Thứ Hai, 7 tháng 10, 2024

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN CỔ XÚY, TÁN DƯƠNG ĐỐI TƯỢNG KHỦNG BỐ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

 Trong bối cảnh an ninh toàn cầu ngày càng trở nên phức tạp, việc ra sức tô vẽ và đánh bóng cho các đối tượng khủng bố như Y Quynh Bdap không chỉ đi ngược lại lợi ích của Việt Nam mà còn đe dọa an ninh toàn cầu. Việc cố tình đổi trắng thay đen, đánh tráo bản chất nhằm kích động kêu gọi trả tự do cho đối tượng khủng bố là hành vi tiếp tay cho tội phạm, cần phải lên án.

Luận điệu cổ xúy, tán dương tội phạm khủng bố
Thời gian gần đây, trên các trang fanpage phản động, chống phá ở hải ngoại như tổ chức khủng bố Việt Tân, Chân trời mới media, Người Thượng vì công lý, các hãng truyền thông hải ngoại định kiến với Việt Nam như VOA, RFA, RFI... xuất hiện nhiều bài viết liên quan đến đối tượng Y Quynh Bdap sau khi đối tượng này đã bị TAND tỉnh Đắk Lắk xét xử vắng mặt với tội danh khủng bố. Song trái với những gì mà Y Quynh Bdap gây ra, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tô vẽ đối tượng này trở thành “người hùng”.
Khi Y Quynh Bdap bị nhà chức trách Thái Lan bắt giữ, đã có những tổ chức đội lốt dân chủ, nhân quyền như Ân xá quốc tế, Theo dõi nhân quyền (HRW), Liên minh Xã hội dân sự toàn cầu (CIVICUS)..., một số thành phần mang danh nghị sĩ, dân biểu tâng bốc tội phạm khủng bố Y Quynh Bdap là “người can đảm”, “người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”, “người vì đồng bào dân tộc thiểu số”… Bất chấp các quy định của luật pháp quốc tế về phòng, chống khủng bố, họ ra sức kêu gọi cơ quan chức năng không dẫn độ đối tượng về Việt Nam, thúc giục đòi trả tự do cho Y Quynh Bdap.
Ngày 1/8/2024, Toà án Hình sự Bangkok, Thái Lan đã mở phiên xử dẫn độ đối với Y Quynh Bdap. Các thế lực thù địch lên tiếng phản đối tòa, cho rằng Y Quynh Bdap phải được trả tự do, bất chấp thực tế trước đó (ngày 31/7), Báo Bangkok Post dẫn lời ông Chai Wacharonke, phát ngôn viên của chính phủ Thái Lan khẳng định “Chính phủ Thái Lan sẽ không can thiệp vào tiến trình tố tụng liên quan đến đối tượng Y Quynh Bdap”.
Đây là sự khẳng định quan điểm rõ ràng trước những đòi hỏi vô lý của những tổ chức, cá nhân mượn danh dân chủ, nhân quyền để đồng lõa với tội phạm.
Gần đây, sau khi có thông tin về việc ngày 30/9/2024, tòa án Thái Lan quyết định dẫn độ Y Quynh Bdap thì các nhóm mượn danh nhân quyền lại giở trò, lên tiếng phản đối phán quyết của tòa án Thái Lan. Theo đó, Tổ chức Quỹ Nhân quyền (HRF) “kêu gọi Thái Lan trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho ông Y Quynh Bdap”; tổ chức Đoàn kết Công giáo toàn cầu (CSW) “kêu gọi chính phủ Thái không thực thi lệnh dẫn độ ông về Việt Nam”; tổ chức Người Thượng vì công lý (MSFJ) “cực lực phản đối quyết định của Tòa án Hình sự Bangkok về việc dẫn độ ông Y Quynh Bdap theo yêu cầu của Chính phủ Việt Nam”…
Trên trang mạng xã hội của Việt Tân, Chân trời mới media, các hãng truyền thông hải ngoại thiếu thiện chí tỏ vẻ kêu oan, khóc mướn cho Y Quynh Bdap. Họ loan tin: “Các nhóm nhân quyền kêu gọi chính quyền Thái Lan không thi hành việc dẫn độ nhà hoạt động Y Quynh Bdap về Việt Nam sau khi ông bị tòa Hình sự Bangkok ra phán quyết dẫn độ theo yêu cầu của Hà Nội”.
Những cáo buộc, đòi hỏi về việc không dẫn độ và trả tự do cho Y Quynh Bdap bất chấp luật pháp quốc tế, đe dọa an ninh quốc gia mà các tổ chức, cá nhân chống phá, thù địch đưa ra là không thể chấp nhận. Đây là những đòi hỏi phi lý, vô căn cứ. Mục đích của các thế lực thù địch nhằm cổ xúy cho tội phạm khủng bố; đồng thời ca ngợi, tán dương các hành vi khủng bố, chống phá Việt Nam.
Hãy nhìn lại con đường phạm tội của Y Quynh Bdap để thấy đối tượng này phạm tội nguy hiểm và cực đoan, ngoan cố như thế nào.
Vòng xoáy tội lỗi
Cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên không còn xa lạ với cái tên Y Quynh Bdap. Theo thông tin từ cơ quan Công an, Y Quynh Bdap sinh năm 1992, tại Buôn Cuê, xã Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. Ngay từ khi còn là học sinh, Y Quynh Bdap đã có tư tưởng chống phá cực đoan, kết nối với các đối tượng lưu vong thuộc tổ chức FULRO, tìm cách lôi kéo người khác tham gia vào các hoạt động chống đối Nhà nước. Năm 2012, Y Quynh Bdap bị khởi tố, bắt tạm giam 5 tháng về hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, qua quá trình điều tra, xét thấy Y Quynh Bdap do thiếu hiểu biết, lại bị các đối tượng xấu lôi kéo nên thực hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Việt Nam, Y Quynh Bdap đã được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và giao cho địa phương quản lý, giáo dục. Mặc dù cơ quan chức năng phát hiện, giáo dục thuyết phục, cho hưởng sự khoan hồng, song Y Quynh Bdap vẫn chứng nào tật ấy, tiếp tục liên lạc, nhận sự chỉ đạo từ bên ngoài, lôi kéo các đối tượng trong nước hoạt động chống phá.
Năm 2018, Y Quynh Bdap vượt biên trái phép sang Thái Lan. Tại đây, đối tượng này cùng với một số đối tượng có tư tưởng chống phá Việt Nam thành lập “Nhóm người Thượng vì công lý”. Đây là tổ chức phản động nhằm tập hợp nhóm người dân tộc thiểu số tại Thái Lan có tư tưởng chống phá Nhà nước Việt Nam. Mượn danh đấu tranh vì công lý cho người Thượng ở Tây Nguyên, các đối tượng xấu đã xuyên tạc, bóp méo, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đòi ly khai, tự trị. Ngoài ra, các đối tượng còn liên kết và nhận sự hậu thuẫn của tổ chức phản động “Ủy ban Cứu người vượt biển - BPSOS” do đối tượng phản động Nguyễn Đình Thắng ở Mỹ cầm đầu, thường xuyên tuyên truyền, kích động chống phá, lôi kéo, móc nối, tuyển mộ lực lượng ở trong nước và kích động, chống phá Việt Nam. Vụ tấn công khủng bố ngày 11/6/2023 tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk thể hiện rõ tội ác mà các tổ chức, đối tượng thù địch, phản động gây ra.
Theo lời khai của Y Ba Bya, đối tượng tham gia vụ tấn công khủng bố ngày 11/6/2023, Y Quynh Bdap chỉ đạo việc chọn những trụ sở cơ quan Nhà nước có ít người để dễ thực hiện việc tấn công, đồng thời bắt phải quay video diễn biến cuộc tấn công khủng bố, phá hoại, giết cán bộ gửi cho Y Quynh Bdap để tuyên truyền cho cộng đồng quốc tế. Ngày 30/11/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk ra quyết định truy nã đặc biệt đối với 6 nghi can liên quan đến vụ khủng bố. Trong số 6 đối tượng này có Y Quynh Bdap. Tháng 1/2024, TAND tỉnh Đắk Lắk tuyên án vắng mặt Y Quynh Bdap 10 năm tù với tội danh “Khủng bố”.
Không thể dung túng tội phạm khủng bố
Liên quan vụ khủng bố xảy ra tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, nhiều chính phủ, tổ chức quốc tế lên án mạnh mẽ hành động dã man, vô nhân tính của kẻ khủng bố. Mặc dù quy định pháp luật ở mỗi quốc gia có những điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều hướng tới bảo vệ lợi ích cộng đồng, lợi ích đất nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, lợi ích hợp pháp của người dân. Hành vi xâm phạm hay chống lại quốc gia, dân tộc sẽ bị xử lý nghiêm khắc.
Trong bối cảnh toàn cầu, tội phạm khủng bố vẫn là một thách thức lớn đối với an ninh của tất cả các quốc gia. Để ứng phó với nguy cơ này, Liên hợp quốc đã thông qua nhiều điều ước đa phương về chống khủng bố. Nổi bật trong số đó là Công ước quốc tế về chống tài trợ khủng bố và Nghị quyết số 1373 về chống khủng bố và tài trợ khủng bố. Nhiều quốc gia đã đưa ra những biện pháp mạnh mẽ nhằm xử lý tội phạm khủng bố. Tại Mỹ, sau vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001, chính phủ đã ban hành “Đạo luật Yêu nước Mỹ”, tăng cường hình phạt đối với tội phạm khủng bố và cho phép các bang thành lập cơ quan chống khủng bố riêng. Tương tự, Trung Quốc cũng tuyên bố rõ việc trừng phạt nghiêm khắc các phần tử khủng bố để duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền con người.
Tổ chức ASEAN cũng ra Công ước về chống khủng bố. Trong đó nhấn mạnh: “Quan ngại sâu sắc về hiểm hoạ nghiêm trọng của chủ nghĩa khủng bố gây ra cho cuộc sống của người vô tội, cơ sở hạ tầng và môi trường, hòa bình và ổn định cũng như sự phát triển kinh tế của khu vực và quốc tế”; “Chủ nghĩa khủng bố, trong tất cả các hình thức biểu hiện, bất cứ nơi nào, bất cứ khi nào, do bất kỳ ai, là một mối đe dọa sâu sắc đối với hòa bình và an ninh và là một thách thức trực tiếp đến việc đạt được hòa bình, tiến bộ và thịnh vượng của ASEAN”…
Nhà nước Việt Nam không chỉ bảo vệ các quyền tự do, lợi ích của công dân mà còn kiên quyết trừng phạt những kẻ lợi dụng quyền tự do, dân chủ để thực hiện các hành vi chống phá, mục đích lật đổ chính quyền. Nhà nước ta luôn tuân thủ và tôn trọng các quy định của luật pháp quốc tế về phòng, chống khủng bố. Việt Nam tích cực hợp tác với các quốc gia khác trong công tác phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống lại các tổ chức tội phạm khủng bố quốc tế.
Tuy nhiên, bất chấp những quy định của luật pháp quốc tế, luật pháp Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình xuyên tạc, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá Việt Nam. Họ đã lợi dụng vụ việc liên quan đến Y Quynh Bdap để bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, cáo buộc chính phủ đàn áp người “bất đồng chính kiến” và người dân tộc thiểu số. Đó là những cáo buộc phi lý, nhằm mục đích kích động chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Y Quynh Bdap là một kẻ phạm tội khủng bố lại được các thế lực thù địch, phản động tô vẽ thành một “người hùng”! Với hành vi khủng bố, chống phá Nhà nước, giết hại cán bộ, người dân, các đối tượng phải bị trừng trị theo quy định pháp luật. Công lý phải được thực thi và không một tổ chức hay cá nhân nào có quyền can thiệp vào việc xét xử của tòa án. Các hành vi cản trở việc thực thi pháp luật, bảo trợ cho các tổ chức khủng bố cần phải bị lên án và ngăn chặn kịp thời.
Lẽ ra, các tổ chức tự xưng bảo vệ nhân quyền cần phải tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ Việt Nam trong việc điều tra, xét xử các đối tượng khủng bố, trong đó có đối tượng khủng bố đang lẩn trốn ở nước ngoài theo các công ước và nghị quyết của Liên hợp quốc mà Việt Nam tham gia. Hành động can thiệp, bảo vệ cho những kẻ phạm tội khủng bố không chỉ đi ngược lại quy định của pháp luật mà còn gây tổn hại đến sự ổn định và an ninh của Việt Nam cũng như an ninh khu vực và toàn cầu./.
ST

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ (10/10/1954 – 10/10/2024): NHỚ VỀ NGÀY GIẢI PHÓNG VÀ ƯỚC NGUYỆN CỦA BÁC

 Sáng 10/10/1954, nhân dân Hà Nội đón chào các đoàn quân tiến vào Thủ đô bằng những tiếng reo hò, lời ca và những tràng vỗ tay không dứt. Trong không khí vui mừng của ngày lễ lịch sử, đồng chí Vương Thừa Vũ, Chủ tịch Uỷ ban Quân chính Thành phố Hà Nội đã vinh dự đọc lá thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô. Trong lá thư đó, Người dặn dò nhân dân hãy: “Đồng tâm nhất trí góp sức với Chính phủ, thì chúng ta nhất định vượt mọi khó khăn và đạt được mục đích chung: Làm cho Hà Nội thành một Thủ đô yên ổn, tươi vui và phồn vinh”.

Từ những ngày đầu mới giải phóng ấy, đến hôm nay đã tròn 70 năm nhưng những lời dạy của Bác đối với Đảng bộ và nhân dân Hà Nội vẫn luôn còn thiêng liêng và mới mẻ. Suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời, Bác vẫn dành cho Thủ đô sự quan tâm đặc biệt. Thực hiện lời dạy của Người trước lúc đi xa, nhân dân Thủ đô nói riêng và nhân dân cả nước nói chung đã, đang và sẽ xây dựng Hà Nội “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, xứng đáng là Thủ đô ngàn năm văn hiến, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học của cả nước./.
ST

NHÂN DÂN LÀ TRÊN HẾT

 Tại Hội nghị giao ban Bộ Quốc phòng tháng 9-2024, qua hệ thống cầu truyền hình trực tuyến, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu các lực lượng triển khai công tác tái định cư tại Làng Nủ (Phúc Khánh, Bảo Yên, Lào Cai) phải trọn tâm, dồn sức giúp nhân dân nhanh chóng ổn định cuộc sống. Nguồn lực của các tổ chức, cá nhân ủng hộ dành hết mua sắm vật liệu. Phương tiện vận chuyển, nhân lực thi công do bộ đội đảm nhiệm hết. Các cơ quan, đơn vị và cán bộ, chiến sĩ phải đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành nhiệm vụ với thời gian nhanh nhất, chất lượng tốt nhất.

Không chỉ ở Làng Nủ, khi lưu tốc dòng chảy vượt ngưỡng cho phép, buộc Binh chủng Công binh phải cắt cầu phao Phong Châu (Phú Thọ), Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu Binh chủng Công binh phải nghiên cứu, triển khai phà dã chiến phục vụ nhân dân. Thực hiện nhiệm vụ được giao, chỉ sau hơn nửa ngày, với công tác chuẩn bị khẩn trương, chu đáo, phà quân sự dã chiến đã hoàn thành.
Những chuyến phà ấy không chỉ chở người, phương tiện qua sông mà còn chở theo cả hạnh phúc, niềm tin của nhân dân.
Có thể thấy rõ, sau những ngày đương đầu với siêu bão Yagi, hàng trăm nghìn cán bộ, chiến sĩ Quân đội lại không quản gian khổ, hiểm nguy sát cánh cùng nhân dân khắc phục hậu quả, tìm kiếm cứu nạn. Bất cứ nơi đâu, trong điều kiện hoàn cảnh nào, bộ đội cũng sẵn sàng có mặt ở những nơi xung yếu bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, nỗ lực giúp đồng bào ổn định cuộc sống.
Có phải hôm nay bộ đội mới hết lòng vì dân? Không! Điều đó nảy nở, lớn mạnh ngay từ khi có các đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu! Vì nhân dân phục vụ luôn là mệnh lệnh thường trực trong trái tim mỗi cán bộ, chiến sĩ, từ Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến người chiến sĩ binh nhì.
Nhân dân luôn nhớ. Nhân dân luôn ghi nhận. Nhân dân hết lòng, hết sức chở che, đùm bọc những người chiến sĩ của mình. Trong bom lửa, bão đạn, nhân dân Việt Nam sẻ chia, gánh vác cùng Quân đội tạo lập những chiến công để giành độc lập, tự do. Trong hòa bình, "Đội quân chiến đấu" tiếp tục làm tròn chức năng "Đội quân công tác", luôn sẵn sàng hỗ trợ cao nhất cho nhân dân, sẵn sàng xả thân, hy sinh như thời chiến.
Còn nhớ, tháng 10-2020, sạt lở đất vùi lấp nhiều người lao động ở thủy điện Rào Trăng 3 (Phong Xuân, Phong Điền, Thừa Thiên Huế), giữa lúc mưa lũ hiểm nguy đe dọa tính mạng, nhưng cán bộ, chiến sĩ không hề chùn bước bởi mệnh lệnh cứu dân là trên hết. Trong chuyến đi ấy, 13 đồng chí trong đoàn công tác của Quân khu 4 và tỉnh Thừa Thiên Huế đã mãi mãi không trở về. Trong “cuộc chiến thời bình” với bão số 3, hai quân nhân đã hy sinh và nhiều đồng chí khác bị thương...
Đó chỉ là những câu chuyện cụ thể trong hàng nghìn, hàng vạn những minh chứng sinh động về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Ở đâu, trong hoàn cảnh nào, khi tính mạng, tài sản của nhân dân còn bị đe dọa, bộ đội sẽ không dừng bước dù gian khổ hay phải hy sinh tính mạng. Khi dân chưa ổn định cuộc sống, cán bộ, chiến sĩ chưa thể yên lòng. Đó là phẩm chất được xây đắp, hội tụ và trở thành bản chất, truyền thống 80 năm qua của đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh...
St

KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU, CON ĐƯỜNG ĐÃ CHỌN, LẼ SỐNG CAO ĐẸP CỦA “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

 Kiên định và hiện thức hóa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là mục tiêu, lẽ sống cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Suốt 80 năm qua, nhờ sự kiên định, vững vàng mục tiêu, lẽ sống đã lựa chọn, Quân đội ta đã một lòng một dạ đi theo Đảng làm cách mạng; trở thành lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng, cùng toàn Đảng, toàn dân ta hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng cao cả ấy bằng Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; đưa cả nước đi lên CNXH; tiến hành sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Lịch sử truyền thống vẻ vang của Quân đội ta là lịch sử thực hiện hóa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH với những chiến công chói lọi, vô cùng tươi đẹp và rạng rỡ: Mới thành lập sau hai ngày, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chiến đấu và chiến thắng vẻ vang trong hai trận Phai Khắt và Nà Ngần. Mười năm sau ngày thành lập đã trải qua nhiều chiến dịch lớn, giành nhiều thắng lợi vẻ vang và rất đỗi tự hào. Trong đó, nổi bật là thắng lợi của Chiến dịch Thu Đông 1947, Chiến dịch Biên giới 1950, để từ đó làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; buộc thực dân Pháp phải cuốn cờ về nước.
Dấu ấn sâu đậm và thành tích đặc biệt xuất sắc, hết sức vẻ vang của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã được nhân dân yêu quý, tin tưởng, dành cho những tình cảm tốt đẹp; đã khen tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của nhân dân. Hiếm có quân đội nào trên thế giới lại có được niềm vui, hạnh phúc thiêng liêng, cao cả ấy, khi nhân dân lấy tên lãnh tụ kính yêu của mình đặt tên cho Quân đội cách mạng. Đây là niềm cổ vũ, động viên vô cùng to lớn, giúp Quân đội ta vượt ngàn chông gai, chịu đựng mọi gian khổ, hy sinh; đã anh dũng chiến đấu, làm thất bại tất cả các chiến lược chống phá Việt Nam của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được nhân dân chở che, cưu mang, giúp đỡ, chúng ta đã đi từ những thắng lợi giòn giã, đập tan các cuộc “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh” để sau đó, đi đến Chiến thắng 30/4/1975 lịch sử, thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ “đánh cho Mỹ cút; đánh cho ngụy nhào”.
Với lịch sử truyền thống vẻ vang, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã cùng nhân dân cả nước giành chiến thắng trong Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc những năm 1978 - 1979. Hơn thế, chúng ta đã phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, cùng nhân dân cả nước hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH qua 40 năm đổi mới, hoàn thành xuất sắc các chức năng, nhiệm vụ của mình; cùng nhân dân cả nước làm nên thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được tiền đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay.
Điều đó là hiện thực khách quan vô cùng sinh động, đã bác bỏ mọi quan điểm sai trái cho rằng, Việt Nam “đang đi theo vết xe đổ của Liên Xô”, “Việt Nam cần phải lựa chọn con đường khác chứ không phải là tiếp tục đi theo con đường CNXH, không nên tiếp tục thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta bác bỏ quan điểm sai trái, cho rằng: “Việt Nam phải thay đổi mục tiêu, con đường, định hướng phát triển; từ bỏ CNXH lúc này là rất cần thiết”; “có thay đổi thì mới có sự đổi mới; người Việt Nam sẽ có điều kiện để hòa nhập, hội nhập quốc tế, Việt Nam mới mau chóng trở thành con rồng, con hổ ở châu Á”.
Phải nói cho rõ rằng, những người phủ nhận thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt mới dành được trong suốt 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng là sự phủ định sạch trơn, nói càn, viết bậy; hoàn toàn không thể chấp nhận.
Những lời lẽ chua cay, nghiệt ngã, phê phán, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được tuôn ra từ sự thâm thù, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch cốt để gây sự nghi ngờ, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng, giá trị và ý nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về sự lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta; tạo ra “một khoảng trống về chính trị” trong lòng nhân dân; cố tình phân hóa các lực lượng “trung thành” với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, kêu gọi người dân từ bỏ mục tiêu, con đường đi lên CNXH. Đó là quan điểm sai trái, đã lún sâu vào “vũng bùn” của nhận thức sai lầm và những hành vi sai trái chống Đảng, Nhà nước, chống phá quân và dân ta thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng; cản trở quân và dân ta thực hiện hóa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, cần phải loại bỏ.
Lúc này đây, cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân ta cần đẩy mạnh tuyên truyền lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, đọc kỹ tác phẩm của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” để củng cố niềm tin tất thắng vào đường lối xây dựng CNXH ở nước ta. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống.
Cùng với đó, phải làm cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch để có biện pháp đối phó hiệu quả. Đồng thời, giúp người dân nhận thức đúng bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Đây là biện pháp hữu dụng nhất để giúp nhân dân “miễn dịch” trước các đòn tấn công ác hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch cả trong lý luận và trong thực tiễn; luôn tự tin, chủ động và tích cực tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ cái đúng, cái tốt; lấy cái đẹp dẹp cái xấu.
Đối với quân và dân ta, gần 80 năm cách mạng Việt Nam đã chứng minh đầy thuyết phục rằng, chỉ có đi theo con đường CNXH thì mới xóa bỏ được tệ nạn người áp bức, bóc lột người, mới thực hiện được lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội; chỉ có CNXH mới là cái bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phát triển tự do, toàn diện của mỗi người và mọi người.
Rõ ràng là, đi theo con đường CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là thực hiện chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, bởi vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự khái quát cao nhất cái đẹp của cuộc sống, hạnh phúc của con người, là sự chung đúc tất cả lý tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Vì vậy, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta vẫn tiếp tục, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH không thể đổi khác, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn phải là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đây là niềm tin, ánh sáng và con đường chúng ta đi đến thắng lợi vẻ vang.
Cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, đều nhất quán, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành các chỉ tiêu, mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định. Đây là sự chuẩn bị tốt nhất các điều kiện cần thiết để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tổ chức đại hội thành công đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030; tiến tới Đại hội XIV của Đảng vào đầu năm 2026. Đồng thời, là sự đáp trả đanh thép nhất, hiệu quả nhất để bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở nước ta của các thế lực thù địch./.
St

VẺ ĐẸP BỘ ĐỘI TRUNG ĐOÀN 98 QUA "KÝ ỨC LÀNG NỦ"

 “Kỷ niệm chẳng là gì/ Khi lòng ta vội xóa/ Nhưng sẽ là tất cả/ Khi lòng người còn ghi”. Bất chợt tôi nhớ đến câu nói giản dị mà ý nghĩa ấy khi đọc được cuốn nội san “Ký ức Làng Nủ” do Thượng tá Bùi Cường Sơn, Chính ủy Trung đoàn 98 (Sư đoàn 316, Quân khu 2) chia sẻ. 54 trang được trình bày khá bắt mắt trong cuốn nội san “Ký ức Làng Nủ” với những dòng tâm sự, hình ảnh xúc động của cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã tái hiện chân thực quá trình thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn ở Làng Nủ (xã Phúc Khánh, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai) trong những ngày tháng 9 vừa qua.

Đoàn kết, đồng lòng giúp dân bằng cả trái tim
Lần theo từng trang giấy, tôi được nhìn lại những gương mặt cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 98 qua mỗi bức hình. Những ngày ở Làng Nủ, tôi chứng kiến họ trải qua bao vất vả, gian nan khi tìm kiếm nạn nhân mất tích. Cho đến ngày về đơn vị, những ký ức được bộ đội tái hiện lại qua lời tâm sự chân thành, xúc động sâu sắc.
Trong ký ức của Trung tá Nguyễn Ngọc Ba, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98, đêm 10-9-2024 là một đêm thức trắng. Trước đó, ban ngày, anh chỉ huy đơn vị làm nhiệm vụ giúp dân chống lũ ở Hạ Hòa (Phú Thọ) trong mưa dầm gió lạnh. Bữa tối ăn vội, chưa kịp ngả lưng thì 23 giờ khuya, chuông điện thoại đổ liên hồi. Anh nhấc máy, tiếng của đồng chí Sư đoàn trưởng ra chỉ thị: Đơn vị nhanh chóng làm công tác chuẩn bị, cơ động gấp thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn ở Làng Nủ. Lệnh khẩn được truyền trong đêm từ thủ trưởng Trung đoàn tới từng chiến sĩ. Cả đêm, đơn vị chuẩn bị dụng cụ, phương tiện, quân trang, các vật dụng cần thiết. Không khí khi đó sục sôi như bước vào trận chiến đấu mới. Lúc 5 giờ, trời vẫn tối mịt mùng, mưa vẫn không ngừng rơi. Những bước chân vội vã, vai đeo ba lô, mọi người choàng áo mưa lên đường. 300 cán bộ, chiến sĩ hành quân làm nhiệm vụ đặc biệt dưới trời mưa tầm tã. Những đoàn xe nối đuôi nhau ôm cua sườn núi liên tiếp có những đoạn sạt lở.
Khi tới Làng Nủ, trước mắt bộ đội là một bình địa lổng chổng cọc gỗ, thân tre, mái tôn, xe máy, thùng nước, xác động vật sộc lên mùi tanh nồng. Nước vẫn cuồn cuộn chảy thành dòng từ trên cao xuống đục ngàu. Không ai nghĩ rằng ngôi làng nhỏ dưới thung lũng xanh lại xảy ra thảm kịch chỉ trong giây lát. Dòng nước lẫn bùn đất, đá vùi lấp nhiều nạn nhân. Người thân thoát nạn trở về, tiếng gào thét ai oán. Chứng kiến cảnh tượng tang thương, Binh nhất Triệu Văn Tiến, chiến sĩ Đại đội 5, Tiểu đoàn 8 đã viết: “Tôi như chết lặng trước đống bùn nhão, cây cối đổ gãy, dưới lớp bùn sâu là tài sản và những người dân bị nạn vẫn còn nằm lại. Tôi và đồng đội đã động viên nhau càng khó khăn càng phải nỗ lực để tìm kiếm những nạn nhân xấu số”.
Gian khó không sờn lòng, hiểm nguy không chùn bước
Những người lính mặc áo phao, đeo găng tay, chân đi ủng, mang trên mình dây kéo, bình tông, áo mưa, cầm gậy xông xáo tiến về phía sạt lở như bước vào trận chiến đấu vô cùng gian nan. Dưới sình lầy, cây cọc, rác thải ngập ngụa, chứa đầy vật sắc nhọn. Binh nhất Vàng Gở Xa, chiến sĩ Đại đội 5, Tiểu đoàn 8 viết: “Tôi sẽ không bao giờ quên được hình ảnh người đồng đội dũng cảm Thào Mí Lình trong quá trình tìm kiếm bị đinh sắt xuyên vào chân, máu chảy rất nhiều nhưng vẫn cố gắng chịu đựng đau đớn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Cho đến khi vết thương quá nặng buộc phải về điều trị tại Bệnh viện Quân y 109, đồng chí đã bật khóc vì không được tìm kiếm cùng đồng đội”.
Mảnh đất Làng Nủ đã thấm mồ hôi, nước mắt và cả máu của người chiến sĩ. Vất vả, hiểm nguy luôn thường trực khi điều kiện địa hình, thời tiết không ủng hộ. Ban ngày trời nắng như rang nhưng đêm xuống lại sầm sập đổ mưa. “Chúng tôi được thủ trưởng giao nhiệm vụ phải tuyệt đối an toàn về mọi mặt, đi đủ về đủ, khi có tín hiệu lập tức cơ động lên cao. Tôi nhớ lần đang tìm kiếm ở dưới thung lũng, bỗng từ phía chân núi sạt lở có tiếng động lớn và nước từ con suối đột nhiên tràn về. Tiếng kẻng vang lên cùng lời hô hoán “nước lũ... nước lũ...”. Chúng tôi lao nhanh lên bờ và may mắn thoát khỏi “lưỡi hái tử thần”, Binh nhất Thào A Phử, chiến sĩ Đại đội 8, Tiểu đoàn 8 đã viết như vậy.
Bao nhiêu gian khó và cả những hiểm nguy luôn rình rập. Thế nhưng những người lính không chùn bước. Thêm một nguồn động viên rất lớn, đó chính là ngày 12-9-2024, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đích thân về tận Làng Nủ. Binh nhất Triệu La Cáo, chiến sĩ Đại đội 6, Tiểu đoàn 8, xúc động bày tỏ: “Trước đây, tôi không bao giờ nghĩ có ngày được gặp Thủ tướng Chính phủ. Khi thấy chúng tôi, Thủ tướng bước chân nhanh hơn, chống gậy lội xuống bùn sâu vào tận vị trí tìm kiếm để chỉ đạo, truyền thụ kinh nghiệm và động viên cán bộ, chiến sĩ đang thực hiện nhiệm vụ”.
Ấm mãi tình quân dân
Sau những ngày miệt mài tìm kiếm cũng đến ngày phải chia xa Làng Nủ. Đêm hôm trước chia tay, trong căn nhà sàn nhỏ, Hạ sĩ Đỗ Tiến Nam, chiến sĩ Đại đội 6, Tiểu đoàn 8 sắp đặt lại đồ dùng. Mảnh đất này anh đã đổ mồ hôi và cả những giọt máu thấm bùn. Trong quá trình tìm kiếm nạn nhân, anh đã bị vật sắc nhọn đâm vào chân và phải đi viện điều trị. Khi vết thương tạm ổn, anh đã xung phong trở lại cùng đồng đội tiếp tục công việc tìm kiếm nạn nhân. Vết thương nay đã liền sẹo nhưng nỗi nhớ mảnh đất này thì cứ vấn vương trong tâm hồn người chiến sĩ trẻ. Đêm khuya, anh vẫn còn thao thức khi sắp phải chia xa mảnh đất đau thương nhưng thắm đượm nghĩa tình.
Những dòng viết về buổi chiều chia tay bà con thực sự xúc động. Ánh hoàng hôn nhạt nhòa hắt từ trên đỉnh núi xuống dưới bãi bùn lầy. Xa xa còn xót lại những vạt lúa, nương sắn, bãi ngô trổ cờ. Dọc con đường từ trung tâm Nhà văn hóa thôn Làng Nủ, đồng bào đứng chật hai bên đường. Con đường dẫn vào thung lũng Làng Nủ trước đó mươi hôm ngập trong bùn lầy nhão nhoét đến khi bộ đội hành quân trở về đơn vị thực hiện nhiệm vụ đã khô lại chằng chịt vết chân. Những người đàn ông nắm chặt tay bộ đội, các bà, các mẹ ôm vai chiến sĩ rồi khóc. Nước mắt của sự mến thương, cảm phục và biết ơn. Cứ thế tay nắm tay, nước mắt lại rơi. Tất cả đều xúc động rưng rưng không nói nên lời. Binh nhất Vàng Seo Chư, chiến sĩ Trung đội Thông tin, Tiểu đoàn 8 đã viết: “Những chiếc bánh chưng, những gói cơm nắm, chai nước lọc là tình cảm mà người dân nơi đây gửi gắm cho chúng tôi. Trước khi về đơn vị, tôi đã rơi nước mắt khi bà con dành tình cảm cho mình. Đó là những ký ức khó quên trong đời quân ngũ”.
Lan tỏa giá trị cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ
Biết bao kỷ niệm của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 98 được gói ghém trong cuốn nội san “Ký ức Làng Nủ”. Những ký ức không chỉ tái hiện câu chuyện về một ngôi làng mà còn là hành trình của lòng dũng cảm, tinh thần đoàn kết và sự hy sinh. Những ngày tháng ấy, khi dòng nước lũ cuốn trôi mọi thứ, những người lính đã cùng nhau vượt qua hiểm nguy, quyết tâm tìm kiếm và cứu giúp người dân trong làng. Mỗi bước chân trên con đường lầy lội đều mang theo nỗi lo âu nhưng cũng tràn đầy sự nhiệt huyết, lòng nhân ái, với tinh thần sẵn sàng xả thân vì nhân dân phục vụ. Cuốn nội san được cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 98 nâng niu, trân trọng, trở thành tài liệu giáo dục truyền thống, bồi đắp thêm những giá trị cao đẹp cho bộ đội.
Mong muốn gửi gắm những thông điệp ý nghĩa, Thượng tá Bùi Cường Sơn đã viết: “Ký ức Làng Nủ" không chỉ ghi lại kỷ niệm đau thương mà còn có những khoảnh khắc đẹp đẽ của tình người trong bão tố. Đó là hình ảnh những đồng đội sát cánh bên nhau, những ánh mắt tràn đầy quyết tâm và sự sẻ chia giữa những con người trong hoàn cảnh khó khăn. Qua từng trang viết, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 98 muốn gửi gắm thông điệp về sức mạnh vượt lên trên mọi thử thách và niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp. Hy vọng rằng “Ký ức Làng Nủ” sẽ chạm đến trái tim bạn đọc để mỗi chúng ta đều nhớ rằng, dù thiên nhiên có tàn khốc đến đâu thì tình người vẫn luôn tỏa sáng như ngọn đèn dẫn đường trong bóng đêm!”.
St

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHO RẰNG ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ “THIẾU KHOA HỌC, KHÔNG KHẢ THI”

 Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy vậy, một số thế lực thiếu thiện chí vẫn có cái nhìn phiến diện, cho rằng đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là “thiếu khoa học, không khả thi”, không tạo ra được chuyển biến căn bản cho sự nghiệp phát triển đất nước. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta phải đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước ta đạt được trong gần 40 năm đổi mới là minh chứng cho thấy, đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, khả thi, đáp ứng với đòi hỏi của thực tiễn, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Tuy nhiên, với mưu đồ thâm độc, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đã “tung ra” không ít những luận điệu sai trái, thù địch cho rằng: đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là “thiếu khoa học, không khả thi”, không tạo ra được sự chuyển biến căn bản cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Chúng còn xuyên tạc rằng, sự phát triển của Việt Nam là chậm so với các nước trong khu vực và thế giới. Hơn thế nữa, chúng rêu rao “võ đoán” rằng, những thành tựu mà đất nước ta đạt được gần 40 năm qua chỉ là “ăn may”, chứ không phải là do đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, khoa học, khả thi, v.v. Phải khẳng định ngay rằng, những quan điểm trên là hoàn toàn sai trái, phản khoa học, mang động cơ chính trị xấu, nhằm mục đích phủ nhận đường lối đổi mới, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; làm giảm sút lòng tin, cũng như tính tích cực chính trị - xã hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mục tiêu cuối cùng của chúng là lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Tính khách quan, khoa học và khả thi của đường lối đổi mới của Đảng
Thực tế cho thấy, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, được mở đầu từ Đại hội VI của Đảng năm 1986, đó là một tất yếu khách quan, xuất phát từ quá trình vận động, biến đổi và phát triển của đất nước, do những quy luật khách quan chi phối, cùng với những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, nhằm đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thử thách, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Mặc dù sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta đã tạo ra được những tiền đề nhất định để xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong đó, tập trung vào phát triển kinh tế, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị, cải biến các mặt của đời sống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, đất nước còn đứng trước nhiều thử thách, khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng làm cho kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, v.v. Để đưa đất nước vượt qua khó khăn, có bước phát triển mạnh mẽ mang tính đột phá, nhất thiết phải thực hiện một sự thay đổi mang tính cách mạng, nhằm chuyển đổi mô hình quản lý và phát triển kinh tế - xã hội cho phù hợp với tình hình mới. Đó là cơ sở để Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986.
Có thể khẳng định, đường lối đổi mới của Đảng là khoa học, cách mạng và khả thi. Bởi đường lối ấy được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - học thuyết khoa học và cách mạng vì sự nghiệp giải phóng nhân loại, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, cũng như xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở nền tảng tư tưởng ấy, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới khoa học và cách mạng, mang tính sáng tạo, đột phá, được thể hiện tập trung ở ba trụ cột chủ yếu là: lý luận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Theo đó, lý luận “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một sáng tạo đột phá của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lý luận về đường lối đổi mới. Lý luận này được đề xuất trên cơ sở tổng kết thực tiễn chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới thế kỷ XX, cũng như xuất phát từ thực tế khủng hoảng kinh tế - xã hội trong nước theo mô hình kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu, bao cấp đã tồn tại lâu dài trong chủ nghĩa xã hội. Lý luận này tạo ra bước ngoặt căn bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo tiền đề cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đại hội IX của Đảng xác định mô hình kinh tế tổng quát ở Việt Nam là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Từ Đại hội IX đến Đại hội XIII, lý luận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa càng được nhận thức, bổ sung, phát triển đầy đủ, sâu sắc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.
Tiếp đó, sự hình thành khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là một trong những đóng góp quan trọng bổ sung, phát triển cơ sở lý luận về nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, làm thay đổi căn bản lý luận về quyền lực chính trị trong chủ nghĩa xã hội hiện thực. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là bước đột phá trong đổi mới tư duy chính trị của Đảng ta, đánh một dấu mốc quan trọng trong đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới Nhà nước ở nước ta nói riêng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cùng với đó, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của chủ nghĩa xã hội cũng là sự phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng. Thực tế cho thấy, dân chủ là một nội dung của cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo từ khi mới thành lập - cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sau 40 năm đổi mới đất nước, từ quan điểm “Dân là gốc”, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đến “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã tạo cơ sở, điều kiện cho toàn thể nhân dân lao động Việt Nam thực hiện được những quyền và thụ hưởng được những lợi ích căn bản của mình, góp phần giải phóng, phát triển con người và hoàn thiện xã hội.
Như vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được coi là trụ cột của đường lối đổi mới. Bởi lẽ, ba yếu tố này tạo nên nền tảng cho chế độ kinh tế, chế độ chính trị và chế độ xã hội của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ba yếu tố này làm điều kiện, tiền đề cho nhau, vừa tạo ra sự vững chắc, ổn định, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra nền tảng vật chất cho nhà nước xã hội chủ nghĩa, thông qua vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; đồng thời, tạo ra cơ chế tự do, tự chủ thúc đẩy sự tiến bộ của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở cho sự giải phóng và phát triển con người. Nhà nước xã hội chủ nghĩa đảm bảo tính định hướng, cơ chế, chính sách thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và minh bạch; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, dân chủ trong xã hội. Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chỉ khi nào có dân chủ thực sự thì kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới có môi trường phát triển đầy đủ, lành mạnh và khi có dân chủ thực sự thì quyền lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa mới được thực thi một cách thực chất. Do đó, không thể phán bừa rằng đường lối đổi mới của Đảng là không khoa học, không có cơ sở lý luận và thực tiễn,... như những luận điệu xuyên tạc thường rao giảng.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử gần 40 năm qua là minh chứng rõ nhất khẳng định tính đúng đắn, khả thi của đường lối đổi mới
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau gần 40 năm đổi mới đất nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: “Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”. Có được kết quả đó là nhờ có đường lối phát triển đúng đắn, “phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Chính vì vậy mà cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước đang ngày càng được tăng cường, củng cố. Điều đó được thực tế minh chứng, bác bỏ những quan điểm, nhận định sai trái, phiến diện của các thế lực thù địch.
Hiện nay, Việt Nam là một quốc gia độc lập, toàn vẹn, có chủ quyền, được tất cả các nước trên thế giới trong Liên hợp quốc công nhận. Việt Nam có tiềm lực ngày càng mạnh mẽ về kinh tế, quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…; tham gia các tổ chức quốc tế lớn, như: Liên hợp quốc, Hội đồng nhân quyền và nhiều tổ chức quốc tế khác. Những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống, con người Việt Nam đang được phát huy mạnh mẽ, góp phần định hình những giá trị chung cho nhân loại.
Trên lĩnh vực kinh tế, quy mô GDP của Việt Nam năm 2023 đạt khoảng 433,3 tỷ USD, xếp thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á và là nền kinh tế lớn thứ 34 trên thế giới. Năm 2024, quy mô GDP của Việt Nam được dự báo đạt khoảng 469,67 tỷ USD5. Thu nhập bình quân đầu người đạt ngưỡng 4.000 USD/người/năm; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức kỷ lục 732 tỷ USD, đưa Việt Nam vào trong nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới và duy trì xuất siêu năm thứ bảy liên tiếp. Đặc biệt, giai đoạn 1986 - 2022, Việt Nam nằm trong top 5 nước có quy mô kinh tế tăng nhiều nhất thế giới.
Về chính trị, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát huy được quyền làm chủ của nhân dân. Đảng Cộng sản cầm quyền ngày càng khẳng định vai trò lãnh đạo đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, góp phần quan trọng trong bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng hệ thống chính trị và đời sống xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Về xã hội, việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc. Con người trở thành mục tiêu, động lực của sự phát triển. Người dân được thụ hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới, chất lượng cuộc sống được nâng cao rõ rệt. Tuổi thọ trung bình, giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe,… đạt mức độ tương xứng với trình độ phát triển của nhiều nước trên thế giới. Năm 2023, tuổi thọ trung bình của cả nước là 73,7 (năm 2022 là 73,6 tuổi), trong đó nam là 71,1 tuổi và nữ là 76,5 tuổi. Chỉ số Phát triển con người (HDI) của Việt Nam ngày càng tăng cao; từ năm 1990 đến năm 2022, giá trị HDI của Việt Nam thay đổi từ 0,492 lên 0,726, tăng gần 50%. Việt Nam liên tục đạt được tiến bộ trong 30 năm qua.
Về văn hóa, những giá trị cốt lõi của văn hóa, con người Việt Nam như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn, tự hào dân tộc, nhân cách, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ,… được phát huy mạnh mẽ. Tính tích cực xã hội, sức sáng tạo, những năng lực bản chất nhất của con người Việt Nam được khơi dậy mạnh mẽ. Đây là sức mạnh vĩ đại, nguồn lực to lớn, mạnh mẽ, sống động,… thúc đẩy sự phát triển của quốc gia - dân tộc trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Về quốc phòng, an ninh, gần 40 năm đổi mới, đất nước luôn giữ được ổn định về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; quốc phòng được củng cố và bảo vệ vững chắc “Năm 2023, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia cải thiện thứ hạng về chỉ số hòa bình, tăng 4 hạng lên vị trí 41/163 quốc gia và vùng lãnh thổ”. Với chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động tích cực hội nhập quốc tế, là bạn là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, Việt Nam trở thành địa điểm gặp gỡ, giao lưu văn hóa, kinh tế, đối thoại an ninh, chính trị an toàn của nhiều quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế lớn trên thế giới, như: Chủ tịch ASEAN-2020, AIPA-41, Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 77; tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều lần 2; Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA, Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016, 2023 - 2025, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018, v.v.
Thế giới đánh giá cao lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam tại Phái bộ Cộng hòa Trung Phi, Cộng hòa Nam Sudan, Khu vực Abyei và đội tham gia tìm kiếm, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ..., qua đó góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân văn và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, v.v.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm đổi mới đất nước đã minh chứng cho tính ưu việt về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, tính đúng đắn, khả thi của đường lối đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như những nỗ lực của toàn thể nhân dân Việt Nam trong hành trình gian nan đó. Điều này bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động đối với đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo./.
St

LỰA CHỌN CÁN BỘ CÓ “CHẤT”

 Đánh giá đúng, lựa chọn đúng, không bỏ sót những người thực sự có đức có tài, càng không để “lọt” vào cấp ủy khóa mới những người yếu kém, biến chất là vấn đề đang được đảng viên và nhân dân dành sự quan tâm sâu sắc.

Bởi có làm được như vậy, chúng ta mới có được đội ngũ cấp ủy khóa mới tiêu biểu, thực sự là trung tâm đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội.
1. Công tác chuẩn bị đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đang được tiến hành khẩn trương, nghiêm túc, đúng tiến độ. Cùng với việc chuẩn bị văn kiện đại hội, công tác nhân sự nhận được sự quan tâm sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bởi công tác này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là nhân tố bảo đảm cho thành công của đại hội và triển khai thực hiện thắng lợi các nghị quyết của đại hội.
Làm sao để đánh giá cán bộ chính xác, từ đó lựa chọn đúng cán bộ là điều mà các cấp ủy đặc biệt coi trọng trong giai đoạn này. Tại Hà Nội, ngoài những quy định chung, Chỉ thị số 24-CT/TU ngày 7-8-2023 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về “Tăng cường kỷ cương, kỷ luật và trách nhiệm giải quyết công việc trong hệ thống chính trị thành phố Hà Nội”… thực sự trở thành “thước đo” đánh giá cán bộ hiệu quả.
Thông qua đó, soi vào 25 biểu hiện nhận diện vi phạm kỷ cương, kỷ luật và trách nhiệm giải quyết công việc trong hệ thống chính trị thành phố Hà Nội để cán bộ răn mình không mắc phải; đồng thời đây cũng được xem là "cây gậy" để nhắc nhở, răn đe đối với những ai có tâm lý đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm trong giải quyết công việc của Đảng, của dân. Cái được lớn nhất sau hơn một năm thực hiện Chỉ thị số 24-CT/TU là ý thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết công việc đã có chuyển biến tích cực; nhiều vụ việc phức tạp, tồn tại kéo dài đã được giải quyết, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, ổn định tình hình ở địa phương, đơn vị. Nhiều cán bộ đã có những sản phẩm công việc cụ thể, khẳng định được năng lực, trình độ, uy tín của mình thông qua giải quyết việc khó, việc tồn đọng.
Cái được thứ hai đó là nhận diện, chỉ tên những đơn vị, cá nhân vi phạm, xử lý nghiêm để giữ vững kỷ cương, kỷ luật. Thông qua 675 cuộc thanh tra, kiểm tra công vụ ở 1.161 đơn vị của các đơn vị cấp huyện cho thấy, có 33 tổ chức, 60 cá nhân bị phát hiện có vi phạm sau kiểm tra, giám sát, thanh tra và 28 tổ chức, 55 cá nhân đã bị xử lý sau kiểm tra, giám sát, thanh tra. 4 cán bộ quận, huyện và 18 cán bộ xã, phường được cho thôi không đảm nhận nhiệm vụ. 3 cán bộ quận, huyện và 55 cán bộ xã, phường bị xử lý kỷ luật. Ban Thường vụ các quận, huyện, thị ủy đã thực hiện luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với 27 đồng chí, cho thôi làm nhiệm vụ 4 đồng chí, xử lý kỷ luật 12 đồng chí cấp huyện; luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với 48 cán bộ, cho thôi làm nhiệm vụ 19 đồng chí, xử lý kỷ luật 49 đồng chí cán bộ cấp xã.
Rõ ràng, Chỉ thị số 24-CT/TU đã giúp sàng lọc đội ngũ cán bộ, qua đó có thể nhận diện được ai là người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; ai là người đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm trong giải quyết công việc được giao. Chính thước đo ấy, sự sàng lọc ấy giúp cho cấp ủy đánh giá chính xác, khách quan, công tâm, minh bạch, từ đó làm tốt công tác chuẩn bị nhân sự.
2. Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác nhân sự nên trong 7 yêu cầu tại Chỉ thị số 35-CT/TƯ ngày 14-6-2024 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng” có tới 3 yêu cầu liên quan đến công tác nhân sự và công tác chuẩn bị nhân sự cũng như cơ chế, tiêu chí sàng lọc để không bỏ “sót” những người thật sự có đức có tài, kiên quyết không để “lọt” vào cấp ủy khóa mới những người không xứng đáng.
Việc đánh giá đúng cán bộ là tiền đề quan trọng để lựa chọn nhân sự cấp ủy khóa mới bảo đảm sự kế thừa, đổi mới và phát triển; đề cao, coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý; lựa chọn được cán bộ tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, trí tuệ, phẩm chất, đạo đức, lối sống, có năng lực, kinh nghiệm, kinh qua thực tiễn; thực sự là trung tâm đoàn kết, trong sạch, vững mạnh… Để lựa chọn được đúng cán bộ, theo Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Tổ chức Thành ủy Hà Nội Vũ Đức Bảo: Qua quy trình, qua thực tiễn, qua đánh giá cán bộ, chúng ta mới tìm được cán bộ có “chất” về năng lực trình độ, về đạo đức, về trách nhiệm trong công việc, về tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm…
Điều quan trọng nữa cần lắng nghe ý kiến nhân dân. Hơn ai hết, người dân, thông qua công việc hằng ngày sẽ có nhìn nhận, đánh giá đúng “chất” của cán bộ. Nếu cán bộ hết mình phục vụ cho sự nghiệp chung, thực sự gương mẫu, lắng nghe dân, phục vụ nhân dân, được nhân dân đánh giá tốt thì đó là sự lựa chọn chính xác. Còn với những đơn vị, địa phương nào mà nhân dân chưa thực sự yên tâm về vấn đề đoàn kết nội bộ, về những sai phạm chưa được xử lý, cũng như vấn đề bất cập khác thì cấp ủy cấp trên cũng cần chủ động có phương án về công tác nhân sự.
Khi giới thiệu nhân sự, ngoài căn cứ theo quy hoạch, giữ vững nguyên tắc, quy định, bảo đảm dân chủ, khoa học, khách quan, công tâm, minh bạch… thì việc dựa vào nhân dân, lắng nghe ý kiến đánh giá của nhân dân cũng như ý kiến của cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị, địa phương nơi nhân sự công tác sẽ giúp chúng ta có “con mắt tinh đời” để lựa chọn được cán bộ vừa có đức, vừa có tài, thực sự là tinh hoa. Đây chính là cơ sở quan trọng cho thành công của Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng./.
St

ĐÃ Ở NƯỚC NGOÀI CÒN NÓI TO!

- Trước năm 1975 hắn từng vỗ ngực tuyên bố "Tôi là ca sĩ ăn cơm bùn uống nước hố bom"... và đó cũng là 1 tuyên bố chính xác, vì hắn được ưu ái nhất trong "tứ trụ nhạc vàng" thời đó, gắn bó với lính, các trại gia binh... Nói chung là nhiều công trạng trong nghệ thuật của chế độ cũ.

- Sau năm 1975 hắn định cư tại Canada nhưng cũng vẫn mang một nhiệt huyết chống cộng đến cùng. Sau những năm 2000 nhiều ca sĩ hải ngoại về Việt Nam biểu diễn đã bị hắn chỉ trích rất nhiều... Hắn tuyên bố: "Tôi chỉ trở về Việt Nam khi không còn Cộng sản"

Ấy vậy mà... mấy năm trước hắn mò về Việt Nam định mở sô này, sô nọ ở Hà Nội, hắn định đem các bài hát nhạc lính Việt Nam Cộng hoà để trình diễn. Và tất nhiên không được cấp thẩm quyền cho phép... Hắn rất uất ức và phàn nàn Cộng sản Việt Nam 😀

Thời gian gần đây hắn thường xuyên lên mạng bình phẩm về các ca sĩ Việt Nam hát đúng sai lời các kiểu... cứ tưởng mình là tượng đài hay sao ấy 🤔? 

Bản thân tôi có suy nghĩ... loại ca sĩ từ bỏ quê hương như hắn, Phương Dung, Khánh Ly, ...vv không đủ tư cách bình luận, bình loạn gì đến âm nhạc nước nhà, họ chì là những kẻ phản bội.

Nhìn cái bản mặt là thấy ghét rồi... tôi thật!

P/s: Nghe phong phanh hắn đang tính kiện chị "Hờ"vụ chế lời ca khúc "Đoạn buồn đêm mưa"./.
Yêu nước ST.

SAO LẠI KHÔNG TỰ HÀO?

     Một số nhà đài Hải ngoại và anh chị em “dân chủ” trong nước đặt câu hỏi: Hà Nội có gì mà tự hào mà tổ chức chương trình to thế???
Tôi nghĩ, những người đặt câu hỏi này chắc chắn không phải mang dòng máu Việt lại càng không phải người Hà Nội, công dân thủ đô.
Sao lại không tự hào về một sự kiện lịch sử thủ đô hoàn toàn giải phóng.
Sao lại không tự hào về một chiến thắng mang tầm thời đại, chiến thắng một đế quốc to?
Sao lại không tự hào về con người Hà Nội lịch lãm, yêu nước và hào hoa.
Và chương trình thực cảnh đã tái hiện lên đầy đủ sự kiện đó, không khí đó cách đây 70 năm.
Hiện tại và tương lai phải được vun đắp từ quá khứ, nên phải tự hào chứ?
Là một công dân thủ đô, trực tiếp được chứng kiến ngày hội vì hoà bình hôm qua, tôi thấy may mắn.
Còn mấy anh “dân chủ”, nếu cảm thấy khó chịu thì tốt nhất nên ra nước ngoài mà ở!




Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẮT TRƯỞNG PHÒNG CẢNH SÁT KINH TẾ CÔNG AN TỈNH BẮC KẠN!

         Ngày 7/10, nguồn tin của Tiền Phong cho biết, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ban hành quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam đối với Thượng tá Tống Văn Công (SN 1979, trú thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn), Trưởng phòng Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường, Công an tỉnh Bắc Kạn.

Ông Tống Văn Công bị khởi tố về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 4, Điều 251 Bộ luật Hình sự. Quyết định khởi tố và lệnh bắt đối với bị can Công đã được Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao phê chuẩn./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG TA NGÀY CÀNG XỨNG ĐÁNG LÀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO, ĐẢM ĐƯƠNG TRỌNG TRÁCH DẪN DẮT ĐẤT NƯỚC PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ, BỀN VỮNG, NHÂN VĂN TRÊN CON ĐƯỜNG XHCN!

     Một nội dung quan trọng trong đổi mới phương thức, lãnh đạo cầm quyền của Đảng ta hiện nay, đó là kiểm tra, kiểm soát, giám sát và thanh tra một cách dân chủ, chặt chẽ, cụ thể, phù hợp đối với quyền theo trách nhiệm. Kiểm soát quyền lực luôn là công việc trung tâm tuy rất khó khăn, luôn là nguy cơ sinh tử của mọi thể chế dân chủ. Quyền lực luôn thu hút những kẻ không có đạo đức. Sự nghiêng ngả, sụp đổ của một số thể chế chính trị trên thế giới, một trong những nguyên nhân là, do đánh mất vai trò kiểm soát, phá vỡ và đánh mất sự cân bằng quyền lực chính trị của đảng cầm quyền!

Tiếp tục đổi mới mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ chính là Đảng lãnh đạo công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp, bảo đảm quyền lực được thực thi toàn diện, thống nhất và được kiểm soát một cách toàn diện, chặt chẽ, cụ thể, hiệu quả theo Điều lệ Đảng và pháp luật, đúng vị thế và chức năng để Đảng không bao biện, làm thay, lấn sân Nhà nước và ngược lại Đảng cũng không "khoán trắng", buông lỏng lãnh đạo. Các tổ chức của Đảng và đảng viên gương mẫu, đi đầu trong thực hành dân chủ, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trên cơ sở phân định, thể chế hóa nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trên từng lĩnh vực và cấp chính quyền, nhất là đối với quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Hoàn thiện cơ chế của Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam và Nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.

Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước phải được toàn dụng song hành, càng đặc biệt quan trọng đối với người đứng đầu cấp ủy và cấp ủy, trong bối cảnh đổi mới bộ máy đảng và hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, không trùng chéo, liên thông, hiệu lực, hiệu quả. Không định vị đúng quyền và phạm vi quyền được trao sẽ không thể định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy và cấp ủy; ngược lại, trách nhiệm phải trên cơ sở và tương dung thống nhất với quyền được trao. Không thể dung thứ tình trạng dùng quyền mà không chịu trách nhiệm về quyền được trao cũng như tình trạng quyền và trách nhiệm không cân xứng.

Vì vậy, nếu bảo đảm quyền phải gắn liền với trách nhiệm thì trao quyền tới đâu phải kiểm soát vô điều kiện quyền được trao theo trách nhiệm tới đó, không kể là ai hay bất cứ cấp nào. Càng phân cấp, phân quyền đối với người đứng đầu và cấp ủy càng phải siết chặt công tác kiểm tra, giám sát một cách đa diện, dân chủ. Không thể để bất cứ tình trạng quyền được trao ở bất cứ ai, ở bất cứ cấp nào nằm ngoài sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của Đảng, sự phản biện của MTTQ và sự giám sát của Nhân dân theo luật định. Điều đó cũng đồng nghĩa với không thể để và không dung thứ tình trạng lạm quyền, lộng quyền, mạo quyền, tiếm quyền, sở hữu quyền được trao (dưới mọi hình thức, tính chất và mức độ) ở bất cứ ai. Cần đặc biệt phòng ngừa và xử lý nghiêm khắc tệ “đạo vị” (ăn cắp chức vụ) - tham nhũng chính trị - nguồn gốc đẻ ra các tệ nạn khác nguy hiểm (mua bán chức vụ, ban phát quyền lực, nạn “chạy” chức vụ, thành tích, luân chuyển, bằng cấp...).

Đồng thời, đổi mới, thực thi cơ chế giám sát chặt chẽ, nghiêm ngặt về đạo đức của người đứng đầu cấp ủy ở mọi nơi, mọi lúc song hành với vận hành cơ chế kiểm soát, giám sát quyền lực nhằm chống tham nhũng quyền lực, tha hóa và thoái hóa quyền lực. Đạo đức chính trị và quyền lực chính trị phải trở thành đối tượng của công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát từ mọi phía Đảng, Nhà nước, Nhân dân, công luận. Vì, khi đạo đức bị suy thoái, sa đọa rất dễ dẫn tới tha hóa về chính trị, thậm chí thoái hóa về quyền lực chính trị.

Kỷ luật là sức mạnh của sự lãnh đạo của Đảng. Nếu buông lỏng công tác kiểm tra là xâm hại sự lãnh đạo của Đảng, coi nhẹ giám sát kỷ luật trong Đảng là vô hình trung dung túng cho nguy cơ sử dụng quyền được trao biến thành sở hữu quyền được trao và tác họa sẽ khôn lường; nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới suy thoái chính trị, lâm vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “Đảng hóa Nhà nước” hoặc “Nhà nước hóa Đảng”, vô hình tự đánh mất quyền và trách nhiệm lãnh đạo, cầm quyền.

Việc lâu dài nhưng cần kíp là, đổi mới hệ thống tổ chức, xác định rõ vị thế, trách nhiệm của cơ quan kiểm tra và kỷ luật của Đảng ở các cấp theo hướng trao quyền ngang tầm, mạnh mẽ, tổ chức bộ máy gọn, tinh thông trong việc giữ nghiêm kỷ luật theo Điều lệ Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi những chứng bệnh của một đảng cầm quyền; đổi mới cơ quan thanh tra nhà nước. Đồng thời, đổi mới cơ chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra của Đảng - thanh tra của Nhà nước - cơ quan giám sát, phản biện của MTTQ Việt Nam một cách đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả. Trước mắt, củng cố đội ngũ những người làm công việc kiểm tra trong Đảng, thanh tra phía Nhà nước thật sự thạo việc, trung trực, liêm chính trên cơ sở trao quyền quyết định tương xứng cho ngành kiểm tra, thanh tra ngang tầm trọng sự được giao. Đồng thời, gắn chặt với sự giám sát của công luận, của Nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị đối với các tổ chức đảng và đảng viên ở mọi lúc, mọi nơi, dù trong nước hay công tác ở nước ngoài. Nghiêm ngặt kiểm tra, giám sát tổng thể, toàn diện, cụ thể đối với đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu trong công vụ và cuộc sống hàng ngày.

Mỗi quyết nghị bảo đảm "7 định".

Nội dung tiếp theo, đó là thể chế hóa thực thi quyền, trách nhiệm, phương pháp, lề lối, phong cách lãnh đạo, cầm quyền theo Điều lệ Đảng, thống nhất với pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục nghiên cứu xây dựng hệ thống quy chế, quy định, chế độ một cách thống nhất, đồng bộ, cụ thể về sự lãnh đạo của Đảng trên tất cả mọi phương diện, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cải cách xây dựng các ban tham mưu của Đảng gọn nhẹ, liên thông, tinh nhuệ, hành động, đặc biệt đạo đức chính trị ngang tầm trọng trách. Quy định và kiểm tra công việc cần có của người đứng đầu, cấp ủy, trước hết là việc chủ trì đổi mới quy trình ra và tổ chức thực thi nghị quyết. Mỗi quyết nghị của tập thể cấp ủy bảo đảm tối thiểu 7 yêu cầu, với 7 “định”: Định hướng, định tính, định lượng, định hình, định việc, định người và định kiểm. Mỗi quyết nghị của cấp ủy phải là một chương trình hành động, chứ không phải là chương trình nghị luận "suông".

Như thế mới bảo đảm sự tập trung của các quyết sách trên cơ sở thực thi dân chủ, có tính khả thi, kiểm soát chủ động việc thi hành quyết nghị. Thực hiện đồng bộ, chặt chẽ và thiết thực; chú trọng điều tra, làm thử, rút kinh nghiệm và nhân rộng kinh nghiệm; phát huy trí tuệ cấp ủy, đội ngũ đảng viên thật sự dân chủ trong thực hiện nghị quyết, bảo đảm cho các quyết nghị được tuân thủ kịp thời, đúng đắn và hiệu quả; kiểm tra chặt chẽ việc thực thi nghị quyết, chống lối quyết nghị “suông”, chỉ đạo miệng, nói nhiều làm ít, nói nhưng không làm, nói một đường làm một nẻo, thậm chí chống lại nghị quyết… Đó là thước đo về sự trưởng thành chính trị, trí tuệ, uy tín, phương pháp, phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ; đồng thời là sự kiểm chứng giữa quyền và trách nhiệm theo nhiệm vụ của người đứng đầu, cấp ủy và tổ chức đảng.

Các cấp có thẩm quyền thể chế hóa nghị quyết của Đảng về vấn đề này thống nhất thành quy chế, chế độ tại các cơ quan (của Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, MTTQ Việt Nam các cấp và các đoàn thể chính trị) để các cơ quan này giám sát và phản biện. Quy chế hóa về tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng thật cụ thể, thiết thực và hiệu quả; xác định đúng trọng tâm, trúng trọng điểm cần giải quyết; định tính, định lượng và định vị rõ ràng; dân chủ và minh bạch hóa; định lượng và thưởng phạt kịp thời, minh bạch…

Có thể hình dung gồm 10 phương diện định chế thống nhất. Một - Định chế đối thoại dân chủ trong Đảng, đối thoại với cơ sở và nhân dân song hành với định chế kỷ luật theo Điều lệ Đảng và pháp luật. Đó là con đường tiếp tục xây dựng nội bộ đảng vững mạnh và phát triển cơ sở xã hội - chính trị của Đảng vững chắc và rộng rãi ngay từ nền tảng, với tinh thần dân chủ, minh bạch, mà người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trước hết và trực tiếp. Khuyến khích, cổ vũ và bảo vệ mọi sự tìm tòi, sáng tạo thực hiện hiệu quả nghị quyết của Đảng ở tất cả các cấp ủy, các ngành, các địa bàn...

Hai - Định chế trách nhiệmtrước cấp trên, cùng cấp, cấp dưới và đảng viên. Đó là thước đo của việc đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, lề lối làm việc của cấp ủy, phong cách lãnh đạo của người đứng đầu cấp ủy.

Ba - Định chế bầu cử, ứng cử, tiến cử, thi tuyển… một cách dân chủ trong Đảng và hệ thống chính trị, theo hướng tranh cử (nhiều ứng viên cho một chức vụ), bảo cử dân chủ (chịu trách nhiệm đồng thời với người được tiến cử) và đặc biệt thi tuyển minh bạch… Định lượng thời gian “khảo thí”, “khảo chức” sau giữ chức vụ.

Bốn - Định chế luân chuyển, điều động… đối với người đứng đầu các cấp ủy một cách phù hợp, thống nhất trong thế bố trí chiến lược đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp. Thể chế hóa công việc này. Chẳng hạn Luật Hồi tỵ thời Hồng Đức (1470 - 1497) để lại không ít kinh nghiệm có thể tham chiếu hiện nay về phương pháp bố trí, kiểm soát vĩ mô cán bộ các cấp.

Năm - Định chế về miễn nhiệm, từ chức của người đứng đầu, sửa đổi, bổ sung các hình thức, mức độ kỷ luật khác (huyền chức, hạ chức, cách chức, tước bỏ chức vụ…) đối với người giữ các chức vụ trong Đảng và hệ thống chính trị, trên cơ sở quyền gắn với trách nhiệm theo nhiệm vụ, không có vùng cấm, không trừ ngoại lệ, không đợi hết nhiệm kỳ, không vì bất cứ lý do nào khác.

Sáu - Định chế kiểm tra, thanh tra định kỳ và bất thường kết hợp của các cơ quan đảng với định chế giám sát của đảng viên, của nhân dân và công luận để sàng lọc, lựa chọn, bố trí thành viên cấp ủy, nhất là người đứng đầu cấp ủy các cấp.

Bảy - Định chế báo cáo, giải trình trách nhiệm một cách công khai, minh bạch, dân chủ của cá nhân, tổ chức trong Đảng theo Điều lệ Đảng và tại cơ quan, đơn vị theo pháp luật của Nhà nước về các công việc lãnh đạo, mối quan hệ cộng đồng, thân nhân và mối quan hệ thân tộc, tài sản của cá nhân (trước và sau khi giữ chức vụ) và tổ chức mà các cơ quan của Đảng, cơ quan thanh tra của Nhà nước yêu cầu, công luận phát hiện…

Tám - Định chế sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết một cách sát thực về hoạt động của tổ chức đảng cùng cấp và cấp dưới theo các quy chế, trước hết là cấp ủy và người đứng đầu, không chỉ cơ quan đảng mà cả với tổ chức đảng trong các cơ quan chính quyền và tổ chức của hệ thống chính trị các cấp, các doanh nghiệp và những địa bàn trong nước và ở nước ngoài có tổ chức đảng.

Chín - Định chế độ khen thưởng, kỷ luật một cách dân chủ, nghiêm minh, kịp thời đối với công việc thực thi phương thức lãnh đạo của người đứng đầu cấp ủy nói riêng và công tác đảng nói chung theo Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước. Kết quả công việc, sự hài lòng của đảng viên, nhân dân là thước đo hiệu quả của đổi mới phương thức lãnh đạo, phẩm hạnh và tư cách của đảng viên. Lập Quỹ Dưỡng liêm để bảo vệ, cổ vũ đảng viên, cấp ủy các cấp.

Mười - Định chế đổi mới, hiện đại hóa các phương tiện làm việc theo hướng hoàn thiện khung pháp lý và các cơ sở dữ liệu, nền tảng ứng dụng trên nền tảng số và công nghệ hiện đại nhằm đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, chỉ đạo từ truyền thống sang điện tử và dựa trên dữ liệu số, ở tất cả các cấp, các phương diện một cách đồng bộ, thống nhất, trực tiếp, ngang tầm, hiệu quả.

Trong thế giới hiện nay, trước yêu cầu phát triển đất nước giai đoạn mới, theo quy mô, tốc độ, chiều sâu của công cuộc đổi mới, Đảng ta ngày càng xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân vừa là “đứa con nòi” của dân tộc, đảm đương trọng trách lịch sử dẫn dắt đất nước phát triển mạnh mẽ, bền vững và nhân văn trên con đường XHCN và đồng hành cùng nhân loại trong thế kỷ XXI./.
Yêu nước ST.

ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN THÔNG TIN XẤU, ĐỘC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

    Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lợi dụng mạng xã hội đang gia tăng các hoạt động chống phá trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội để xuyên tạc, bịa đặt, kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, biểu tình chống phá sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta.

     Để công tác công tác đấu tranh, ngăn chặn thông tin xấu, độc ngày càng có hiệu quả trong thời gian tới, chúng ta cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

     Một là, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước các thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Phải luôn chủ động nâng cao kiến thức xã hội về mọi mặt, nhằm xây dựng cho mình nhận thức chính trị đúng đắn để xem xét, tiếp cận thông tin một cách khách quan, đầy đủ, chính xác từ những nguồn thông tin chính thống, tránh tiếp cận thông tin phiến diện, một chiều. Cảnh giác trước các nguồn thông tin sai trái, thù địch, trái với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

     Hai là, mỗi cán bộ, công chức, đảng viên khi tham gia mạng xã hội cần biến trang mạng xã hội của mình thành một kênh thông tin, tuyên truyền thường xuyên, chính thống về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Cùng với đó phải tố giác và sẵn sàng tham gia đấu tranh ngăn chặn kẻ xấu kích động việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, kịp thời thông báo cho các cơ quan chức năng để xử lý.

     Ba là,  đẩy mạnh tuyên truyền đội ngũ cán bộ, đảng viên chia sẻ những thông tin chính thống để cùng tuyên truyền vận động cộng đồng hiểu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; bên cạnh đó cần định hướng những trang thông tin, những tài khoản facebook chính thống để cán bộ, đảng viên theo dõi, cập nhật thông tin.

     Bốn là, thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, định hướng kịp thời dư luận xã hội trong cán bộ, đảng viên; lắng nghe ý kiến phản ánh, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng Nhân dân địa phương, thường xuyên tổ chức sinh hoạt nhằm kịp thời trao đổi, làm rõ, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn từ những thông tin xấu xa, độc hại, ác ý của các thế lực thù địch, phản động.

Cuộc đấu tranh rông rãi của cả hệ thống chính trị sẽ góp phần lan toả những thông tin tích cực, định hướng dư luận xã hội, đấu tranh, phản bác tin giả, tin sai sự thật, xấu độc trên internet, mạng xã hội, góp phần làm thất bại các âm mưu, hoạt động phản động của các thế lực thù địch ./.