Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2024

Thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cách đây 55 năm, trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bản Di chúc thiêng liêng, chứa đựng những tư tưởng lớn về Đảng và xây dựng Đảng, trong đó có nội dung hết sức sâu sắc về thực hành dân chủ trong Đảng. Quán triệt và thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cách thức hữu hiệu để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, thật sự “là đạo đức, là văn minh” theo tâm nguyện của Người.

1- Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bản Di chúc thiêng liêng, kết tinh tư tưởng, đạo đức, phong cách và tình cảm, tâm nguyện của Người đối với dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta. Di chúc chứa đựng những tư tưởng lớn, là bản tổng kết lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc về cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, Di chúc đề cập nội dung hết sức sâu sắc về dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng, để Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới, xứng danh là Đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền ở nước ta.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tâm huyết, trí tuệ và suy tư, trăn trở cho công tác xây dựng Đảng. Người căn dặn Đảng ta: việc cần làm trước tiên là “chỉnh đốn lại Đảng”, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ “đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân”; đồng thời nhấn mạnh, “Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy, chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.

Xác định rõ tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm sâu sắc tới việc làm thế nào để dân chủ trong Đảng được phát huy mạnh mẽ trong mọi hoạt động của ĐảngTheo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ là “của quý báu nhất của nhân dân” và thực hành dân chủ là “chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” trong quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.

Thực hiện dân chủ trong Đảng là quá trình Đảng đưa các giá trị dân chủ vào hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, trong sinh hoạt đảng, làm cho dân chủ trở thành hiện thực trong mọi hoạt động của Đảng. Dân chủ trong Đảng là dân chủ có tính đảng, gắn với kỷ luật, kỷ cương, đối lập với tình trạng dân chủ tùy tiện, vô chính phủ, dân chủ giả hiệu.

Thực hành dân chủ trong Đảng thể hiện ở nhiều khía cạnh, trong đó có việc tổ chức đảng, đảng viên bàn bạc, thảo luận các vấn đề để đi tới hình thành quyết sách chính trị của Đảng. Dân chủ trong Đảng được phản chiếu trong văn hóa đấu tranh tự phê bình và phê bình, hoạt động chất vấn của tổ chức đảng và đảng viên; phản ánh, kiến nghị với cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, về bản chất, dân chủ không đối lập với tập trung, kỷ luật, mà chỉ đối lập với sự quan liêu, thói gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, lộng quyền và lạm quyền. Tập trung cũng không đối lập với dân chủ, mà chỉ đối lập với phân tán, cục bộ, thói tự do vô chính phủ.

Thực hành dân chủ trong Đảng được thể hiện trong tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ. V.I. Lê-nin từng chỉ rõ: Không thể có một đảng cách mạng chân chính mà lại phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ. Nếu không có tập trung thì đảng trở thành một tổ chức biệt phái, hỗn độn, một “câu lạc bộ tranh luận”; nếu xa rời dân chủ, đảng sẽ bị biến thành một tổ chức chuyên quyền, độc đoán, quan liêu. Vận dụng đúng đắn quan điểm của V.I. Lê-nin về nguyên tắc tập trung dân chủ vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, có lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập “tập trung dân chủ”, nhưng nhiều hơn cả là Người đề cập “dân chủ tập trung”. Tập trung dân chủ bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, là nguyên tắc tổ chức cao nhất và là chế độ lãnh đạo của Đảng, phải được tuân thủ nghiêm ngặt, triệt để, làm cho Đảng ngày càng thống nhất về ý chí và hành động. Người lý giải: Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương; tất cả đảng viên phải chấp hành vô điều kiện nghị quyết của Đảng. Người còn chỉ rõ: “Tập trung trên nền tảng dân chủ. Cơ quan lãnh đạo của Đảng có uy tín và quyền lực chân chính. Những phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng, mọi đảng viên nhất định phải chấp hành. Kỷ luật của Đảng, mọi đảng viên phải tuân theo. Thế là tập trung. Nhưng tập trung ấy không phải là cá nhân chuyên chính; nó là xây dựng trên nền tảng dân chủ”. Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung, được thể hiện ở chỗ “trong Đảng, mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề nghị, tham gia giải quyết vấn đề. Nhưng quyết không được trái sự lãnh đạo tập trung của Đảng, trái nghị quyết và trái kỷ luật của Đảng”.

Để thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Phải thật sự mở rộng dân chủ để cho tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình; phải tập hợp ý kiến của đảng viên để giúp Trung ương chuẩn bị Đại hội Đảng cho thật tốt; làm như thế là khơi dậy tinh thần trách nhiệm và tính tích cực chủ động của tất cả đảng viên. Khi đã thảo luận, bày tỏ ý kiến rồi thì đi đến tập trung, làm cho “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”, tức là đề cập ý chí thống nhất, hành động thống nhất. Việc thực hành dân chủ, mở rộng dân chủ trong Đảng cũng như đi tìm chân lý trong lĩnh vực tư tưởng. Người chỉ rõ: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lýChân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý”. Trong quá trình thực hành dân chủ phải kiên quyết chống mọi biểu hiện lệch lạc, không để “sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác”.

Là tổ chức lãnh đạo xây dựng, phát triển nền dân chủ ở nước ta, Đảng phải là hạt nhân và là tấm gương thực hành, phát huy dân chủ. Vì thế, Người đòi hỏi “đảng viên ở địa vị càng cao... càng phải làm gương dân chủ”. Dân chủ trong Đảng, do đó có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát huy dân chủ trong xã hội.

Một điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm khi phát huy dân chủ trong Đảng, đó là: Với vai trò, sứ mệnh là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, thì Đảng phải phát huy cao độ vai trò của Mặt trận dân tộc thống nhất và các tổ chức chính trị - xã hội để thông qua các tổ chức này, nhân dân thực hiện và phát huy vai trò là chủ, làm chủ của mình. Quyền lực thuộc về nhân dân - đó chính là dấu hiệu đặc trưng của chế độ dân chủ mới. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn tình trạng người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Đảng tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Vì thế, thực hành dân chủ trong Đảng đòi hỏi phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng, “Phải thật sự thi hành dân chủ trong Đảng và trong quần chúng”. Đảng phải khuyến khích nhân dân trong vai trò làm chủ “giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ”. Điều đó có ý nghĩa lớn trong phát triển nền dân chủ mới, giúp cho Đảng phòng, tránh được tệ quan liêu hóa, xa rời nhân dân. Để phát huy dân chủ, Đảng có trách nhiệm làm cho mỗi người dân “phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”họ phải biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Đó là những vấn đề có liên quan trực tiếp tới quá trình thực hành và phát triển dân chủ trong Đảng và trong xã hội. Một trong những vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm là phòng, chống việc làm đi ngược với lợi ích của quần chúng, biểu hiện lệch lạc trong quá trình dân chủ hóa. Người lên án hiện tượng một số cán bộ “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ”. Người còn chỉ rõ: “Tác phong của những “ông quan liêu” là thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ và kỷ luật của Đảng có mối quan hệ biện chứng, là hai mặt không thể tách rời trong một thể thống nhất của chế độ sinh hoạt đảng. Người cho rằng, dân chủ phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật” và “thống nhất ý chí, thống nhất hành động, thống nhất kỷ luật, tập trung lãnh đạo là việc cực kỳ cần thiết và cực kỳ quan trọng”. Theo Người, “Trong nội bộ Đảng có dân chủ rộng rãi, đồng thời có kỷ luật nghiêm khắc”; do đó, phải kiên quyết chống lời nói và việc làm tự do vô tổ chức, như “không xét thời gian, địa điểm, điều kiện mà nói lung tung; tự do hành động; dân chủ quá trớn”.

2- Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để phát huy dân chủ, để cán bộ, đảng viên được phát huy tối đa năng lực cá nhân, tạo sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội chính là cách thức phát huy hiệu quả vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Vận dụng và phát triển tư tưởng về thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã cụ thể hóa trong Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Nghị quyết Đại hội các khóa và từng bước hoàn thiện trong nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, trong hoạt động thực tiễn của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên.

Những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, của công tác xây dựng Đảng là thước đo cho những giá trị đạt được về thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội. Thực tiễn cho thấy, dân chủ ngày càng được thực hiện tốt hơn qua từng năm và qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Dân chủ trong Đảng được mở rộng đúng hướng, từ đó tăng cường đoàn kết thống nhất trong nội bộ Đảng; đồng thời, phát hiện và ngăn ngừa nhiều việc làm sai trái, xử lý nghiêm không ít tổ chức đảng và đảng viên vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đề cập việc có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ cán bộ, đảng viên có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng đều được lấy ý kiến rộng rãi trong Đảng và trong xã hội. Trong công tác cán bộ, việc lấy phiếu tín nhiệm, ứng cử, đề cử đều được đưa vào quy định của Đảng, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được đẩy mạnh, đi vào chiều sâu, theo phương châm “trong trước, ngoài sau”, “trên trước, dưới sau”, “cấp trên nêu gương cho cấp dưới”, thực hành dân chủ được quán triệt và yêu cầu thực hiện trong tất cả hoạt động của Đảng, từ công tác cán bộ, khen thưởng, kỷ luật và “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” khi xử lý sai phạm.

Trong các nhiệm kỳ gần đây, thực hành dân chủ trong Đảng tiếp tục được mở rộng, phát huy bằng những quy chế, quy định chặt chẽ hơn, như Quy định của Bộ Chính trị báo cáo công việc và hoạt động giữa hai kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương; các cấp ủy có trách nhiệm báo cáo sự lãnh đạo, chỉ đạo giữa hai kỳ họp. Quy định thời gian tiến hành tự phê bình và phê bình, lấy phiếu tín nhiệm cán bộ, đảng viên từ cơ quan cao nhất đến tổ chức cơ sở, nhân dân góp ý xây dựng Đảng. Các quy chế về thông tin, cung cấp thông tin, bảo mật thông tin được tăng cường.

Cùng với đẩy mạnh thực hành dân chủ trong Đảng, việc thực hành dân chủ trong các cơ quan nhà nước được chú trọng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) xác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “Là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), tiếp tục khẳng định và nêu rõ hơn vấn đề này: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa các Hiến pháp trước đó, trên cơ sở truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam, quán triệt việc lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, Hiến pháp năm 2013 đã cụ thể hóa tư tưởng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân.

Trong sự vận hành của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, Đảng ta nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phải bảo đảm “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” thông qua kiểm soát chặt chẽ việc thực thi quyền lực của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Trong gần 40 năm đổi mới vừa qua, Đảng đã chỉ đạo xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đạt nhiều kết quả trong thực tiễn. Nhiều văn bản liên quan được chỉ đạo xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện hiệu quả trong đời sống xã hội. Trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, nhất là nhiệm kỳ Đại hội XII và hơn nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, Bộ Chính trị đã ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 26-10-2022, về phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng lần lượt được ban hành, như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở...

Tuy nhiên, để dân chủ thấm sâu trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội..., chúng ta còn nhiều việc phải làm. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về dân chủ và phát huy dân chủ phần nào chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn, đặc biệt trong điều kiện mới, như phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy công nghệ thông tin, công nghệ số, mạng xã hội phát triển nhanh chóng, mở ra nhiều cơ hội đồng thời đưa đến nhiều thách thức cho việc thực hành dân chủ,... Việc thực hành dân chủ có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, nhiều mặt chưa gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện pháp luật, kỷ luật, kỷ cương. Tình trạng tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, báo cáo không trung thực, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cho một số nghị quyết của Đảng khó vào cuộc sống. Một số tổ chức đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn kịp thời; dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết, chất lượng sinh hoạt đảng giảm sút... Đại hội XIII của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”.

3- Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta là một đảng cách mạng, một đảng vì dân, vì nước”. Người cũng lưu ý: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, vào Đảng không phải là để “làm quan cách mạng”, để “thăng quan tiến chức”, để “một người làm quan cả họ được nhờ”, “đè đầu cưỡi cổ dân chúng như dưới thời thực dân, phong kiến”,... Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải ý thức rất rõ trách nhiệm lịch sử và vinh quang khi được nhân dân và dân tộc trao sứ mệnh lãnh đạo, cầm quyền, để quyết tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, theo đó: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”. Trong bản Di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò quyết định trong quá trình phát huy dân chủ. Dân chủ trong Đảng là một trong những tiền đề chủ yếu để thúc đẩy dân chủ trong xã hội. Đứng trước thuận lợi, thời cơ mới của đất nước sau gần 40 năm đổi mới; đối diện với nhiều khó khăn, thách thức đan xen trong quá trình phát triển đất nước, Đảng ta ngày càng nhận rõ sức mạnh của dân chủ và phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội.

Để thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách thực chất, hiệu quả, trước hết cần giáo dục cho cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội, làm cho họ nhận thức rõ sức mạnh và ý nghĩa hết sức to lớn của dân chủ đối với Đảng, với chế độ. Cùng với đó, quy định cụ thể, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong mọi hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên; giúp cho cán bộ, đảng viên tự giác, nghiêm túc, thường xuyên thực hiện và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, theo hướng mở rộng dân chủ trong tất cả các khâu, từ tuyển dụng, tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến bổ nhiệm, giới thiệu, bầu cử, sử dụng, thực hiện chính sách đối với cán bộ,... bảo đảm lựa chọn và sử dụng được người có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Hoàn thiện thể chế và cơ chế kiểm soát quyền lực đi đôi với bảo vệ, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung; thực hiện quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là của cấp ủy, người đứng đầu bảo đảm thực chất, thiết thực đồng thời với đẩy mạnh việc noi gương, học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đổi mới mạnh mẽ nội dung và hình thức sinh hoạt đảng theo hướng phát huy hơn nữa tinh thần dân chủ, tiếp thu ý kiến góp ý. Có cơ chế cụ thể để phát huy mạnh mẽ vai trò và tinh thần trách nhiệm của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, đặc biệt là trong giám sát việc thực hiện nêu gương, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. 

Bản Di chúc thiêng liêng, trong đó có những lời căn dặn quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, luôn là kim chỉ nam, là ánh sáng soi đường để Đảng và nhân dân ta thêm kiên định, vững vàng trên nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện, xứng danh Đảng “là đạo đức, là văn minh”, tiêu biểu cho trí tuệ, lương tri, phẩm giá của dân tộc và thời đại./.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Pháp.

 

Nhân dịp tham dự Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 19 và thăm chính thức Cộng hòa Pháp, tối 5-10 theo giờ địa phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã có cuộc gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Pháp tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam, thủ đô Paris.

Tham dự cuộc gặp có hơn 100 đại diện kiều bào đang sinh sống, lao động và học tập tại Pháp, đại diện Liên hiệp Hội người Việt Nam tại châu Âu, cùng các cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và các cơ quan đại diện thường trú tại Pháp.

Mở đầu cuộc gặp mặt, trong không gian đậm chất văn hóa, Hợp ca Quê hương – dàn hợp xướng do kiều bào tại Pháp thành lập đã biểu diễn những ca khúc ngợi ca Tổ quốc và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện truyền thống của một cộng đồng được chính Bác Hồ gây dựng cách đây hơn một thế kỷ.

Báo cáo với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Đoàn, Đại sứ Việt Nam tại Pháp Đinh Toàn Thắng cho biết, hiện cộng đồng người Việt tại Pháp có hơn 300.000 người; có khoảng hơn 200 hội đoàn; đội ngũ trí thức đông đảo với khoảng 50.000 người và hàng ngàn doanh nhân. Đây là một cộng đồng hội nhập tốt, luôn chú trọng giữ gìn bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc cũng như luôn nỗ lực xây dựng, phát triển phong trào cộng đồng vững mạnh, nêu cao tinh thần hướng về quê hương, đất nước. Trước những thiệt hại do cơn bão số 3 gây ra, hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức hội đoàn, cộng đồng doanh nghiệp, kiều bào và bạn bè Pháp cùng các cán bộ, nhân viên cơ quan đại diện Việt Nam tại Pháp đã quyên góp được gần 2 tỷ đồng ủng hộ đồng bào trong nước.

Trong không khí thân mật của buổi gặp, ông Vương Hữu Nhân, Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp bày tỏ tự hào là thành viên của Hội người Việt Nam tại Pháp, tiền thân là “Nhóm những người An Nam yêu nước” do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Trải qua bao thời gian, các thế hệ lãnh đạo của Hội luôn bám sát tinh thần chung trong mọi hoạt động là “Gắn bó với Tổ quốc”, “Tổ quốc trên hết, con người trên hết”, “Đoàn kết mạnh mẽ, tôn trọng lẫn nhau”. Cộng đồng người Việt Nam tại Pháp dù sinh ra ở Việt Nam hay tại Pháp vẫn luôn gắn bó và hướng về quê hương đất nước, quan tâm đến đồng bào ở quê nhà và luôn ủng hộ một nước Việt Nam độc lập và có chủ quyền.

Ông Nguyễn Hải Nam, Chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Nam tại Pháp (ABVietFrance) cho biết, thời gian qua, ABVietFrance đã tổ chức nhiều hoạt động phong phú, đa dạng nhằm thúc đẩy đầu tư, thương mại giữa Pháp, các nước châu Âu và Việt Nam. Bên cạnh đó, với vai trò Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội người Việt Nam tại châu Âu cho biết, Liên hiệp Hội được thành lập từ năm 2016, đến nay, qua hai kỳ Đại hội, Liên hiệp Hội đã trở thành tổ chức lớn nhất quy tụ cộng đồng người Việt Nam tại châu Âu, có nhiều hoạt động hướng về quê hương, cũng như đóng góp cho việc thúc đẩy quan hệ Việt Nam với các nước châu Âu. Nhân dịp này, ông Nguyễn Hải Nam đề xuất một số kiến nghị liên quan tới tạo thuận lợi cho việc trở lại quốc tịch Việt Nam và xin quốc tịch Việt Nam, tháo gỡ khó khăn trong việc cấp căn cước cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài được bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội.

Đại diện Hội Thanh niên, sinh viên Việt Nam tại Pháp, em Nguyễn Thu Vân khẳng định với tinh thần “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, thanh niên, sinh viên Việt Nam tại Pháp luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào hướng đến cộng đồng người Việt nói chung và cộng đồng thanh niên, sinh viên nói riêng. Hội mong muốn có sự hỗ trợ tài chính cho phong trào cộng đồng từ ngân sách hoặc từ các doanh nghiệp trong nước; đề xuất ý tưởng tổ chức Diễn đàn dành riêng cho giới trẻ Việt Nam ở nước ngoài; mong muốn các bộ, ngành liên quan trong nước hỗ trợ Hội tổ chức Diễn đàn về khoa học công nghệ cho cộng đồng trí thức trẻ trong lĩnh vực khoa học và doanh nghiệp trẻ tại Pháp.

Ân cần hỏi thăm bà con, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ vui mừng, xúc động được gặp gỡ đại diện các hội đoàn, kiều bào tại Pháp và đại diện Liên hiệp Hội người Việt Nam tại châu Âu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết, chuyến công tác tham dự Hội nghị Cấp cao Pháp ngữ lần thứ 19 nhằm tiếp tục khẳng định vai trò của Việt Nam là thành viên chủ chốt của cộng đồng Pháp ngữ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của Việt Nam vào các hoạt động của cộng đồng Pháp ngữ nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung. Thông tin về chuyến thăm Pháp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết, đây là chuyến thăm đầu tiên tới Pháp với tư cách Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, nhằm làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Pháp, hướng tới việc nâng cấp quan hệ hai nước thời gian tới. Trong các cuộc hội đàm với lãnh đạo cấp cao Pháp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Pháp tiếp tục quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng ta tại Pháp sinh sống, học tập và làm việc ổn định, tiếp tục hội nhập tích cực, đóng góp cho sự phát triển của sở tại và quan hệ hai nước.

Thông tin về tình hình đất nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết mặc dù tình hình khu vực và thế giới còn nhiều bất ổn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, sự chung sức, đồng lòng của đồng bào ta ở nước ngoài, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng trên mọi lĩnh vực; nhấn mạnh trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tập trung mọi nguồn lực, bứt tốc, phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu Đại hội Đảng XIII đề ra để kiến tạo kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình đó, rất cần sự chung tay, đóng góp, chung sức, đồng lòng của cộng đồng 6 triệu đồng bào ta ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh Đảng và Nhà nước luôn ghi nhận, đánh giá cao những đóng góp của các thế hệ kiều bào tại Pháp, của Hội người Việt Nam tại Pháp cho đất nước trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong sự nghiệp phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hoan nghênh vai trò nòng cốt, tích cực của các hội đoàn người Việt tại Pháp và Liên hiệp Hội người Việt Nam tại châu Âu trong việc đoàn kết, tập hợp, hỗ trợ cộng đồng, giữ gìn tiếng Việt và bản sắc văn hóa dân tộc, luôn đồng hành, phát huy tinh thần “tương thân, tương ái” với đồng bào trong nước mỗi khi gặp khó khăn, hoạn nạn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định Đảng, Nhà nước luôn quan tâm tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và cộng đồng người Việt Nam tại Pháp nói riêng; coi cộng đồng là bộ phận máu thịt không tách rời, là nguồn lực quan trọng của dân tộc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong cộng đồng người Việt tại Pháp nói riêng và cộng đồng người Việt Nam tại châu Âu nói chung dù ở bất kỳ nơi đâu luôn phát huy tinh thần đoàn kết, lòng tự hào dân tộc, hướng về quê hương, đóng góp cho sự phát triển của đất nước, phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, gìn giữ tiếng Việt cho thế hệ mai sau.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã trao đổi, giải đáp những kiến nghị, đề xuất của bà con, đồng thời đề nghị các bộ, ngành, cơ quan liên quan tập trung rà soát, nghiên cứu, sớm có giải pháp phù hợp trên tinh thần kịp thời, thấu đáo và triển khai các biện pháp quyết liệt hơn nữa để đáp ứng nguyện vọng chính đáng của đồng bào ta ở Pháp nói riêng và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Đại sứ quán tiếp tục làm tốt công tác cộng đồng và bảo hộ công dân nhằm hỗ trợ cộng đồng ổn định cuộc sống, hội nhập tốt vào xã hội sở tại, giữ gìn tiếng Việt và bản sắc văn hóa dân tộc, là cầu nối tăng cường quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.

Vẻ đẹp bộ đội Trung đoàn 98 qua “Ký ức Làng Nủ”.

 

“Kỷ niệm chẳng là gì/ Khi lòng ta vội xóa/ Nhưng sẽ là tất cả/ Khi lòng người còn ghi”. Bất chợt tôi nhớ đến câu nói giản dị mà ý nghĩa ấy khi đọc được cuốn nội san “Ký ức Làng Nủ” do Thượng tá Bùi Cường Sơn, Chính ủy Trung đoàn 98 (Sư đoàn 316, Quân khu 2) chia sẻ. 54 trang được trình bày khá bắt mắt trong cuốn nội san “Ký ức Làng Nủ” với những dòng tâm sự, hình ảnh xúc động của cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã tái hiện chân thực quá trình thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn ở Làng Nủ (xã Phúc Khánh, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai) trong những ngày tháng 9 vừa qua.

Đoàn kết, đồng lòng giúp dân bằng cả trái tim

 Lần theo từng trang giấy, tôi được nhìn lại những gương mặt cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 98 qua mỗi bức hình. Những ngày ở Làng Nủ, tôi chứng kiến họ trải qua bao vất vả, gian nan khi tìm kiếm nạn nhân mất tích. Cho đến ngày về đơn vị, những ký ức được bộ đội tái hiện lại qua lời tâm sự chân thành, xúc động sâu sắc.

Trong ký ức của Trung tá Nguyễn Ngọc Ba, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98, đêm 10-9-2024 là một đêm thức trắng. Trước đó, ban ngày, anh chỉ huy đơn vị làm nhiệm vụ giúp dân chống lũ ở Hạ Hòa (Phú Thọ) trong mưa dầm gió lạnh. Bữa tối ăn vội, chưa kịp ngả lưng thì 23 giờ khuya, chuông điện thoại đổ liên hồi. Anh nhấc máy, tiếng của đồng chí Sư đoàn trưởng ra chỉ thị: Đơn vị nhanh chóng làm công tác chuẩn bị, cơ động gấp thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn ở Làng Nủ. Lệnh khẩn được truyền trong đêm từ thủ trưởng Trung đoàn tới từng chiến sĩ. Cả đêm, đơn vị chuẩn bị dụng cụ, phương tiện, quân trang, các vật dụng cần thiết. Không khí khi đó sục sôi như bước vào trận chiến đấu mới. Lúc 5 giờ, trời vẫn tối mịt mùng, mưa vẫn không ngừng rơi. Những bước chân vội vã, vai đeo ba lô, mọi người choàng áo mưa lên đường. 300 cán bộ, chiến sĩ hành quân làm nhiệm vụ đặc biệt dưới trời mưa tầm tã. Những đoàn xe nối đuôi nhau ôm cua sườn núi liên tiếp có những đoạn sạt lở.

Khi tới Làng Nủ, trước mắt bộ đội là một bình địa lổng chổng cọc gỗ, thân tre, mái tôn, xe máy, thùng nước, xác động vật sộc lên mùi tanh nồng. Nước vẫn cuồn cuộn chảy thành dòng từ trên cao xuống đục ngàu. Không ai nghĩ rằng ngôi làng nhỏ dưới thung lũng xanh lại xảy ra thảm kịch chỉ trong giây lát. Dòng nước lẫn bùn đất, đá vùi lấp nhiều nạn nhân. Người thân thoát nạn trở về, tiếng gào thét ai oán. Chứng kiến cảnh tượng tang thương, Binh nhất Triệu Văn Tiến, chiến sĩ Đại đội 5, Tiểu đoàn 8 đã viết: “Tôi như chết lặng trước đống bùn nhão, cây cối đổ gãy, dưới lớp bùn sâu là tài sản và những người dân bị nạn vẫn còn nằm lại. Tôi và đồng đội đã động viên nhau càng khó khăn càng phải nỗ lực để tìm kiếm những nạn nhân xấu số”.

Gian khó không sờn lòng, hiểm nguy không chùn bước

 Những người lính mặc áo phao, đeo găng tay, chân đi ủng, mang trên mình dây kéo, bình tông, áo mưa, cầm gậy xông xáo tiến về phía sạt lở như bước vào trận chiến đấu vô cùng gian nan. Dưới sình lầy, cây cọc, rác thải ngập ngụa, chứa đầy vật sắc nhọn. Binh nhất Vàng Gở Xa, chiến sĩ Đại đội 5, Tiểu đoàn 8 viết: “Tôi sẽ không bao giờ quên được hình ảnh người đồng đội dũng cảm Thào Mí Lình trong quá trình tìm kiếm bị đinh sắt xuyên vào chân, máu chảy rất nhiều nhưng vẫn cố gắng chịu đựng đau đớn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Cho đến khi vết thương quá nặng buộc phải về điều trị tại Bệnh viện Quân y 109, đồng chí đã bật khóc vì không được tìm kiếm cùng đồng đội”.

Mảnh đất Làng Nủ đã thấm mồ hôi, nước mắt và cả máu của người chiến sĩ. Vất vả, hiểm nguy luôn thường trực khi điều kiện địa hình, thời tiết không ủng hộ. Ban ngày trời nắng như rang nhưng đêm xuống lại sầm sập đổ mưa. “Chúng tôi được thủ trưởng giao nhiệm vụ phải tuyệt đối an toàn về mọi mặt, đi đủ về đủ,  khi có tín hiệu lập tức cơ động lên cao. Tôi nhớ lần đang tìm kiếm ở dưới thung lũng, bỗng từ phía chân núi sạt lở có tiếng động lớn và nước từ con suối đột nhiên tràn về. Tiếng kẻng vang lên cùng lời hô hoán “nước lũ... nước lũ...”. Chúng tôi lao nhanh lên bờ và may mắn thoát khỏi “lưỡi hái tử thần”, Binh nhất Thào A Phử, chiến sĩ Đại đội 8, Tiểu đoàn 8 đã viết như vậy.

Bao nhiêu gian khó và cả những hiểm nguy luôn rình rập. Thế nhưng những người lính không chùn bước. Thêm một nguồn động viên rất lớn, đó chính là ngày 12-9-2024, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đích thân về tận Làng Nủ. Binh nhất Triệu La Cáo, chiến sĩ Đại đội 6, Tiểu đoàn 8, xúc động bày tỏ: “Trước đây, tôi không bao giờ nghĩ có ngày được gặp Thủ tướng Chính phủ. Khi thấy chúng tôi, Thủ tướng bước chân nhanh hơn, chống gậy lội xuống bùn sâu vào tận vị trí tìm kiếm để chỉ đạo, truyền thụ kinh nghiệm và động viên cán bộ, chiến sĩ đang thực hiện nhiệm vụ”.

Ấm mãi tình quân dân

 Sau những ngày miệt mài tìm kiếm cũng đến ngày phải chia xa Làng Nủ. Đêm hôm trước chia tay, trong căn nhà sàn nhỏ, Hạ sĩ Đỗ Tiến Nam, chiến sĩ Đại đội 6, Tiểu đoàn 8 sắp đặt lại đồ dùng. Mảnh đất này anh đã đổ mồ hôi và cả những giọt máu thấm bùn. Trong quá trình tìm kiếm nạn nhân, anh đã bị vật sắc nhọn đâm vào chân và phải đi viện điều trị. Khi vết thương tạm ổn, anh đã xung phong trở lại cùng đồng đội tiếp tục công việc tìm kiếm nạn nhân. Vết thương nay đã liền sẹo nhưng nỗi nhớ mảnh đất này thì cứ vấn vương trong tâm hồn người chiến sĩ trẻ. Đêm khuya, anh vẫn còn thao thức khi sắp phải chia xa mảnh đất đau thương nhưng thắm đượm nghĩa tình.

Những dòng viết về buổi chiều chia tay bà con thực sự xúc động. Ánh hoàng hôn nhạt nhòa hắt từ trên đỉnh núi xuống dưới bãi bùn lầy. Xa xa còn xót lại những vạt lúa, nương sắn, bãi ngô trổ cờ. Dọc con đường từ trung tâm Nhà văn hóa thôn Làng Nủ, đồng bào đứng chật hai bên đường. Con đường dẫn vào thung lũng Làng Nủ trước đó mươi hôm ngập trong bùn lầy nhão nhoét đến khi bộ đội hành quân trở về đơn vị thực hiện nhiệm vụ đã khô lại chằng chịt vết chân. Những người đàn ông nắm chặt tay bộ đội, các bà, các mẹ ôm vai chiến sĩ rồi khóc. Nước mắt của sự mến thương, cảm phục và biết ơn. Cứ thế tay nắm tay, nước mắt lại rơi. Tất cả đều xúc động rưng rưng không nói nên lời. Binh nhất Vàng Seo Chư, chiến sĩ Trung đội Thông tin, Tiểu đoàn 8 đã viết: “Những chiếc bánh chưng, những gói cơm nắm, chai nước lọc là tình cảm mà người dân nơi đây gửi gắm cho chúng tôi. Trước khi về đơn vị, tôi đã rơi nước mắt khi bà con dành tình cảm cho mình. Đó là những ký ức khó quên trong đời quân ngũ”.

Lan tỏa giá trị cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ

 Biết bao kỷ niệm của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 98 được gói ghém trong cuốn nội san “Ký ức Làng Nủ”. Những ký ức không chỉ tái hiện câu chuyện về một ngôi làng mà còn là hành trình của lòng dũng cảm, tinh thần đoàn kết và sự hy sinh. Những ngày tháng ấy, khi dòng nước lũ cuốn trôi mọi thứ, những người lính đã cùng nhau vượt qua hiểm nguy, quyết tâm tìm kiếm và cứu giúp người dân trong làng. Mỗi bước chân trên con đường lầy lội đều mang theo nỗi lo âu nhưng cũng tràn đầy sự nhiệt huyết, lòng nhân ái, với tinh thần sẵn sàng xả thân vì nhân dân phục vụ. Cuốn nội san được cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 98 nâng niu, trân trọng, trở thành tài liệu giáo dục truyền thống, bồi đắp thêm những giá trị cao đẹp cho bộ đội.

Mong muốn gửi gắm những thông điệp ý nghĩa, Thượng tá Bùi Cường Sơn đã viết: “Ký ức Làng Nủ" không chỉ ghi lại kỷ niệm đau thương mà còn có những khoảnh khắc đẹp đẽ của tình người trong bão tố. Đó là hình ảnh những đồng đội sát cánh bên nhau, những ánh mắt tràn đầy quyết tâm và sự sẻ chia giữa những con người trong hoàn cảnh khó khăn. Qua từng trang viết, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 98 muốn gửi gắm thông điệp về sức mạnh vượt lên trên mọi thử thách và niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp. Hy vọng rằng “Ký ức Làng Nủ” sẽ chạm đến trái tim bạn đọc để mỗi chúng ta đều nhớ rằng, dù thiên nhiên có tàn khốc đến đâu thì tình người vẫn luôn tỏa sáng như ngọn đèn dẫn đường trong bóng đêm!”.

Bảo đảm quyền con người ở Việt Nam nhìn từ cơn bão Yagi.

 

Cơn bão số 3 (bão Yagi) đã gây ra những thiệt hại nặng nề về tính mạng, tài sản đối với nhiều địa phương ở phía Bắc nước ta. Song qua đó đã giúp người dân trong nước và cộng đồng quốc tế nhìn nhận rõ hơn hai vấn đề, đó là: Chính sách nhất quán, những hành động cụ thể của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong bảo đảm các quyền cơ bản của người dân; bộ mặt thật của các thế lực thù địch, phản động chuyên lợi dụng vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền để chống phá Việt Nam.

Bảo vệ người dân là ưu tiên hàng đầu

Ngay từ khi bão Yagi chuẩn bị đổ bộ vào đất liền, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân các tỉnh, thành phố phía Bắc đã đã sớm đề cao tinh thần cảnh giác, đưa ra các phương án chủ động phòng, chống. Thế nhưng, thật khó để tránh được thiệt hại nặng nề khi Yagi được đánh giá là siêu bão mạnh nhất trong 30 năm qua trên Biển Đông và trong 70 năm qua trên đất liền.

Ngay sau khi bão số 3 suy yếu, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tổ chức cuộc họp về chỉ đạo khắc phục hậu quả do bão gây ra, trong đó thống nhất phải huy động tất cả các nguồn lực để nhanh chóng bảo đảm an toàn và ổn định đời sống cho nhân dân sớm nhất có thể, đồng thời đề ra một số mục tiêu nhằm khắc phục hậu quả cơn bão. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là tập trung cao độ cho việc cứu người, rà soát, tìm kiếm người mất tích; cứu chữa những người bị thương; lo hậu sự cho những người xấu số. Bên cạnh đó, không để người dân thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu chỗ ở, không có nơi nương tựa; không để các em học sinh thiếu lớp, thiếu trường; không để người bệnh không có nơi khám, chữa bệnh.

Với tinh thần tất cả vì tính mạng, tài sản và cuộc sống ổn định của nhân dân, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký công điện về việc khẩn trương cung cấp lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm phục vụ đời sống của người dân bị ảnh hưởng bởi cơn bão Yagi, đồng thời quyết định trích dự phòng ngân sách Trung ương, xuất cấp gạo từ dự trữ quốc gia để hỗ trợ các gia đình bị thiệt hại, không để người dân thiếu lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm sau bão.

Thông qua các phương tiện truyền thông và mạng xã hội, nhân dân thấy các lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước trực tiếp đến những điểm nóng về mưa lũ để có chỉ đạo sát sao công tác khắc phục hậu quả và thăm hỏi, động viên các gia đình bị thiệt hại. Song song với đó là hình ảnh các cán bộ, chiến sĩ lực lượng Quân đội, Công an, dân quân tự vệ không quản nguy hiểm và thời tiết khắc nghiệt tham gia công tác cứu hộ, cứu nạn, vận chuyển lương thực, nước uống cho người dân ở các khu vực bị cô lập.

Cũng trong cơn bão Yagi, chúng ta đã được chứng kiến một “làn sóng” các chương trình quyên góp nhằm giúp đỡ người dân ở các địa phương bị ảnh hưởng. Đó không chỉ là tiền, là gạo, là nhu yếu phẩm mà trên hết là sự chia sẻ bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, "lá lành đùm lá rách". Ngay cả người dân ở các tỉnh miền Trung vốn thường xuyên phải chống chọi với mưa bão, lũ lụt nay cũng tự nguyện góp công, góp của gửi nhu yếu phẩm ra giúp đỡ đồng bào miền Bắc. Bên cạnh đó là sự chia sẻ về tinh thần, sự hỗ trợ quý báu, kịp thời về vật chất từ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, các nước và các tổ chức khu vực, quốc tế.

Tất nhiên, bão số 3 đã để lại những bài học lớn, cần từng bước khắc phục liên quan tới việc tổ chức, chỉ đạo phối hợp phòng, chống thiên tai ở các cấp, vấn đề nhân lực, hạ tầng hay cụ thể nhất là phương tiện và trang thiết bị phục vụ công tác ứng phó, cứu hộ, cứu nạn... Nhưng nhìn chung, nhờ sự ứng phó, khắc phục một cách quyết liệt và kịp thời, thiệt hại do bão gây ra đã giảm phần nào, cuộc sống và công việc của người dân, doanh nghiệp ở các địa phương trực tiếp bị ảnh hưởng bởi bão Yagi cũng dần ổn định trở lại.

Những hành động trong cơn bão Yagi chính là minh chứng cụ thể cho nỗ lực của Việt Nam trong thực thi các cam kết quốc tế về quyền con người. Qua đó còn khẳng định chính sách phát triển lấy con người làm trung tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong đó Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Bão Yagi cũng chứng minh một thực tế khác, đó là chính sách bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam nhận được sự đồng lòng, ủng hộ và vào cuộc của cả hệ thống chính trị, người dân, doanh nghiệp cũng như sự ủng hộ, hợp tác của bạn bè, đối tác quốc tế.

Bộ mặt thật của những kẻ chuyên chống phá

Phản ứng của Nhà nước và nhân dân Việt Nam trước, trong và sau cơn bão Yagi đã được dư luận quốc tế đánh giá cao, dù rằng vẫn còn đó những tổ chức, cá nhân lợi dụng thiên tai để phủ nhận những thành quả về bảo đảm quyền con người ở nước ta.

Đề cập tới những thiệt hại và cách Việt Nam chống chọi trước bão Yagi, trong bài viết đăng tải hồi tháng 9 vừa qua, tờ Enfoque Noticias của Mexico đã đề cao những nỗ lực phi thường của Chính phủ và người dân Việt Nam trong công tác phòng, chống bão, cứu hộ, cứu nạn khi phải đối mặt với bão Yagi. Tờ báo này đưa ra dẫn chứng cụ thể, đó là bên cạnh việc huy động tổng lực các lực lượng chức năng, Việt Nam đã triển khai hàng trăm nghìn quân nhân tham gia công tác cứu hộ, cứu nạn, qua đó giúp sơ tán người dân đến khu vực an toàn.

Gần đây nhất, trong khuôn khổ Khóa họp thường kỳ lần thứ 57 tại Geneva (Thụy Sĩ), Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã thông qua kết quả Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV đối với Việt Nam. Đáng chú ý, tại phiên họp này, đại diện các nước và nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ đã hoan nghênh những nỗ lực và thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, đặc biệt đặt trong bối cảnh phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thiên tai. Các nước cũng ghi nhận những tiến bộ mọi mặt của Việt Nam trong hoàn thiện thể chế, pháp luật về quyền con người, phát triển kinh tế-xã hội, đổi mới sáng tạo, giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và quyền của các nhóm dễ bị tổn thương.

Thế nhưng, trong thời điểm cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp trong nước đồng lòng hướng về các địa phương chịu hậu quả nặng nề bởi bão Yagi, khi các nước bạn bè, đối tác quốc tế dành cho người dân vùng bão lũ của Việt Nam sự đồng cảm, chia sẻ quý báu về cả vật chất và tinh thần thì một số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong lại làm điều ngược lại, điển hình nhất trong số đó là tổ chức Việt Tân. Ngay từ lúc bão Yagi đổ bộ vào các tỉnh phía Bắc nước ta, trên trang Facebook của Việt Tân thường xuyên đăng tải những thông tin xuyên tạc, đại ý như: Đảng và Nhà nước Việt Nam phản ứng chậm chạp, thiếu khoa học, thậm chí thờ ơ, khoanh tay đứng nhìn người dân kêu khóc và đơn thân chống chọi với mưa bão, lũ lụt...

Bên cạnh đó, vẫn với phong cách “bới bèo ra bọ” thường thấy, tổ chức phản động Việt Tân còn lôi ra đủ loại vấn đề như cơ sở hạ tầng, cây xanh, phương tiện cứu hộ, cứu nạn, thậm chí là công tác thiện nguyện... nhằm hạ uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chẳng hạn, khi phong trào quyên góp ủng hộ đồng bào bị ảnh hưởng bởi bão Yagi đang diễn ra ở khắp các địa phương trên cả nước, Việt Tân cố tình suy luận rằng trong lúc nhân dân Việt Nam khó khăn nhất, cần sự giúp đỡ nhất thì Đảng và Nhà nước lại phó mặc trách nhiệm cho các tổ chức, doanh nghiệp, người dân và giới nghệ sĩ. Dễ thấy, với hầu hết là thông tin tiêu cực, tổ chức này muốn "dựa hơi" cơn bão Yagi để bi kịch hóa cuộc sống của người dân tại các địa phương bị ảnh hưởng, khiến họ hoài nghi về vai trò lãnh đạo, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ tính mạng, tài sản và các quyền của nhân dân.

Đáng mừng là những thông tin tiêu cực, phản cảm mà Việt Tân tung ra trong giai đoạn bão Yagi xem ra chỉ có tác dụng chiều lòng những kẻ “cùng chung chí hướng” với tổ chức này. Bằng chứng là rất nhiều người thẳng thừng đáp trả rằng, “độc chiêu” chống phá của Việt Tân giờ đây không có gì đặc biệt ngoài luận điệu xuyên tạc, bới móc.

Nói cách khác, bão Yagi đi qua cũng là lúc tấm mặt nạ đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền của Việt Tân bị lật tung, phơi bày rõ chân tướng của một tổ chức chuyên chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Phê phán các luận điệu xuyên tạc về chính sách dân tộc ở Việt Nam

Ở Việt Nam, chính sách dân tộc là những quyết sách của Đảng, Nhà nước tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân tộc để phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo quốc phòng, an ninh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hướng tới mục tiêu bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các vùng và các dân tộc. Điều này thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, tình cảm, trách nhiệm của cả nước đối với những đóng góp của đồng bào các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bất chấp những nỗ lực thực hiện và thành quả vượt bậc trong xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch vẫn ra sức xuyên tạc, chống phá bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn. Chúng cho rằng, Nhà nước hầu như không, hoặc rất ít quan tâm, dẫn đến đồng bào thiệt thòi, khi về chính trị thì đồng bào không có bình đẳng, tiếng nói để “bảo vệ” mình; về kinh tế, thì vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít được “đầu tư”, nên cuộc sống đồng bào ngày càng khó khăn, bà con không có tư liệu sản xuất, buộc phải “nhượng” đất cho người Kinh, tiếp tục mưu sinh bằng cách phá rừng…; về văn hóa, do bị “đồng hóa” văn hóa người Kinh, khiến các tộc người mất đi bản sắc truyền thống vốn có; về xã hội, thể trạng, học vấn, điều kiện phát triển của đồng bào so với người Kinh có khoảng cách ngày càng lớn. Chúng ra sức kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc với nhau, giữa đồng bào dân tộc thiểu số với hệ thống chính trị, biểu hiện bằng việc đồng bào bị lôi kéo tham gia các cuộc biểu tình, bạo loạn, tạo ra các điểm nóng chính trị, gây ra nhiều hậu quả cho xã hội.

Luận cứ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, đó là:

Một là, thực tiễn đã chứng minh, chính sách dân tộc ở nước ta được sớm quan tâm và có từ rất sớm, không phải như những luận điệu cho rằng thời gian gần đây khi mà nhiều vấn đề “nóng” liên quan tới đồng bào dân tộc thiểu số, được quốc tế “quan tâm và vào cuộc” thì các chính sách dân tộc mới được chúng ta đề ra và thực hiện.

Từ năm 1930 cho đến nay, Đảng ta đã luôn nhất quán quan điểm: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển”. Đặc biệt, trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm 1986, vấn đề dân tộc đã tiếp tục được quan tâm, ưu tiên thực hiện thông qua một số Nghị quyết lớn như: Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, tình hình miền núi và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới; Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới… với rất nhiều điểm mới, mang tính đột phá, là định hướng để Nhà nước triển khai các Nghị quyết, Chương trình lớn về phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hiện nay, với 85 luật, bộ luật, 52 nghị định của Chính phủ, 49 thông tư và thông tư liên tịch quy định các nội dung về công tác dân tộc, đã tạo cơ chế phát triển toàn diện, hướng tới mục tiêu bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các vùng và các dân tộc ở Việt Nam.

 Hai là, trong thời kỳ đổi mới, việc xây dựng và triển khai thực hiện chính sách dân tộc đã mang tính đồng bộ, toàn diện. Hoàn toàn không có chuyện giữa việc xây dựng và thực hiện các chính sách dân tộc có một “khoảng cách xa” và “độ vênh lớn”, các chính sách dân tộc vì đó “khó có khả năng phát huy hiệu quả”. Trong giai đoạn đổi mới đất nước, có thể nói việc xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, mang nhiều ý nghĩa lịch sử.

Với 53 dân tộc thiểu số với 14.119.256 người, chiếm 14,68% dân số cả nước, sinh sống tại 54 tỉnh, thành phố, 503 huyện và 5468 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 382 xã biên giới. Nếu như giai đoạn những năm đầu đổi mới, các chính sách mang tính trợ giúp, giúp đỡ để giải quyết các vấn đề cấp bách, liên quan trực tiếp tới đời sống của đồng bào, với các chương trình liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo, thể hiện cụ thể như các chương trình 134, 135… Thì đến những năm gần đây, hàng loạt các chính sách đã được đề ra và thực hiện, bao phủ toàn diện các lĩnh vực, đáp ứng được tính kịp thời, đồng bộ, liên kết, minh bạch.

Hiện nay, chúng ta đang có 118 chính sách ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bao gồm 54 chính sách trực tiếp cho các đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, 64 chính sách chung có ưu tiên cho đồng bào các dân tộc thiểu số3, nhiều chính sách bảo đảm được lộ trình trung hạn, dài hạn cho các mục tiêu giai đoạn 2021 - 2025, đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, với sự đề cao vai trò tham gia của đồng bào. Điểm nhấn quan trọng là bên cạnh hai Chương trình xây dựng Nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững, lần đầu tiên nước ta có Chương trình mục tiêu quốc gia dành riêng cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước.

Ba là, các luận điệu cho rằng trong triển khai các chính sách dân tộc, Đảng và Nhà nước không hề đảm bảo tính công bằng, bình đẳng, đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta “ngày càng bị ngược đãi”, bị “phân biệt đối xử”; do vậy các chính sách dân tộc thực chất chỉ mang lại lợi ích cho một nhóm người, còn đồng bào dân tộc thiểu số không được hưởng thụ gì cả, và đây chính là nguyên nhân của những bức xúc, dẫn đến những vụ việc bạo loạn của đồng bào dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, thực tiễn đã cho thấy điều ngược lai, khi mà trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước đã luôn nỗ lực ưu tiên tập trung bố trí đầu tư, hỗ trợ kinh phí nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Với tổng kinh phí giai đoạn 2003 - 2008 là khoảng 250.000 tỷ đồng, giai đoạn 2011 - 2015 là 690.000 tỷ đồng, giai đoạn 2016 - 2020 là 998.000 tỷ đồng, nguồn lực này được tập trung vào xây dựng hàng vạn công trình hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất... cho hàng trăm nghìn hộ đồng bào các dân tộc thiểu số.

Trong gần 40 năm qua, những thành tựu lớn trong thực hiện chính sách dân tộc được biểu thị rõ nét, mà người thụ hưởng chính là đồng bào dân tộc thiểu số: Kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển đúng hướng và có chuyển biến mạnh. Từ thời điểm bắt đầu đổi mới, vùng đồng bào thiểu số có mức tăng trưởng thấp, đa số người dân trong diện nghèo đói. Khi bắt đầu tiến hành các chủ trương của Đảng về đổi mưới, hằng năm tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng dân tộc thiểu số và miền núi bình quân 7%/năm, cao hơn bình quân chung của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, bình quân giảm 4%/năm; riêng các xã đặc biệt khó khăn giảm trên 4%/năm; các huyện nghèo giảm 5 - 6%/năm. Đã có 8/64 huyện nghèo thoát nghèo; 14/30 huyện hưởng cơ chế huyện nghèo thoát nghèo; 124 xã, 1.322 thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn; 1.052 xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi đạt chuẩn nông thôn mới.

Một số địa phương đã có các mô hình triển khai có hiệu quả như: Tỉnh Lâm Đồng có những mô hình: “Nhiều người giúp một người” (Hòa Nam - Di Linh); “Giúp nhau giảm nghèo nhanh, bền vững” (xã Tà Năng - Đức Trọng); phát triển kinh tế hộ sản xuất (xã B’Lá - huyện Bảo Lâm). Tỉnh Hòa Bình có mô hình khởi nghiệp trong “Liên kết phát triển trồng và sản xuất các sản phẩm của cây sachi (huyện Đà Bắc). Tỉnh Bình Phước có mô hình hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị, bền vững từ đầu vào, sản xuất hữu cơ và tiêu thụ sản phẩm hạt điều tại huyện Bù Đăng và Bù Gia Mập,… Hệ thống chính trị được củng cố vững mạnh, vai trò và tham gia vào bộ máy chính quyền cũng như những đóng góp vào đời sống xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được đảm bảo.

Năm 2019, cả nước có 605.582 đảng viên là người dân tộc thiểu số, chiếm 11,98% tổng số đảng viên cả nước. Kết quả bầu nhân sự cấp ủy tại 67 Đảng bộ trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020 - 2025 ghi nhận cấp ủy viên người dân tộc thiểu số là 389 đồng chí, đạt tỷ lệ 11,68%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,72%. Trong Quốc hội, số lượng đại biểu Quốc hội người dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã tăng dần, khóa XIII: 15,6%, khóa XIV: 17,3%, khóa XV: 17,84%. Văn hóa trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số được giữ gìn và phát huy, các thiết chế văn hóa cơ sở như nhà văn hóa, thư viện, câu lạc bộ, trung tâm sinh hoạt cộng đồng,... đã có ở 100% các làng, thôn, bản, buôn, phum, sóc.

Hiện 22 tỉnh, thành trên cả nước đang triển khai dạy và học chính thức 6 thứ tiếng, hệ phát thanh dân tộc VOV4 của Đài Tiếng nói Việt Nam hằng ngày phát 12 chương trình tiếng dân tộc thiểu số; kênh VTV5 của Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất và phát sóng 28 thứ tiếng dân tộc thiểu số với thời lượng 24/24h/ngày... Nhiều công trình văn hóa đặc sắc đã được vinh danh di sản văn hóa phi vật thể nhân loại như: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Hát then của đồng bào Tày - Nùng ở Việt Bắc… Các vấn đề xã hội được cải thiện và nâng cao.

Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển rộng khắp, kể cả ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. 100% huyện có đường đến trung tâm huyện; 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã và 97,2% thôn bản có điện lưới quốc gia; 93,9% hộ gia đình được sử dụng điện; 100% xã có trường tiểu học và trung học cơ sở; 99,7% xã có trường mầm non; 99,3% xã có trạm y tế; 65,8% xã và 76,7% thôn có nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng. Quốc phòng, an ninh được đảm bảo duy trì khi các mô hình như "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư", phong trào "Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới", “Đảm bảo an ninh trật tự trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số”, "Tiếng kẻng an ninh", "Giáo xứ bình yên - đảm bảo an ninh trật tự", "Camera an ninh",… được triển khai rộng khắp và đạt hiệu quả cao, bảo đảm an ninh, trật tự trong các vùng.

Các thế lực thù địch cho rằng đồng bào sẽ “nổi dậy” khi không thể chịu được sự “áp bức” của chính quyền ở nơi sinh sống. Tuy vậy, thực tiễn cho thấy nguyên nhân hoàn toàn khác so với những gì các thế lực thù địch rêu rao. Những năm 2004, khi trả lời lý do tại sao lại tham gia “biểu tình” gây rối ở Tây Nguyên, đồng bào cho biết do nhẹ dạ cả tin khi nghe tuyên truyền về “chủ quyền” của cái gọi là “nhà nước Ðề-ga độc lập”, “đuổi người Kinh về xuôi”; nghe theo dụ dỗ và “lời hứa” tham gia thì sẽ được “hưởng thụ sung sướng”, được chia nhà, đất ở thành phố, cá nhân nào càng nhiệt tình, thì sẽ được ghi nhận và thưởng lớn, nếu không tham gia, đồng bào sẽ bị đe dọa đốt nhà, sát hại… Đây cũng chính là kết quả rõ nét để phản bác lại âm mưu dựa vào đồng bào dân tộc để chống phá cách mạng.

Có lẽ, trong thời gian tới thì vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta vẫn là một trong những trọng tâm mà các thế lực thù địch tăng cường chống phá bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn. Tuy vậy, cũng như các giai đoạn trước và thực tiễn đang diễn ra, những âm mưu và hành động này chắc chắn sẽ thất bại, bộ mặt của những kẻ kích động chắc chắn sẽ bị lột trần, các giọng điệu chống phá hoàn toàn rơi vào lạc lõng,… Lý do chủ đạo để khẳng định niềm tin này chính là hiệu quả của các chính sách dân tộc đã và đang làm thay đổi toàn diện diện mạo vùng theo hướng bền vững và hiện đại, từ đó củng cố niềm tin của đồng bào các dân tộc thiểu số vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta.

Sưu tầm

Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trên không gian mạng ở nước ta hiện nay

Sự phát triển của internet thời gian qua đã hình thành trên không gian mạng một môi trường văn hóa mới; bên cạnh mặt tích cực, cũng có không ít biểu hiện tiêu cực, đòi hỏi cần có các giải pháp phù hợp, kịp thời để góp phần xây dựng môi trường văn hóa trên internet ngày càng lành mạnh.

1- Thời gian gần đây, sự phát triển nhanh chóng của internet đã hình thành môi trường văn hóa mới trên không gian mạng. Theo thống kê của We are social (công ty chuyên phân tích mạng xã hội toàn cầu), đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng internet (chiếm tỷ lệ 79,1% dân số), thuộc top đầu các nước “có tương tác cao với internet”; số lượng người dùng các phương tiện truyền thông xã hội đạt 70 triệu (chiếm tỷ lệ khoảng 71% dân số). Với số lượng người dùng ngày càng tăng, thời gian sử dụng nhiều, phương tiện, công cụ chia sẻ hiện đại, đa dạng, thường xuyên đổi mới, internet ngày càng trở thành một môi trường văn hóa quan trọng, tác động không nhỏ đến đời sống của người dân, trong đó có việc hình thành nhân cách của giới trẻ.

Môi trường văn hóa trên internet được con người truyền tải, thể hiện, tương tác dưới dạng số hóa nên một số yếu tố không thể hiện trực quan, như yếu tố văn hóa vật chất; cảnh quan tự nhiên; giao tiếp ngôn ngữ, giọng điệu, lời nói... Song, các yếu tố văn hóa vật chất, tinh thần được sáng tạo, chuyển tải đa dạng, phong phú, nhiều chiều cạnh, tích hợp thông tin số thông qua công nghệ hiện đại và lưu trữ số lượng lớn trên internet; mối quan hệ, tác động của con người diễn ra lập tức, vượt qua rào cản của không gian, thời gian; các nền văn hóa có sự thâm nhập, giao lưu, tiếp biến nhanh chóng. Thông qua việc sử dụng internet, với tính chất đa phương tiện và trực tuyến, không gian mạng tạo ra sự liên kết giữa hàng trăm triệu người dùng tại nhiều nơi trên thế giới một cách nhanh chóng, người sử dụng có thể đối thoại và thảo luận dễ dàng thông qua các phương tiện phổ biến, như mạng xã hội, trang chia sẻ tin tức, video, blog, diễn đàn, dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền internet, tham gia nhiều diễn đàn… Qua đó, các cá nhân có thể thực hiện các giao tiếp xã hội, thiết lập các quan hệ xã hội, xây dựng các mạng lưới xã hội, tiến hành các tương tác xã hội cùng nhiều hoạt động văn hóa sôi động, cởi mở, đa dạng hơn. Có thể kể tới các hoạt động, như xem phim, nghe nhạc, đọc sách, tham gia các trò chơi trực tuyến, cùng nhiều loại hình văn hóa, giải trí khác, cũng như các hoạt động sáng tạo, phổ biến và truyền bá văn hóa; qua đó góp phần giúp các cá nhân có cơ hội khám phá năng lực, phát huy sức sáng tạo, đồng thời góp phần nâng cao đời sống tinh thần.

Không chỉ tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ thị hiếu, thẩm mỹ, lối sống, thói quen của người dân, nhất là giới trẻ, không gian mạng cũng tạo điều kiện thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, giúp người dân có thể nhanh chóng phản biện những vấn đề bức xúc trong xã hội. Không gian mạng cũng góp phần thúc đẩy sự quảng bá, giới thiệu sản phẩm, hoạt động văn hóa, tạo ra sự tương tác, lan tỏa nhanh chóng và rộng rãi trong xã hội; góp phần định hướng tư tưởng, đạo đức, lối sống, phản bác các thông tin giả, xấu, độc trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa.

Trước sự phát triển nhanh chóng của internet và những tác động của không gian mạng tới môi trường văn hóa, thời gian qua, Đảng ta đã ban hành kịp thời các văn bản chỉ đạo, quản lý hoạt động trên internet; Quốc hội ban hành Luật An toàn thông tin mạng (ngày 19-11-2015), Luật An ninh mạng (ngày 22-6-2018); Chính phủ ban hành các văn bản về công tác quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Cùng với đó, các chế tài xử lý vi phạm cũng được bổ sung, hoàn thiện. Để bảo đảm an toàn thông tin mạng, hàng loạt các văn bản pháp luật được ban hành và đi vào thực hiện, như Bộ luật Hình sự (năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017), trong đó các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng được quy định tại mục 2; Luật An toàn thông tin (năm 2015); Luật An ninh mạng (năm 2018). Việc hoàn thiện thể chế, nâng cao quản lý nhà nước về không gian mạng, truyền thông xã hội đã tạo cơ sở pháp lý, đề ra những nguyên tắc mang tính chuẩn mực, góp phần nâng cao nhận thức và hành động của các chủ thể trong xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trên internet.

Bên cạnh đó, hiện nay, hệ thống thông tin về chính sách, sản phẩm, dịch vụ, hoạt động văn hóa được đăng tải chính xác, kịp thời, công khai bằng nhiều hình thức khác nhau trên internet, như các cổng thông tin điện tử của các bộ, ngành, của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cấp địa phương. Trên mạng xã hội Facebook có các trang thông tin về văn hóa, thể thao và du lịch được hàng nghìn lượt thích và theo dõi. Đây là nguồn thông tin có sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước, được cộng đồng mạng tin tưởng tiếp cận, chia sẻ, lan tỏa rộng rãi. Có thể thấy, gần đây, số lượng trang, kênh và chuyên mục thông tin chính thống về lĩnh vực văn hóa ngày càng mở rộng, thông tin chính xác, kịp thời về chính sách, sản phẩm, dịch vụ và hoạt động văn hóa đã đến được với cộng đồng mạng, tạo ra môi trường thông tin đúng, đủ, kịp thời để định hướng nhận thức, hành động. Các kênh truyền thông xã hội của Chính phủ, bộ, ngành, truyền hình, thông tấn, báo chí đã đẩy mạnh truyền thông chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc và chuẩn mực con người Việt Nam. Nhiều sự kiện văn hóa lớn của dân tộc, địa phương, những tấm gương người tốt, việc tốt ngày càng được tuyên truyền rộng rãi trên internet, trên các nền tảng số, tiêu biểu như “Cặp lá yêu thương”, “Việc tử tế”, “Điều ước thứ 7”, chuyên mục “Câu chuyện văn hóa” của VTV… Ngoài ra, còn có các trang, nhóm, tài khoản cá nhân chia sẻ rộng rãi những câu chuyện người tốt, việc tốt trong đời sống xã hội xuất hiện ở nhiều nơi, thể hiện truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

2- Tuy nhiên, không gian mạng internet cũng đặt ra không ít thách thức cho người tham gia. Đây là môi trường ảo, thường rất khó xác định người chịu trách nhiệm, người viết cũng như người tham gia bình luận hay sử dụng biệt danh, thông tin thường mang tính cá nhân, chủ quan nên rất dễ sai lệch với bản chất sự việc; tính xác thực của các thông tin khó được kiểm chứng; việc truyền tải, tiếp nhận và xử lý thông tin ngày càng khó kiểm soát hơn. Các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, các hành vi “lệch chuẩn”, băng hoại đạo đức xã hội, “phản văn hóa” xuất hiện này càng nhiều trên không gian mạng, thậm chí đến mức đáng báo động. Với bản chất môi trường mở, tùy thuộc vào động cơ, mục đích và nhận thức của các cá nhân, tổ chức nhất định mà không ít trang web, trang mạng xã hội đăng tải nhiều thông tin tiêu cực, đi ngược lại với thuần phong, mỹ tục của dân tộc, ngược lại các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng internet và những kẽ hở trong quản lý nhà nước về internet để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, kích động, chia rẽ nội bộ, gây dư luận xã hội xấu, gieo rắc sự hoài nghi, dao động, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta. Điều này đặt ra yêu cầu cần xử lý kịp thời để xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trên không gian mạng.

Chính vì vậy, thời gian qua, Việt Nam cũng tích cực làm việc với các nhà cung cấp dịch vụ internet trong nước và quốc tế để ngăn chặn tấn công mạng và bóc gỡ tin giả, xấu độc. Từ năm 2017 đến tháng 8-2019, theo yêu cầu của Việt Nam, Facebook đã gỡ bỏ 70% thông tin xấu độc; Google đã ngăn chặn và gỡ bỏ 7.478 video clip vi phạm trên Youtube, gỡ bỏ 18/62 kênh Youtube có nội dung phản động, chống phá Nhà nước Việt Nam. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, trong năm 2022, Facebook đã chấp nhận gỡ bỏ 16 hội, nhóm (group) có nội dung không lành mạnh, độc hại với trẻ em; Youtube đã ngăn chặn 6 kênh Youtube phản động không cho truy cập từ lãnh thổ Việt Nam (có khoảng hơn 1.500 video clip); ngăn chặn và gỡ bỏ 76.590 video vi phạm, ngăn chặn truy cập từ Việt Nam vào 30/62 kênh Youtube phản động thường xuyên đăng tải nội dung chống phá Nhà nước Việt Nam (tổng số 30 kênh này chứa hơn 11.212 video clip vi phạm, tỷ lệ gỡ bỏ đạt 92% trong 11 tháng của năm 2022). Tương tự, Tiktok đã ngăn chặn, gỡ bỏ 1.445 link vi phạm, trong đó có 5 tài khoản thường xuyên đăng tải nội dung chống phá Đảng, Nhà nước; chủ động rà quét, ngăn chặn 3.568 video có nội dung xấu độc trên nền tảng của mình (đạt tỷ lệ 91% trong 11 tháng của năm 2022).

Hiện nay, mặc dù đã có những chuyển biến tích cực về an toàn thông tin mạng nhưng với sự phát triển nhanh về kỹ thuật, công nghệ và các tiêu chuẩn mang tính toàn cầu của các nhà cung cấp dịch vụ mạng, tình hình an ninh mạng, an toàn thông tin vẫn diễn biến phức tạp. Theo Báo cáo Tổng kết tình hình an ninh mạng Việt Nam năm 2023 của Công ty Công nghệ an ninh mạng quốc gia Việt Nam (NCS), có tới 13.900 vụ tấn công an ninh mạng vào các hệ thống tại Việt Nam, tăng 9,5% so với năm 2022; 554 website của các cơ quan, tổ chức chính phủ và giáo dục có tên miền .gov.vn, .edu.vn bị xâm nhập; hơn 83.000 máy tính, máy chủ bị mã độc mã hóa dữ liệu, tăng 8,4% so với năm 2022. Các video clip phản động, xấu độc vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam hầu hết nằm trong 130.000 kênh do Youtube quản lý, trong đó có 80 kênh phản động chuyên nghiệp thường xuyên đăng tải thông tin chống phá Nhà nước. Bộ Công an cũng đã cảnh báo, xử lý nhiều vụ việc liên quan đến xâm phạm cơ sở dữ liệu cá nhân cộng đồng mạng để lừa đảo, chiếm đoạn tài sản. Thực trạng hằng ngày có đến hàng trăm triệu thông tin xuất hiện trên môi trường internet, thật giả đan xen, tác động nhiều chiều đòi hỏi cần chấn chỉnh kịp thời. Đây là yêu cầu cấp thiết được đặt ra hiện nay để góp phần tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh trên không gian mạng.

Sưu tầm