng to lớn, thôi thúc chúng ta tiếp tục vươn lên, chinh phục những đỉnh cao mới trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước./.

 VẬN DỤNG SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

Trong giai đoạn hiện tại, không một quốc gia nào có thể bỏ qua vấn đề nhân quyền mà có thể thiết lập quan hệ tốt đẹp với nước khác và không gặp phải sự phản kháng của nhân dân. Vì thế, quay trở lại với các tư tưởng chính trực, đúng đắn và nhân văn được thực tế và lịch sử thừa nhận về quyền con người (QCN) của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang tính tất yếu khách quan. Tuy nhiên, thời đại ngày nay đã khác với những năm 50, 60 của thế kỷ XX nên những vấn đề mà người dân, Đảng và Nhà nước Việt Nam phải đối mặt trong lĩnh vực phát triển kinh tế nhằm bảo đảm QCN cũng có nhiều vấn đề mới, cần nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo và khoa học và phù hợp.

1. Trong lĩnh vực kinh tế, QCN được Hồ Chí Minh giải thích một cách giản dị, đó là làm cho dân được ấm no và giàu có. Để nhân dân Việt Nam được no cơm, ấm áo, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: phải phát triển sản xuất. Người nói: “Muốn xã hội giàu thì mỗi cá nhân, mỗi gia đình cho đến cả nước phải tăng gia sản xuất”. Muốn phát triển sản xuất, phải tiết kiệm để tích lũy vốn cho đầu tư phát triển, phải nắm vững và tích cực cải tiến công nghệ, phải áp dụng các hình thức tổ chức sản xuất tối ưu.

Dù theo chủ nghĩa nào thì phát triển kinh tế cũng là điều kiện vật chất để công dân cải thiện cuộc sống và vị thế trong xã hội. Thực tế cho thấy, ở các nước có chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa, khi thu nhập đầu người khá cao, vượt qua nhiều mức thu nhập thỏa mãn nhu cầu tất yếu, chính phủ có thể tăng thu thuế để cung cấp nhiều loại phúc lợi xã hội cho dân cư, tức bảo đảm QCN một cách phổ biến. Một chính phủ không có nguồn lực tài chính thì khó có thể duy trì bộ máy quyền lực của mình, nói gì đến hỗ trợ công dân bằng phúc lợi xã hội. Chính vì thế, ưu tiên phát triển kinh tế, với tư cách điều kiện và nội dung quan trọng bảo đảm QCN, một trong những tư tưởng kiên định của Hồ Chí Minh cần được phát huy.

Trong giai đoạn đến 2030 và 2045, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao năng suất lao động để đạt được thu nhập cao trên cơ sở ứng dụng thành quả cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu giúp Việt Nam tăng trưởng nhanh, phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội, bảo đảm QCN. Đây là nhiệm vụ không hề dễ dàng, nhưng không phải bất khả thi. Trên thế giới đã có nhiều nước hoàn thành quá trình này trong 25-30 năm. Năm 2020 Việt Nam đã lỡ hẹn với mục tiêu hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên cần tính toán các kế hoạch khả thi. Một trong những điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ này là đội ngũ lao động đáp ứng yêu cầu và quản lý nhà nước nhằm tạo môi trường thích ứng. Trong điều kiện đó, tư tưởng người lao động phải tự giác, tự chủ hoàn thành nhiệm vụ của mình, không dựa dẫm, ỷ lại vào xã hội, nhà nước và yêu cầu đối với cán bộ mà Hồ Chí Minh đề ra là vừa hồng,vừa chuyên phải được vận dụng thực chất và phù hợp với tình hình mới.

Phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập vào thị trường thế giới trong đó quyền chi phối còn nằm trong tay các nước tư bản lớn đòi hỏi Đảng, Nhà nước và mọi công dân phải linh hoạt ứng biến, một mặt, giống như khẳng định của Hồ Chí Minh, phải kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, bởi chỉ có xã hội chủ nghĩa mới cho phép quảng đại người lao động có điều kiện vật chất và tinh thần làm chủ xã hội, làm chủ chính mình. Tuy nhiên, phải thoát khỏi tư tưởng nóng vội cho rằng có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng biện pháp hành chính.

Phát triển kinh tế phải tuân theo quy luật là quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, do đó, phải phát huy mọi nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho từng người dân tự chủ quyết định trong điều kiện kinh tế thị trường bằng cách thừa nhận và đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế, trong đó lấy cạnh tranh lành mạnh làm thuốc thử loại bỏ thành phần kinh tế có hiệu quả hoạt động thấp hơn các thành phần kinh tế khác. Không nên áp đặt cho thành phần nào đó vai trò kiểm soát nền kinh tế.

Mặt khác, cần tuân thủ pháp luật quốc tế, vì đó là điều kiện đầu tiên để Việt Nam có thể hội nhập, từ đó tăng khả năng, cơ hội và nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững, dù rằng pháp luật quốc tế chưa phải công bằng do sự kiểm soát của các nước tư bản chủ nghĩa. Ở đây nguyên tắc mà Hồ Chí Minh đưa ra vẫn có giá trị định hướng, soi sáng cho chúng ta. Đó là, Việt Nam sẽ thiết lập quan hệ với tất cả các nước tôn trọng và đối xử thành thật với chúng ta. Mọi vấn đề lợi ích phải dựa trên nguyên tắc cùng có lợi và chủ quyền quốc gia.

2. Các tư tưởng về tự do, độc lập, bình đẳng giữa các dân tộc, trên cơ sở đó thiết lập thể chế để người dân lao động được quyền tự chủ trong các quyết định liên quan đến họ của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, nhất là đối với Việt Nam trong giai đoạn đến 2030 và 2045. Tuy nhiên, vận dụng các tư tưởng đó vào thực tiễn cần phù hợp với thời đại và đặc thù Việt Nam thể hiện qua một số quan điểm sau đây:

Một là, Việt Nam ngày nay đã khác xa thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày nay Việt Nam không chỉ độc lập, thống nhất, mà còn trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế cũng như có quan hệ kinh tế với nhiều nước trên thế giới. Vì thế, cách hiểu về độc lập, nhất là độc lập về kinh tế đã khác những năm 50-60 của thế kỷ XX. Độc lập kinh tế không phải là không phụ thuộc vào đầu tư, thương mại với nước khác. Độc lập về kinh tế thể hiện ở khía cạnh Việt Nam có tiếng nói trong xây dựng pháp luật quốc tế cũng như có cơ cấu kinh tế tiến bộ hiện đại, định vị vững vàng trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Hai là, mặc dù xu hướng toàn cầu hóa đã định hình rõ nét, chi phối đời sống kinh tế của các nước trên thế giới, nhưng mâu thuẫn lợi ích giữa các nước theo nguyên tắc cạnh tranh vẫn tồn tại dai dẳng có thể dẫn đến các xung đột, chiến tranh. Việt Nam cần hòa bình để phát triển kinh tế nên chính sách đối ngoại phải hết sức tinh nhạy, mềm dẻo nhằm theo tinh thần của Hồ Chí Minh là: hợp tác với tất cả các nước tôn trọng độc lập và quan hệ trung thực với Việt Nam, nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng suất lao động và thu nhập cho dân cư.

Ba là, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền, vận động, cung cấp tri thức, kỹ năng để công dân Việt Nam có thể làm chủ theo tư tưởng của Hồ Chí Minh. Nếu Việt Nam có đội ngũ lao động có kỹ năng, tri thức, thái độ lao động vượt trội so với các nước khác, có các doanh nghiệp được tổ chức tốt, có môi trường đáp ứng yêu cầu chi phí thấp cho đầu tư thì có thể hoàn thành công nghiệp hóa trong thời gian ngắn và tăng nhanh thu nhập cho dân cư, tăng thu ngân sách nhà nước và trụ vững trên thị trường thế giới.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế theo tinh thần của Hồ Chí Minh, đó là những người tận trung với nước, tận hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư đi cùng với chính sách đãi ngộ thỏa đáng để họ tập trung cho công việc. Hơn nữa cần có cơ chế kiểm soát chặt chẽ cán bộ của Đảng và Nhà nước cũng như thiết lập cơ chế giám sát của dân cư để bảo đảm cán bộ quản lý kinh tế phải là những tấm gương trong tạo điều kiện cho nhân dân và bản thân họ làm chủ xã hội theo tinh thần xã hội chủ nghĩa.

3. Để có thể vận dụng hiệu quả và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế tạo tiền đề vật chất bảo đảm QCN định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, thiết nghĩ, Đảng, Chính phủ và mọi công dân cần thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, nghiên cứu sâu sắc, chắt lọc các tư tưởng tinh túy còn giá trị đến ngày nay của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực phát triển kinh tế tạo tiền đề vật chất bảo đảm QCN. Những tư tưởng sau đây của Hồ Chí Minh cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng: (i) QCN chỉ có thể được thực hiện khi dân tộc có quyền độc lập, tự quyết và quyền này phải được các nước tôn trọng. Muốn vậy phải trở thành một nước giàu, mạnh; (ii) phải phát triển kinh tế toàn diện cả công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ trên cơ sở cải tiến kỹ thuật và tổ chức sản xuất; (iii) mỗi người, cả nông dân, công nhân, trí thức, công thương… đều phải nỗ lực tự chủ phát triển kinh tế trên cương vị người làm chủ, không thể trông chờ, chây ì dựa vào nhà nước, người khác, nước khác; (iv) Đảng, Nhà nước thông qua cán bộ quản lý kinh tế phải tạo điều kiện cho công dân làm chủ thông qua chế độ quản lý dân chủ, chế độ dân phê bình cán bộ, cán bộ đi sâu đi sát nhân dân.

Thứ hai, sau khi đã xác định rõ các tư tưởng cốt lõi, cần xây dựng kế hoạch, phương thức tuyên truyền, vận động thực chất, phù hợp với từng ngành nghề, từng đối tượng như Hồ Chí Minh đã làm, như đối với công nhân, đối với nông dân, người làm dịch vụ, đối với các dân tộc ít người, thanh niên, phụ nữ... Điều quyết định là gây dựng ở mỗi công dân ý chí tự lực, tự cường, có ý chí vươn lên làm chủ bản thân, làm chủ xã hội. Đồng thời cũng xác định rõ những nghĩa vụ, yêu cầu, nhiệm vụ mà mỗi công dân phải hoàn thành trên cương vị của mình theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Hạn chế khai thác khía cạnh thần thánh hóa Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ ba, muốn phát triển kinh tế, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần kỹ thuật, thái độ làm việc tích cực, sáng tạo của người lao động, thái độ tận tâm, phong cách dân chủ của cán bộ quản lý. Muốn vận dụng các tư tưởng này vào thực tiễn Việt Nam hiện nay cần cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu đào tạo được đội ngũ lao động chuyên nghiệp, thành thạo nghề và có năng lực sáng tạo để làm chủ quá trình sản xuất. Cần chọn lọc, bồi dưỡng, quản lý, đãi ngộ, kiểm soát để có đội ngũ cán bộ quản lý vừa hồng, vừa chuyên.

Thứ tư, thực hiện QCN cần những con người nhận thức được quyền của mình và xã hội hỗ trợ họ thể chế thực hiện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Chính vì vậy, ngoài việc đề cao giáo dục tuyên truyền trong các trường phổ thông, trường dạy nghề về QCN, cần xây dựng thể chế hỗ trợ công dân thực hiện QCN. Trong kinh tế là các thể chế hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp. Trong quan hệ xã hội là các thể chế hỗ trợ người yếu thế, người thuộc các dân tộc ít người. Cần thừa nhận và hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ đại diện cho lợi ích của các nhóm dân cư trong giải quyết các quan hệ kinh tế với Nhà nước.

Thứ năm, tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế đi đôi với chính sách thuế và phúc lợi xã hội hợp lý để phân phối của cải xã hội công bằng giữa những nhóm người có điều kiện khách quan khác nhau, nhưng có nhu cầu giống nhau.

Hồ Chí Minh là tấm gương của đạo đức cách mạng, là người suốt đời phấn đấu vì dân, vì nước. Những tư tưởng của người về phát triển kinh tế tạo điều kiện bảo đảm QCN vẫn còn nguyên giá trị định hướng Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Thực hiện nghiêm chỉnh, thực chất những tư tưởng định hướng đó Việt Nam nhất định sẽ đạt được các mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII đặt ra cho giai đoạn đến 2030 và 2045./.

Tạp chí Xây Dựng Đảng