Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024

Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm khẳng định vị thế, vai trò của nữ giới. Người luôn quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ không chỉ thể hiện rõ tinh thần nhân văn cao cả của Bác mà còn chứa đựng những chỉ dẫn quan trọng đối với công tác bình đẳng giới ở nước ta hiện nay.
Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng và tầm nhìn của một nhà lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm: phụ nữ là một lực lượng cách mạng quan trọng. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã nhấn mạnh, phụ nữ chiếm số đông trong lực lượng nhân dân, lại bị kìm hãm và chịu nhiều đau khổ nên luôn có tinh thần đấu tranh cách mạng. Sự nghiệp cách mạng không thể thành công nếu không có phụ nữ tham gia. Vì “nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”. Do vậy, giải phóng phụ nữ là một nhiệm vụ tất yếu của cách mạng Việt Nam, là nhu cầu khách quan của xã hội, của yêu cầu phát triển đất nước.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuất phát từ tâm lý truyền thống của người Á Đông, thực hiện sự nghiệp giải phóng phụ nữ ở Việt Nam trước hết là nhằm xóa bỏ tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, xóa bỏ bất bình đẳng nam nữ, tạo điều kiện giúp phụ nữ phát huy hết khả năng, năng lực để đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Bác khẳng định: “không có phụ nữ, riêng nam giới không thể làm nổi công cuộc cách mạng”. Từ đó, Người luôn coi giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, là cơ sở quan trọng bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ được thực hiện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Không chỉ đưa ra tư tưởng về vấn đề giải phóng phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người tiên phong thực hiện tư tưởng đó gắn với những việc làm cụ thể. Bác cho rằng, phụ nữ có quyền tham gia mọi hoạt động chính trị một cách bình đẳng như nam giới, có quyền bầu cử, ứng cử, có quyền tự do ngôn luận, đi lại, cư trú và nhất là quyền bình đẳng trước pháp luật. Với vai trò là Trưởng Ban soạn thảo Hiến pháp năm 1946 (Hiến pháp đầu tiên của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa), Người đã sớm quan tâm đến việc giải phóng phụ nữ. Điều 6, Hiến pháp năm 1946 ghi rõ: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”. Điều 9, Hiến pháp năm 1946 cũng nêu: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”.
Đặc biệt, khi phát biểu tại phiên họp bế mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập… phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”. Những quy định về quyền bình đẳng nam nữ được ghi trong Hiến pháp năm 1946 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về địa vị pháp lý của phụ nữ Việt Nam và thể hiện tính nhân văn, tầm nhìn vượt thời đại, tư duy chính trị sắc sảo của Hồ Chí Minh. Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam được pháp luật thừa nhận và bảo đảm có những quyền bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực. Với những đóng góp quan trọng của Bác, Hiến pháp năm 1946 mở ra cho phụ nữ Việt Nam một thời đại mới - thời đại người phụ nữ được thực sự làm chủ cuộc sống của mình, được tham gia các hoạt động xây dựng và kiến thiết đất nước - những quyền và nghĩa vụ mà người phụ nữ chưa từng có trong các chế độ xã hội trước.
Khẳng định vị thế của phụ nữ, thừa nhận quyền bình đẳng của phụ nữ, đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp giải phóng chính minh. Người động viên, khích lệ phụ nữ vươn lên, vượt qua tâm lý tự ti, vượt khỏi tư tưởng an phận; động viên họ mang những khả năng của mình tham gia và đóng góp cho xã hội. Theo Người, “phụ nữ ta phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật”. Phụ nữ phải phấn đấu, học tập, tự tin, tự giải phóng mình về tình cảm, tâm lý, trí tuệ và hành động. Bác thường xuyên khơi dậy tính tự trọng, khả năng nỗ lực tự vươn lên của phụ nữ; khích lệ, động viên phụ nữ phải làm sao cho mọi người đều thấy được khả năng và đóng góp của phụ nữ, lúc đó sẽ cất nhắc, đề cử vào những vị trí xứng đáng. “Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh”.
Kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào mọi mặt của đời sống xã hội. Điều này thể hiện rõ nét ở các chỉ thị, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm quyền của phụ nữ, như: Luật Bình đẳng giới (2006); Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư, Khóa XII về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới; Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011- 2020; Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030;… Đây là cơ sở giúp phát huy vài trò của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc lãnh đạo”, tỷ lệ phụ nữ tham gia trong các cơ quan lãnh đạo các cấp đã ngày càng tăng lên. Cụ thể, “trong Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII có 19 đồng chí nữ (9,5%), Quốc hội khóa XV đạt tỉ lệ 30,26% nữ đại biểu, cao nhất từ trước đến nay; Ban Chấp hành Đảng bộ cấp tỉnh có 16% đồng chí nữ, HĐND cấp tỉnh có 29% đại biểu nữ… Tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ có lãnh đạo chủ chốt là nữ đạt trên 50%.
Theo thống kê, Việt Nam nằm trong nhóm 1/3 các nước đứng đầu về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội và tỷ lệ phụ nữ tham gia lao động với tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt trên 30%. Nhiệm kỳ 2016 - 2021, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND các cấp tỉnh, huyện, xã lần lượt là 26,54%, 27,85% và 26,59%. Đây là minh chứng rõ nét cho thành tựu của sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam trong những năm gần đây.
Trong giai đoạn hiện nay, vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ là cơ sở để Đảng, Nhà nước ta tiếp tục coi trọng khơi dậy, phát huy khả năng, năng lực của phụ nữ, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Tất cả cảm xúc:
2

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI UY TÍN GIẢ

 

Uy tín giả là một biến thể nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, trái ngược với những yêu cầu về phẩm chất đích thực và đạo đức cách mạng. Vì vậy, ngăn chặn, đẩy lùi uy tín giả là loại bỏ những thói hư tật xấu đang ngấm ngầm làm tha hóa cán bộ, đảng viên. Chống uy tín giả cũng là chống chủ nghĩa cá nhân, củng cố uy tín đích thực của người cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo.

Chức vụ lãnh đạo phải gắn liền với uy tín

 Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người quản lý, lãnh đạo phải thực sự tiêu biểu về trình độ, năng lực, đạo đức, uy tín trước tập thể. Tuy nhiên, trong từng trường hợp cụ thể, không phải cứ có chức vụ là mặc nhiên đã có uy tín tương xứng. Đương nhiên, khi một cán bộ, đảng viên được bổ nhiệm chức vụ thì tổ chức và cấp trên đã xem xét, cân nhắc năng lực, uy tín của người đó. Song, trên thực tế đã có những trường hợp cán bộ được cất nhắc mà uy tín chưa hẳn đã tương xứng. Nghĩa là, uy tín đó chưa chắc đã được hình thành từ những phẩm chất, năng lực và sự dày công phấn đấu thực sự, nó trái ngược với uy tín chân thực, nhưng lại được ngộ nhận là uy tín. Do uy tín giả tạo khéo được che đậy, cho nên họ cũng được “tiền hô hậu ủng”, thậm chí được cấp dưới, tập thể và dư luận tung hô, tán thưởng. Thế nhưng, đến khi những câu chuyện sai phạm, tiêu cực bị phanh phui thì dư luận lại quay lưng chê bai, miệt thị. Khi đó, các thế lực thù địch sẽ thừa cơ chĩa mũi nhọn vào xuyên tạc và quy chụp thành bản chất của Đảng, của chế độ.

Về nguyên tắc, uy tín phải tương xứng với chức vụ để người cán bộ có thể làm tròn chức phận của mình. Bởi vì nếu uy tín không tương xứng với vị trí công tác thì không thể tác động, thuyết phục, cảm hóa người khác phục tùng một cách tự giác. Khi đó, tất yếu sẽ dẫn đến sự trì trệ trong cơ quan, đơn vị, địa phương. Cho nên uy tín của cán bộ, đảng viên phải được hình thành từ chính những phẩm chất, năng lực của từng người. Uy tín đó là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, đặc biệt là từ thực tiễn công tác.

Mặc dù là uy tín giả tạo, song không phải ai cũng có đủ dũng khí để thẳng thắn chỉ mặt, gọi tên và đấu tranh ngăn chặn nó. Thực tế, có không ít người từng lầm tưởng rằng, khi được giao nắm giữ chức vụ là bản thân mình đã có uy tín tuyệt đối. Tiếp cận dưới góc độ tâm lý học, uy tín của người lãnh đạo là kết quả của sự nỗ lực rèn luyện, phấn đấu, từ đó lan tỏa và thuyết phục người khác. Quá trình này bao giờ cũng tuân theo những quy luật chung, quy luật đặc thù về sự hình thành và phát triển nhân cách. Trong đó, hoạt động thực tiễn quản lý, lãnh đạo có vai trò quyết định. Đó là uy tín đích thực của người cán bộ, đảng viên và khác hoàn toàn về chất với uy tín giả.

Củng cố, giữ gìn uy tín chân thực là ngăn chặn, đẩy lùi uy tín giả

 Cho dù uy tín giả được hình thành bằng con đường nào, biểu hiện của nó ra sao thì cũng đều trái với những giá trị xã hội đích thực. Vì vậy, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi uy tín giả là cuộc chiến chống giặc nội xâm-chống kẻ địch bên trong rất nguy hại. Song, việc nhận diện và tẩy trừ nó là quá trình làm trong sạch nội bộ kiên trì, bền bỉ, thậm chí lâu dài, cùng với quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quá trình đó trước hết phải được vận hành ở ngay trong từng cán bộ, đảng viên. Cũng trong bài phát biểu tại phiên họp Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng ngày 13-3-2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã lưu ý: “Đừng nhìn gà hóa cuốc”, “đừng thấy đỏ tưởng là chín”, đừng chỉ thấy “cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong”. Uy tín giả được ngụy tạo bằng nhiều thủ thuật khác nhau. Cho nên phòng, chống, loại bỏ nó ra khỏi đời sống chính trị, xã hội phải bằng nhiều biện pháp, cách thức.

Trước hết, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, cần đề cao hàng đầu tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện. Quán triệt, thực hiện nghiêm túc văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức”. Vì những hành vi đó cũng là nguyên nhân tạo ra các biến thể độc hại của uy tín giả. Cho nên, chống chủ nghĩa cá nhân, tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng cũng là đẩy lùi uy tín giả. Bên cạnh đó, các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng giáo dục, phát huy tinh thần “7 dám”, gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên, công chức. Đây cũng là khâu “then chốt của then chốt”, là lấy xây dựng, bảo vệ uy tín đích thực để phòng, chống uy tín giả. Vì vậy, chúng ta cần có quyết tâm cao trong việc "gạn đục khơi trong" bộ máy từ cơ sở. Ngăn chặn, đẩy lùi uy tín giả cũng chính là nội dung, biện pháp phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

Trước những yêu cầu về phẩm chất, năng lực của cán bộ, đảng viên trong thời kỳ mới, ngày 25-10-2018, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Quy định số 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ. Quy định này chỉ rõ: Kiên quyết chống "độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa dân... đề cao tập thể, cá nhân mình hoặc hạ thấp uy tín của tập thể, cá nhân khác”. Cho nên độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa dân là những điều cần phải ngăn chặn. Từ đó củng cố, giữ gìn uy tín của người lãnh đạo, quản lý và uy tín của Đảng. Một trong những nội dung, biện pháp thiết thực để ngăn chặn, đẩy lùi uy tín giả là các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện triệt để nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Vì nguyên tắc này sẽ trực tiếp củng cố, giữ gìn uy tín của cán bộ, đảng viên; đồng thời là công cụ hữu hiệu để phát hiện, loại trừ những biểu hiện giả danh uy tín, đạo đức từ trong nội bộ và ở ngay trong từng cá nhân.

Vì vậy, tự phê bình và phê bình phải tránh nể nang, khoan nhượng và thỏa hiệp với những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, uy tín giả hiệu. Tự phê bình và phê bình phải được cấp ủy, tổ chức đảng tiến hành thường xuyên, chặt chẽ, đi vào thực chất, tránh hình thức. Cùng với đó là thường xuyên kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng từ cơ sở. Đây là bước đi chủ động, góp phần ngăn chặn từ xa, xử lý từ sớm những biểu hiện tiêu cực, thúc đẩy sự hoàn thiện uy tín của cán bộ, đảng viên. Trong đó cần tập trung kiểm tra, giám sát chặt chẽ các khâu, các bước của công tác cán bộ. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền”. Từ đó chúng ta loại bỏ được các hiện tượng giả danh uy tín, đồng thời bố trí, sử dụng được cán bộ có đủ đức, tài và uy tín đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Tóm lại, uy tín giả có thể ví như một loại virus nguy hiểm ở những cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân. Do đó, nhìn thẳng vào sự thật, không che giấu và mạnh dạn sửa chữa khuyết điểm để loại bỏ uy tín giả, tự làm trong sạch mình luôn là nét đặc trưng về bản chất, truyền thống của Đảng. Song, nhận diện, đẩy lùi uy tín giả phải hết sức quyết liệt, tỉnh táo và tinh tường. Chống uy tín giả cũng là xây dựng, củng cố, bảo vệ uy tín đích thực của cán bộ, đảng viên và uy tín của Đảng. Từ đó góp phần xây dựng, bảo vệ vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng.

XỬ LÝ THAM NHŨNG, TIÊU CỰC KHÔNG PHẢI LÀ CHIÊU TRÒ MỊ DÂN NHƯ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC

     Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức xuyên tạc rằng: Vì xã hội thiếu dân chủ nên công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ không hiệu quả, thậm chí ngày càng gia tăng và những vụ tham nhũng, tiêu cực được xử lý gần đây chỉ là chiêu trò mị dân của Đảng Cộng sản. Dân chủ là vấn đề lớn của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới, tùy thuộc vào tình hình chính trị - xã hội, sự hoàn thiện hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mà tình trạng thực hiện dân chủ xã hội khác nhau. Lợi dụng điều đó, chúng còn suy diễn rằng, “thiếu dân chủ thực chất là hệ quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội yếu kém của nước ta”, “kinh tế - xã hội càng kém phát triển thì tham nhũng, tiêu cực càng gia tăng”. Chúng xảo biện rằng, “Tham nhũng ở khắp mọi nơi, trong mọi hoạt động của cuộc sống như căn bệnh ung thư đã di căn khắp cơ thể”, và rêu rao rằng những số liệu chống tham nhũng, tiêu cực vừa qua chỉ để “mị dân, đánh bóng tính ưu việt của chế độ”, chứ không phản ánh đúng bản chất công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng Cộng sản.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định cần xây dựng một nhà nước Việt Nam kiểu mới, trong đó Người khẳng định: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Điều thứ 1 Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hiến pháp năm 1959 tiếp tục khẳng định: “Tất cả quyền lực... đều thuộc về nhân dân... Tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”. Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, dân chủ vẫn luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta quan tâm. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định: “Lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”.

Ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là quy luật hình thành, phát triển, là tôn chỉ, mục đích hoạt động của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và hạnh phúc. Ngoài Đảng Cộng sản, không một đảng phái hoặc một lực lượng chính trị nào có thể đưa ra cương lĩnh, đường lối cho cách mạng Việt Nam, có thể đồng thời giải quyết hai mục tiêu dân tộc và dân chủ, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo xã hội và nhà nước để đi tới mục tiêu và thực hiện lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, thì vấn đề xây dựng nền dân chủ, bảo đảm quyền dân chủ và làm chủ của nhân dân lao động trở thành một trong những vấn đề cơ bản, cốt yếu của chế độ.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân là các chủ thể thống nhất với nhau về mục tiêu và lợi ích, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Thế nên, việc quy chụp nước ta thiếu dân chủ, thậm chí suy diễn do kinh tế kém phát triển dẫn đến tham nhũng, tiêu cực trong xã hội là vô căn cứ. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đó chính là kết quả tất yếu từ hàng loạt chính sách của Đảng và Nhà nước trên cơ sở nền dân chủ “lấy con người làm trung tâm”, “thực sự vì con người”. Không những thế, cần đanh thép khẳng định rằng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay không làm cản trở sự phát triển đất nước, mà còn tạo thêm nhiều xung lực mới cho đất nước phát triển. “Không phải như một vài ý kiến lo ngại rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ làm “chùn” sự chỉ đạo hay làm “chậm” sự phát triển, mà ngược lại, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường an ninh - quốc phòng, đối ngoại”.

Hiện nay, nhờ đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà nhiều sai phạm của không ít cán bộ, đảng viên đã được xử lý, nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực phức tạp được giải quyết, tháo gỡ những “điểm nghẽn” tồn đọng trong thời gian dài. Trong giai đoạn 2012 - 2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó, có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Không chỉ ngăn chặn tình trạng thất thoát nguồn tài sản lớn của Nhà nước, mà quan trọng hơn, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giờ đây thật sự đã trở thành phong trào, nhận được sự hưởng ứng của toàn xã hội và đang là một động lực to lớn để Việt Nam thực hiện thành công khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

ĐỨC TRỊ VÀ PHÁP TRỊ TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

Tổng Bí thư Tô Lâm trong bài viết quan trọng với tựa đề “Phát huy tính Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" đã khẳng định, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần kết hợp hài hòa giữa đức trị và pháp trị. Cán bộ, đảng viên cần phải gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật, từ đó tạo ra một bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả, phục vụ lợi ích của người dân và doanh nghiệp.

Thực hiện đồng bộ đức trị và pháp trị - vững mạnh về nguyên tắc, gần gũi, tận tâm với Nhân dân.

Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính là sự hòa quyện giữa đức trị và pháp trị, điều này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh đất nước đang vươn mình mạnh mẽ để đối mặt với những thách thức và cơ hội lớn lao.

Đức trị không chỉ là giá trị cốt lõi mà còn là sợi dây vô hình kết nối lòng dân với những người lãnh đạo, xây dựng niềm tin và sự gắn bó. Khi các cán bộ lãnh đạo lấy đạo đức làm gương, họ không chỉ hoàn thành nhiệm vụ mà còn truyền cảm hứng và lan tỏa những giá trị nhân văn tới toàn xã hội. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Đạo đức trở thành nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của mọi công việc, phẩm chất mỗi con người: “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không". Đồng thời, pháp trị, với sự nghiêm minh của luật pháp, chính là nền tảng vững chắc đảm bảo mọi hoạt động diễn ra một cách công bằng, minh bạch và hướng đến sự phát triển bền vững.

Sự kết hợp giữa đạo đức và luật pháp là con đường duy nhất để tạo ra một bộ máy nhà nước, nơi người dân cảm nhận được sự bảo vệ, công bằng và tình yêu thương từ những người phục vụ họ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, điều này càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, như một cam kết với tương lai rằng, Việt Nam sẽ không chỉ phát triển mạnh mẽ, mà còn theo hướng nhân văn và bền vững.

Cán bộ, đảng viên giữ vai trò gương mẫu trong việc thể hiện đức trị và pháp trị, đây là yếu tố then chốt giúp xây dựng một bộ máy nhà nước vững mạnh, liêm chính và hiệu quả. Đức trị được thể hiện qua sự tận tâm, liêm khiết và tinh thần trách nhiệm trong mọi hành động. Khi họ trở thành những tấm gương sáng về đạo đức và lối sống, họ không chỉ tạo dựng niềm tin trong Nhân dân mà còn khơi dậy lòng tự hào và sự đoàn kết trong cộng đồng. Tinh thần “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” khẳng định rằng, người dân sẽ nhìn vào cán bộ, đảng viên và cảm nhận được sự cống hiến chân thành, tôn trọng những giá trị nhân văn sâu sắc.

Pháp trị cũng đảm bảo rằng, mọi hoạt động của nhà nước đều diễn ra trên nền tảng luật pháp rõ ràng. Cán bộ, đảng viên gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật không chỉ là để hoàn thành bổn phận mà còn thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc công bằng và minh bạch. Khi những người lãnh đạo tuân thủ luật pháp một cách nghiêm minh, họ sẽ lan tỏa tinh thần pháp luật, từ đó tạo nên một xã hội kỷ cương, nơi mọi người đều sống và làm việc theo pháp luật.

Do đó, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong cả đức trị và pháp trị là yếu tố cốt lõi để xây dựng một bộ máy nhà nước không chỉ hoạt động hiệu quả mà còn được lòng dân, phát huy tinh thần “cán bộ là công bộc của dân,” đặt lợi ích đất nước và Nhân dân lên hàng đầu.

Sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị tạo ra hiệu quả cho bộ máy nhà nước, phục vụ tốt hơn lợi ích của người dân và doanh nghiệp bằng cách cân bằng giữa đạo đức lãnh đạo và tuân thủ pháp luật. Đức trị khuyến khích cán bộ, đảng viên không chỉ hoàn thành công việc mà còn làm với tâm huyết, tinh thần phục vụ cộng đồng, đặt lợi ích chung lên hàng đầu. Điều này góp phần xây dựng niềm tin của Nhân dân và doanh nghiệp vào bộ máy nhà nước, tạo ra môi trường hợp tác và gắn kết xã hội.

Pháp trị bảo đảm rằng mọi hành động của nhà nước và cá nhân đều diễn ra trong khuôn khổ luật pháp minh bạch và công bằng. Sự tuân thủ này ngăn chặn tình trạng lạm quyền, đảm bảo mọi quyết định và chính sách dựa trên những nguyên tắc công bằng, tạo ra môi trường ổn định cho phát triển kinh tế và xã hội. Khi cả đức trị và pháp trị được thực hiện đồng thời, bộ máy nhà nước không chỉ vững mạnh về mặt nguyên tắc mà còn gần gũi, tận tâm với Nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân phát triển bền vững.

Cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước xây dựng tương lai tươi sáng, công bằng, bền vững cho tất cả.

Để tạo nên một bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả, việc kết hợp giữa đức trị và pháp trị là vô cùng quan trọng trong bối cảnh đầy thách thức của kỷ nguyên hiện đại. Trước hết, tinh thần đạo đức công vụ cần được nâng cao, vì đó là nền tảng cho sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Họ không chỉ là những người thực thi công vụ mà còn là những người dẫn dắt, xây dựng niềm tin cho cộng đồng. Khi mỗi cá nhân trong bộ máy nhà nước ý thức được tinh thần trách nhiệm và liêm chính, họ sẽ đặt lợi ích của dân tộc lên hàng đầu, tạo ra sinh khí mới cho sự phát triển của đất nước.

Pháp luật cần được thực thi nghiêm minh và công bằng, không chỉ là những quy định khô khan mà còn là biểu tượng của công lý và chính nghĩa. Mỗi quyết định, mỗi hành động đều phải thể hiện rõ ràng sự tôn trọng và phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Khi người dân cảm thấy rằng pháp luật bảo vệ công bằng, niềm tin vào bộ máy nhà nước sẽ được củng cố vững chắc.

Để ngăn chặn tình trạng lạm quyền và lợi ích nhóm, việc xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực trở nên cần thiết. Một bộ máy nhà nước với sự giám sát minh bạch sẽ nâng cao tính pháp trị, đồng thời khơi dậy trách nhiệm cá nhân của mỗi cán bộ trong từng nhiệm vụ. Sự kiểm soát này không chỉ là nguyên tắc mà còn là lời hứa với người dân về một chính quyền luôn vì lợi ích chung.

Sự tham gia của người dân và doanh nghiệp là yếu tố không thể thiếu trong quản lý. Khi họ có tiếng nói trong các quyết định, hoạt động theo nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng,” không chỉ tạo ra môi trường làm việc công bằng mà còn thắp sáng niềm tin rằng, họ là một phần của hành trình xây dựng đất nước. Hệ thống minh bạch và công khai trong quản lý tạo ra không gian cởi mở, khuyến khích lòng tin và sự hợp tác.

Thời đại công nghệ đang mở ra những cơ hội chưa từng có cho bộ máy nhà nước. Việc áp dụng công nghệ trong quản lý không chỉ cải thiện hiệu quả công việc mà còn giúp theo dõi việc thực thi pháp luật một cách dễ dàng và chính xác. Những hệ thống này sẽ như chiếc gương phản chiếu mọi hành động, khuyến khích tinh thần đức trị và pháp trị hòa quyện, tạo ra sự minh bạch trong từng quyết định.

Bên cạnh đó, môi trường pháp lý linh hoạt và thích ứng là điều không thể thiếu. Pháp luật cần luôn đổi mới và cập nhật để phù hợp với sự phát triển của xã hội và xu thế toàn cầu. Khi chính sách được điều chỉnh kịp thời sẽ không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế mà còn thể hiện sự đồng hành của nhà nước với người dân, doanh nghiệp, từ đó khơi dậy niềm tin và khát vọng vươn lên.

Kết hợp đức trị và pháp trị không chỉ là yêu cầu quản lý, mà còn là cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân, nhằm xây dựng tương lai tươi sáng, công bằng và phát triển bền vững cho tất cả, để đất nước thực hiện thành công khát vọng xây dựng một xã hội giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

NHỮNG NHÀ GIÁO TÌNH NGUYỆN RỜI BỤC GIẢNG ĐI B

 

Ngày 5/3/1969, đoàn giáo viên tình nguyện đi B hành quân bằng ô tô từ Hòa Bình đến câu lạc bộ Thống Nhất, cạnh Hồ Gươm, để dự lễ tiễn đưa. Hơn 200 thầy cô giáo là những người được tuyển chọn kỹ càng cả về chuyên môn sư phạm và phẩm chất chính trị đều trong tư thế sẵn sàng: Ba lô gọn gàng trên lưng, dép cao cao su rút quai vừa vặn để chuẩn bị cho hành trình vượt Trường Sơn vào với chiến trường khốc liệt miền Nam. Nơi ấy, họ được giao một nhiệm vụ đặc biệt trên mặt trận riêng: Vừa đấu tranh với địch, vừa xây dựng và phát triển giáo dục.

Cô giáo trẻ Phạm Thị Hải Ấm nhìn khắp lượt các anh chị trong nhóm của mình. Đó là những người sẽ cùng sống chết bên cô trên chặng đường dài hành quân phía trước. Mới 21 tuổi và vừa rời ghế giảng đường, Hải Ấm là thành viên trẻ nhất đoàn…

Gác hạnh phúc riêng

Hơn 50 năm đã trôi qua, cô gái đôi mươi ngày nào giờ đã ngoài 70 tuổi, nhưng bà vẫn không thể quên những ngày tháng thanh xuân đã cùng đồng nghiệp cống hiến cho sự nghiệp phát triển giáo dục miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Chia sẻ với chúng tôi trong một ngày thu Hà Nội tại nhà riêng, bà vẫn nghẹn ngào khi nhớ về một thời hoa lửa.

Mọi người được dành thời gian để chia tay với gia đình, bạn bè, vợ con. Tôi lặng nhìn cảnh những cặp vợ chồng ôm hôn nhau thắm thiết mà không cầm được nước mắt vì ai cũng biết rõ người đi đâu có hẹn ngày về,” nhà giáo Phạm Thị Hải Ấm xúc động chia sẻ.

Trong số gần 3.000 nhà giáo tình nguyện đi B, có rất nhiều người đã có gia đình, có chức vụ trong công tác, nhưng họ đã gác lại niềm riêng, sự nghiệp, vợ dại con thơ để lên đường vì Tổ quốc…

Những nhà giáo tình nguyện đi B khi đang ở vị trí hiệu trưởng như nhà giáo Nguyễn Thỏa, Hiệu trưởng Trường cấp II Quang Phục (Tiên Lãng, Hải Phòng); nhà giáo Phạm Tăng, Hiệu trưởng Trường phổ thông cấp II Châu Giang (Đông Hưng, Thái Bình); nhà giáo Nguyễn Viết Nhiên, Hiệu trưởng Trường cấp II Quỳnh Vinh (Quỳnh Lưu, Nghệ An)…

Bỏ lại sự nghiệp, họ còn gửi lại cả những yêu thương. Nhìn về phía bức ảnh gia đình, nhà giáo Đỗ Trọng Văn bảo, khi ông lên đường đi B, con nhỏ mới tròn 8 tháng, con lớn chập chững lên ba. Nay đã xấp xỉ tuổi 80, ông vẫn nhớ những cảm xúc nghẹn lòng khi ôm hôn từng đứa con nhỏ dại, dặn dò an ủi người vợ trẻ trước khi lên đường. “Nhớ và thương rất rất nhiều, nhưng chúng tôi lúc đó đều hiểu khi Tổ quốc cần, mỗi người đều phải gác lại hạnh phúc riêng,” thầy Văn xúc động nói.

Ngày nhận lệnh đi B năm 1964, nhà giáo Trần Thư Nguyên khi ấy còn chưa có con dù hai vợ chồng đã cưới được ba năm. “Ban đầu, tổ chức cũng băn khoăn, nhưng mãi sau này tôi mới biết chính vợ tôi đã gửi thư lên tận Ban Thống nhất Trung ương bày tỏ đồng ý cho tôi đi B,” thầy Nguyên chia sẻ. Cuộc chia ly kéo dài đến tận 10 năm. Năm 1975 thầy Nguyên mới trở lại miền Bắc, đoàn tụ gia đình, nhưng ước mơ về tiếng trẻ bi bô trong ngôi nhà nhỏ đã mãi không thể trở thành hiện thực.

Vượt Trường Sơn bằng ý chí người thầy

Hành trình ba tháng đi bộ ròng rã vượt Trường Sơn đến chiến trường miền Nam là thử thách với bất kỳ ai, càng là thử thách lớn hơn với những thầy, cô giáo vốn chỉ quen với sách vở, cầm viên phấn trắng. Dù đã có hai, ba tháng ròng rã tập đeo gạch, đi bộ, leo núi để làm quen nhưng những thử thách với thầy cô trong hành trình là vô cùng lớn.

“Cứ đêm đi ngày nghỉ, mỗi ngày đi khoảng 7 tiếng mới đến trạm giao liên, nhưng khi có địch lại phải đi xuyên trạm lên đến hơn 10 tiếng đi chuyển liên tục đường rừng, nhiều dốc dựng đứng, trơn trượt. Có khi đến điểm nghỉ lại không có nước, phải đi xa lấy nước về nấu ăn. Chúng tôi đi qua khu 6 là nơi chiến tranh đang diễn ra ác liện nên trong suốt 4 này đi không được nói, không được nấu ăn. Cơm phải nắm lại, đốt cháy xung quanh, khi mở ra ăn đã chua mà vẫn thấy ngon. Hết cơm thì ăn đến gạo rang,” thầy Nguyên bổi hồi kể.

Được phân về Kiến Tường, cô Hải Ấm vẫn nhớ hành trình ba ngày vượt qua cánh đồng tràm Đồng Tháp mênh mông nước. Những gốc tràm nhọn hoắt đâm vào chân tứa máu, làm mồi nhử cho đỉa bám đuổi theo sau. “Cứ lội như thế mà đi trong suốt ba ngày mới qua được cánh đồng mà chúng tôi hay gọi đùa là cánh đồng chó ngáp,” cô Hải Ấm kể.

Gian khổ, nhưng hiểm nguy lớn nhất là bom đạn kẻ thù. Nhà giáo Phạm Tăng khi đi tới giữa cánh đồng Mông Thọ (Kiên Giang) thì bị lộ, hai chiếc máy bay của địch đuổi theo bắn dữ dội nhưng may không ai trúng đạn. Đi trong vùng địch nên các thầy cô phải đêm đi, ngày nghỉ. Đỉa trâu bám nặng ống quần cũng không thể đứng lại vì phải đến căn cứ trước khi trời sáng. Cứ như thế đêm này qua đêm khác, chân sưng vù rơi cả móng.

“Chúng tôi đã vượt Trường Sơn không phải bằng sức lực mà bằng ý chí người thầy, không phải đi bằng chân mà đi bằng đầu,” thầy Đỗ Trọng Văn, Trưởng chi hội nhà giáo đi B, Hội Cựu giáo chức Việt Nam xúc động nói./.

KHÔNG GIAN MẠNG - NƠI CHIẾN ĐẤU CỦA MỖI “ĐẢNG VIÊN”

 

Mạng xã hội ngày nay là một phần không thể thiếu của cuộc sống con người. Tuy nhiên, không gian mạng cũng có nhiều rủi ro và nguy cơ tiềm ẩn mà chúng ta nhất là đảng viên cần phải khắc phục và sử dụng nó một cách hiệu quả nhất để bảo vệ, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ðồng thời, tuyên truyền, lan toả rộng rãi sự đúng đắn của nền tảng tư tưởng của Ðảng.

Nhận diện rõ nguy cơ trên không gian mạng

Việt Nam có lượng người dùng Internet được đánh giá cao, những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hàng ngày, các tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng công chúng hiểu sai lệch, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Ðảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh cứng rắn, hữu hiệu sẽ gây nên hệ luỵ khôn lường.

Các thông tin xấu, độc trên không gian mạng với những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Ðảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Ðảng, kinh tế, văn hoá, xã hội..., trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Ðảng ta, như: đòi Ðảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, chúng xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung và giá trị tư tưởng của Người; chúng chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Ðảng ta; chúng phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xoá bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hoá nền kinh tế, xoá bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước; cổ suý phi chính trị hoá lực lượng vũ trang, phủ nhận bản chất cách mạng và Nhân dân của lực lượng vũ trang, chia rẽ quân đội Nhân dân và công an Nhân dân; tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Ðảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật; thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam; tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá...

“Làm chủ” không gian mạng để bảo vệ Ðảng

Ðại hội XIII của Ðảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên Internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”.

Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào những vấn đề tư tưởng, lý luận, đồng thời sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta. Do đó công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Ðảng. Theo đó, chúng ta thực hiện một số giải pháp:

Một là, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh, phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức “tính hai mặt” của không gian mạng, “nhận diện” rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong việc sử dụng không gian mạng để chống phá cách mạng nước ta. Từ đó, nêu cao nhận thức, có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, có nhãn quan chính trị đúng đắn, đủ sức “phản biện” trước các thông tin xấu, độc trên không gian mạng.

Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Ba là, phát huy vai trò và sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Ðặc biệt, hiện nay trong thời đại công nghệ 4.0, mỗi đảng viên được tiếp cận trình độ khoa học công nghệ hiện đại, đều có thể truy cập vào các trang mạng, tự mình thiết lập, sử dụng các tài khoản, trang thông tin cá nhân (thư điện tử: Gmail, Yahoo...), Facebook, Zalo, Blog, Line, Tiktok... để viết tin, bài đấu tranh, phản bác chống quan điểm sai trái, thù địch. Ðặc biệt, phải chủ động làm chủ không gian mạng, để không gian mạng trở thành phương tiện, công cụ đắc lực phục vụ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.

Bốn là, phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Lực lượng này là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, năng lực tốt, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Ðảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

“TƯƠNG THÂN, TƯƠNG ÁI” - NÉT ĐẸP TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA, NIỀM TỰ HÀO CỦA DÂN TỘC

 

Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta xây đắp nên truyền thống văn hóa giàu bản sắc, vô cùng quý báu, trở thành nguồn sức mạnh nội sinh, mà không phải quốc gia nào cũng có được. Trong đó, tinh thần “tương thân, tương ái” là truyền thống, nét đặc trưng rất đỗi tự hào. Đáng nói là, càng trong khó khăn, hoạn nạn, truyền thống đó càng ngời sáng, lay động lòng người.

Vừa qua, bão Yagi (bão số 3) - cơn bão mạnh nhất trong vòng 30 năm qua đổ bộ vào nước ta và gây thảm họa tàn khốc đối với các tỉnh, thành phố ở miền Bắc; trong đó, đồng bào vùng Tây Bắc chịu thiệt hại lớn nhất về người và tài sản. Chúng ta hết sức đau lòng trước thảm cảnh bi thương ấy. Có những nơi ở Lào Cai, Cao Bằng, Yên Bái sạt lở đất, lũ quét đã khiến cả làng bị vùi lấp, cuốn trôi chỉ trong khoảnh khắc. Có gia đình thương vong không còn ai; nhiều gia đình mất trắng tài sản trong chớp mắt, v.v. Mất mát lớn là thế, đau thương nhiều là thế! Nhưng đồng bào vùng bị thiên tai không đơn độc bởi sự đùm bọc, sẻ chia bằng cả vật chất và tinh thần của nhân dân cả nước, bạn bè quốc tế. Trước hết là sự vào cuộc khắc phục hậu quả bão, lũ với tinh thần trách nhiệm cao của các cấp ủy, chính quyền, mặt trận tổ quốc, lực lượng vũ trang và các đoàn thể địa phương. Cùng với đó là sự ủng hộ, giúp đỡ tiền, thực phẩm, thuốc men, nước uống kịp thời của các tổ chức, cá nhân trên khắp mọi miền đất nước. Khó có thể thống kê được đã có bao nhiêu hành động thiện nguyện, tấm lòng vàng, quỹ ủng hộ, v.v. Càng không thể đong đếm được tình dân tộc, nghĩa đồng bào, lòng nhân ái gửi gắm, lắng đọng trong từng lời động viên, từng lượng vật chất cụ thể ấy lớn đến chừng nào, mà chỉ có thể khẳng định đó là nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam được thể hiện khái quát qua thành ngữ: “tương thân, tương ái”, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều”,… mỗi khi hoạn nạn, khó khăn xảy ra.

Nhưng bên cạnh những hành động, nghĩa cử cao đẹp đó, đáng buồn thay cũng còn số ít người thờ ơ, vô cảm trước sự mất mát, đau thương của đồng bào vùng bão, lũ. Thậm chí có người còn lợi dụng sự kiện đó để “làm màu”, đánh bóng tên tuổi bằng các hành vi gian dối, “ủng hộ ít xít ra nhiều”. Đáng buồn hơn, một số cá nhân còn “vô tư” giả danh của cơ quan, tổ chức để chuyển tiền (với số rất nhỏ) khiến dư luận không khỏi bức xúc.

“Tương thân, tương ái” mỗi khi gặp hoạn nạn là hành vi văn hóa, đạo đức ở trình độ cao và là thước đo văn minh của cá nhân, tổ chức và xã hội. Dù người đó là ai, ủng hộ nhiều hay ít, bằng bất cứ cách thức gì, miễn là với tấm lòng thiện nguyện thì đều được trân quý, tôn vinh, khích lệ. Trên thực tế, từ những tấm lòng thiện nguyện của từng cụ già, em nhỏ,... đến hành động dũng cảm, quên mình cứu giúp nhân dân của lực lượng vũ trang đều gây xúc động mạnh mẽ nhân dân cả nước. Vì thế, những hành vi gian dối, lợi dụng ủng hộ để khoe khoang tiền tài, phô trương đạo đức,... hòng trục lợi dưới bất cứ hình thức nào đều đáng bị lên án. Bởi nó không chỉ trái với đạo lý, “thuần phong, mỹ tục”, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, mà còn làm xói mòn niềm tin, gây nghi ngờ trong nhân dân, đó là chưa kể hành vi đó còn bao hàm cả yếu tố pháp luật.

“Thiên tai” từ cơn bão số 3 đã đi qua, hậu quả của nó tuy vẫn còn nặng nề nhưng đang dần được khắc phục. Điều đó phần nào xoa dịu những nỗi đau, mất mát; song điều quan trọng hơn đối với mỗi chúng ta là niềm tin, niềm tự hào về truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc được tăng cường và lan tỏa. Thiết nghĩ, đó là nền tảng vững chắc, cội nguồn chiến thắng mọi “thiên tai, địch họa” của nhân dân ta.

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc…”. Vì thế, công tác nhân sự đại hội Đảng là công tác đặc biệt quan trọng của công tác cán bộ, gắn liền với vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước. Đây cũng là công tác nhạy cảm, phức tạp, đối diện với vô vàn khó khăn, thách thức “nội sinh”, “ngoại sinh”. Và như chúng ta đã từng được chứng kiến sự thật có tính lịch sử trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, các kỳ họp của Quốc hội hay các ngày kỷ niệm lớn của đất nước, của Đảng và Quân đội, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lại gia tăng hoạt động chống phá, trong đó đặc biệt tập trung vào công tác nhân sự. Và khi Đảng ta ngày càng quyết liệt với công tác phòng, chống tham nhũng thì các thế lực này lại xem đó là cơ hội để xuyên tạc, bóp méo, làm sai lệch ý nghĩa của cuộc chiến chống “giặc nội xâm” nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Nhận diện những luận điệu sai trái

Để chuẩn bị cho lực lượng kế thừa, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, cấp ủy các cấp đều chú trọng công tác nhân sự thông qua việc quy hoạch, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm cán bộ nhằm tạo điều kiện cho cán bộ sâu sát với thực tiễn, rèn luyện năng lực, bản lĩnh ở nhiều vị trí công tác khác nhau. Bên cạnh đó, công tác phòng chống tham nhũng của Đảng cũng ngày càng quyết liệt, thể hiện rõ tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong ý thức và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong cả hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, trong luận điệu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, những mặt công tác thường xuyên và ý nghĩa này thì đó lại là kết quả của “chạy chức chạy quyền”, là “phe cánh tạo thế lực”… từ đó bác bỏ hoàn toàn vai trò của công tác nhân sự trong việc xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Mục đích của chúng không gì ngoài việc làm lung lay niềm tin của dân vào công tác cán bộ của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa Đảng với Nhân dân. Nhan nhản các trang mạng xã hội đăng tải những bài dự đoán nhân sự cấp cao cho Đại hội với lời lẽ đầy ác ý. Nguy hiểm là đã có không ít cán bộ, người dân tin vào những thông tin và luận điệu xuyên tạc ấy.

Về công tác phòng, chống tham nhũng, nếu cả cộng đồng quốc tế đã công nhận và người dân ngày càng tin vào nỗ lực của Đảng thì các thế lực thù địch lại cho rằng đó chỉ là “đấu đá phe cánh”, qua đó phủ nhận sự ổn định chính trị của đất nước. Với thủ đoạn “nhào nặn trắng đen”, chúng đã phủ nhận hoàn toàn kết quả công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng việc pha trộn thông tin thật giả, hướng dư luận đến những tiêu cực mà không thấy những kết quả tích cực từ công tác này.

Hãy thực sựu tỉnh táo trước thông tin xấu, độc

Việc chống phá, xuyên tạc, bóp méo sự thật là âm mưu thường xuyên, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, nhất là đối với công tác nhân sự vốn rất được người dân, cán bộ, đảng viên quan tâm. Lợi dụng sự quan tâm này, chúng liên tục tung ra các thông tin về công tác cán bộ - có khi là dự đoán nhân sự sắp được bổ nhiệm, có khi là tung tin “bí mật đằng sau” việc kỷ luật cán bộ, có khi là thông tin bịa đặt về sức khỏe của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước hoặc tung tin sai trái về hoạt động của một nhân sự cấp cao trên lĩnh vực kinh tế nhằm tạo tâm lý hoang mang, gây xáo trộn nền kinh tế trong nước… Để tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc, thông tin xấu độc này, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nhớ quản lý cán bộ là một phần quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng, cũng là tất yếu khách quan của bất cứ thể chế chính trị nào trên thế giới. Chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận; lựa chọn, bố trí cán bộ là chức năng của đảng cầm quyền và trở thành phương thức cầm quyền của Đảng. Quá trình quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ luôn được thực hiện một cách công khai, minh bạch, theo quy trình cụ thể, rõ ràng. Đặc biệt, dù nhân sự ở cấp nào có thay đổi nhưng nguyên tắc hoạt động, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng luôn nhất quán, đảm bảo tính kế thừa, không bị chi phối bởi bất cứ thế lực nào, không bị thay đổi như các thể chế đa đảng khác.

Còn vấn nạn tham nhũng, tiêu cực không chỉ xuất hiện ở riêng Việt Nam hay một đất nước nào mà đó là vấn đề nan giải ở mọi thể chế có giai cấp, là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực Nhà nước, là sự tha hóa quyền lực của người có chức có quyền. Thấy rõ điều này, Đảng ta luôn đẩy mạnh cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực, để làm trong sạch Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền vững mạnh. Đây hoàn toàn không phải là cuộc đấu đá giữa các phe, cánh mà mỗi vụ việc bị phanh phui là “diệt sâu để cứu cây”; mỗi cán bộ bị xét xử về hành vi sai trái của mình là giúp cho những đảng viên, cán bộ khác tự soi và tự sửa bản thân để không đi vào con đường sai trái và tiếp tục cống hiến cho Đảng, phục vụ Nhân dân.

Đoàn kết thống nhất là truyền thống quý báu của dân tộc ta từ bao đời nay, làm nên sức mạnh chiến thắng giặc ngoại xâm. Đó cũng là sức mạnh nội tại trong Đảng, nguyên tắc đoàn kết thống nhất được biểu hiện thực tế trong toàn bộ hoạt động của Đảng. Trước sự chống phá ngày càng ráo riết của các thế lực thù địch, cán bộ, đảng viên càng phải đoàn kết để đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, các thủ đoạn gây mất niềm tin và chia rẽ đoàn kết nội bộ. Không để tư tưởng xấu độc, cực đoan len lỏi vào trong suy nghĩ; tận lực, tận tụy, hết lòng với nhiệm vụ được giao, hết lòng phục vụ Đảng, phục vụ Nhân dân - đó chính là cách mà mỗi cán bộ, đảng viên có thể làm và làm tốt nhất để giữ vững bản lĩnh trước sự chống phá vô hình nhưng cũng vô cùng nguy hiểm của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay.

 

KHẲNG ĐỊNH BẢN LĨNH, TRÌNH ĐỘ LÀM CHỦ BẦU TRỜI CỦA PHI CÔNG QUÂN SỰ

 

Đại tá Nguyễn Văn Sơn và Thượng tá Nguyễn Hồng Quân thuộc Trung đoàn Không quân 940, Trường Sĩ quan Không quân (Quân chủng Phòng không - Không quân) với bản lĩnh, kỹ năng xuất sắc, đã bình tĩnh đối mặt với tình huống nguy hiểm, đưa ra những quyết định chính xác và an toàn trở về. Hành động của hai phi công đã minh chứng cho trình độ và tinh thần, ý chí thép của người quân nhân cách mạng.

Sự cố bất ngờ và quyết định dũng cảm

Trở về an toàn sau sự cố, Thượng tá Nguyễn Hồng Quân bày tỏ: “Đối với mỗi phi công, chắc chắn không ai muốn nhảy dù vì luôn mong muốn bảo đảm khối tài sản quốc gia. Chúng tôi đã trao đổi rất kỹ và điều khiển máy bay, bay đi bay lại nhiều lần để quyết tâm hạ cánh thành công. Nhưng điều kiện không cho phép, buộc chúng tôi phải nhảy dù”.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Phụng Tuấn, Phó tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân, trên máy bay có 3 càng, 1 càng mũi, 2 càng chính; nếu 1 trong 2 càng chính không ra thì phi công sẽ phải làm động tác thả càng khẩn cấp. Sau khi thả càng khẩn cấp mà càng vẫn không ra được thì bắt buộc phi công phải nhảy dù, ở đây phi công vẫn cố hết sức để tạo quá tải cho một bên càng ra nốt nhưng không được. Trong trường hợp này nắp buồng càng đã ra rồi, phi công vật lộn với máy bay rất nhiều lần, 7 đến 8 lần với khối tải lớn nhưng càng vẫn không ra nên mới quyết định nhảy dù. Đây là một quyết định dũng cảm và chắc chắn. Vì trong trường hợp máy bay còn điều khiển tốt, phi công phải tránh những khu vực đông dân cư, làng mạc để tránh thảm họa cho dân chúng.

Điều đó cho thấy quyết định nhảy dù của hai phi công không phải là một quyết định dễ dàng, đồng nghĩa với việc từ bỏ chiếc máy bay, một tài sản quý giá của đất nước. Tuy nhiên, đặt sự an toàn về tính mạng và tránh gây thiệt hại cho người dân, hai phi công đã bình tĩnh tính toán, lựa chọn vị trí nhảy dù an toàn nhất, tránh xa khu dân cư. Hành động của họ không chỉ là sự dũng cảm mà còn là sự thông minh và tính toán kỹ lưỡng.

Đại tá Nguyễn Văn Sơn chia sẻ: “Hướng nhảy dù của chúng tôi vào hướng quy định của sân bay và bằng các kỹ năng sinh tồn theo hướng dẫn, chúng tôi đi bộ hướng về sân bay, hướng 90 độ ra biển, leo lên đến đỉnh núi cao hơn 700 mét, lúc đó có sóng điện thoại và kết nối được với đồng đội và lực lượng cứu hộ”.

Có mặt chỉ huy tại hiện trường, Trung tướng Phạm Trường Sơn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam bày tỏ: “Sự cố hai phi công Trung đoàn 940 gặp phải là trường hợp bất trắc, vô cùng phức tạp. Rất là lo và thương anh em. Trong tình huống như vậy, anh em vượt qua bằng nghị lực bản lĩnh và sự đoàn kết”.

Huấn luyện trong mọi điều kiện thời tiết

Đại tá Nguyễn Văn Sơn, sinh năm 1977, tại Quỳnh Phụ, Thái Bình; năm 2002, Nguyễn Văn Sơn tốt nghiệp phi công quân sự tại Học viện Phòng không - Không quân và được điều về làm giảng viên bay tại Trung đoàn 920, Trường Sĩ quan Không quân. Sau đó anh được cử sang Liên bang Nga đào tạo nâng cao tại Học viện Không quân Gagarin. Năm 2014 về nước, anh tiếp tục công tác tại Trung đoàn 920.

Năm 2021, khi đang là Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 910, đã trải qua hơn 2.000 giờ bay trên các loại máy bay khác nhau, anh cùng 11 phi công của Trường Sĩ quan Không quân được Quân chủng Phòng không - Không quân cử sang Liên bang Nga để học chuyển loại lý thuyết máy bay Yak-130. Cũng năm 2021, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Trung đoàn 940, trực thuộc Trường Sĩ quan Không quân với nhiệm vụ tổ chức huấn luyện, đào tạo các khoa mục ứng dụng chiến đấu trên máy bay huấn luyện - chiến đấu Yak-130 cho các đối tượng học viên phi công quân sự theo quy trình đào tạo phi công phản lực. Nguyễn Văn Sơn được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 940.

Trở về nước, anh tiếp tục được các chuyên gia Nga hướng dẫn thực hành bay trên máy bay Yak-130 tại sân bay Phù Cát. Trong quá trình thực hành bay chuyển giao cũng như chỉ huy bay cùng với các chuyên gia, Nguyễn Văn Sơn luôn tranh thủ quan sát và học hỏi họ từ những điều nhỏ nhất. Bên cạnh đó, anh còn nghiêm túc thực hiện các thao tác điều khiển máy bay theo chỉ dẫn của các chuyên gia, đồng thời tích cực học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ kỹ thuật bay, chỉ huy bay cũng như nâng cao năng lực quản lý, điều hành đơn vị. Nhờ sự nỗ lực, chịu khó học hỏi nên chỉ sau 3 tháng thực hành bay, Nguyễn Văn Sơn đã hoàn thành chương trình khoa mục bay ngày, bay đêm, bay biển và cùng với chuyên gia tham gia bay bắn, ném bom, đạn thật diệt mục tiêu trên đất liền, trên biển. Kết quả đạt thành tích xuất sắc, anh được các chuyên gia Nga đánh giá cao về khả năng tiếp thu kỹ thuật lái, bắn đạn thật, ném bom cũng như trình độ chỉ huy bay.

Còn Thượng tá Nguyễn Hồng Quân, sinh năm 1983, tại Thạch Hà, Hà Tĩnh được đào tạo phi công tại Trường Sĩ quan Không quân. Anh đã trải qua nhiều cương vị từ giảng viên phi đội, chính trị viên phi đội, rồi chủ nhiệm bay. Anh có hơn 2.000 giờ bay tích lũy trên các loại máy bay Yak-52, L-39, Mig-21, Su-27 và Yak-130. Trong đó, riêng Yak-130 anh đã có gần 800 giờ bay tích lũy, với bay ứng dụng chiến đấu tất cả các khoa mục, ở các điều kiện khí tượng khác nhau. Thượng tá Nguyễn Hồng Quân cũng có thời gian cùng với Đại tá Nguyễn Văn Sơn tại Liên bang Nga học chuyển loại lý thuyết máy bay Yak-130.

Được biết, chỉ sau 3 tháng tham gia bay thực hành chuyển loại máy bay Yak-130, tất cả các phi công của Trung đoàn 940 đều hoàn thành các khoa mục bay ngày, bay đêm, bay biển với chuyên gia nước bạn, đồng thời tham gia bay bắn đạn thật, ném bom tiêu diệt mục tiêu trên đất liền, trên biển đạt thành tích xuất sắc. Sau 8 tháng, đơn vị đã triển khai đưa khí tài Yak-130 vào huấn luyện đêm và huấn luyện bay biển... Chính nhờ việc huấn luyện chặt chẽ, đầy đủ nên các phi công đã có những kinh nghiệm xử lý, phán đoán tình huống chính xác.

Đại tá Lê Văn Uy, Chính ủy Trường Sĩ quan Không quân đánh giá: “Với bản lĩnh, trình độ của 2 phi công cấp 1, với hơn 2.000 giờ bay đã tích lũy được trên 3, 4 loại máy bay, phi công thực hiện các động tác cơ động phức tạp theo đúng sổ tay xử lý bất trắc và tập trung quan sát, lựa chọn hướng bay phù hợp, để không ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản của nhân dân. Mặc dù biết mình sẽ nhảy dù xuống nơi địa hình rừng núi hiểm trở, nhưng với tinh thần dũng cảm, ý chí kiên cường của người cán bộ, giảng viên bay, 2 phi công đã nhanh chóng thống nhất và quyết định cùng nhau thực hiện động tác nhảy dù”.

Sự cố máy bay Yak-130 là một thử thách lớn nhưng cũng là cơ hội để thấy được bản lĩnh, sự dũng cảm và tinh thần trách nhiệm của hai phi công Trung đoàn 940. Đây là một bài học về sự chuẩn bị kỹ lưỡng, khả năng ứng biến linh hoạt và tầm quan trọng của việc tuân thủ quy trình. Đối với lực lượng không quân, đây là cơ hội để đánh giá lại hệ thống huấn luyện, bảo dưỡng máy bay và công tác tìm kiếm cứu hộ./.

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VÀ THÀNH TỰU TRONG CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM.

 

Dùng hình ảnh cây tre Việt Nam để làm biểu tượng, bản sắc ngoại giao Việt Nam là bởi cây tre có gốc vững, thân chắc và cành uyển chuyển. Gốc vững chính là thực lực của ta. Thân vững chính là lợi ích quốc gia dân tộc. Cành lá uyển chuyển là cách thức mà chúng ta ứng xử trong ngoại giao. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình đưa ra những luận điệu xuyên tạc, công kích đường lối, chính sách ngoại giao, phủ nhận những thành tựu trong công tác đối ngoại của Việt Nam.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá

Mới đây, sau khi cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được ra mắt bạn đọc thì một số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, các hãng truyền thông hải ngoại định kiến với Việt Nam đã tung ra những bài viết, hình ảnh, video trên các nền tảng mạng xã hội với nội dung sai trái.

Họ đưa ra luận điệu sai lệch rằng “cuốn sách là không cần thiết”, “trường phái ngoại giao cây tre là ngả nghiêng, không thực chất, không có lập trường, không rõ ràng”, “gió chiều nào theo chiều ấy”… Mục đích của các thế lực thù địch là xuyên tạc trường phái “ngoại giao cây tre”, thể hiện qua những vấn đề sau:

Thứ nhất, xuyên tạc để tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta cũng như vai trò quản lý xã hội của Nhà nước, đòi thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam; ca ngợi kiểu cách đối ngoại phương Tây để tạo “cơn sóng ngược” nhằm hướng lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, cho rằng như thế mới có đường lối đối ngoại đúng đắn.

Thứ hai, gieo rắc, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, tạo “ngòi nổ” để kích động tâm lý chống đối, phản kháng, gây chia rẽ, kỳ thị trong ngoại giao, đặc biệt gây sự hiểu nhầm đối với người dân trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định xã hội, ảnh hưởng tiêu cực an ninh quốc gia, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Thứ ba, hạ bệ vị thế, uy tín nước ta trên trường quốc tế, tìm cách làm cho các đối tác của Việt Nam thiếu niềm tin, e ngại trong xúc tiến hợp tác kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; gây ra sự hiểu sai về đất nước, con người Việt Nam; tìm cách cô lập Việt Nam với thế giới.

Có thể thấy, âm mưu của các thế lực thù địch là rất nguy hiểm, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nếu không tỉnh táo nhận diện và có cái nhìn khách quan, đúng đắn, đầy đủ về giá trị trường phái “ngoại giao cây tre” thì rất dễ rơi vào cái bẫy của đối tượng xấu giăng ra, thậm chí dễ trở thành “quân tốt”, “con bài” trong các hoạt động chống phá của các hội nhóm phản động, cơ hội chính trị.

Cần hiểu đúng về trường phái “ngoại giao cây tre”

“Ngoại giao cây tre” là khái niệm được nhắc nhiều trong những năm gần đây. Đây là trường phái ngoại giao được đúc kết, hình tượng hóa đường lối đối ngoại mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện, trong đó trường phái ngoại giao này được xây dựng trên phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Vậy cụm từ “ngoại giao cây tre” có từ bao giờ?

Vào tháng 8/2016, tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định trường phái ngoại giao độc đáo, mang đậm bản sắc cây tre Việt Nam. Đến tháng 12/2021, tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư tiếp tục nhấn mạnh: “Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn văn hóa và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc cây tre Việt Nam. Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, can trường trước mọi khó khăn, thử thách, vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc”.

Qua đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích, làm sâu sắc thêm cơ sở hình thành, đặc trưng về trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Trên cương vị là người đứng đầu Đảng, với tư duy đối ngoại sâu sắc mang tầm chiến lược cao và thực tiễn trải nghiệm hoạt động ngoại giao phong phú, sinh động, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cho ra đời cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam””. Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương khẳng định, cuốn sách của Tổng Bí thư là kim chỉ nam cho đường lối, chủ trương của Đảng về công tác đối ngoại; đóng góp to lớn, góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận và cơ sở thực tiễn về xây dựng CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam.

Đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương đánh giá, cuốn sách có giá trị vô cùng to lớn bởi đây là công trình đầu tiên mang tính hệ thống, tập hợp những phát biểu, bài viết của Tổng Bí thư về lĩnh vực đối ngoại, ngoại giao. Các bài viết thể hiện một cách cụ thể, sâu sắc và sinh động sự đóng góp to lớn, quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư trên nhiều cương vị khác nhau trước đây và với cương vị là lãnh đạo cao nhất của Đảng ta hiện nay trong việc xây dựng và phát triển đường lối đối ngoại của Việt Nam; đồng thời, khẳng định sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, toàn diện, xuyên suốt của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với công tác đối ngoại trên cả ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Bàn về những thành tựu đối ngoại và những đóng góp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đồng chí Thongsavanh Phomvihane, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khẳng định: “Những thành tựu của Việt Nam nói chung, những thành tựu trong công tác đối ngoại nói riêng cũng chính là những thành tựu, là bài học kinh nghiệm quý báu cho đất nước Lào… Đặc biệt, Đảng, Nhà nước Lào đánh giá cao ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong việc nhấn mạnh 6 nhóm vấn đề là mục tiêu, nhiệm vụ to lớn, nặng nề nhưng đầy vẻ vang trong việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại của Việt Nam”.

Trong bài viết “Giá trị thời đại của trường phái ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”, đồng chí Hàn Phương Minh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc, Chủ tịch Học hội ngoại giao và quan hệ quốc tế CHARHAR đã chia sẻ cảm xúc: “Ngoại giao “cây tre Việt Nam” là vừa kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vừa tích cực mở rộng trong lĩnh vực ngoại giao, bảo vệ và phát triển lợi ích quốc gia của Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn tính linh hoạt và tính nguyên tắc, nỗ lực thích ứng với thế giới không ngừng biến đổi; mặt khác, cùng với việc phát triển các quan hệ ngoại giao hiện có, thiết lập các quan hệ hợp tác mới. Đây chính là nền tảng ngoại giao để Việt Nam vẫn phát triển ổn định, lành mạnh dù đứng trước tình hình thế giới vô cùng phức tạp”.

Còn rất nhiều chính khách, học giả, nhà nghiên cứu thế giới đánh giá cao đường lối, chính sách đối ngoại, ngoại giao của Đảng, Nhà nước ta, ghi nhận những cống hiến to lớn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong quá trình phát triển đất nước, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” mang lại giá trị gì?

Các hoạt động đối ngoại theo trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã góp phần củng cố vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; phục vụ đắc lực, hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, tăng cường sức mạnh dân tộc, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác. Qua trường phái ngoại giao ấy, từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng đến nay, Việt Nam tiếp tục mở rộng, làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, trọng tâm là các nước láng giềng, đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống.

Vừa qua, chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Trung Quốc và các hoạt động trong chuyến công tác tại Hoa Kỳ, Cuba đã một lần nữa khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, luôn đóng góp tích cực vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Thành công của các chuyến thăm, hoạt động đối ngoại này đã tạo nên bước phát triển mới về chất trong đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta.

Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó có 6 nước đối tác chiến lược toàn diện, 12 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Trên phương diện kinh tế, thông qua ngoại giao “cây tre Việt Nam”, năm 2023 đã góp quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xuất nhập khẩu đạt trên 680 tỷ USD, thu hút FDI đạt 36,6 tỷ USD, tăng 32,8%, nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đã cam kết đầu tư dài hạn ở Việt Nam…

Khẳng định thành tựu do “ngoại giao cây tre” mang lại, tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 ngày 19/12/2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, công tác đối ngoại đã “đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, trở thành một điểm sáng đầy ấn tượng trong toàn bộ những kết quả, thành tựu chung của đất nước”.

Trước một thế giới với vô vàn sự chia rẽ, xung đột, Việt Nam đang dần khẳng định vị thế, uy tín đối với bạn bè quốc tế, là biểu tượng của hòa bình, độc lập, tự chủ, thân thiện, hiếu khách, nơi các đối tác đặt niềm tin cho những mối quan hệ tốt đẹp. Những đóng góp của trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã được chứng minh, khẳng định giá trị trên thực tế. Đây là minh chứng sinh động góp phần bác bỏ những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động về đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam.