Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG QUÁ TRÌNH THỂ CHẾ HÓA ĐƯỜNG LỐI, CHỦ TRƯƠNG

 

Trong bài viết "Phát huy tính Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", đăng Báo Nhân Dân số ra ngày 21/10/2024, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chính sách; lãnh đạo thể chế hóa đường lối, chính sách thành pháp luật để quản lý Nhà nước và xã hội.

Như vậy, pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần phải liên tục được hoàn thiện để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, phát huy dân chủ, vì con người, công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Tổng Bí thư yêu cầu: Để thực hiện tốt công tác này cần có cơ chế kiểm soát hiệu quả việc thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật của Nhà nước.

Đồng thời, phải có quy trình xây dựng pháp luật chặt chẽ, khoa học, dân chủ để chính sách, pháp luật thể hiện được đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân, khuyến khích đổi mới sáng tạo, thu hút mọi nguồn lực cho sự phát triển; nhưng cũng phải linh hoạt để kịp thời phản ứng chính sách, có giải pháp xử lý kịp thời các vấn đề thực tiễn phát sinh làm chậm sự phát triển theo nguyên tắc bảo vệ, bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc là trước hết và trên hết.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội trước hết bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách xây dựng và phát triển đất nước. Trên thực tế, quá trình thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật của Nhà nước thể hiện năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.

Quá trình thể chế hóa đường lối, chủ trương và định hướng chính sách của Đảng cũng chính là việc sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống, để đường lối, chủ trương của Đảng được hiện hữu bởi hệ thống luật pháp, các quy định của Nhà nước và theo đó, mọi hoạt động, vận hành của các cơ quan nhà nước, các cán bộ, đảng viên được thực hiện và điều chỉnh bởi pháp luật.

Để thực hiện kiểm soát hiệu quả việc thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật của Nhà nước theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, trước tiên cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong quá trình thể chế hóa đường lối, chủ trương và định hướng chính sách của Đảng.

Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định chất lượng thể chế hóa của Nhà nước, bảo đảm cho hệ thống pháp luật, chính sách của Nhà nước được thể chế hóa đầy đủ, chính xác, kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng, sát thực tiễn và liên tục được hoàn thiện.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình thể chế hóa của Nhà nước thể hiện ngay từ khâu ban hành chủ trương, nghị quyết. Cấp ủy đảng các cấp ngay từ khi hoạch định đường lối, chủ trương phát triển trong từng lĩnh vực và của mỗi địa phương, đơn vị, cần sâu sát, kịp thời tổng kết thực tiễn, dự báo từ sớm, từ xa các biến động và yêu cầu phát triển. Có như vậy, chủ trương, nghị quyết mới sát thực tiễn, bảo đảm quá trình thể chế hóa của Nhà nước có tính khả thi cao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán phương pháp xây dựng nghị quyết xa rời thực tế: "Chỉ mấy cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng những cái mình làm là đúng, mình viết là hay. Nào có biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là "đem râu ông nọ, chắp cằm bà kia", không ăn thua, không thấm thía, không ích lợi gì cả". Văn kiện Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: Ban hành nghị quyết khi thật sự cần thiết, hợp lý, thiết thực, ngắn gọn, khả thi.

Để khắc phục hiện tượng ban hành các nghị quyết chỉ dựa trên những nhận định, phán đoán mang tính chủ quan, áp đặt từ "phòng họp", cần chọn những nhiệm vụ trọng tâm, đột phá để ban hành các chương trình, đề án cụ thể hóa nghị quyết, đồng thời theo hướng rõ mục tiêu, rõ việc, rõ trách nhiệm.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật còn là việc phải khắc phục tình trạng thực hiện trực tiếp đường lối, chủ trương của Đảng mà không qua thể chế hóa hoặc "khoán trắng", áp đặt cho một số cơ quan nhà nước trong thể chế hóa, không có sự quan tâm chỉ đạo, kiểm tra cụ thể của tổ chức đảng.

Cần chú trọng việc Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất và năng lực, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách và pháp luật.

Sớm có quy định cụ thể các tiêu chí về thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo các văn bản pháp luật và quy phạm pháp luật về tính phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng; có quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong soạn thảo, tham gia soạn thảo các văn bản pháp luật để bảo đảm thể chế hóa kịp thời, chính xác đường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, chính sách.

Đó cũng là cách để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy tính độc lập, sáng tạo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thể chế hóa chủ trương, đường lối, đồng thời tạo ra cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan quyền lực nhà nước.

NHÌN THẲNG - NÓI THẬT: VẼ BỆNH MOI TIỀN NGƯỜI DÂN

 

“Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chế độ có lợi nhất cho người bệnh. Tôi sẽ tránh mọi điều bất công, tránh mọi hành vi xấu xa, cố ý và tránh cám dỗ” là một trong những nội dung cơ bản, xuyên suốt của lời thề Hippocrates mà bất cứ sinh viên y khoa nào cũng thuộc nằm lòng trước khi ra trường. Hàng nghìn năm qua, lời thề y học gắn với ngài Hippocrates được coi là ông tổ của ngành y học phương Tây đã trở thành kim chỉ nam cho đạo đức nghề y đối với những người khoác áo blouse trắng trên khắp thế giới. Chỉ tiếc rằng, lời thề y đức cao cả đó ngày càng có nguy cơ bị mai một, thậm chí biến mất trong tâm trí của một bộ phận người hành nghề y thời nay.

Chỉ trong vòng một tuần cuối tháng 10-2024 vừa qua, 2 cơ sở y tế tư nhân tại TP Hồ Chí Minh bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính với số tiền hàng chục triệu đồng và đình chỉ hoạt động có thời hạn vì hành vi cố tình vẽ bệnh moi tiền người bệnh. Nhiều cá nhân hành nghề y của 2 cơ sở này cũng bị tước giấy phép hành nghề. Điều đáng bàn là hiện tượng vẽ bệnh moi tiền người bệnh không còn là chuyện hiếm, mà xảy ra ngày càng nghiêm trọng và đáng lo ngại. Vì chạy theo lợi nhuận, nhiều phòng khám đa khoa, chuyên khoa tư nhân đã tìm mọi cách lôi kéo người bệnh đến khám, chữa bệnh theo hình thức “thuận mua, vừa bán” thông qua rất nhiều hình thức, như: Tư vấn sức khỏe, khuyến mại giảm giá, quảng cáo trang thiết bị y tế hiện đại...

Đáng nói hơn, tình trạng lạm dụng chỉ định y khoa không chỉ diễn ra trong nhiều cơ sở y tế tư nhân mà còn xuất hiện ở không ít bệnh viện khu vực công. Ngoài việc quảng bá rầm rộ, lôi kéo người dân tham gia thực hiện các gói xét nghiệm marker trong máu để tầm soát ung thư với chi phí đắt đỏ, nhiều cơ sở khám, chữa bệnh còn lạm dụng chỉ định các dịch vụ kỹ thuật lâm sàng như xét nghiệm, nội soi, chẩn đoán hình ảnh, chỉ định các dịch vụ kỹ thuật cao và thuốc quá mức, thuốc không cần thiết... gây tốn kém nhiều cho người dân, nhất là người nghèo.

Trăn trở trước thực trạng này, một cán bộ đang công tác trong ngành y và cũng là đại biểu Quốc hội bày tỏ: Bệnh viện thì cần doanh thu, bác sĩ thì cần nhiều bệnh nhân để khám, chữa, các hãng thuốc thì thích bán được nhiều hàng, nhưng nhìn những con số chỉ định phẫu thuật tăng cao, thuốc giá đắt bán được nhiều, lại càng thương người bệnh nhiều hơn do phải chi trả những khoản phi lý.

Giải trình tại nghị trường Quốc hội về vấn đề này, người đứng đầu ngành y tế cũng thừa nhận có tình trạng lạm dụng xét nghiệm quá mức cần thiết. Tình trạng này không chỉ gây tốn kém chi phí và tâm lý bức xúc cho bệnh nhân mà còn ảnh hưởng đến Quỹ Bảo hiểm y tế.

Xét trong mối quan hệ xã hội giữa thầy thuốc và bệnh nhân, thì bệnh nhân bao giờ cũng thuộc đối tượng yếu thế hơn. Thầy thuốc luôn ở vị thế “vế cao, vai trên”, vì là người am hiểu chuyên môn nên mỗi tiếng nói, y lệnh của họ đôi khi có giá trị bằng sinh mệnh một con người. Trong khi đó, người dân có bệnh thường mang trong mình tâm lý vái tứ phương, vái cả những bậc thần thánh, siêu nhân ở một nơi xa lắc nào đó. Huống chi khi gặp được thầy thuốc (nhất là người có trình độ chuyên môn cao, tay nghề giỏi), người bệnh và người nhà của họ luôn miệng "trăm sự nhờ bác sĩ", "vạn sự nhờ bác sĩ".

Từ mối quan hệ không bình đẳng đó nên thầy thuốc bảo gì người bệnh cũng tin theo, nghe theo. Đây chính là căn nguyên sâu xa khiến tình trạng lạm dụng chỉ định y khoa ngày càng trở nên phổ biến, đồng thời cũng là dấu hiệu cho thấy sự xuống cấp, tha hóa y đức của một bộ phận y sĩ, bác sĩ thời nay.

 

 

TRÁCH NHIỆM CỦA THANH NIÊN KHI LÊN ĐƯỜNG BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Thanh niên là lực lượng nòng cốt, là tương lai của đất nước. Mỗi khi Tổ Quốc cần, thanh niên Việt Nam luôn là những người tiên phong, sẵn sàng đối mặt với mọi khó khăn, hiểm nguy để bảo vệ bình yên cho quê hương. Lên đường nhập ngũ và cống hiến cho Tổ Quốc không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi thanh niên.

Khi thanh niên lên đường bảo vệ Tổ Quốc, trước hết đó là sự thể hiện tinh thần yêu nước. Lòng yêu nước không chỉ là tình yêu với đất đai, non sông mà còn là sự sẵn sàng hy sinh vì sự độc lập, tự do của dân tộc. Thanh niên nhận thức rõ rằng, sự bình yên mà họ đang hưởng thụ là nhờ công lao của các thế hệ đi trước đã hy sinh, đấu tranh. Họ ý thức rõ trách nhiệm của mình để giữ gìn những thành quả đó cho thế hệ tương lai.

Bên cạnh đó, lên đường bảo vệ Tổ Quốc cũng là cơ hội để thanh niên tôi luyện bản thân. Quá trình rèn luyện trong quân ngũ giúp các bạn trẻ học hỏi thêm nhiều kỹ năng sống, xây dựng phẩm chất kiên cường, ý chí sắt đá và tinh thần đoàn kết. Đó là những điều quý giá, tạo nên bản lĩnh để các bạn có thể vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống.

Trách nhiệm của thanh niên khi lên đường bảo vệ Tổ Quốc còn là trách nhiệm với gia đình và xã hội. Họ không chỉ là niềm tự hào của gia đình mà còn là tấm gương sáng về tinh thần trách nhiệm và lòng dũng cảm cho cộng đồng, cho các thế hệ trẻ noi theo. Những người thanh niên lên đường nhập ngũ đã gác lại những ước mơ riêng, để ưu tiên cho sự bình yên của hàng triệu đồng bào, cho tương lai của đất nước.

Trách nhiệm của thanh niên khi lên đường bảo vệ Tổ Quốc không dừng lại ở việc hoàn thành nghĩa vụ quân sự, mà còn là trách nhiệm duy trì và phát huy tinh thần yêu nước, sẵn sàng đóng góp cho xã hội sau khi trở về. Họ sẽ là những công dân gương mẫu, tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Thanh niên Việt Nam,  những người trẻ với trái tim nóng bỏng, luôn sẵn sàng lên đường khi Tổ Quốc gọi tên. Đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm tự hào lớn lao, là tiếng gọi của tình yêu Tổ Quốc trong mỗi con người. Và dù ở bất cứ đâu, bất cứ thời điểm nào, thanh niên vẫn luôn kiên định một lòng, gánh vác trách nhiệm thiêng liêng, vì một Việt Nam hòa bình và hạnh phúc.

VIỆT NAM CÓ ĐỦ ĐIỀU KIỆN ĐI LÊN CNXH

 

Những năm đầu triển khai thực hiện đường lối đổi mới, trong lúc tình hình kinh tế - xã hội còn đang hết sức khó khăn thì CNXH ở các nước Đông Âu, rồi Liên Xô sụp đổ; nguồn viện trợ, bao cấp quốc tế không còn nữa, các thế lực thù địch ra sức đẩy mạnh chiến lược Diễn biến hòa bình kết hợp với bạo loạn lật đổ nhằm xoá bỏ CNXH ở nước ta… Trong bối cảnh đó, một số người băn khoăn, liệu nước ta có đứng vững và tiếp tục xây dựng CNXH được không?

Đúng là sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đang đứng trước những khó khăn và thử thách rất lớn. Nhưng bên cạnh đó lại xuất hiện những thời cơ thuận lợi mới, bảo đảm cho cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển theo con đường XHCN:

Trước hết là sự nghiệp cách mạng XHCN của nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức và rèn luyện đã trở thành một Đảng Mác - Lênin chân chính, đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua nhiều thử thách ác liệt, gay go, có thời kỳ tưởng chừng khó vượt qua, để rồi giành thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam có phạm phải những sai lầm khuyết điểm nhưng đã thấy được. Đại hội VI của Đảng đã tự phê bình sâu sắc và khởi xướng công cuộc đổi mới để đưa đất nước tiếp tục tiến lên. Cũng trong điều kiện cải tổ như Việt Nam, nhưng CNXH ở nhiều nước đã bị sụp đổ, còn Việt Nam lại thu được những thành tựu to lớn có ý nghĩa rất quan trọng. Điều đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đúng, bước đi, cách làm là phù hợp.

Cùng với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Việt Nam còn có những thành quả đã giành được với một hệ thống chính trị, từ chính quyền nhân dân đến lực lượng vũ trang, đoàn thể cách mạng, rồi các cơ sở của kiến trúc thượng tầng đã được xây dựng, đang trong quá trình đổi mới để nâng cao năng lực và hiệu quả, với một cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật vững chắc.

Nhân dân Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn và truyền thống kiên cường bất khuất. Nhìn lại mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, chúng ta càng tự hào về ý chí Việt Nam, tính cách Việt Nam, truyền thống Việt Nam, luôn đứng vững trên đôi chân của chính mình, đi lên bằng bàn tay khối óc của mình. Nhân dân Việt Nam xây dựng đất nước từ trước đến nay và từ nay về sau bằng sức mình là chính. Kinh nghiệm lịch sử khẳng định rằng vận mệnh dân tộc, đất nước đứng vững và tiến lên là do nhân dân quyết định.

Sức mạnh tinh thần của dân tộc được phát huy cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh. Bằng ý chí tự lực, tự cường, độc lập, tự chủ, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm Cách mạng tháng Tám thành công, kháng chiến thắng lợi thì sẽ nhất định xây dựng thành công CNXH.

Nhân dân Việt Nam ở những thời điểm khó khăn, phức tạp nhất của tình hình kinh tế - xã hồi (đặc biệt là những năm 80 của thế kỷ XX) nhưng vẫn một lòng theo Đảng và tin tưởng vào chế độ XHCN, vẫn một lòng mong mỏi Đảng sửa chữa những sai lầm khuyết điểm để đưa công cuộc đổi mới đi tới thắng lợi.

Việt Nam còn có nhiều lợi thế, nguồn lực phát triển, đó là nguồn lao động dồi dào, tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, vị trí địa lý thuận lợi, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có và đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo. Đó là những điều kiện hết sức quan trọng để Việt Nam phát triển kinh tế thực hiện dân giàu nước mạnh.

Ngoài ta, điều kiện quốc tế tuy có những khó khăn thử thách, song lại có nhiều yếu tố thuận lợi: Đó là quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, thành quả của cuộc cách mạng KHCN mà Việt Nam có thể tận dụng, xu thế hoà bình và hợp tác ở khu vực và thế giới ngày càng mở rộng và phát triển. Với đường lối đối ngoại rộng mở, Việt Nam có thể tận dụng được những khả năng to lớn về vốn, thị trường, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của bên ngoài để bổ sung và phát huy sức mạnh trong nước…

Việt Nam đi theo con đường XHCN không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên, cảm tính của một cá nhân nào mà là sự lựa chọn của lịch sử, trong đó sự lựa chọn của Bác Hồ và Đảng ta ngay từ năm 1930 là sự lựa chọn có ý nghĩa khởi đầu, khai phá ngọn nguồn cho một dòng chảy của lịch sử nước ta suốt 94 năm qua.

Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh lịch sử không bình thường, đi qua những chặng đường quanh co, khúc khuỷu. Thành công có nhiều nhưng hạn chế cũng không ít. Điều làm lên sự kỳ diệu và vĩ đại của Đảng là ở chỗ: Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức được trách nhiệm của mình trước lịch sử và dân tộc, không dao động vào mục tiêu con đường đã chọn, quyết tâm cùng nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu lý tưởng đề ra.

Chính bởi kiên định với mục tiêu lý tưởng, không dao động hoài nghi nên dù đổi mới diễn ra trong bối cảnh phức tạp, bất lợi song CNXH ở Việt Nam vẫn trụ vững, công cuộc đổi mới ở Việt Nam vẫn giành được những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực.

Mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, công kích CNXH của kẻ địch, mọi lời khuyên, góp ý dưới dạng “tâm huyết” của một số phần tử bất mãn, cơ hội đều đi ngược lại lợi ích của nhân dân, làm cản bước tiến của dân tộc, chúng ta cần chủ động đối phó để bảo vệ vững chắc trận địa chính trị tư tưởng, một mũi tiến công chủ yếu của các thế lực thù địch trong chiến lược DBHB, song lại là một yếu tố lợi thế của cách mạng Việt Nam cần phải bảo vệ.

THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ GÓP PHẦN BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN

 

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách đổi mới về kinh tế, chính trị, xã hội, phát huy một bước quyền làm chủ của nhân dân, nhờ đó đã đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Trước yêu cầu của tình hình mới, vấn đề thực hiện dân chủ ở cơ sở tiếp tục được Đảng và Nhà nước chú trọng và không ngừng đẩy mạnh.

Theo quy định của pháp luật, thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, để mọi tầng lớp nhân dân được thông tin kịp thời cũng như được thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến của mình thông qua việc thảo luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của thực hiện dân chủ ở cơ sở, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị khóa VIII đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, trong đó chỉ rõ khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân tại cơ sở, phải đặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chế tổng thể của hệ thống chính trị.

Trên cơ sở của Chỉ thị số 30-CT/TW, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản về việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở như: Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 26/2/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị quyết số 55/NQ-UBTVQH10 ngày 30/8/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan,…

Đặc biệt, ngày 20/4/2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp lệnh số 34).

Sau 15 năm thực hiện Pháp lệnh số 34, để tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng về thực hành dân chủ ở cơ sở gắn liền với phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" theo tinh thần của Đại hội XIII, đồng thời khắc phục một số hạn chế, bất cập của Pháp lệnh số 34 vì không còn phù hợp bối cảnh mới, ngày 10/11/2022, Quốc hội đã thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (có hiệu lực từ ngày 1/7/2023). So với Pháp lệnh số 34, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở có nhiều điểm mới phù hợp yêu cầu thực hiện dân chủ ở cơ sở trong tình hình mới hiện nay.

Về phạm vi điều chỉnh, nếu Pháp lệnh số 34 chỉ quy định phạm vi thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thì Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 mở rộng điều chỉnh đến việc thực hiện dân chủ trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức có sử dụng lao động.

Về nguyên tắc thực hiện, nếu Pháp lệnh số 34 đề ra 5 nguyên tắc thì Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 xác định 6 nguyên tắc, trong đó có những điểm nhấn mới hết sức quan trọng như yêu cầu bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội trong thực hiện dân chủ ở cơ sở; thực hiện dân chủ ở cơ sở trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm trật tự, kỷ cương, không cản trở hoạt động bình thường của chính quyền địa phương cấp xã, cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động...

Đặc biệt, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 bổ sung thêm nguyên tắc hoàn toàn mới, đó là phải: "Tôn trọng ý kiến đóng góp của Nhân dân, kịp thời giải quyết kiến nghị, phản ánh của Nhân dân".

Về quyền và nghĩa vụ của công dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, nếu như Pháp lệnh số 34 không có quy định cụ thể về vấn đề này thì Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 đã dành hẳn hai điều (Điều 5, Điều 6) trong Chương 1 (Những quy định chung) để nêu rõ: các công dân không chỉ có quyền mà còn phải có nghĩa vụ trong thực hiện dân chủ ở cơ sở như: Tuân thủ quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tham gia ý kiến về các nội dung được đưa ra lấy ý kiến ở cơ sở theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; chấp hành quyết định của cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động…

Đặc biệt, trong Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 có bổ sung thêm Quyền thụ hưởng của công dân tại Điều 7. Đây được xem là một bước tiến rất quan trọng trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, giúp cho quyền làm chủ của người dân ngày càng đi vào chiều sâu.

Về vấn đề công khai thông tin ở xã, phường, thị trấn, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 bổ sung một số nội dung công khai (gồm 14 nội dung) phù hợp quy định trong Luật Tiếp cận thông tin.

Việc điều chỉnh, bổ sung nội dung và hình thức công khai thông tin tại xã, phường, thị trấn của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 so với Pháp lệnh số 34 không chỉ góp phần bổ sung, thể chế hóa những quy định mới của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của người dân mà còn góp phần quan trọng trong việc cung cấp đầy đủ các nguồn thông tin chính xác đến người dân, giúp nhân dân nâng cao nhận thức, chủ động, tích cực, tự giác trong thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước cũng như tạo cơ sở để dân biết, dân bàn theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật.

Có thể khẳng định, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở ra đời thay thế cho Pháp lệnh số 34 là hết sức kịp thời và cần thiết. Sau hơn một năm triển khai, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Việc công khai rộng rãi, đầy đủ mọi thông tin với nhiều hình thức dân bàn cùng những cơ chế hiệu quả để dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, nhờ vậy giúp người dân ngày càng nhận thức đầy đủ hơn cũng như thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của mình.

Để phát huy hơn nữa hiệu quả của việc thực hiện các quy định về dân chủ ở cơ sở, thời gian tới chúng ta cũng cần nghiêm túc khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay. Đó là tình trạng một số cấp ủy đảng, cơ quan chính quyền, tổ chức, đơn vị cấp cơ sở nhất là người đứng đầu còn chưa nhận thức hết tầm quan trọng của vấn đề này cho nên chưa đề cao quyết tâm, thiếu những cách làm hay, sáng tạo.

Vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên ở một số cấp cơ sở do có những biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham ô, tham nhũng nên dù biết rõ những quy định pháp luật vẫn cố tình làm trái để trục lợi cá nhân từ đó vi phạm nghiêm trọng đến thực hiện dân chủ ở cơ sở, xâm phạm đến quyền làm chủ của người dân. Mặt khác, một bộ phận người dân chưa có ý thức tự giác, chấp hành nghiêm những quy định trong Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở…

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót nêu trên, thời gian tới chúng ta cần triển khai đồng bộ một số giải pháp sau: Tăng cường các biện pháp, cơ chế để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị nhất là ở cấp cơ sở về tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thực hiện các quy định pháp luật liên quan dân chủ ở cơ sở.

Cùng với đó cũng phải đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở đến mọi đối tượng với hình thức và cách làm phù hợp, góp phần đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống. Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện, kịp thời tuyên dương, khen thưởng, động viên, nhân rộng, lan tỏa các gương điển hình, những mô hình tốt, cách làm hay; đồng thời phát hiện và xử lý nghiêm trường hợp các cá nhân, tổ chức có các hành vi vi phạm.

NGÔI TRƯỜNG MƠ ƯỚC GIÚP BAO THẾ HỆ THANH NIÊN TRƯỞNG THÀNH

 

Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam đã lập nên những trang sử hào hùng. Cùng với sự lớn mạnh của Quân đội, hàng triệu thanh thiếu niên Việt Nam đã không ngừng trưởng thành về mọi mặt, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của toàn dân tộc. Trải nghiệm trong môi trường quân ngũ, thanh niên được tôi luyện, trau dồi về tư tưởng, khí phách, được hun đúc hoài bão lớn. Có thể khẳng định, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn là “trường học lớn” của thanh niên Việt Nam.

Quân đội là trường học về chính trị, rèn luyện bản lĩnh. Trong môi trường Quân đội, công tác chính trị là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu. Công tác giáo dục chính trị được tiến hành thường xuyên, thấm nhuần trong tư tưởng của mọi quân nhân, đặc biệt chú trọng giáo dục thanh niên mới nhập ngũ. Thông qua các chuyên đề giáo dục chính trị, pháp luật, tiếp cận với các phương tiện truyền thông hiện đại, thanh niên được giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhận định rõ tình hình trong nước và trên thế giới. Thanh niên đã qua Quân đội đa số được rèn luyện phẩm chất chính trị, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, có ý thức chính trị sâu sắc, hiểu thấu đáo trách nhiệm của thanh niên đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhiều thanh niên vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay trong thời gian tại ngũ, điều đó không chỉ giúp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội mà còn góp phần tạo nguồn đảng viên, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ chất lượng cho các địa phương sau khi bộ đội xuất ngũ. Quân đội là nơi rèn luyện bản lĩnh chính trị sắt son, lòng kiên định và trung thành với chế độ, luôn ngời sáng một tinh thần lạc quan và niềm tin tất thắng.

Quân đội là trường học về chuyên môn. Người thanh niên đã qua quân ngũ trước hết có kiến thức về quân sự, quốc phòng. Tùy theo quân binh chủng, bậc học khác nhau, có thể có các kiến thức ở các chuyên ngành khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội nhân văn với trình độ khác nhau để phục vụ công tác và yêu cầu xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Được học nghề và tạo việc làm khi rời quân ngũ để tiếp tục đóng góp tốt hơn cho gia đình và xã hội.

Quân đội là trường học rèn kỷ luật. Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội. Được cụ thể hóa bằng các chế độ sinh hoạt, học tập, công tác hàng ngày, hàng tuần và được quản lý chặt chẽ thông qua hệ thống các tổ chức thống nhất từ trên xuống dưới. Trong môi trường đó tất cả các quân nhân đều bình đẳng tu dưỡng, học tập, rèn luyện và cống hiến. Trong suốt quá trình đó, mọi ưu điểm, thành tích, chiến công, cũng như những khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót và vi phạm của mỗi quân nhân đều được các tổ chức đánh giá ghi nhận, phân tích chỉ rõ và quản lý chặt chẽ theo phân cấp; chính việc rèn luyện kỷ luật đã tạo thành phẩm chất đạo đức riêng có của mỗi quân nhân.

Quân đội là trường học rèn thể lực, thể chất. Thông qua các hoạt động huấn luyện kỹ, chiến thuật, các nội dung huấn luyện thể lực, hành quân, rèn luyện, diễn tập tổng hợp, luyện tập thể dục thể thao một cách đều đặn đã giúp cho thanh niên Quân đội nâng cao sức khỏe, sự dẻo dai, bền bỉ, tăng cường khả năng chịu đựng trước sự khắc nghiệt của thời tiết cũng như yêu cầu cao của nhiệm vụ chiến đấu.

Quân đội là môi trường trau dồi kỹ năng trong cuộc sống. Trong môi trường tập thể, thanh niên Quân đội có điều kiện chia sẻ những kĩ năng sống, lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, tránh được những sai lầm, vượt qua được những thử thách khó khăn; thắp sáng tinh thần đoàn kết, đồng tâm, đồng lòng; tương thân, tương ái, quan tâm giúp đỡ mọi người, chung tay vì cộng đồng xã hội. Qua các hoạt động thực tiễn, tuổi trẻ Quân đội được trải nghiệm rất nhiều điều ý nghĩa, hiểu được giá trị của cuộc sống, tu dưỡng sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Có thể nói, môi trường hoạt động của Quân đội hiện nay là cơ hội để thanh niên học tập, rèn luyện, cống hiến, trưởng thành nhanh và vững chắc về phẩm chất, cường tráng về sức khỏe; chững chạc về phong cách; trưởng thành về nhận thức; nghiêm chỉnh về kỷ luật; thành thạo về nghiệp vụ; giao tiếp ứng xử có văn hóa. Chính những yếu tố đó giúp hàng triệu thanh niên Việt Nam khẳng định được sức trẻ, sự trưởng thành, đáp ứng được yêu cầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

ĐI LÊN CNXH LÀ PHÙ HỢP VỚI QUY LUẬT TIẾN HÓA CỦA LỊCH SỬ VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN TẤT YẾU CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 Quy luật tiến hoá của lịch sử loài người đã được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin phát hiện. Đó là lịch sử của sự thay thế nhau giữa các hình thái kinh tế xã hội (HTKTXH). Sự thay thế đó là một tất yếu khách quan. Trong đó, động lực của sự phát triển lịch sử là sự phù hợp của quan hệ sản xuất (QHSX) với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX). Khi QHSX không còn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX thì tất yếu dẫn tới các cuộc các mạng xã hội để thiết lập các hình thức tổ chức xã hội mới. Đó là nguồn gốc của sự thay thế nhau giữa các HTKTXH. Toàn bộ lịch sử xã hội loài người đã diễn ra như vậy, từ chế độ cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, TBCN và HTKTXH cuối cùng mà C.Mác - Ph.Ăngghen dự kiến đó là HTKTXH cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là CNXH. Các HTKTXH trên đã lần lượt ra đời và thay thế nhau. Vì vậy, trong thời đại ngày nay, quy luật và xu thế phát triển tất yếu của các dân tộc vẫn sẽ là tiến lên CNXH.

Tuy nhiên, có một thực tế là, từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, sau khi CNXH ở một số nước Đông Âu sụp đổ, Liên Xô thành trì của cách mạng thế giới, quê hương của Cách mạng tháng Mười với hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành cũng tan rã. Trong khi đó, CNTB vẫn tồn tại, “vẫn còn tiềm năng phát triển”. Vậy, phải chăng lý luận Mác - Lênin về quy luật tiến hoá và xu thế phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người là sai? Sự thật phũ phàng đó đã tác động và ảnh hưởng xấu đến tư tưởng tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước đối với CNXH, đối với con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Nó đòi hỏi Đảng ta phải có câu trả lời chính xác với đầy đủ cơ sở khoa học. Có như vậy chúng ta mới có cơ sở để củng cố thế trận lòng dân, mới phát huy được sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân cho sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.

Đứng vững trên lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, với một thái độ khách quan khoa học, Đảng CSVN đã vận dụng chính lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về phương pháp xem xét đánh giá sự vật hiện tượng, là phải “khách toàn, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển”, để xem xét đánh giá về CNXH và CNTB trong tình hình hiện nay.

Trước hết nói về CNTB. Nếu như những năm 50-60 của thế kỷ XX, trong khi CNXH do Liên Xô đứng đầu đã giành được những thành tựu rực rỡ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, thì CNTB lại đang trong tình cảnh khó khăn, tụt hậu so với các nước XHCN. Trong bối cảnh đó, CNTB đặc biệt là các nước tư bản phát triển đã tập trung điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế theo chiều sâu, đẩy nhanh sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ (KHCN)  và ứng dụng một cách có hiệu quả những thành tựu của cách mạng KHCN vào sản xuất và giải quyết các vấn đề xã hội. Nhờ đó, từ cuối thập kỷ 70 đến nay, CNTB đã có những bước phát triển nhảy vọt. Những thành tựu to lớn về kinh tế, khoa học, công nghệ mà CNTB hiện đại đã đạt được trong những thập niên vừa qua là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, dù CNTB có điều chỉnh như thế nào đi chăng nữa thì sự điều chỉnh đó vẫn nằm trong khuôn khổ của CNTB. Các mâu thuẫn cơ bản, vốn có trong lòng xã hội tư bản vẫn không hề bị xoá bỏ. Trái lại càng làm cho các mâu thuẫn đó gay gắt hơn. Trong đó trước hết phải kể đến mâu thuẫn giữa QHSX dựa trên chế độ chiêm hữu tư nhân TBCN với LLSX phát triển cao cả về tính chất và trình độ. C.Mác – Ph.Ăngghen đã từng nói: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí giết mình, nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những người công nhân hiện đại, những người vô sản” . Ngoài ra chính những chính sách phản động, bá quyền, những cuộc chiến tranh xâm lược và can thiệp quân sự của Mỹ và một số nước phương Tây đang trà đạp trắng trợn lên độc lập chủ quyền của dân tộc và là sự cản trở đối với sự phát triển tiến bộ và văn minh của thế giới đương đại đại. Như vậy, CNTB ngày nay dù có những điều chỉnh thích nghi, có những sự phát triển mới, song về bản chất vẫn là chế độ người bóc lột người, chứa đựng trong nó vô vàn mâu thuẫn và bất công. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, những mục tiêu lớn mà nhân loại đặt ra thì CNTB lại càng không thể có đủ khả năng giải quyết, những mục tiêu đó là: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; vấn đề giải quyết đói nghèo, bệnh tật; vấn đề mội trường, sinh thái... CNTB không những không có đủ khả năng giải quyết các mục tiêu đó mà còn là thủ phạm chính gây lên những hậu quả đó. Chính bởi vây, CNTB không thể là tương lai cho sự phát triển của nhân loại, cũng không thể là con đường lựa chọn của Đảng và nhân dân Việt Nam.

Còn đối với sự khủng hoảng và sụp đổ của CNXH ở một số nước Đông Âu và Liên Xô? Cần phải khách quan nhìn nhận rằng, sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, nước Nga rơi vào tình trạng cực kỳ khó khăn khi mà 14 nước đế quốc bao vây hòng bóp chết chính quyền Xôviết ngay từ thời kỳ trứng nước. Tuy nhiên, với bản chất ưu việt của một chế độ xã hội mới, nước Nga rồi sau đó là Liên Xô đã từng bước vượt qua khó khăn thử thách, giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, những năm 50-60 của thế kỷ XX, Liên Xô và hệ thống các nước XHCN đã đạt được những thành tựu rực rỡ trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, quân sự... Những thành tựu đó đã khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn; thể hiện bản chất, tính ưu việt của CNXH so với CNTB. Đó là điều không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, Liên Xô và các nước XHCN đã lâm vào khủng hoảng, trước hết là trên lĩnh vực kinh tế. Cải tổ, cải cách để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng là một tất yếu khách quan, là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa sống còn của các đảng cộng sản trong nửa cuối thập niên 80, đầu 90 của thế kỷ XX. Trong bức tranh tổng thể về cải cách, cải tổ và đổi mới ở các nước XHCN, có nước thành công và đạt được những thành tựu to lớn, CNXH vẫn trụ vững và phát triển; có nước cải tổ bị thất bại, Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản cách mạng đã lớn tiếng kêu gào về sự “cáo chung của lịch sử”, sự lạc hậu, lỗi thời của chủ nghĩa Mác – Lênin... Cần phải thấy rằng, sự khủng hoảng và sụp đổ của CNXH ở một số nước Đông Âu và Liên Xô không phải do bản chất của CNXH gây ra mà nó có nguyên nhân sâu sa và nguyên nhân trực tiếp. Nguyên nhân sâu sa là do duy trì quá lâu cơ chế tập tập trung quan liêu bao cấp, chậm trễ trong ứng dụng cách mạng KHCN. Nguyên nhân trực tiếp, là do những sai lầm nghiêm trọng của các Đảng Cộng sản trong hoạch định và chỉ đạo thực hiện đường lối cải tổ, như từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chấp nhận cơ chế đa nguyên về chính trị và chế độ đa đảng đối lập; từ bỏ học thuyết Mác - Lênin và CNXH khoa học, phủ nhận giai cấp và đấu tranh giai cấp; từ bỏ những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của V.I.Lênin và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân,… Trong những điều kiện khó khăn, phức tạp và hiểm nghèo như thế, lẽ ra cần phải đoàn kết, kiên định với mục tiêu lý tưởng để tìm ra những giải pháp khắc phục khó khăn, ổn định tình hình, phát triển đất nước, thì họ lại dao động rồi vội vàng từ bỏ CNXH. V.I.Lênin đã từng nói: “Chỉ có giai cấp nào đi theo con đường của mình mà không do dự, không chán nản và không sa vào tuyệt vọng trong những bước khó khăn nhất, gay go nhất và nguy hiểm nhất, thì mới có thể lãnh đạo được những quần chúng lao động và bị bóc lột. Chúng ta không cần những sự hăm hở điên cuồng. Điều cần thiết cho chúng ta, chính là bước đi nhịp nhàng của những đoàn quân vững như gang thép của giai cấp vô sản”. Cùng với những sai lầm về đường lối ở các nước XHCN còn phải kể đến nguyên nhân trực tiếp nữa, đó là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản cách mạng trong chiến lược “DBHB”…

Phân tích những nguyên nhân sâu xa và trực tiếp dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của CNXH ở một số nước Đông Âu và Liên Xô để khẳng định rằng: Không phải sự sụp đổ của một số nước XHCN có nghĩa toàn bộ CNXH sẽ bị thủ tiêu, quy luật lịch sử đã kết thúc và xu thế của thời đại đã đảo ngược. Sự khủng hoảng đó đang phản ánh những bước quanh co của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử. Cũng cần phải thấy rằng, quá trình phát triển của lịch sử từ HTKTXH TBCN sang XHCN là một quá trình lịch sử lâu dài và không thể thẳng tắp theo mong muốn chủ quan của những người cộng sản. Cách mạng XHCN là một cuộc cách mạng sâu sắc toàn diện và triệt để nhất trong lịch sử, không như những cuộc cách mạng xã hội trước đó, chỉ thay thế chế độ bóc lột này bằng chế độ bóc lột khác, cách mạng XHCN làm thay đổi hẳn nền tảng, giải phóng triệt để con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột. Một cuộc cách mạng như thế khó tránh khỏi những vấp váp sai lầm. Chính bản thân CNTB đã chứng minh, để chiến thắng được xã hội phong kiến, để thiết lập được sự thống trị của giai cấp tư sản, nó đâu chỉ có hơn 70 năm, đâu chỉ có một lần cách mạng. Cách mạng tư sản Anh bắt đầu nổ ra từ 1649 phải đến 150 năm sau với ba lần cách mạng mới thành công. Cách mạng tư sản Pháp, Đức cũng diễn ra tương tự như thế.

Sau khi CNXH ở một số nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, cũng có người muốn chủ trương đưa đất nước phát triển theo mô hình của các nước công nghiệp hóa mới (NICS), hoặc mô hình của chủ nghĩa xã hội dân chủ. Cả hai mô hình đó đều không phù hợp. Bởi lẽ: các nước công nghiệp hoá mới như Hàn Quốc, Xingapo,… sở dĩ họ phát triển được như vậy vì họ có những điều kiện hết sức thuận lợi, đặc biệt và trước hết là họ gắn chặt quyền lợi của Mỹ về kinh tế, chính trị, quân sự. Mỹ đã dành cho các này những ưu đãi về viện trợ, đầu tư, tài chính, công nghệ, dịch vụ. Giữa Mỹ và các đồng minh này có sự mặc cả, mua bán lẫn nhau về lợi ích, nhờ đó họ có thể phát triển nhanh. Giả sử Việt Nam có chọn đi theo mô hình đó thì cũng chẳng bao giờ có được sự ưu đãi đặc biệt của Mỹ như họ đã từng giúp các nước trên. Còn mô hình CNXH dân chủ như Thuỵ Điển, Phần Lan, Áo,… chúng ta không thể tin và đi theo thứ “lý luận nửa vời” mà một số người cho là “hợp mốt”, sành điệu đang thình hành ở phương Tây. Bởi mô hình này xét về thực chất vẫn dựa trên ba nền tảng chủ yếu đó là chế độ tư hữu, thị trường tự do, đa nguyên về chính trị. Mô hình đó chẳng qua cũng chỉ là “cái áo khoác màu” của CNTB mà thôi.

NHẬN DIỆN THÔNG TIN SAI TRÁI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 

Thông tin sai trái trên không gian mạng là những thông tin không đúng sự thật, được phát tán trên không gian mạng, lan truyền đến các tầng lớp nhân dân nhằm xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chi Minh, chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bịa đặt, vu cáo, nói xấu lãnh tụ, chia rẽ đoàn kết nội bộ, tạo sự phân tâm trong xã hội, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bi quan, dao động, mơ hồ, mất phương hướng chính trị của quân nhân.

Thông tin sai lạc sự thật do các thế lực thù địch, phản động đăng tải, phát tán trên không gian mạng. Đây là những thông tin đối lập với thông tin đúng đắn, phản ánh sai trải sự nghiệp lãnh đạo của Đảng, với âm mưu thâm độc, nhằm hướng lái tư duy, nhận thức của cộng đồng mạng đi ngược mục tiêu, lý tưởng, phương hướng, hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Kẻ địch đăng tải, phát tán thông tin sai trái là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng và thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thông tin sai trái trên không gian mạng biểu hiện trên 3 nhóm cơ bản sau:

Nhóm thứ nhất, những thông tin sai trái tác động, thúc đầy suy thoái về tư tưởng, chính trị:

Thông tin xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thông tin thổi phồng khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở.

Thông tin bôi đen chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thông tin xuyên tạc tư tưởng, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chi Minh, hạ bệ uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bôi nhọ làm mất uy tín cán bộ.

Thông tin kích động, đánh lạc hướng dư luận, trộn lẫn đảng sai gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ.

Thông tin bóp méo sự thật, gây phân tâm tư tưởng trong xã hội, xuyên tạc lịch sử, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Thông tin cổ súy, đề cao chủ nghĩa cá nhân, phủ nhận vai trò của tập thể. Thông tin truyền bả tư tưởng phương Tây tự do, thực dụng.

Thông tin cổ súy giá trị đồng tiền.

Nhóm thứ hai, những thông tin sai trái tác động, thúc đẩy suy thoái về đạo đức, lối sống:

Thông tin truyền bá sản phẩm văn hóa xấu độc, đồi trụy.

Thông tin quảng bá lối sống tư bản, đề cao lối sống thực dụng ích kỷ, cực đoan.

Thông tin đề cao lối sống tư lợi, gian lận bất chấp luật pháp. Thông tin cổ suý lối sống phô trương, háo danh, thành tích.

Thông tin truyền bả lối sống hưởng thụ, cá nhân chủ nghĩa.

Thông tin cổ vũ phong cách sống nhanh, vô trách nhiệm.

Thông tin kích động lòng tham, cổ súy lối sống vô cảm.

Thông tin truyền bá văn hóa phẩm phản động, chỉ vẽ lôi sống mưu mô, xảo quyệt. Thông tin bôi nhọ truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

Nhóm thứ ba, những thông tin sai trái thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ:

Thông tin cổ sủy tư tưởng, hành động chống đổi.

Thông tin kích động tâm trạng phản loạn.

Thông tin thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, vu cáo lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Thông tin gieo rắc tâm lý bất mãn, gây hoài nghi.

Thông tỉnh phủ nhận, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang.

Thông tin kích động bi quan, bất bình, móc nối, tập hợp lực lượng chống phá Đảng và Nhà nước.

Thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, một chiều về chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước.

Thông tin cổ suý quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan, văn hoá, nghệ thuật tự do, lệch lạc, biến thái.

Thông tin chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thông tin sai trái trên không gian mạng có tính truyền tải nhanh, gần như tức thì. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng để truyền bá những thông tin xấu độc, những bài viết với ngôn ngữ, luận điệu kích động, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta trên mọi lĩnh vực.

Thông tin sai trái trên không gian mạng có diện tham chiếu rộng, dễ tạo hiệu ứng xã hội theo chiều rộng và chiều sâu. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng tác động đến mọi tầng lớp nhân dân, làm ô nhiễm môi trường thông tin xã hội, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng chính trị, dư luận xã hội, gây hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thông tin sai trái trên không gian mạng rất khó quản lý và kiểm soát. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy, lối sống thực dụng gây ảnh hưởng trực tiếp đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân và cộng đồng xã hội: Đạo đức xã hội bị băng hoại, văn hóa dân tộc bị tầm thường hóa, mất bản sắc, văn hóa xã hội bị đổ vỡ. Từ đó, tác động mạnh đến chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng...; dẫn đến mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin của một bộ phận không nhỏ những người thường xuyên tiếp cận với không gian mạng.

TÔN VINH GIÁ TRỊ DANH HIỆU BỘ ĐỘI CỤ HỒ LÀ HỢP VỚI Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN

 


Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ là danh hiệu cao quý mà nhân dân ta dành tặng cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội-những người con từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu vì nhân dân mà phục vụ. Bằng cách trao tặng danh xưng Bộ đội Cụ Hồ, nhân dân ta đã thể hiện sự tôn vinh, tình thương yêu và niềm tin sâu sắc nhất của mình đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành một giá trị văn hóa quân sự Việt Nam nói riêng, một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam nói chung mà còn là hình mẫu của con người Việt Nam trong thời đại mới, để các thế hệ kế tiếp noi theo.

MỌI SỰ XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀU TRỞ NÊN LẠC LÕNG, KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN

 MỌI SỰ XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀU TRỞ NÊN LẠC LÕNG, KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN 


Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và cách mạng Việt Nam.


Tuy nhiên, thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch và đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là khi Đảng chủ trương đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.


Sự xuyên tạc, bịa đặt thâm độc 


Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là nhằm “hạ bệ thần tượng”,  thay đổi tình cảm của dân tộc với lãnh tụ Hồ Chí Minh; tạo tâm lý hoang mang, dao động, thiếu tin tưởng vào tư tưởng Hồ Chí Minh; sâu xa là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo nên “khoảng trống” về tư tưởng để thực hiện “chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”. 


Các đối tượng khi xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh thường tập trung vào: Thứ nhất, chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ hai, xuyên tạc những tư tưởng cụ thể trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, chẳng hạn như: Không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, hoặc có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ là những lý thuyết giáo điều; tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là “tư biện, lý thuyết, ảo tưởng, phi thực tế”... Thứ ba, xuyên tạc về bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, như: Tư tưởng Hồ Chí Minh là “sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước”; tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời, lạc hậu”, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới...


Để xuyên tạc, xóa bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt. Chúng thường lập luận dựa trên những nguồn thông tin không rõ nguồn gốc, những hình ảnh đã photoshop hoặc cắt xén. Hoang đường hơn, chúng còn dựng lên những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, những nhân chứng giả, bằng chứng giả và đưa ra những quy kết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đầy tính tư biện.


Các thế lực thù địch thường sử dụng các diễn đàn công khai như tổ chức các hội thảo, tọa đàm, trao đổi, phỏng vấn... Đặc biệt, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của truyền thông, chúng triệt để lợi dụng vùng “lãnh thổ đặc biệt” là không gian mạng với hàng nghìn trang mạng xã hội, trong đó có nhiều trang giả mạo các cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền những nội dung chống phá....


Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta kỷ nguyên rực rỡ trong lịch sử vinh quang của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Trong suốt thời gian qua, vận dụng đúng đắn, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng giành được những thắng lợi vẻ vang.


Tình cảm mà nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước dành cho Người là điều không thể phủ nhận. Không những vậy, những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ghi nhận bởi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), của các chính khách, giới nghiên cứu quốc tế, từ các nước xã hội chủ nghĩa cho đến tư bản chủ nghĩa... Do vậy, mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận.


Bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay


Nhận thức về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người ở vị trí quan trọng. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đó, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp sau:


Một là, nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận thức toàn diện về nội dung, bản chất và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần củng cố niềm tin, trau dồi bản lĩnh chính trị, cung cấp cơ sở luận cứ đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả và sắc bén nhằm làm thất bại những chiêu bài xuyên tạc, bóp méo sự thật về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trái lại, nhận thức chưa đúng đắn, toàn diện có thể dẫn tới việc đấu tranh trở nên mơ hồ, thiếu căn cứ, kém hiệu quả. Do vậy, chúng ta cần tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh với những phương pháp, cách thức sáng tạo và phù hợp hơn.


Đổi mới cách thức tổ chức các hội thảo và tọa đàm khoa học về Chủ tịch Hồ Chí Minh theo hướng chú trọng đến trao đổi, thảo luận có định hướng, gắn với những vấn đề thực tiễn trong nước và thế giới. Bên cạnh những sản phẩm có tính “hàn lâm”, nghiên cứu chuyên sâu, cần nhiều sản phẩm có tính “thường thức” với cách thể hiện giản dị, ngắn gọn, sinh động, hấp dẫn, dễ nhớ, dễ hiểu, nhất là đối với lớp trẻ. 


Giảng dạy về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được coi trọng ở tất cả các cấp. Trường học, các cơ sở đào tạo, nhất là hệ thống trường Đảng cần tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, khắc phục tư tưởng ngại học, lười học, học mà không vận dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực chất hơn nữa; cần có chế độ kiểm tra, giám sát việc học tập, thưởng-phạt công minh, đưa vào tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cán bộ, đảng viên...


Hai là, đẩy mạnh và triển khai các hướng nghiên cứu mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghiên cứu làm sáng rõ những vấn đề về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là góp phần bảo vệ và phát triển tư tưởng của Người, nhất là khi các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng một số "khoảng trống" trong tư tưởng và tiểu sử Hồ Chí Minh để tuyên truyền xuyên tạc và bịa đặt. Hơn nữa, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng giống như Chủ nghĩa Mác, là một học thuyết mở. Sức sống của một tư tưởng mở nằm ở những chỉ dẫn có tính nguyên lý. Do vậy, trong việc học tập, chúng ta phải bảo đảm nguyên tắc vận dụng sáng tạo và phát triển, bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn trong nước và thế giới hiện nay.


Để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, một số hướng nghiên cứu cần được thực hiện, đó là: Tiếp tục hướng nghiên cứu cơ bản nhằm làm rõ những quan điểm, tư tưởng có giá trị bền vững, phản ánh quy luật vận động của xã hội, tiếp tục “soi đường” cho cách mạng Việt Nam; những quan điểm, tư tưởng trước kia đúng đắn nhưng hiện nay đã bị thực tiễn vượt qua, cần được thay đổi hoặc bổ sung, phát triển; những quan điểm, tư tưởng đúng đắn, phù hợp nhưng chưa được hiểu đúng và đủ, hoặc vận dụng chưa đúng, chưa phù hợp dẫn đến chưa hiệu quả... 


Đẩy mạnh hướng nghiên cứu vận dụng nhằm định hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra gắn với các ngành, các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Tiếp tục hướng nghiên cứu nhằm khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, nhất là những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới...


Ba là, nâng cao hiệu quả và kiên quyết đấu tranh phản bác sự xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận diện một cách chính xác sự xuyên tạc (âm mưu, thủ đoạn, nội dung, động cơ, hình thức) và mức độ tác động đến xã hội của từng loại xuyên tạc để có phương pháp đấu tranh phù hợp và xử lý một cách kiên quyết. Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên-lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng này; duy trì và phát huy tác dụng của các nhóm chuyên gia, các đội xung kích tại các cơ quan, đơn vị, nhất là những cơ quan nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh.


Xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh vững chắc, cung cấp cứ liệu và tư liệu đầy đủ, lập luận một cách chặt chẽ, logic, bẻ gãy từ gốc sự bịa đặt, sai trái, thù địch, phản động. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh; tích cực kiểm soát có hiệu quả các trang mạng độc hại, chấn chỉnh những phát ngôn thiếu trách nhiệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kiên quyết và xử lý nghiêm minh đối với những phần tử chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh.


Bốn là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Cần tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí hiệu quả hơn nữa.


Cùng với đó là xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tâm, có tầm, có đức, có tài, thực sự tiêu biểu về mọi mặt, luôn tiên phong, gương mẫu trong công tác, góp phần quan trọng vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”. Mọi sự xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được kiên quyết đấu tranh loại bỏ./.

QUY ĐỊNH MỚI VỀ ĐĂNG KÝ CƯ TRÚ CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ XÓA ĐĂNG KÝ THƯỜNG TRÚ, TẠM TRÚ

 QUY ĐỊNH MỚI VỀ ĐĂNG KÝ CƯ TRÚ CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ XÓA ĐĂNG KÝ THƯỜNG TRÚ, TẠM TRÚ 


Việc đăng ký cư trú cho người chưa thành niên; hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký thường trú, tạm trú được quy định trong Nghị định số 154/2024/NĐ-CP, ngày 26/11/2024, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú (sau đây gọi tắt là Nghị định 154/2024/NĐ-CP)


Về việc đăng ký cư trú cho người chưa thành niên, Điều 7 của Nghị định 154/2024/NĐ-CP quy định:


1. Trường hợp người chưa thành niên đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ hoặc cha hoặc mẹ thì cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thực hiện kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.


Trường hợp người chưa thành niên đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại nơi thường trú, nơi tạm trú không phải là nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ thì cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thực hiện kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú. Trường hợp người chưa thành niên được Tòa án quyết định giao cho cha hoặc mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng thì người được giao chăm sóc, nuôi dưỡng kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.


2. Trong thời hạn tối đa 60 ngày, kể từ ngày người chưa thành niên được đăng ký khai sinh thì cha hoặc mẹ hoặc chủ hộ hoặc người giám hộ có trách nhiệm thực hiện thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo thông tin về cư trú cho người chưa thành niên. Trường hợp cha, mẹ của người chưa thành niên có nơi thường trú nhưng không phải nơi đang thực tế sinh sống thì người chưa thành niên được đăng ký thường trú tại nơi thường trú của cha, mẹ.


3. Trường hợp cha, mẹ của người chưa thành niên không có cả nơi thường trú, nơi tạm trú thì thực hiện khai báo thông tin về cư trú cho người chưa thành niên theo quy định tại Điều 4 Nghị định này.


4. Trường hợp đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú lần đầu cho người chưa thành niên theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì cơ quan đăng ký cư trú không phải thực hiện kiểm tra, xác minh điều kiện về tính hợp pháp của chỗ ở và tình trạng cư trú.


Về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký thường trú, Điều 9 của Nghị định 154/2024/NĐ-CP quy định:


1. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày hộ gia đình có người thuộc diện xóa đăng ký thường trú thì người thuộc diện xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú.


2. Hồ sơ xóa đăng ký thường trú gồm: Tờ khai thay đổi thông tin cư trú và giấy tờ, tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp xóa đăng ký thường trú.


3. Người thực hiện thủ tục nộp 1 hồ sơ bằng phương thức trực tuyến, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích đến cơ quan đăng ký cư trú.


4. Trường hợp người bị đề nghị xóa đăng ký thường trú chưa có thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc thông tin về người đó trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư không đầy đủ, chính xác thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


5. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ thì cơ quan đăng ký cư trú thực hiện xóa đăng ký thường trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký thường trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


6. Trường hợp người thuộc diện xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, lập biên bản về việc công dân, đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú và thực hiện xóa đăng ký thường trú đối với công dân.


7. Cơ quan, đơn vị quản lý người học tập, công tác, làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân có văn bản đề nghị cơ quan đăng ký cư trú trên địa bàn đóng quân xóa đăng ký thường trú đối với người thuộc đơn vị mình quản lý. Văn bản đề nghị cần nêu rõ họ, chữ đệm và tên khai sinh; ngày, tháng, năm sinh; số định danh cá nhân hoặc chứng minh nhân dân 9 số của người thuộc trường hợp xóa đăng ký thường trú; lý do đề nghị xóa đăng ký thường trú.


8. Trong thời hạn 1 ngày làm việc, kể từ ngày Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tiếp nhận thông tin phản ánh về người thuộc trường hợp bị xóa đăng ký thường trú quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, thực hiện xóa đăng ký thường trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký thường trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


9. Sau khi thực hiện việc xóa đăng ký thường trú, cơ quan đăng ký cư trú thông báo bằng văn bản giấy hoặc bản điện tử hoặc hình thức điện tử khác cho người bị xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình.


Về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký tạm trú, Điều 10 của Nghị định 154/2024/NĐ-CP quy định:


1. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày hộ gia đình có người thuộc diện xóa đăng ký tạm trú thì người thuộc diện xóa đăng ký tạm trú hoặc đại diện hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa đăng ký tạm trú.


2. Hồ sơ xóa đăng ký tạm trú gồm: Tờ khai thay đổi thông tin cư trú và giấy tờ, tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp xóa đăng ký tạm trú.


3. Người thực hiện thủ tục nộp 1 hồ sơ bằng phương thức trực tuyến, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích đến cơ quan đăng ký cư trú.


4. Trường hợp người bị đề nghị xóa đăng ký tạm trú chưa có thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc thông tin về người đó trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư không đầy đủ, chính xác thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


5. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ thì cơ quan đăng ký cư trú phải xóa đăng ký tạm trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký tạm trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


6. Trường hợp hộ gia đình chỉ có 1 người hoặc người thuộc diện xóa đăng ký tạm trú hoặc đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục xóa đăng ký tạm trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, lập biên bản về việc công dân, đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục xóa đăng ký tạm trú và thực hiện xóa đăng ký tạm trú đối với công dân.


7. Cơ quan, đơn vị quản lý người học tập, công tác, làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân có văn bản đề nghị cơ quan đăng ký cư trú trên địa bàn đóng quân xóa đăng ký tạm trú đối với người thuộc đơn vị mình quản lý. Văn bản đề nghị cần nêu rõ họ, chữ đệm và tên khai sinh; ngày, tháng, năm sinh; số định danh cá nhân hoặc Chứng minh nhân dân 9 số của người cần xóa đăng ký tạm trú; lý do đề nghị xóa đăng ký tạm trú.


8. Trong thời hạn 1 ngày làm việc, kể từ ngày hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tiếp nhận thông tin quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Cư trú thông qua kết nối, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu khác do cơ quan, tổ chức quản lý, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, thực hiện xóa đăng ký tạm trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký tạm trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.


9. Sau khi thực hiện việc xóa đăng ký tạm trú, cơ quan đăng ký cư trú thông báo bằng văn bản giấy hoặc bản điện tử hoặc hình thức điện tử khác cho người bị xóa đăng ký tạm trú hoặc đại diện hộ gia đình.

Tinh gọn và tinh nhuệ

 Tinh gọn và tinh nhuệ

*****

Cán bộ “cốt tinh, không cốt đông” là quan điểm nhất quán của Đảng ta trong xây dựng đội ngũ cán bộ. Do vậy, việc tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị phải song hành cùng tinh nhuệ đội ngũ cán bộ. Đây là khâu “then chốt của then chốt” trong cuộc cách mạng, tạo sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống chính trị.


Cuộc cách mạng tinh giản bộ máy không có nghĩa là cắt giảm một cách cơ học, mà loại bỏ những vị trí không cần thiết, giảm những công việc không hiệu quả, từ đó tập trung nguồn lực cho những lĩnh vực then chốt, đồng thời lựa chọn những con người thực sự xứng đáng và phù hợp. Một bộ máy của hệ thống chính trị mạnh mẽ và hiệu quả không phải do số lượng và quy mô mà chủ yếu do chất lượng hoạt động.

Chất lượng ấy không thể nhìn vào những cán bộ yếu kém chọn cơ quan nhà nước là “vùng trú ẩn an toàn” và những cán bộ tiêu cực, nhũng nhiễu, "hành dân", "hành doanh nghiệp", có lợi ích cá nhân thì mới làm, cố tình làm chậm công việc, xin ý kiến lòng vòng, đổ lỗi cho thể chế, đổ lỗi cho sợ trách nhiệm...

Chất lượng hoạt động của bộ máy phải phụ thuộc vào khâu tổ chức bộ máy khoa học và những cán bộ vận hành bộ máy được lựa chọn, đào tạo bài bản, có chất lượng tốt cả đạo đức và trí tuệ vượt trội, thật sự gương mẫu -thà ít mà tốt.

Do vậy, ngoài “sàng lọc” thật kỹ những cán bộ đang đương chức thì Đảng, Nhà nước phải “chiếu cầu hiền tài” là con em đất Việt trên thế giới, quy tụ về chung tay phát triển đất nước. Đồng thời, tiếp tục nâng chuẩn đầu vào đối với đội ngũ cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu. Có đội ngũ cán bộ thật sự "tinh nhuệ", bộ máy sẽ vận hành đồng bộ, khoa học, hiệu quả.

Lạc quan cách mạng - năng lượng tinh thần tích cực của Bộ đội Cụ Hồ

 Lạc quan cách mạng - năng lượng tinh thần tích cực của Bộ đội Cụ Hồ

*****

Tinh thần lạc quan là một trong những phẩm chất ưu việt có tính đặc trưng của Bộ đội Cụ Hồ. Đại tướng Pháp Marcel Bigeard khi viết hồi ký vẫn chưa xóa hết ấn tượng kinh ngạc về đối phương. Đó là hình ảnh “những ngươi lính dẻo dai có thể đi bộ 50km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận”. Nỗi kinh ngạc đó đồng thời hàm chứa một phát hiện sinh động về phẩm chất lạc quan của bộ đội ta.


Một thuộc tính tinh thần tích cực của Bộ đội Cụ Hồ

Lạc quan là một phẩm chất tư tưởng, một dạng cảm xúc tâm lý, song cũng có thể ngưng đọng, kết tinh trên bình diện tư tưởng, như một cách nhìn cuộc sống, một quan điểm, lập trường một khía cạnh của thế giới quan. Người lạc quan là người có thiên hướng nhìn nhận và đánh giá sự vật theo chiều hướng tích cực, khả thi, đi tới một tương lai tốt đẹp. Các nhà tâm lý học đã hình dung và mô tả kết quả nhìn nhận thế giới của người lạc quan (optimista) và người bi quan (pesimista). Trước một cốc nước đầy, người bi quan chỉ nhìn thấy lưng cốc nước bên trong, còn người lạc quan luôn thấy cả cốc nước tràn đầy. Bi quan gắn liền với thái độ yếm thế, buồn bã, chán đời.

Lạc quan gắn liền với tâm trạng vui vẻ, sống vượt thoát khỏi áp lực của những hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm, thậm chí có thể chủ động nhìn thế giới bằng cái nhìn khôi hài, hóm hỉnh. Tiếng cười như vũ khí của kẻ mạnh. Người bi quan có thể nhìn người lạc quan như những kẻ mộng du, ngây thơ dễ dãi và ảo tưởng. Ngược lại, ở một thái cực khác, người lạc quan có thể coi người bi quan như những kẻ yếu đuối, khó tính và chán đời.

Ngay từ những năm đầu thành lập, Bộ đội Cụ Hồ là tập thể các chàng lính trẻ, tuy được trang bị thô sơ, nghèo khó nhưng cuộc sống thật vui tươi, luôn rộn rã tiếng cười. Bài thơ “Nhớ” của Hồng Nguyên viết đầu thời kỳ chống thực dân Pháp có đoạn: “Chúng tôi đi/ Nắng mưa sờn mép ba lô/ Tháng năm bạn cùng thôn xóm/ Nghỉ lại lưng đèo/ Nằm trên dốc nắng/ Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng/ Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa/ - Đằng nớ vợ chưa?/- Đằng nớ?/ - Tớ còn chờ độc lập!/ Cả lũ cười vang bên ruộng bắp/ Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu”.

Hình ảnh người lính trong bài thơ “Nhớ” thể hiện sinh động một đặc điểm cơ bản của Bộ đội Cụ Hồ. Đó là đức tính chất phác, giản dị, yêu đời. Hai tiếng “độc lập” mà người lính nhắc đến trong thơ không chỉ có ý nghĩa giới hạn về thời gian-ngày độc lập mà còn là khái niệm chỉ rõ mục tiêu, lý tưởng của người cầm súng.

Tinh thần lạc quan của người lính không phải là một hiện tượng tâm lý bề ngoài, trang trí cho chân dung anh bộ đội, mà là một thuộc tính tinh thần tất yếu, bắt nguồn từ bản chất bên trong của Quân đội nhân dân Việt Nam. Khác với quân đội các thời đại trước, phần lớn mang tính công cụ của một dòng họ, một triều đại phong kiến, chỉ thống nhất lực lượng và trở thành sức mạnh dân tộc khi chống giặc ngoại xâm, Bộ đội Cụ Hồ là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Tất nhiên quân đội nước nào, thời đại nào cũng chỉ có một nguồn tuyển quân duy nhất là nhân dân lao động.

Thời phong kiến cũng như thời kháng chiến chống thực dân Pháp, người lính phần lớn vẫn là những người nông dân cầm giáo rồi cầm súng. Sự khác biệt ở đây, là vượt lên tính chất lý lịch, người lính Cụ Hồ ra đi từ nhu cầu, nguyện vọng trong lòng dân. Tính nhân dân của Quân đội nhân dân Việt Nam là tính nhân dân tự giác. Điểm xuất phát, sự ra đời của Quân đội chúng ta không dừng lại ở bình diện xã hội, hành chính, mà có tính văn hóa sâu xa.

Trước hết, tinh thần lạc quan của người lính Cụ Hồ bắt nguồn từ tinh thần lạc quan truyền thống của nhân dân lao động. Đó là sự lạc quan, yêu đời, được tích lũy, kế thừa qua hàng ngàn đời nay của người lao động. Tinh thần lạc quan của người lính Việt Nam hôm nay ít nhiều mang tính dân gian và tính dân tộc. Đặc tính đó, nếu không có, dân tộc Việt Nam không thể tồn tại, không thể “vượt thoát” khỏi những âm mưu thôn tính và đồng hóa dai dẳng của ngoại xâm.

Tuy vậy, yếu tố quyết định cho sự lạc quan của người lính Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh chủ yếu bắt nguồn từ niềm tin sâu xa vào lý tưởng mà mình theo đuổi. Người lính tin vào sự chiến thắng tất yếu, cuối cùng, có tính quy luật của lịch sử. Sự lạc quan đó không dừng lại ở cấp độ cảm xúc, tâm lý cá nhân, mà được thiết lập trên cơ sở của sự nhận thức lý trí. Sự lạc quan không đồng nghĩa với những biểu hiện cảm xúc vui vẻ, đồng nhất với tiếng cười. Nếu không có cơ sở vững chắc của tư duy lý tính, lạc quan có thể trở thành sự huyễn tưởng hoặc chỉ là một cảm thức lãng mạn. Được hình thành trên nền tảng của lý trí và niềm tin, tinh thần lạc quan có thể kết tinh vững chãi như một lập trường, một chủ nghĩa lạc quan. Đó là chủ nghĩa lạc quan cách mạng.

Năm 1966 trong một trận đánh ở chiến trường Thủ Dầu Một-Nam Bộ, có 11 chiến sĩ của Trung đoàn Bình Giã nhận nhiệm vụ xuyên rừng, tỏa đi nhiều phía đánh lạc hướng kẻ thù, tạo thời cơ cho đơn vị rút lui. Sau nhiều ngày đánh lạc hướng địch, chính các chiến sĩ, đến lượt mình, cũng bị lạc vào rừng sâu, hết lương ăn, hết phương tiện liên lạc, đói, bệnh, lần lượt hy sinh cho đến 3 người cuối cùng. Sau đó, chúng ta đã tìm thấy 3 cánh võng buộc chụm đầu và hài cốt 3 chiến sĩ cùng lá thư viết chung của 3 chiến sĩ “gửi lại mai sau”.

Bức thư có đoạn: “Chúng tôi sẽ chết ung dung thư thái như đã từng sống mãnh liệt mà thư thái với công việc chúng tôi đã làm... Chúng tôi mong được ghi nhận rằng, chúng tôi đã từng sống, chiến đấu và chết trong một mùa xuân giữa đất trời như trăm ngàn cái chết của người Việt Nam chân chính cho Tổ quốc và dân tộc sống còn... Hay trong trường hợp đến 50, 100 năm nữa, thư này mới tới những người có thể gọi là thế hệ mai sau, thì cho phép chúng tôi gửi lời chào xã hội chủ nghĩa...Và hơn thế nữa cho gửi lời chào niềm nở nhất đến những con người ở những vì sao xa xôi, những người bạn mới giữa các hành tinh”.

Tâm trạng của 3 chiến sĩ nối tay nhau chấp bút viết một lá thư chung trước lúc qua đời là một biểu hiện của chủ nghĩa lạc quan cách mạng cao cả nhất. 3 chiến sĩ hy sinh âm thầm trong rừng sâu là một câu chuyện bi tráng, đồng thời cũng là một bi kịch lạc quan. Chính tinh thần lạc quan cách mạng đã làm cho họ tuy chết về thể xác nhưng trở nên bất tử và là sự chiến thắng tuyệt đối về phương diện tinh thần.

Nguồn lực tinh thần nội sinh, tạo nên sức mạnh chiến đấu

Không phải bất cứ quân đội nước nào cũng có được tư tưởng lạc quan như Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân đội ở nhiều nơi, nhiều lúc chỉ thực thi nhiệm vụ theo chức năng của một công cụ bạo lực, phục vụ cho một nhóm lợi ích hay tập đoàn thống trị nào đó. Có thể coi quân đội đó như một cỗ máy đánh thuê chuyên nghiệp, nhiều khi tham chiến chỉ để trả nợ chính phủ hoặc đem lại nguồn tài chính nhất định cho nhà nước.

Ngược lại, Quân đội nhân dân Việt Nam là một lực lượng vũ trang chỉ chiến đấu, hy sinh cho một mục tiêu cao cả và duy nhất là độc lập, tự do dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Đó cũng là một đội quân cách mạng, chiến đấu bằng lý tưởng cách mạng, vì chiến thắng và thành công của chủ nghĩa xã hội. Lý tưởng đó đã tạo nên lòng tin và tinh thần lạc quan trước sự vận động và phát triển của lịch sử nhân loại.

Khi định danh bộ đội Việt Nam là Bộ đội Cụ Hồ là chúng ta nhận ra có sự tương đồng hay sự ảnh hưởng sâu xa từ nhân cách đạo đức Hồ Chí Minh tới Quân đội nhân dân Việt Nam, trong đó có tư tưởng lạc quan cách mạng. Trong những tháng ngày bị quân Tưởng Giới Thạch cầm tù, với cảm giác khổ sở “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” Bác vẫn lạc quan tin tưởng vào cơ hội “nhà lao mở cửa ắt rồng bay”, vì “Trong ngục giờ đây mờ mịt tối/ Ánh hồng trước mặt đã bừng soi”. 

Vì vậy có thể nói, tư tưởng lạc quan đã trở thành phẩm chất xuyên suốt lịch sử 80 năm ra đời và phát triển của Quân đội chúng ta. Mỗi người lính Cụ Hồ không thể không mang trong lòng mình phẩm chất lạc quan cách mạng của vị lãnh tụ kính yêu đã khai sinh ra Quân đội.

Cũng xuất phát từ lý do trên, mà ngay sau khi thành lập, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, dấu chân hành quân của chiến sĩ Vệ quốc quân giống như tín hiệu của mùa xuân, tín hiệu của sự hồi sinh cuộc sống: “Anh về cối lại vang rừng/ Chim kêu quanh mái gà mừng dưới sân/ Anh về sáo lại ái ân/ Đêm trăng hò hẹn trong ngần tiếng ca” (Tố Hữu). Nhờ sự lạc quan mà trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, anh giải phóng quân mới “Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu); những chàng lính lái xe không kính mới “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”, những người lính trẻ vào mặt trận mới cảm thấy “Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ” (Phạm Tiến Duật).

Niềm tin chiến thắng và tinh thần lạc quan cách mạng đã biến tất cả người lính trở thành ca sĩ. Họ là ca sĩ của đồng đội và khi cần giữ bí mật, họ vẫn hát, tiếng hát nội tâm, trở thành ca sĩ của riêng mình. Họ luôn cảm thấy “Bác kính yêu đang cùng chúng cháu hành quân” (Huy Thục). Hình ảnh Bác như ngọn đèn thắp sáng niềm tin suốt hai cuộc chiến tranh yêu nước trường kỳ. Ca hát trên tinh thần “tiếng hát át tiếng bom” và sinh hoạt văn hóa, văn nghệ nội bộ đơn vị đã trở thành nhu cầu và biểu hiện rõ rệt của tinh thần lạc quan Quân đội.

Lạc quan là một khái niệm có nội hàm khá linh động, vì có nhiều cấp độ lạc quan. Một niềm vui bất chợt, nhất thời cũng là một biểu hiện lạc quan, nhưng chỉ ở cấp độ cảm xúc, cảm tính. Tư tưởng lạc quan là hình thái lạc quan có ý nghĩa lý trí, mang tính hệ thống, hình thành và phát triển trên cơ sở nhận thức lý tính. Tuy nhiên tư tưởng lạc quan cũng không phải nhất thành bất biến mà có sự vận động phát triển, thậm chí lụi tàn nếu thiếu sự rèn luyện, bồi dưỡng, giáo dục và không ngừng nâng cao tri thức về đời sống xã hội và tăng cường hoạt động thực tiễn.

Suốt 80 năm qua, phẩm chất lạc quan của Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành một trong những nguồn lực tinh thần nội sinh, tạo nên sức chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tư tưởng lạc quan cách mạng của Quân đội vừa là động lực thúc đẩy vừa là kết quả hình thành từ sự rèn luyện cá nhân và sự bồi dưỡng, giáo dục của Đảng. Tư tưởng lạc quan cũng là một trong những yếu tố cắt nghĩa một cách thuyết phục vì sao dưới ngọn Quân kỳ Quyết thắng, Quân đội ta đã vượt qua mọi thử thách lớn lao của lịch sử, đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, góp phần to lớn vào công cuộc cách mạng giành độc lập, tự do, thống nhất hai miền, bảo đảm cho đất nước đi tới một tương lai nhân dân hạnh phúc, dân tộc phồn vinh.  

Khái niệm cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Trong lịch sử loài người đã diễn ra những cuộc cách mạng xã hội khác nhau. Đó là phương thức căn bản để thay thế chế độ xã hội này bằng chế độ xã hội khác tiến bộ hơn, phù hợp với trình độ và nhu cầu phát triển của lịch sử. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và con người khỏi sự áp bức, bóc lột và bất công, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng xã hội chủ nghĩa thường được hiểu theo hai góc độ:

Theo nghĩa hẹp: Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng chính trị do giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình, lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động đấu tranh lật đổ nhà nước tư sản, giành chính quyền và thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản. Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn với giai đoạn đấu tranh giành chính quyền của giai cấp công nhân nhằm lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản và kết thúc khi giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động giành được chính quyền, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản - nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Theo nghĩa rộng, cách mạng xã hội chủ nghĩa là quá trình cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để, lâu dài do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua chính đảng của mình nhằm lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, từng bước cải tạo xã hội tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, theo nghĩa rộng cách mạng xã hội chủ nghĩa bao gồm cả việc giành chính quyền về tay giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả quá trình giai cấp công nhân, quần chúng nhân dân lao động tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quá trình này kết thúc khi xã hội cộng sản chủ nghĩa tạo lập được vững chắc, vận động và phát triển trên cơ sở của chính nó. Đây là một quá trình đấu tranh lâu dài của mỗi quốc gia dân tộc và của cả loài người.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa chính là con đường cách mạng, khoa học để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu cách mạng xã hội chủ nghĩa theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Trách nhiệm của đội ngũ cán bộ ngành quân sự cơ sở hiện nay


Trước những diễn biến nhanh chóng khó dự báo của tình hình an ninh chính trị - xã hội trên thế giới, khu vực và những thuận lợi, khó khăn trong nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ ngành quân sự cơ sở nói riêng cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, đoàn kết, thống nhất cao, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao; tin tưởng vào chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lựa chọn là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.

Thường xuyên học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Phát huy trách nhiệm, khả năng thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, kiên trì thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tích cực tuyên truyền làm cho các tầng lớp nhân dân nhận rõ nhiệm vụ xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay, là một sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, nhưng đó là con đường hợp quy luật, hợp lòng dân. Chủ động, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

  

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

 


Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Quan điểm chỉ đạo về Chiến lược phát triển tổng thể của đất nước, Đảng ta xác định: “... phát triển kinh tế - xã hội là trọng tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”[1]. Như vậy, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là một trong những phương hướng hết sức quan trọng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Thực hiện phương hướng này, cần quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận; kiện toàn, đổi mới tổ chức bộ máy và tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới công tác cán bộ, tăng cường rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên về phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân; đổi mới công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng…

Trên đây là những phương hướng cơ bản có tính nguyên tắc, bảo đảm cho đất nước vững bước và thành công trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải nắm vững, quán triệt và thực hiện tốt trong suốt thời kỳ quá độ, cũng như trong mỗi chặng đường cụ thể.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 33 - 34.

Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội

 


Phương hướng này quán triệt quan điểm, nguyên tắc: Xây phải đi đôi với chống. Xây dựng đất nước là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt, song chúng ta không lơ là mất cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch, các thế lực ngoại bang đang tìm mọi thủ đoạn phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Những hoạt động gây mất trật tự, an ninh, an toàn trong nước, không chỉ cản trở sự phát triển của xã hội mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Thực hiện phương hướng này, cho phép đất nước ta luôn tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.