Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2024

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị trong Quân đội

Vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị luôn có tác động, ảnh hưởng tích cực đến cán bộ, chiến sĩ, cũng như vị thế, vai trò chủ trì về chính trị và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị Quân đội. Vì vậy, học tập và làm theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị luôn có ý nghĩa thiết thực trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chủ tịch luôn đề cao vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; theo Người: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Vì vậy, Người cặn dặn các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Trong quá trình chỉ đạo xây dựng Quân đội ta ngay từ những ngày đầu, cùng với việc bố trí đội ngũ cán bộ chính trị để giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng trong Quân đội, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu họ phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là tư cách, đạo đức, lối sống và trong công việc để chỉ đạo, động viên, hướng dẫn cán bộ, chiến sĩ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao.



Hội nghị Chính trị viên toàn quốc lần thứ 2, được Bác Hồ gửi thư căn dặn đội ngũ cán bộ chính trị viên. Ảnh tư liệu.

Đối với cán bộ chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”. Vô luận ở cấp bậc nào, “người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ”. Bởi, cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt. Có như thế thì chỉ thị, mệnh lệnh và kế hoạch cấp trên đưa xuống, đội viên sẽ tích cực và triệt để thi hành. Để phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ chính trị, Người chỉ rõ: “Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc”. Về mặt vật chất, chính trị viên phải luôn săn sóc đến đời sống sinh hoạt: ăn, mặc, ở, nghỉ, tập luyện, công tác, sức chiến đấu của bộ đội. Về mặt tinh thần, chính trị viên phải săn sóc để nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ hóa, phát triển văn hóa và đường lối chính trị trong bộ đội. Mặt khác, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cán bộ chính trị “càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo”.

Thấm nhuần lời dạy của Người, lớp lớp đội ngũ cán bộ chính trị Quân đội luôn tự tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu giữ vững tư cách của người cán bộ chính trị; tuyệt đối trung thành và đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; luôn có hoài bão, lý tưởng sống đúng đắn, lối sống trong sáng, lành mạnh, trung thực, khiêm tốn, giản dị; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân,... luôn là tấm gương mẫu mực để cán bộ, chiến sĩ học tập, noi theo.

Trong tình hình mới, đội ngũ cán bộ chính trị tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tạo nền tảng vững chắc để phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Việc thực hiện tốt vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ chính trị không những nâng cao vị thế, vai trò của cá nhân, hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị mà còn ngăn ngừa hiệu quả các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do vậy, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò nêu gương của cán bộ chính trị trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cấp thiết; cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm sau:

Trước hết, cần tạo sự thống nhất về nhận thức, trách nhiệm của các lực lượng về vai trò nêu gương của cán bộ chính trị. Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần coi việc thực hiện vai trò nêu gương là một nội dung trọng yếu của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị; một yêu cầu để đảm bảo cho đội ngũ này thực hiện tốt vai trò chủ trì về công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị. Do vậy, việc xác định những yêu cầu về nêu gương của cán bộ chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải gắn kết chặt chẽ với nội dung các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, nhất là: Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, v.v. Trên cơ sở đó, xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp trong xây dựng tiêu chí, quy định cụ thể về thực hiện vai trò nêu gương của chính ủy, chính trị viên trong các hoạt động ở đơn vị; đồng thời, làm tốt công tác giáo dục tạo sự thống nhất về nhận thức, trách nhiệm của các lực lượng đối với vấn đề này.

Hai là, coi trọng giáo dục, rèn luyện vai trò nêu gương của cán bộ chính trị trong quá trình đào tạo tại các học viện, nhà trường. Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về giáo dục, đào tạo và thực hiện quan điểm “chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”, các cơ sở đào tạo cán bộ chính trị, nhất là Học viện Chính trị và Trường Sĩ quan Chính trị cần nghiên cứu, hoàn thiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo, chuẩn đầu ra của các đối tượng nhằm đào tạo những chính ủy, chính trị viên có phẩm chất, năng lực toàn diện, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong hoạt động thực tiễn.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, các học viện, nhà trường cần đổi mới mạnh mẽ, toàn diện cả về nội dung chương trình, phương pháp giáo dục và đào tạo đối với cán bộ chính trị. Kết hợp chặt chẽ giữa đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với nghiên cứu, cập nhật các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng vào hoạt động giáo dục, đào tạo nhằm thực hiện tốt yêu cầu về trang bị kiến thức, năng lực thực hành với bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống, vai trò gương mẫu của người cán bộ chính trị ngay tại trường. Trong đó, coi trọng việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, thực hành nhằm hình thành vững chắc các phẩm chất, nhân cách và vai trò gương mẫu của người cán bộ chính trị trong thực tiễn.

Ba là, thường xuyên bồi dưỡng và phát huy vai trong nêu gương của cán bộ chính trị trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, chỉ huy ở đơn vị. Kết hợp chặt chẽ giữa “nói” và “làm” là một giá trị nổi bật trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực tiễn cho thấy, hành động nêu gương của người đứng đầu, dù nhỏ đều có tác động, ảnh hưởng lớn đến cấp dưới. Đồng thời, có coi trọng thực hiện vai trò nêu gương thì tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng mới đi vào cuộc sống ở mỗi đơn vị và lan tỏa trong xã hội. Do vậy, cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp cần quan tâm bồi dưỡng và phát huy tốt vai trò nêu gương của cán bộ chính trị trong các hoạt động thực tiễn, đảm bảo cho họ hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Cần có cơ chế, chính sách và những biện pháp cụ thể để khích lệ, động viên vai trò nêu gương của họ; đồng thời, uốn nắn, điều chỉnh những nhận thức và biểu hiện sai trái, chưa phù hợp. Đặc biệt, cần phải coi trọng thực hiện tốt vai trò nêu gương của cấp trên đối với cấp dưới cả về lời nói và hành động để khích lệ việc học tập lẫn nhau về nêu gương trong các hoạt động lãnh đạo, quản lý, chỉ huy ở đơn vị.

Việc phát huy vai trò nêu gương trong các hoạt động đòi hỏi mỗi cán bộ chính trị phải luôn gương mẫu chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệnh, kỷ luật của Quân đội; đặt lợi ích của tập thể, đơn vị lên trên hết, trước hết. Đồng thời, kiên quyết khắc phục các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, mệnh lệnh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Bốn đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, “tự soi”, “tự sửa” và kiểm tra, giám sát việc thực hiện vai trò nêu gương của cán bộ chính trị. Thực hiện giải pháp này đòi hỏi mỗi cán bộ chính trị phải luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền; bám sát sự chỉ đạo của trên; học hỏi từ đồng nghiệp để tiến hành tốt tự phê bình và phê bình, ‘‘tự soi, tự sửa’’ hằng ngày, không ngừng hoàn thiện về phẩm chất, đạo đức, lối sống, nhất là vai trò nêu gương trong thực tiễn. Coi trọng việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và tiếp thu những kiến thức trong lãnh đạo, quản lý để không ngừng hoàn thiện phương pháp, tác phong công tác, đáp ứng tốt các yêu cầu về thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ chính trị và yêu cầu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan kiểm tra các cấp cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ chính trị. Nội dung kiểm tra, giám sát cần phải toàn diện cả về tư tưởng chính trị, động cơ, thái độ, năng lực công tác, phẩm chất đạo đức, lối sống và việc phát huy vai trò nêu gương trong các hoạt động. Quá trình thực hiện cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp ủy đảng, người chỉ huy, cơ quan chức năng và các tổ chức quần chúng tham gia; kết hợp chặt giữa công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng với công tác quản lý của người chỉ huy các cấp. Cùng với đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức đối thoại dân chủ, lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức quần chúng đối với đội ngũ cán bộ chính trị, nhằm phát huy những ưu điểm, kịp thời phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với biểu hiện thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ chính trị có tầm quan trọng đặc biệt trong tiến hành công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị. Vì vậy, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị phải khắc ghi những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để đội ngũ cán bộ chính trị không ngừng phát huy tốt vai trò gương mẫu của mình, luôn là người giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng trong Quân đội./.

ST.

Những nguyên tắc cơ bản về đoàn kết, hợp tác quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị hiện thực

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế có nội dung phong phú, sâu sắc và toàn diện; trong đó, những nguyên tắc cơ bản cùng giá trị hiện thực của nó đã, đang và sẽ tiếp tục là cơ sở, nền tảng để Đảng ta vận dụng, thiết lập các quan hệ quốc tế, tạo tiền đề cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.



Nhân dân Ba Lan nồng nhiệt đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 7/1957. Ảnh: tư liệu

Những nguyên tắc cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế

Ngay từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã nhận rõ: một quốc gia, dân tộc muốn có sức mạnh phải thoát ra khỏi tình trạng biệt lập, phải mở cửa, tăng cường hợp tác với bên ngoài; tình trạng bế quan tỏa cảng chỉ làm đất nước suy yếu và đưa đến những hậu quả chính trị nghiêm trọng. Năm 1924, trong thư gửi Pêtơrốp, Tổng Thư ký Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, Người viết: “Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự biệt lập... không có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau... do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau”.

Với tư duy nhạy bén, sắc sảo và tầm nhìn chiến lược, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. Tư tưởng của Người thể hiện hai nội dung quan trọng: Một là, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Hai là, tinh thần đoàn kết, hợp tác không bị giới hạn bởi châu Á hay châu Âu, bởi da vàng hay da trắng như luận điệu tuyên truyền của thuyết Đại Đông Á thời đó.

Thấy được tầm quan trọng của đoàn kết, hợp tác quốc tế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới một cách chặt chẽ, sâu sắc. Trước hết, theo Người, đó phải là tinh thần đoàn kết, hợp tác quốc tế đối với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước trong cuộc đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột. Cùng với đó, Người đặc biệt quan tâm tới việc thiết lập quan hệ đối ngoại với các nước tư bản chủ nghĩa để tranh thủ sự giúp đỡ của nhân dân tiến bộ đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới...”.

Từ thực tiễn cách mạng, Người rút ra kết luận quan trọng: “Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, điều đó chứng minh rằng trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”. Như vậy, đoàn kết, hợp tác quốc tế đã thực sự trở thành một nhân tố quan trọng, không thể thiếu, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tuy nhiên, để đoàn kết, hợp tác quốc tế đúng phương hướng, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả, Người cũng nêu ra những nguyên tắc căn bản.

Thứ nhấtđoàn kết, hợp tác quốc tế phải vì lợi ích dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Hồ Chí Minh yêu cầu xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, “phải tuân thủ theo phương châm “Tổ quốc trên hết” ở mọi nơi và mọi lúc”. Theo Người, phải thực hiện “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Đây là một phương pháp cách mạng được Hồ Chí Minh quán triệt trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Người yêu cầu những người cách mạng cần nhận thức đúng và vận dụng nhuần nhuyễn trong thực tiễn. Cái bất biến là độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân; là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cái vạn biến là sự thay đổi của những điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan vận động xoay xung quanh cái bất biến, tác động, ảnh hưởng đến cái bất biến. Chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là một điển hình, mẫu mực về xử lý mối quan hệ giữa tính kiên định về nguyên tắc trong chiến lược và tính linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, cách thức thực hiện; về quan hệ giữa mục tiêu lâu dài và mục tiêu trước mắt.

Theo đó, trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi “Kính gửi: Đại Anh Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên Xô và các nước thành viên khác của Liên hợp quốc”, Người đã nêu rõ những nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của nhân dân Việt Nam là: Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực, dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc, v.v. Trên cơ sở tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng trên thế giới, tạo cơ sở cho việc giành được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên mới cho sự đoàn kết và hội nhập quốc tế sau này.

Thứ haitự lực, tự cường trong đoàn kết, hợp tác quốc tế. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong đấu tranh giải phóng dân tộc thì phải “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, đồng thời “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Còn trong đoàn kết, hợp tác quốc tế “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Người nhấn mạnh: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Như vậy, tinh thần cơ bản của nguyên tắc này là, khi thiết lập các quan hệ hợp tác quốc tế thì phải tăng cường thực lực, sức mạnh quốc gia; phải từ sự giúp đỡ của quốc tế để tự mình phát triển toàn diện cả về sức mạnh vật chất, kinh tế đến sức mạnh văn hóa, con người, từ sức mạnh của quá khứ đến sức mạnh của hiện tại và tương lai.

Thứ bađảm bảo nguyên tắc bình đẳng, công bằng trong đoàn kết, hợp tác quốc tếNgười xác định: “Các đảng dù lớn dù nhỏ đều độc lập và bình đẳng, đồng thời đoàn kết nhất trí giúp đỡ lẫn nhau”. Hồ Chí Minh cho rằng xây dựng một nền hòa bình chân chính trên thế giới, một trật tự thế giới mới, phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền cơ bản của tất cả các dân tộc. Công bằng và bình đẳng phải là nguyên tắc chủ đạo trên thế giới, để đảm bảo cho mỗi dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của mình dựa trên những giá trị văn hóa dân tộc và tôn trọng sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Các quốc gia được bình đẳng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế; và hòa bình thế giới phải được tất cả các dân tộc quyết định, không phụ thuộc vào một nhóm cầm quyền của một thiểu số các nước lớn.

Giá trị hiện thực của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế trong sự nghiệp đổi mới đất nước

Từ năm 1986, trên cơ sở vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước với trọng tâm là thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đảng ta chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội phải biết tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, tận dụng tối đa sức mạnh của thời đại. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện sự chủ động, tích cực tham gia vào các quá trình, các tổ chức quốc tế; phát huy vai trò tích cực, chủ động trong việc đưa ra các sáng kiến hội nhập quốc tế, là thành viên có trách nhiệm với các tổ chức tham gia, nhưng Việt Nam không nóng vội, chủ quan. Là quốc gia ngày càng có vị thế quan trọng trên trường quốc tế, có tiếng nói quan trọng trên các diễn đàn và các tổ chức quốc tế, nhưng Việt Nam không áp đặt quan điểm của mình trong các quan hệ quốc tế, luôn có tinh thần hợp tác, cùng phát triển.

Gần 40 năm đổi mới là một chặng đường để Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu, nhất là việc tham gia các tổ chức quốc tế lớn và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với những đối tác rộng lớn, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA), Hiệp định đối tác toàn diện của ASEAN với các đối tác (RCEP), v.v. Với Hiệp định EVFTA, Việt Nam là nước đang phát triển đầu tiên ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương có quan hệ thương mại tư do với Liên minh châu Âu (EU). Điều này khẳng định vai trò và vị thế địa - chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực, khẳng định Việt Nam - từ quốc gia đi sau trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhưng đã có quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, tạo sự gắn kết quốc tế mạnh mẽ cả ở cấp độ khu vực và trên toàn thế giới.

Từ một đất nước không có tên trên bản đồ thế giới, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ; vươn lên trở thành một nền kinh tế năng động hàng đầu ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, một mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế, hiệp định thương mại tự do, chuỗi sản xuất khu vực và toàn cầu. Với chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, Việt Nam trở thành địa điểm gặp gỡ, giao lưu văn hóa, kinh tế, đối thoại an ninh chính trị an toàn của hầu hết các nước và các tổ chức quốc tế lớn trên thế giới.

Là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong các tổ chức uy tín trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam tham gia vào nhiều tổ chức, như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016 và 2023 - 2025, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018. Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại Đảng với 254 chính đảng ở 114 quốc gia.

Những năm gần đây, Việt Nam đảm nhiệm thành công nhiều cương vị quan trọng tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế, khu vực, nhất là vai trò nước chủ nhà APEC 2017, Chủ tịch ASEAN 2020, AIPA 41, Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 77. Việt Nam cũng tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều lần 2; Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA. Đặc biệt, ngày 07/6/2020, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2020 - 2021, với số phiếu 192/193. Đây chính là sự khẳng định vị thế, uy tín ngày càng lớn của Việt Nam trên thế giới.

Cùng với các thành tựu về công tác đối ngoại, thế giới đánh giá rất cao lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đã có 799 lượt cán bộ, nhân viên tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại 03 phái bộ và Trụ sở Liên hợp quốc, trong đó có 792 cán bộ quân đội và 7 cán bộ công an13. Hoạt động của các chiến sĩ “mũ nồi xanh” Quân đội nhân dân Việt Nam tại các Phái bộ và các đội tham gia tìm kiếm, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ đã không chỉ tỏa sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, mà thông qua đó góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân văn và có trách nhiệm với cộng đồng tới bạn bè quốc tế.

Có thể khẳng định, chưa bao giờ hình ảnh đất nước và con người Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, mến khách, thủy chung, chân thành, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế lại nổi bật như hiện nay. Việt Nam trở thành tâm điểm trong những chủ đề về phát triển, tinh thần trách nhiệm, tích cực vì những nỗ lực toàn cầu của tất cả các nước trên thế giới. Việt Nam được đánh giá là “ngôi sao sáng của châu Á”. 

Hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo. Tuy nhiên, cục diện đời sống chính trị thế giới đang có nhiều biến động phức tạp, mau lẹ, quan hệ quốc tế có những thay đổi mang tính bước ngoặt. Do vậy, việc xác lập những quan điểm chiến lược trong đoàn kết, hội nhập quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong quá trình đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” vừa mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa là cơ sở để phát huy cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc và là một trong những đảm bảo quan trọng nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội./.

ST.

Tư duy mới của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là sự tổng kết, kế thừa, phát huy những quan điểm, tư tưởng và kinh nghiệm rút ra trong các nhiệm kỳ đại hội Đảng trước và quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” của dân tộc; đồng thời, thể hiện tư duy mới, sáng tạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới. Nghị quyết cần được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quán triệt sâu sắc và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.


Cán bộ, chiến sĩ Vùng 5, Quân chủng Hải quân huấn luyện làm chủ vũ khí, khí tài. Ảnh: qdnd.vn

Về quan điểm, mục tiêu

Với 5 quan điểm gọn, rõ, tư duy của Đảng trong Chiến lược có bước phát triển mới khi đưa quan điểm lên trước mục tiêu, thể hiện cách tiếp cận mang tính logic hơn. Nhận thức, quan điểm về bảo vệ Tổ quốc phải đi trước để làm cơ sở xác định mục tiêu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Theo đó, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quan điểm của Chiến lược là khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nhưng lần này đã nhấn mạnh phương châm dựa vào dân, “dân là gốc”, là trung tâm, chủ thể; đặc biệt, đề cao tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường của con người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; yên dân là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Dựa vào dân”, “dân là gốc”, phát huy vai trò của thế hệ trẻ không phải là vấn đề mới trong các văn kiện của Đảng, nhưng đây là lần đầu tiên được đưa vào quan điểm chính thống của Chiến lược. Điều đó thể hiện Đảng ta nhận thức sâu sắc lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống, bài học kinh nghiệm xương máu trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc về vai trò của nhân dân, của thế hệ trẻ. Tư duy đặt thế hệ trẻ vào vị trí trung tâm, chủ thể của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá cao vai trò “tuổi trẻ giữ nước”, vừa là yêu cầu, đòi hỏi cao, giao trọng trách lớn lao, vừa là mong muốn, khát khao, là niềm tin của Đảng, của nhân dân đối với thế hệ trẻ - chủ tương lai của đất nước.

Tư duy mới nổi bật của Đảng lần này là đề cập, nhấn mạnh những vấn đề cần phải “kiên định, kiên quyết và kiên trì”. Đó là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và kiên định với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân của Đảng cũng như những giá trị cốt lõi của dân tộc.

Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với mọi hành vi xâm phạm, hoặc đe dọa xâm phạm, phá hoại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, nền văn hóa, các thành quả cách mạng, môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước nhanh, toàn diện, bền vững. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, cơ hội chính trị, cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Cùng với đó, phải kiên trì với các lợi ích chiến lược, chính sách quốc phòng “bốn không”, vừa hợp tác vừa đấu tranh, giải quyết các vấn đề tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; phải kiên trì bám sát thực tiễn, địa bàn, cơ sở, phát hiện, ngăn ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu từ sớm, từ xa mọi nguy cơ xung đột, chiến tranh; thực hiện tốt việc kiên trì phòng ngừa đi đôi với nghiêm trị các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá đất nước; tuyệt đối không nóng vội, chủ quan trong xử lý các vấn đề thuộc về lợi ích quốc gia - dân tộc.

Trên cơ sở quan điểm đã xác định, tư duy của Đảng về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc được Chiến lược diễn đạt rành mạch hơn khi khẳng định bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp đổi mới, nền văn hóa...; đồng thời, bổ sung nội dung “bảo vệ uy tín, vị thế quốc tế của đất nước, bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng...; triệt tiêu các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong,... dập tắt nguy cơ xung đột quân sự, chiến tranh”. Điều này cho thấy tư duy của Đảng về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc ngày càng bao quát, toàn diện, rõ nét hơn.

Đối với các mục tiêu cụ thể, trước hết về xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, Chiến lược xác định phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, v.v. Ở mục tiêu này, Chiến lược đã bổ sung thành tố “đội ngũ cán bộ, hệ thống chính trị” thể hiện tính toàn diện, sự đòi hỏi cao hơn, ngang tầm với vị trí, vai trò độc tôn lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong tình hình mới.

Đối với mục tiêu tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược đặc biệt đề cao sức mạnh của nhân dân, yếu tố dân chủ xã hội chủ nghĩa, niềm tin của nhân dân, đồng thuận xã hội, đặc biệt là mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhấn mạnh đoàn kết trong Đảng làm hạt nhân tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục tiêu này thể hiện sự quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể, trung tâm của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, là sự cụ thể hóa tư tưởng “yên dân”, “thế trận lòng dân” vững chắc và vai trò hạt nhân của đoàn kết trong Đảng - nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Về mục tiêu phát triển kinh tế, Chiến lược xác định đây là thành tố trung tâm, nền tảng vật chất của tiềm lực quốc phòng, sức mạnh nền quốc phòng toàn dân. Theo đó, cùng với đề cập về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh nội dung “chuyển đổi số, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước toàn diện, nhanh, bền vững”. Tư duy phát triển kinh tế “toàn diện, nhanh, bền vững” và đặt mục tiêu “toàn diện” trước “nhanh, bền vững” là sự bổ sung mới có ý nghĩa rất quan trọng. Tính toàn diện của nền kinh tế có thể hiểu là trên tất cả các ngành, thành phần, cơ cấu lĩnh vực, vùng, miền, vĩ mô, vi mô, trong nước, ngoài nước, kinh tế tri thức, kinh tế số;... đồng thời, “toàn diện” trên cả 04 khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng.

Phát triển văn hóa là một trong những mục tiêu quan trọng của Chiến lược, được đề cập sâu, với những nội dung mới, đó là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước; phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa và con người Việt Nam, bảo đảm vừa phát huy giá trị tốt đẹp truyền thống của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.

Về phương châm chỉ đạo

Kế thừa các nghị quyết về chiến lược quốc phòng, an ninh, Đảng ta xác định một số phương châm chủ đạo, trước hết là phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Đây là phương châm đầu tiên, bao trùm, dẫn dắt các phương châm khác trong Chiến lược. Các phương châm được chính thức đề cập trong Chiến lược là giữ “trong ấm, ngoài êm”; “bốn không”, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cân bằng, hài hòa lợi ích trong quan hệ với các nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Tư duy mới về phương châm trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc lần này là Đảng ta đưa nội dung chủ động thiết lập tuyến phòng thủ, tạo vành đai an ninh từ xa để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đây là sự kế thừa, phát triển tư duy của Đảng về vai trò phòng thủ quốc gia, phòng thủ dân sự, phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố,... với việc phát huy vai trò của tiềm lực, thế trận đối ngoại, huy động nguồn lực quốc tế để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ bên ngoài lãnh thổ.

Về nhiệm vụ, giải pháp

Nghị quyết xác định 06 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, nhưng thứ tự có sự điều chỉnh, bổ sung nội hàm rộng hơn và đưa nhiệm vụ, giải pháp “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” lên vị trí thứ hai. Điều này thể hiện tư duy mới của Đảng ngày càng sâu sắc hơn về vai trò của sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân và tư tưởng “yên dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác, đây cũng thể hiện sự nhất quán, tính logic hệ thống trong tư duy của Đảng từ quan điểm đến mục tiêu, phương châm cho đến nhiệm vụ, giải pháp về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Với nhiệm vụ giải pháp thứ nhất, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, Chiến lược xác định rõ tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện, nhất là về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung. Không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài; không để lọt những người không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Nội dung chi tiết các nhiệm vụ, giải pháp còn lại đều có kế thừa, cập nhật và bổ sung, phát triển các nhiệm vụ cụ thể trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội, sát hơn với tình hình thực tiễn trong nước cũng như bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.

Về tổ chức thực hiện

Tư duy mới của Đảng thể hiện rõ bước đột phá khi chỉ sau 03 ngày ban hành Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Bộ Chính trị đã triển khai Kế hoạch thực hiện, làm cơ sở cho các cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt, xây dựng chương trình hành động, đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt nắm chắc tình hình môi trường chiến lược, quan điểm, mục tiêu, phương châm và các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu; đồng thời, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị,... để xác định các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm, cốt lõi, dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, lộ trình, bước đi phù hợp để tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết.

Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là sản phẩm trí tuệ, thể hiện tư duy mới, sáng tạo của Đảng ta trong bối cảnh quốc tế, trong nước đã và đang có nhiều thay đổi. Đây là những vấn đề cơ bản, quan trọng, lâu dài, có tính định hướng lớn cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Quán triệt sâu sắc, nắm chắc nội dung, xây dựng chương trình hành động, kế hoạch triển khai thực hiện sát đúng, khả thi, tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả là cơ sở quan trọng để thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

ST.

Bàn về nâng cao hiệu quả công tác dân vận của lực lượng vũ trang tỉnh trong xây dựng, phát huy “thế trận lòng dân” thời kỳ mới

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc1Để xây dựng và phát huy “thế trận lòng dân” ngay từ cơ sở đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, giải pháp; trong đó, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của lực lượng vũ trang tỉnh (thành phố) có vai trò quan trọng.

Xây dựng và phát huy “thế trận lòng dân” là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân; trong đó, Quân đội nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Tuy nhiên, việc xây dựng thế trận này phải kiên trì, liên tục, do nhiều yếu tố hợp thành và công tác dân vận được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu. Vì thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng vũ trang tỉnh (thành phố) nói riêng không chỉ tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, tăng cường quan hệ quân - dân cá nước mà còn góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở. Phạm vi bài viết tập trung đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân vận của lực lượng vũ trang tỉnh (thành phố) trong xây dựng và phát huy “thế trận lòng dân” thời kỳ mới.

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong hệ thống chính trị đối với công tác dân vận và xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Đây là vấn đề cơ bản, giữ vai trò then chốt để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Vì vậy, lực lượng vũ trang tỉnh (thành phố) cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng làm cho các tổ chức, lực lượng trong hệ thống chính trị, trước hết là cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”2. Trên cơ sở đó vận dụng linh hoạt để thực hiện tốt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận, về phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và về xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ Tổ quốc. Để đạt hiệu quả, lực lượng vũ trang tỉnh (thành phố) cần phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh đẩy mạnh đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền, bảo đảm tính toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với thực tiễn từng địa bàn, sát từng đối tượng và hướng mạnh về cơ sở, v.v. Qua đó, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng và mọi cán bộ, chiến sĩ trong tiến hành công tác dân vận.

Hiện nay, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật, pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên để tuyên truyền, kích động chống phá, làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng thuộc lực lượng vũ trang tỉnh (thành phố) cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vị trí, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và những nguy cơ, thách thức của cách mạng Việt Nam. Từ đó, nâng cao ý thức trách nhiệm đối với công tác xây dựng Đảng và nêu cao tinh thần tiền phong, gương mẫu, ý thức phục vụ nhân dân. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền về kết quả và ý nghĩa to lớn của công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực,... để củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Hai là, tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí minh, quan điểm, đường lối của Đảng, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân. Đây là giải pháp cơ bản quan trọng để nâng cao trình độ, trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội và phát huy vai trò to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Vì vậy, cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp cần coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới nội dung, chương trình giáo dục chính trị và đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng những nội dung cơ bản, giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh, Cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những thành tựu mà Đảng ta đã đạt trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ đó, nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, niềm tin khoa học vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn. Đồng thời, chủ động, kiên quyết đấu tranh phản bác, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; củng cố, tăng cường sự thống nhất, đồng thuận về chính trị tinh thần trong xã hội, tạo nền tảng để xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” bảo vệ Tổ quốc. Trong quá trình thực hiện, ở từng cấp cần tích cực đổi mới hình thức, phương pháp nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng; kết hợp chặt chẽ hình thức phổ biến, quán triệt với gợi mở, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của tổ chức đảng, đảng viên để làm rõ những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn đang đặt ra. Phát huy vai trò của báo chí, các phương tiện truyền thông trong tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch.

Ba là, phát huy vai trò nòng cốt của cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong nâng cao chất lượng công tác dân vận. Cấp ủy, chỉ huy, nhất là cán bộ chủ trì cơ quan quân sự địa phương cần phát huy vai trò của cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong tham mưu, đề xuất và giúp cấp ủy, chỉ huy chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện các nội dung, hình thức, biện pháp dân vận. Thường xuyên nắm chắc tình hình, chủ động, kịp thời tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền địa phương giải quyết đúng những vấn đề nảy sinh, không để lây lan, phát triển trở thành điểm nóng phức tạp. Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, cơ quan, ban ngành chức năng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhất là trên các địa bàn biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, đồng bào tôn giáo. Tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh toàn diện, giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; bảo vệ môi trường, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ cứu nạn, v.v. Để đạt hiệu quả, các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên đổi mới các hình thức dân vận, nhất là hình thức kết nghĩa, hành quân dã ngoại, tổ đội công tác tăng cường cho cơ sở; đồng thời, phát huy vai trò của những người có uy tín, già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc trong các tôn giáo để tiến hành công tác dân vận góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội. Cùng với đó, cần làm tốt công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận. Chú trọng phát hiện những cán bộ trẻ, có lòng say mê, nhiệt huyết, có năng khiếu, am hiểu phong tục tập quán địa phương để đưa đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong công tác. Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo tại các nhà trường với bồi dưỡng thông qua thực tiễn và tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ ở đơn vị cơ sở và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần tạo điều kiện để họ yên tâm công tác, phấn đấu trưởng thành.

Bốn là, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động. Hiện nay, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội, phản động đang đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với các chiêu thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, nham hiểm để chống Đảng, Nhà nước ta. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các cấp chủ động nắm vững tình hình, kịp thời phát hiện những âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, từ đó tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng tạo thành sức mạnh tổng hợp đấu tranh phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch. Định kỳ tổ chức thông tin thời sự về tình hình an ninh chính trị trong nước, khu vực, quốc tế và tiến hành công tác định hướng tư tưởng. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả xóa bỏ thông tin sai trái, xấu độc trên internet, mạng xã hội. Sử dụng các hệ thống: thông tin đại chúng, giáo dục lý luận chính trị, tuyên truyền miệng, thiết chế văn hóa,... để phổ biến, tuyên truyền sâu rộng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35 cấp tỉnh và lực lượng 47 ở các cơ quan, đơn vị để phát hiện, kịp thời đấu tranh bác bỏ mọi thông tin sai trái, giả mạo, xuyên tạc, vu khống, kích động chống Đảng, Nhà nước và Quân đội. Kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị và những người “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm trái đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật Nhà nước.

Trước những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang các tỉnh (thành phố) cần nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các giải pháp để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, góp phần củng cố, tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa - nhân tố cơ bản quan trọng hàng đầu để xây dựng và phát huy “thế trận lòng dân” bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới./.

ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM TẠI PHIÊN HỌP “VÌ MỘT CHỦ NGHĨA ĐA PHƯƠNG ĐỔI MỚI” CỦA HỘI NGHỊ CẤP CAO PHÁP NGỮ LẦN THỨ 19!

     Trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao Pháp ngữ, ngày 5-10 (giờ địa phương) tại Paris (Pháp), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tham dự các phiên họp chính thức và có bài phát biểu quan trọng tại phiên họp “Vì một chủ nghĩa đa phương đổi mới” của hội nghị. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu:
"Thưa Ngài Chủ tịch,
Thưa các Quý vị,
Thời gian gần đây, đã có không ít hoài nghi về vai trò của các khuôn khổ đa phương, nhất là khi chúng ta chứng kiến ngày càng thường xuyên những biểu hiện của sự phân tách, chia rẽ, thậm chí đối đầu, đã và đang cản trở hiệu quả hoạt động của nhiều thể chế đa phương.

Tuy vậy, cũng chính trong khó khăn, chủ nghĩa đa phương lại thể hiện rõ vai trò không thể thay thế. Các thể chế đa phương, với nền tảng là luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, tạo khuôn khổ để thúc đẩy hợp tác, phối hợp hành động trong ứng phó với các thách thức chung như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm mạng… Các cơ chế đa phương cũng có thể đi đầu trong việc xây dựng các khuôn khổ pháp lý, các khung quản trị toàn cầu về các vấn đề mới nổi, giúp các quốc gia tận dụng được những cơ hội lịch sử đang có được từ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ. Cách đây 10 ngày, tại Hội nghị Thượng đỉnh tương lai, chúng ta đã thông qua những văn kiện quan trọng, mang tính định hướng cho tương lai hợp tác toàn cầu. Đó là minh chứng rõ ràng nhất cho sức mạnh của chủ nghĩa đa phương.

Với niềm tin mạnh mẽ vào chủ nghĩa đa phương, chúng tôi muốn chia sẻ tầm nhìn sau:
Thứ nhất, chủ nghĩa đa phương cần gắn liền với các tiến trình chuyển đổi lớn, nhất là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Không gian Pháp ngữ cũng cần thích ứng với xu hướng này, hỗ trợ các thành viên nâng cao năng lực về công nghệ, phát triển năng lượng sạch và thực hiện thành công các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Khoa học, công nghệ là chìa khóa để cộng đồng Pháp ngữ có thể tạo nên những đột phá trong tương lai. 

Thứ hai, đây là thời điểm các thể chế đa phương, trong đó có Pháp ngữ, cần đẩy mạnh cải tổ để có thể ứng phó với những thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới và không gian Pháp ngữ. Tôi mong muốn Pháp ngữ sẽ đổi mới theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, tập trung hơn vào ưu tiên của các thành viên, nhất là về hợp tác kinh tế và phối hợp triển khai các văn kiện của Hội nghị Thượng đỉnh tương lai. 

Thứ ba, chủ nghĩa đa phương chỉ có thể thành công nếu bảo đảm được tính bao trùm, toàn diện, lấy người dân làm trung tâm, đặc biệt là thế hệ trẻ. Vì vậy, tôi ủng hộ việc Pháp ngữ tiếp tục thúc đẩy các chương trình giao lưu nhân dân, trao đổi văn hóa, giáo dục thông qua tiếng Pháp. Điều này không chỉ giúp chúng ta duy trì được một ngôn ngữ đẹp gắn kết các thành viên Pháp ngữ, mà còn giúp lan tỏa các kết quả hợp tác Pháp ngữ đến với mọi người dân. 

Việt Nam tin rằng một chủ nghĩa đa phương đổi mới phải hướng đến tương lai hòa bình, thịnh vượng và bền vững với mọi quốc gia và người dân. Việt Nam cam kết sẽ đóng góp tích cực vào các nỗ lực chung nhằm hiện thực hóa những mục tiêu này.
Xin cảm ơn"./.
Ảnh: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu tại phiên họp “Vì một chủ nghĩa đa phương đổi mới”.
Môi trường ST.

Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả thực hiện công tác tôn giáo của Quân đội trong tình hình mới

Tôn giáo, công tác tôn giáo luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và xác định là một trong những nội dung quan trọng, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, cùng với các cấp, ngành, lực lượng, cả hệ thống chính trị và toàn dân, Quân đội cần tiếp tục nghiên cứu, có nhiều giải pháp phù hợp, thiết thực để không ngừng nâng cao hiệu quả thực hiện công tác quan trọng này.

Nước ta là quốc gia đa tôn giáo cùng tồn tại và bình đẳng với nhau. Theo các số liệu thống kê, hiện cả nước có 16 tôn giáo với 43 tổ chức được công nhận và đăng ký hoạt động, gồm hơn 26 triệu tín đồ, trên 54 nghìn chức sắc, trên 135 nghìn chức việc, hơn 20 trường đào tạo chức sắc tôn giáo. Đảng, Nhà nước luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo của nhân dân; thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương - giáo và giữa các tôn giáo; lên án thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo; đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, trái pháp luật, cũng như các hoạt động kích động chia rẽ nhân dân, gây rối, chống phá Đảng, Nhà nước, v.v. Thực hiện chủ trương đó, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp uỷ, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chức năng các cấp luôn chú trọng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác này một cách nghiêm túc, chặt chẽ, đạt nhiều kết quả quan trọng. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo, công tác tôn giáo được các cơ quan, đơn vị thực hiện hiệu quả. Nhận thức ý nghĩa, tầm quan trọng về công tác tôn giáo trong tình hình mới của cán bộ, chiến sĩ, nhất là cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng các cấp ngày càng được nâng lên. Công tác tuyên truyền, vận động đồng bào tôn giáo được đẩy mạnh, đạt hiệu quả thiết thực. Quân đội tích cực giúp đỡ đồng bào tôn giáo phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư; phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, nhân tai; phát huy tốt vai trò chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo, v.v. Do vậy, đã góp phần quan trọng vào xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần, “thế trận lòng dân”, tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác dự báo, nghiên cứu, nắm tình hình địa bàn tôn giáo; việc tuyên truyền, vận động chức sắc, chức việc, người có uy tín trong đồng bào tôn giáo; trình độ, năng lực, kiến thức của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm công tác tôn giáo ở một số cơ quan, đơn vị có mặt còn hạn chế; việc phối hợp tham gia xử lý các vụ việc liên quan đến tôn giáo ở một số điểm nóng còn lúng túng, bị động, v.v. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện công tác tôn giáo của Quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, theo chúng tôi cần làm tốt một số nội dung, giải pháp cơ bản sau:

1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy các cấp, bảo đảm công tác tôn giáo luôn được thực hiện đúng pháp luật và có hiệu quả cao. Đây là giải pháp có tính nguyên tắc, quan trọng hàng đầu, đưa các hoạt động thực hiện công tác tôn giáo trong Quân đội đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phù hợp thực tiễn nơi có tôn giáo hoạt động. Để thực hiện, trước hết, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng về tôn giáo và công tác tôn giáo1. Chủ động đề ra các giải pháp khoa học, sát thực trong việc đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách về tôn giáo và công tác tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Để công tác lãnh đạo, chỉ đạo đạt hiệu quả thiết thực, cần thường xuyên nắm vững các hoạt động tôn giáo trong địa bàn; nhất là nhận diện và dự báo đúng hoạt động của các tổ chức, nhóm tôn giáo phức tạp, hoạt động không theo hiến chương, điều lệ của giáo hội, không đúng pháp luật,... ảnh hưởng trực tiếp đến quốc phòng, an ninh, như: hoạt động của tà đạo, đạo lạ, hiện tượng tôn giáo mới, vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng công trình tôn giáo, thuyên chuyển, bổ nhiệm chức sắc, chia tách tổ chức tôn giáo trái quy định, v.v. Từ đó, cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp vận dụng linh hoạt, chủ động đề ra chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch thực hiện các hoạt động về công tác tôn giáo ở cơ quan, đơn vị bảo đảm đúng đường lối, chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước và sát yêu cầu thực tiễn, đạt hiệu quả cao, phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân, không để xảy ra điểm nóng trên địa bàn. Đặc biệt, với địa bàn nhạy cảm, nơi các thế lực thù địch có thể lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đơn vị phụ trách cần nghiên cứu kỹ tình hình mọi mặt, dự báo chính xác các tình huống có thể xảy ra, chủ động tham mưu với cấp có thẩm quyền lãnh đạo, chỉ đạo, xử lý kịp thời, đúng pháp luật các hoạt động gây rối, chống phá, không để bị động, bất ngờ. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, không ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm, giúp cán bộ, chiến sĩ thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này.

2. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành công tác dân vận ở vùng đồng bào tôn giáo phù hợp với thực tiễn. Nội dung chủ yếu công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta là công tác vận động quần chúng, gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung, tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thực hiện chủ trương này, trong thời gian qua, công tác dân vận của toàn quân nói chung, ở các cơ quan, đơn vị Quân đội ở vùng đồng bào tôn giáo nói riêng được tiến hành với nhiều nội dung, hình thức phong phú, như: “Hành quân dã ngoại làm công tác dân vận”, phong trào “Họ đạo gương mẫu”, “Gắn kết yêu thương giữa lương và giáo”,... đã mang lại hiệu quả thiết thực. Đây là cơ sở để các cơ quan, đơn vị cùng lực lượng chuyên trách thực hiện công tác dân vận trong toàn quân tiếp tục nghiên cứu, phát triển, vận dụng cho phù hợp thực tiễn mới. Trong đó, cần đặc biệt chú trọng đổi mới cả về nội dung, hình thức và cách thức, biện pháp tiến hành. Cái cũ không phù hợp cần mạnh dạn thay đổi bằng nội dung, hình thức, phương pháp mới phù hợp với thực tiễn. Để có được nội dung, hình thức, phương pháp mới, phù hợp, hiệu quả, thì một trong những nguyên tắc cơ bản là phải bám sát đời sống của đồng bào tôn giáo; tăng cường tiếp xúc với chức sắc, chức việc, người có uy tín,... để phát hiện những bất cập, thấy được cái mà đồng bào cần để xác định nội dung, hình thức, phương pháp làm công tác dân vận cho phù hợp, hiệu quả. Quá trình thực hiện, cần lấy mục tiêu quan trọng, trên hết là củng cố mối quan hệ đoàn kết, tin cậy giữa lực lượng vũ trang với đồng bào tôn giáo; xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững chắc; khơi dậy, phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nhân ái, giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp các tôn giáo; vận động đồng bào tôn giáo tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động của Trung ương và địa phương, sống “tốt đời, đẹp đạo”, tạo sự đồng thuận, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, cấp ủy các cấp cần quan tâm xây dựng, củng cố, kiện toàn cơ quan, cán bộ làm công tác dân vận, đảm bảo đủ số lượng, có chất lượng cao; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng mô hình, gương điển hình tiên tiến. Tích cực đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy ở các học viện, nhà trường cũng như hoạt động tập huấn, bồi dưỡng ở các cơ quan, đơn vị, nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng công tác dân vận và kiến thức về tôn giáo cho cán bộ, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nâng cao hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận, công tác tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo.

3. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống những nhận thức, tư tưởng lệch lạc và hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội. Cùng với tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề rất nhạy cảm, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Vì vậy, tăng cường đấu tranh phòng, chống những nhận thức, tư tưởng lệch lạc về tôn giáo cũng như hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá của các thế lực thù địch là rất quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện công tác tôn giáo của Quân đội; đồng thời, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Theo đó, các cơ quan, đơn vị và lực lượng chức năng cần tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa, triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ Quân đội; tăng cường tuyên truyền, giáo dục làm cho cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân nhận thức đúng về nguồn gốc, bản chất của tôn giáo cũng như quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo; tránh phân biệt, kỳ thị hoặc ngại tiếp xúc với bà con có đạo. Tập trung nâng cao chất lượng công tác tuyển quân, tuyển sinh, quản lý, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng những thanh niên có đạo và gốc đạo trở thành những quân nhân ưu tú, tạo nguồn cán bộ cho Quân đội và địa phương. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng quy định, nhất là chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo và đồng bào theo đạo. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên vùng đồng bào tôn giáo vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Chăm lo xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân; xây dựng, củng cố các khu vực phòng thủ vững chắc trên từng địa bàn, địa phương, nhất là địa bàn chiến lược. Ra sức xây dựng Quân đội ngày càng trong sạch, vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; trong đó, luôn chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để chống phá. Chủ động xây dựng phương án, kế hoạch phòng, chống biểu tình, bạo loạn; tăng cường kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh phương án bảo vệ an ninh ở địa phương, cơ sở. Tham gia giải quyết kịp thời các vụ việc phức tạp liên quan đến tôn giáo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, không để hình thành điểm nóng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân.

Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị Quân đội cần phối hợp chặt chẽ với lực lượng chuyên trách, nhất là Công an, kịp thời phát hiện, dập tắt mọi âm mưu, hành động lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động, lôi kéo đồng bào gây rối, bạo loạn; xử lý thích đáng, đúng pháp luật những phần tử quá khích, phản động, chống phá Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Tìm hiểu giúp bạn Mở rộng tầm nhìn để phát triển: Kinh tế số ở Trung Quốc và một số hàm ý chính sách

  Trung Quốc đang trên đà phát triển kinh tế số mạnh mẽ, với sự hỗ trợ từ Chính phủ và sự năng động của khu vực tư nhân. Một trong những động lực mang tính đột phá thúc đẩy kinh tế số Trung Quốc là sự phát triển của các công nghệ tiên tiến, đầu tư mạnh mẽ vào kết cấu hạ tầng số​. Trong lĩnh vực kinh doanh, Trung Quốc phát triển một hệ sinh thái công nghiệp số rộng lớn. Điều này không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm và cải thiện đời sống người dân​​.

Sự phát triển kinh tế số ở Trung Quốc

Trong bối cảnh nền kinh tế số toàn cầu nói chung đang tăng tốc phát triển, quy mô nền kinh tế số Trung Quốc đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ trong gần một thập niên qua. Theo ước tính tại Hội nghị Kinh tế số toàn cầu năm 2023, quy mô nền kinh tế số của Trung Quốc đã tăng lên 50,2 nghìn tỷ nhân dân tệ (khoảng 6,96 nghìn tỷ USD) vào năm 2022, với tốc độ tăng trưởng hai con số hằng năm là 14,2% kể từ năm 2016. Tỷ trọng của kinh tế số trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc tăng lên 41,5% vào năm 2022 và tốc độ tăng trưởng của kinh tế số trong thời gian này cao hơn khoảng 10% so với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Trong nhiều năm qua, nền kinh tế số của Trung Quốc luôn giữ vị trí thứ hai trên toàn cầu và thực sự trở thành một động lực cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

Trung Quốc quan niệm về phạm vi nền kinh tế số bao gồm hai bộ phận cấu thành chính là ngành công nghiệp số và các ngành công nghiệp/lĩnh vực khác được số hóa. Điều này nghĩa là Trung Quốc không chỉ nhấn mạnh các công nghệ số và các ngành công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), mà còn nỗ lực ứng dụng các công nghệ số để chuyển đổi số các ngành công nghiệp truyền thống. Số hóa các ngành kinh tế bao gồm việc sử dụng các công nghệ số để nâng cấp các ngành công nghiệp truyền thống, chẳng hạn như tích hợp các công nghệ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo vào các ngành sản xuất truyền thống, là lực đẩy chính đằng sau nền kinh tế số của Trung Quốc. Năm 2022, các ngành công nghiệp/lĩnh vực được số hóa ở Trung Quốc đã đóng góp giá trị gia tăng đáng kể, lên đến 41 nghìn tỷ nhân dân tệ cho nền kinh tế của quốc gia, đạt mức tăng trưởng 10,3%, và chiếm 81,7% tổng giá trị nền kinh tế số và 33,9% GDP của đất nước(1).

Mức độ số hóa các ngành kinh tế của Trung Quốc thay đổi đáng kể ở các vùng khác nhau. Các đô thị, như Thượng Hải, Bắc Kinh có tỷ trọng kinh tế số trong GDP cao hơn, trong khi một số tỉnh phía Tây và miền Trung của Trung Quốc có tỷ trọng kinh tế số thấp hơn. Tăng trưởng “theo cấp số nhân” của nền kinh tế số Trung Quốc có được là do sự phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật số mạnh mẽ, sự xuất hiện của tài chính số và sự tăng trưởng nhanh chóng của tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương. Nền kinh tế số của Trung Quốc chủ yếu được thúc đẩy bởi nhu cầu thị trường và các mô hình kinh doanh đổi mới hơn là chỉ dựa vào sự tiến bộ về công nghệ. Một ví dụ điển hình là Alipay, một hệ thống thanh toán an toàn, giải quyết các vấn đề tín dụng giữa khách hàng và các thương nhân trong thương mại điện tử, thúc đẩy sự tăng trưởng vượt bậc của ngành mua sắm trực tuyến của Trung Quốc. Các mô hình kinh doanh đổi mới này không chỉ giới hạn ở mua sắm trực tuyến, mà còn bao gồm các dịch vụ truyền thông xã hội, dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Chính sách phát triển kinh tế số ở Trung Quốc

Trong quá trình phát triển nền kinh tế số, mối quan hệ giữa thị trường và chính phủ thể hiện ở việc chính phủ đóng vai trò như thế nào và thị trường cần có không gian phù hợp trong khuôn khổ này để duy trì trật tự một cách hợp lý.

Thứ nhất, trong suốt quá trình số hóa, Chính phủ Trung Quốc đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy và điều tiết nền kinh tế số thông qua việc chủ động tham gia tích cực vào việc định hình chính sách và cung cấp khung pháp lý nhằm thúc đẩy môi trường thuận lợi cho những tiến bộ kỹ thuật số, đồng thời duy trì được vai trò điều tiết thị trường hợp lý.

Thứ hai, Chính phủ Trung Quốc sớm có một hệ thống văn bản chiến lược, quy hoạch, quy định, hướng dẫn phát triển kinh tế số trong việc hình thành một hệ thống chiến lược kinh tế số theo liên kết ngang và thâm nhập dọc, đặt mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng mạng, khuyến khích doanh nghiệp tham gia và thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp số. Từ góc độ chiến lược tổng thể, trong giai đoạn thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 13 (2016 - 2020), Chính phủ Trung Quốc đã ban hành các văn bản quan trọng, như “Đề cương chiến lược phát triển theo định hướng đổi mới quốc gia” và “Kế hoạch thông tin hóa quốc gia Kế hoạch 5 năm lần thứ XIII”, đưa kinh tế số thành một trong những hướng phát triển chính, theo đó các tỉnh, thành phố của Trung Quốc ban hành chính sách để thực hiện định hướng của Trung ương. Năm 2021, các địa phương của Trung Quốc ban hành tổng cộng hơn 200 chính sách liên quan đến kinh tế số, tập trung vào các chính sách về công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), chính sách phát triển kinh tế số ngành, lĩnh vực, chính sách quản trị số và chính sách giá trị hóa dữ liệu với trọng tâm và mục tiêu có sự khác nhau tùy theo hoàn cảnh, thế mạnh của từng địa phương.

Thứ ba, Chính phủ Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tiến bộ của nền kinh tế số, thiết lập hệ sinh thái số mạnh mẽ, đặc thù với các chính sách cụ thể, triển khai một loạt giải pháp quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế số như sau:

Chính sách phát triển hạ tầng số: Trung Quốc đặc biệt chú trọng xây dựng kết cấu hạ tầng số, phát triển mạng thông tin thế hệ mới, mở rộng ứng dụng 5G để tạo tiền đề phát triển nền kinh tế số. Việc triển khai mạng 5G trên diện rộng không chỉ cải thiện khả năng kết nối, mà còn hỗ trợ sự phát triển của các ngành công nghiệp, như sản xuất thông minh, y tế từ xa, giao thông thông minh. Các ứng dụng của kết cấu hạ tầng số 5G, trí tuệ nhân tạo đã phát huy vai trò quan trọng trong phòng, chống đại dịch COVID-19, đồng thời giúp Trung Quốc tạo thêm hơn 7 triệu việc làm trong ngành công nghệ thông tin cùng hàng chục triệu việc làm gián tiếp thuộc các ngành kinh tế số. Cùng với đầu tư mạnh mẽ vào mạng lưới 5G, Trung Quốc chú trọng phát triển các công nghệ tiên tiến, như trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (big data). Các doanh nghiệp công nghệ lớn, như Baidu, Alibaba, và Tencent đang dẫn đầu thế giới trong việc nghiên cứu và triển khai các giải pháp công nghệ này.

Chính sách phát triển nền tảng số: Trung Quốc cũng phát triển mạnh các trung tâm dữ liệu lớn và hạ tầng điện toán đám mây để hỗ trợ cho các dịch vụ kỹ thuật số và thương mại điện tử. Từ tháng 2-2022, kế hoạch mang tên “Dữ liệu phương Đông, điện toán phương Tây” được công bố nhằm mở rộng phạm vi của các trung tâm dữ liệu trong việc cải thiện khả năng xử lý, lưu trữ và dữ liệu sẽ được đưa từ các khu vực đông dân cư, có nền kinh tế phát triển của Trung Quốc đến các khu vực phía Tây giàu tài nguyên và dân cư thưa thớt. Để phát triển nền tảng số, Trung Quốc có nhiều đột phá về thể chế gắn với tầm nhìn coi dữ liệu là yếu tố đầu vào quan trọng, bắt buộc của nền kinh tế số và triển khai hành động cụ thể hóa tầm nhìn này thông qua việc thành lập Cục Dữ liệu quốc gia trực thuộc Ủy ban Cải cách và Phát triển quốc gia để phát triển và khai thác tiềm năng dữ liệu từ Trung ương tới địa phương. Chính phủ Trung Quốc ban hành quy định coi dữ liệu như một loại hàng hóa đặc biệt, được định giá và có thể được mua bán, trao đổi trên các sàn giao dịch dữ liệu, từ đó hình thành ngành công nghiệp dữ liệu với nhiều việc làm mới so với trước đây, điển hình là nghề “dán nhãn dữ liệu”. Với việc giá trị hóa dữ liệu, dữ liệu đã trở thành một nguồn lực mới để hỗ trợ cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Chính sách phát triển dịch vụ tài chính số: Hiện nay, Trung Quốc là nước dẫn đầu thế giới về dịch vụ tài chính kỹ thuật số và thanh toán kỹ thuật số. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đang thực hiện Kế hoạch phát triển công nghệ tài chính cho giai đoạn 2022 - 2025, nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính trong 4 năm. Hệ thống ngân hàng hiện đại hóa phương thức cho vay ngang hàng (P2P lending) truyền thống bằng cách áp dụng công nghệ dựa trên internet và cải thiện quy định pháp lý nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận tín dụng. Đến nay, Trung Quốc là nước dẫn đầu thị trường cho vay P2P trên toàn cầu với doanh số có thời điểm lên tới 192 tỷ USD, kế đến là Mỹ, Anh, Thụy Sĩ, I-ta-li-a(2). Năm 2021, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc ban hành sách trắng có tựa đề “Tiến trình nghiên cứu và phát triển E-CNY ở Trung Quốc” nêu ra ba mục tiêu chính để phát triển đồng nhân dân tệ kỹ thuật số, bao gồm đa dạng hóa các hình thức tiền mặt do ngân hàng Trung ương cung cấp cho công chúng; thúc đẩy cạnh tranh công bằng, hiệu quả và bảo mật trong các dịch vụ thanh toán bán lẻ; cải thiện thanh toán xuyên biên giới.

Chính sách thúc đẩy khởi nghiệp số: Chính phủ Trung Quốc đang thực hiện hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và để duy trì được tốc độ phát triển của nền kinh tế số, nhu cầu đổi mới công nghệ nguyên bản, các nỗ lực nghiên cứu hướng đến các công nghệ cơ bản, bao gồm chip cao cấp, hệ điều hành và trí tuệ nhân tạo sẽ ngày càng tăng. Theo thống kê trong “Báo cáo Phát triển Kinh tế số của Trung Quốc” đến cuối tháng 3-2022, hơn 200 công viên công nghệ đã được chỉ định là “công viên kinh tế số”, cho thấy nỗ lực của chính quyền địa phương tận dụng các điều kiện thuận lợi để tăng tốc sự phát triển của kinh tế số. Trung Quốc đã gắn chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo với chiến lược phát triển nguồn nhân lực và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên cả hai phương diện vĩ mô và vi mô, qua đó tạo ra sự hòa nhập giữa cung nhân lực số với cầu nhân lực số của nền kinh tế, thị trường lao động cả về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nhân lực và năng lực, phẩm chất.

Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng nhiều chính sách thuế ưu đãi cho doanh nghiệp công nghệ thông tin, đặc biệt là doanh nghiệp mới và sáng tạo, bao gồm miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (tùy theo điều kiện cụ thể) và giảm thuế giá trị gia tăng, cung cấp hỗ trợ tài chính dưới dạng vốn vay ưu đãi và tài trợ nghiên cứu phát triển cho doanh nghiệp công nghệ thông tin, khuyến khích doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đặc biệt là các dự án có liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), và công nghệ chuỗi khối (blockchain). Với lợi thế đặc biệt của “kinh tế theo quy mô” của một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới, các chi phí trung bình để cung cấp dịch vụ số và triển khai chuyển đổi số thấp hơn, nên lợi nhuận từ việc tạo ra sản phẩm với các đổi mới công nghệ tương tự là lớn hơn ở Trung Quốc so với các quốc gia khác. Kết quả là Trung Quốc đã chứng kiến sự thành công quốc tế của các doanh nghiệp được thúc đẩy bởi số hóa, như Taobao, Didi, Ctrip và Weibo, ngay cả khi các công nghệ và ứng dụng ban đầu của họ không phát sinh từ Trung Quốc do đã cung cấp một môi trường phát triển mạnh mẽ để mở rộng kinh doanh và đạt được sự cạnh tranh toàn cầu.

Một số hàm ý chính sách

Nhận thức được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của nền kinh tế số đối với quá trình phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã luôn quan tâm và có nhiều chủ trương, giải pháp có liên quan đến quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế số. Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 3-6-2020, về “Phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến 2030””; Quyết định số 411/QĐ-Ttg, ngày 31-3-2022, về “Phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã chỉ rõ Việt Nam cần nhanh chóng nắm bắt, hành động mạnh mẽ để phát triển kinh tế số và xã hội số, phát triển ngành, nghề kinh doanh mới, mở ra các thị trường mới và tạo thêm nhiều nhu cầu việc làm mới. Nhiệm vụ phát triển kinh tế số và xã hội số được đặt ở mức ưu tiên cao trong các chiến lược phát triển quốc gia.

Kinh tế số của Việt Nam đang phát triển một cách khá toàn diện và mạnh mẽ. Sự phát triển khá nhanh của kinh tế số Việt Nam trong thời gian qua thể hiện sự nỗ lực, quyết tâm của Chính phủ, các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như quản lý, điều hành, góp phần quan trọng vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số và xã hội số ở Việt Nam. Từ kinh nghiệm phát triển kinh tế số ở Trung Quốc, có thể rút ra các vấn đề sau:

Một là, về quan điểm quản lý nền kinh tế số. Chính phủ Trung Quốc quản lý nền kinh tế số một cách “khá lỏng lẻo” ở giai đoạn đầu và cung cấp các chính sách hỗ trợ để có thể tạo thể chế mang tính vượt trội và mở đường. So với châu Âu về cách tiếp cận đối với quyền riêng tư dữ liệu và các đánh giá môi trường và năng lượng nghiêm ngặt, Chính phủ Trung Quốc không đặt các vấn đề này là ưu tiên trong giai đoạn đầu. Kinh nghiệm quản lý kinh tế số của Trung Quốc gợi mở cách tiếp cận thị trường “cởi mở” hơn trong quan điểm về mối quan hệ giữa thị trường và nhà nước để phát triển kinh tế số trong quá trình tiến tới điểm cân bằng giữa yêu cầu “tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo liên quan tới việc phát triển và ứng dụng kinh tế số” với yêu cầu “bảo đảm trật tự của thị trường”.

Hai là, đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật số. Là quốc gia dẫn đầu toàn cầu về phát triển kết cấu hạ tầng, Trung Quốc đã đạt được thành công đáng kể trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật số. Công nghệ 5G, với tư cách là một thành phần quan trọng của thế hệ công nghệ thông tin và kết cấu hạ tầng kỹ thuật số mới, là động lực chính đằng sau quá trình chuyển đổi và nâng cấp kỹ thuật số cho nền kinh tế thực. Những bước tiến ban đầu khá ấn tượng của Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế số là do vai trò quan trọng của lĩnh vực công nghệ kỹ thuật số. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy chính nhờ sự phát triển của kinh tế số lõi mà kinh tế số đã đi vào mọi khía cạnh của sản xuất công nghiệp và cuộc sống hằng ngày của người dân, tạo nên một mô hình phát triển kinh tế khác biệt so với kinh tế truyền thống.

Ba là, xây dựng các trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây theo vùng. Trong nỗ lực hiện thực hóa giá trị của dữ liệu, phát triển thị trường dữ liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông, giao dịch, phát triển và sử dụng dữ liệu, Trung Quốc đã triển khai dự án “Dữ liệu phương Đông và Điện toán phương Tây”. Bằng cách chuyển hướng hiệu quả nhu cầu về sức mạnh tính toán từ khu vực phía đông sang khu vực phía tây, dự án cho phép phân bổ và sử dụng hiệu quả các tài nguyên máy tính. Việc xây dựng các trung tâm dữ liệu lớn và hệ thống điện toán đám mây ở các vùng kinh tế trọng điểm sẽ giúp xử lý và lưu trữ lượng dữ liệu khổng lồ, hỗ trợ cho các doanh nghiệp và chính phủ trong việc chuyển đổi số. Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, để có một nền kinh tế chuyển đổi số mạnh mẽ, cần có một nguồn lực lớn, không thể chỉ đến từ nguồn ngân sách nhà nước, mà phải dựa chính vào nguồn vốn từ khu vực tư nhân và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Bốn là, phát triển công nghệ tài chính (fintech) và thanh toán kỹ thuật số. Hiện nay, Trung Quốc là nước dẫn đầu toàn cầu về dịch vụ tài chính kỹ thuật số, đứng đầu thế giới về thanh toán kỹ thuật số. Bằng cách áp dụng công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, tài chính kỹ thuật số sẽ giải quyết “khoảng trống tín dụng” bằng cách cung cấp các khoản vay không cần thế chấp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và hộ gia đình có hồ sơ tín dụng đáng tin cậy. Kinh nghiệm phát triển công nghệ tài chính của Trung Quốc cho thấy sự cần thiết của việc hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính kỹ thuật số. 

Năm là, thúc đẩy thương mại điện tử và thương mại điện tử xuyên biên giới. Mua sắm trực tuyến là một đặc điểm quan trọng của lối sống số ở Trung Quốc và trong thời gian qua Trung Quốc đã mở rộng các thí điểm thương mại điện tử xuyên biên giới. Hiện nay, đối với các nền tảng thương mại điện tử, mức độ ưu tiên đã chuyển từ tổng giá trị hàng hóa sang việc ưu tiên lại giá trị cốt lõi của các thương hiệu cửa hàng và tầm quan trọng của trải nghiệm khách hàng. Người tiêu dùng đang chuyển từ việc mua sắm theo cảm xúc sang việc mua sắm theo lý trí, và các nhà bán hàng đang chuyển từ việc theo đuổi doanh số bán hàng sang lợi nhuận ổn định. Điều này tạo ra tính bền vững mạnh mẽ, phù hợp với sự tiện lợi mà lối sống số mang lại. 

Sáu là, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Kể từ Đại hội toàn quốc lần thứ 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc nhấn mạnh sự cần thiết đẩy nhanh việc thúc đẩy quản trị điện tử và xây dựng nền tảng dịch vụ trực tuyến tích hợp, bao gồm tất cả quy trình. Sau đó, Chính phủ Trung Quốc tăng cường sáng kiến internet plus với dịch vụ chính phủ để các dịch vụ này có thể truy cập được thông qua “một mạng, một cửa và một lần truy cập”. Điều này có nghĩa là các dịch vụ của chính phủ có thể được vận hành “hoàn toàn trực tuyến” và doanh nghiệp cũng như công chúng chỉ cần “vào một cửa” và “truy cập nhiều nhất một lần”./.