Thứ Ba, 4 tháng 3, 2025

THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH: NHỮNG GÌ ĐÚNG, CÓ LỢI CHO DOANH NGHIỆP CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM THÌ DỨT KHOÁT THỰC HIỆN

 Tiếp tục chương trình làm việc với cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước, chiều 2.3, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì tọa đàm với các doanh nghiệp châu Âu nhằm thúc đẩy hợp tác, đầu tư, cùng Việt Nam tăng trưởng 8% trở lên trong năm 2025, tạo đà, tạo lực, tạo khí thế cho tăng trưởng 2 con số trong những năm tiếp theo, đạt 2 mục tiêu 100 năm, đến năm 2045 là nước phát triển có thu nhập cao.

Dự tọa đàm có các Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc và Nguyễn Chí Dũng; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương, một số địa phương; 15 tập đoàn, tổng công ty của Việt Nam; Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam Julien Guerrier; Đại sứ, Phó Đại sứ các nước EU tại Việt Nam và lãnh đạo 16 tập đoàn hàng đầu châu Âu.

Hiện nay, đầu tư của EU vào Việt Nam đạt hơn 30,4 tỷ USD; đứng thứ 6 trong số các nhà đầu tư FDI nhiều nhất vào Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai chiều năm 2024, đạt 68,5 tỷ USD.

Tại tọa đàm, các đại biểu phía châu Âu đánh giá cao môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Với nền tảng vững chắc, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng khá trong bối cảnh ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19 và bão Yagi. Đặc biệt các đại biểu bày tỏ ấn tượng với những cải cách gần đây của Việt Nam, nhất là sự quyết đoán, cũng như việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng rõ ràng, minh bạch, thông thoáng hơn.

Việc hai bên đã ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), doanh nghiệp EU đã tăng cường đầu tư, đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam. Trong đó, thông qua chương trình Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP), EU hỗ trợ Việt Nam đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Với tỷ lệ 75% số doanh nghiệp châu Âu được khảo sát đều khuyên lựa chọn Việt Nam làm điểm đến đầu tư; tin tưởng vào tiềm năng đầu tư tại Việt Nam, các doanh nghiệp châu Âu cho biết sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với Chính phủ, các bộ, ngành Việt Nam, không chỉ tiếp tục làm ăn lâu dài tại Việt Nam mà còn sẵn sàng thu hút thêm nhiều nhà đầu tư vào Việt Nam.

Các doanh nghiệp châu Âu cũng nêu lên một số vấn đề được cho là rào cản, nút thắt, từ đó đề xuất giải quyết để Việt Nam không bỏ lỡ các khoản đầu tư từ EU như: các bộ, ngành Việt Nam thực hiện tốt các nội dung trong Hiệp định EVFTA, nhất là quy định về thuế, phí; cần đưa ra quyết định và giải quyết các vấn đề nhanh chóng hơn; giảm thủ tục hành chính; giảm bớt gánh nặng pháp lý; ổn định, nhất quán trong chính sách, pháp luật; chuẩn hoá, áp dụng cùng một quy tắc cho cùng một loại hoạt động trên cả nước; đơn giản hóa các yêu cầu về giấy phép lao động…

Đánh giá cao hiệu quả mà Hiệp định EVFTA mang lại, phía EU đề nghị hai bên tiếp tục nỗ lực để phát huy tối đa lợi ích do Hiệp định mang lại. Các doanh nghiệp châu Âu mong muốn được mở rộng đầu tư tại Việt Nam, tập trung vào các lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng chiến lược, các động lực tăng trưởng mới, các ngành nghề mới nổi như công nghiệp bán dẫn, chuyển đổi số; công nghệ cao, hàng không, điện tử, logistics, năng lượng sạch, điện tử…

Bày tỏ ủng hộ, sẵn sàng cùng Việt Nam thực hiện mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045, phía châu Âu cho rằng, Việt Nam cần tăng cường quảng bá mạnh mẽ hơn nữa để thu hút khách du lịch và đầu tư kinh doanh; tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh, thương hiệu quốc gia…

Cùng lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương trao đổi, giải đáp và giải quyết các nội dung được phía châu Âu, doanh nghiệp châu Âu quan tâm, đề xuất, kiến nghị, kết luận cuộc tọa đàm, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trân trọng cảm ơn các Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Liên minh châu Âu và các tập đoàn châu Âu tại Việt Nam đã trao đổi thẳng thắn, chân thành, tin cậy, trách nhiệm, thể hiện quyết tâm cùng Việt Nam phát triển; khẳng định, Chính phủ, các bộ, ngành Việt Nam tiếp thu các ý kiến đóng góp và phân công “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian thực hiện, rõ hiệu quả, rõ sản phẩm” xử lý kịp thời để đạt được mục tiêu lớn đã đề ra.

Phân tích tình hình thế giới, với những thay đổi nhanh, khó lường, Thủ tướng cho rằng đây đều là những vấn đề toàn cầu, toàn dân, toàn diện, bao trùm, cần có cách tiếp cận toàn cầu, toàn dân, tinh thần đoàn kết, phối hợp chặt chẽ, cùng xử lý, ứng phó linh hoạt, kịp thời, hiệu quả. Trong đó, Thủ tướng mong muốn các bên thực hiện 5 tăng cường gồm: Tăng cường đoàn kết chặt chẽ, hiệu quả hơn; Tăng cường hợp tác thực chất; Tăng cường đổi mới tư duy mạnh mẽ hơn; có giải pháp sáng tạo hơn; Tăng cường triển khai hành động quyết liệt, trọng tâm, trọng điểm hơn; Tăng cường tư duy, phương pháp luận, cách tiếp cận thực tế, phù hợp thực tiễn đặt ra.

Thủ tướng đánh giá, sau 35 năm thiết lập, quan hệ ngoại giao Việt Nam - EU không ngừng phát triển; đánh giá cao sự giúp đỡ của EU trong suốt quá trình phát triển, nhất là về kinh tế, đầu tư, thương mại của Việt Nam, đặc biệt là chia sẻ của châu Âu vì cuộc sống tự do và mưu cầu hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.

Thủ tướng cho biết, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng năm nay đạt 8% trở lên, mong châu Âu ủng hộ, hỗ trợ Việt Nam đạt mục tiêu này, để tạo đà, tạo lực, tạo khí thế cho những năm tới đạt mức tăng trưởng 2 con số, thiết thực kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ Việt Nam - EU, trên tinh thần thành công của châu Âu nói chung và các doanh nghiệp châu Âu cũng là thành công của Việt Nam. Vì dư địa phát triển hợp tác hai bên còn rất lớn, trong khi Việt Nam có đông dân số, nằm ở tâm điểm tăng trưởng, vị trí địa chiến lược thuận lợi, có môi trường hoà bình, hợp tác, phát triển thì sẽ rất thuận lợi trong phát triển, doanh nghiệp có thể phát triển Việt Nam thành cứ điểm sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu sản phẩm đi các nước khác.

Thủ tướng Chính phủ khẳng định Việt Nam sẵn sàng đón lãnh đạo cấp cao của EU đến thăm làm việc thực chất, hiệu quả hơn, qua đó mang lại môi trường thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp châu Âu, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh Việt Nam.

Thẳng thắn nhìn nhận hai bên vẫn còn nhiều yếu tố cần phải vượt qua, tháo gỡ như thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ, các quyết định đưa ra còn chậm, vấn đề liên quan một số sắc thuế, hải quan…, Thủ tướng cho biết, Chính phủ, các bộ, ngành Việt Nam đã nỗ lực giải quyết trên nguyên tắc những gì đúng, có lợi cho quá trình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu và có lợi cho Việt Nam thì dứt khoát thực hiện, khó mấy cũng làm.

Thông tin về kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2024, trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ, đóng góp của EU, các doanh nghiệp EU vào thành tựu chung của Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, năm 2025 và những năm tiếp theo, Việt Nam quyết tâm đạt mức tăng trưởng cao hơn để hoàn thành 2 mục tiêu 100 năm, trong đó nỗ lực phát triển đến năm 2030 thành trung tâm kinh tế, thương mại và đầu tư lớn ở châu Á.

Do đó, Thủ tướng mong các doanh nghiệp EU tiếp tục mở rộng sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam, xem Việt Nam là cứ điểm quan trọng phát triển chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất; khẳng định, Việt Nam sẵn sàng tạo cơ hội, niềm tin, điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp châu Âu yên tâm xác định đây là cứ điểm đầu tư an toàn, mang lại lợi ích và sự phát triển, gắn kết chặt chẽ giữa EU với Việt Nam.

Cho biết, năm 2024, Việt Nam được tổ chức quốc tế nâng hạng các chỉ số xếp hạng tín nhiệm. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã lựa chọn Việt Nam là trung tâm sản xuất chiến lược. Việt Nam đáp ứng lại sự tin tưởng của các nhà đầu tư bằng việc: tập trung vào 3 đột phá chiến lược về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao, với “chính sách thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản lý thông minh”, Thủ tướng nhấn mạnh, Việt Nam quyết liệt cắt giảm thủ tục hành chính; thực hiện phân cấp, phân quyền; xoá bỏ cơ chế xin-cho; chống tiêu cực, tham nhũng; tăng cường kiểm tra, giám sát; tiến hành cuộc cách mạng về sắp xếp, tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả bộ máy nhà nước; tăng cường áp dụng chuyển đổi số… Qua đó giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp; giảm chi phí đầu vào của sản phẩm, giảm chi phí logistics, giảm phát thải, tăng tính cạnh tranh, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp.

Thủ tướng cho biết, Việt Nam tăng cường đào tạo nguồn nhân lực thực hiện quản trị thông minh góp phần tăng năng suất lao động, đáp ứng yêu cầu mới của doanh nghiệp ngành công nghệ cao như sản xuất chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, quang lượng tử…, trong đó có tập trung đào tạo 50 nghìn kỹ sư ngành bán dẫn. Cùng với đó, Việt Nam quyết tâm cắt bỏ ít nhất 30% thủ tục hành chính, cắt giảm ít nhất 30% chi phí hành chính, 30% thời gian quyết định các thủ tục hành chính, thủ tục đầu tư. Việt Nam tiếp tục giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, ổn định về luật pháp để bảo đảm sự an toàn, ổn định, hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu.

Thủ tướng khẳng định sẽ chấm dứt tình trạng cái gì cũng tốt nhưng cái quan trọng, cái cần thì lại không tốt; cái gì cũng nhanh nhưng cái cần nhanh nhất lại chậm… để giải quyết nhanh nhất các vướng mắc của các doanh nghiệp châu Âu.

Đối với các doanh nghiệp châu Âu, Thủ tướng mong muốn phát huy tinh thần chủ động, tích cực, nâng tầm, làm sâu sắc hơn quan hệ hai bên; tạo nền tảng vững chắc ở tất cả các lĩnh vực với tinh thần hợp tác hai bên đều có lợi, nhất là nhân dịp kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – EU; tăng cường hơn nữa đầu tư chất lượng cao, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ tiên tiến, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế sáng tạo, kinh tế tri thức, kinh tế chia sẻ, năng lượng mới, trung tâm tài chính, tài chính xanh, phát triển kinh tế biển, công nghệ sinh học, y tế.

Thủ tướng cũng đề nghị các doanh nghiệp châu Âu tiếp tục hợp tác với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu; đa dạng hoá thị trường, để sản phẩm Việt Nam linh hoạt hơn, thích ứng tình hình; phát huy cơ chế đối thoại với Chính phủ, làm tốt hơn nữa kết nối doanh nghiệp định kỳ với tinh thần đã nói là làm, đã cam kết là thực hiện, đã thực hiện là phải có kết quả, sản phẩm; doanh nghiệp châu Âu đưa Việt Nam trở thành cứ điểm sản xuất, kinh doanh lâu dài của EU; tư vấn, tham mưu xây dựng thể chế, chính sách.

Châu Âu và doanh nghiệp châu Âu hưởng ứng và đồng hành cùng Việt Nam trong phát triển nhanh, tăng trưởng cao và bền vững. Theo đó làm tốt chính sách xã hội để bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội, bảo đảm tiếp cận bình đẳng của các đối tượng đối với y tế, giáo dục, văn hoá; bảo đảm an sinh xã hội nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo… ; không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần; bảo đảm phát triển ngày càng thuận lợi.

Người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đề nghị cộng đồng doanh nghiệp châu Âu có tiếng nói thúc đẩy 9 nước thành viên còn lại của EU sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA); thúc đẩy Ủy ban châu Âu (EC) xem xét tích cực gỡ bỏ thẻ vàng IUU đối với xuất khẩu hải sản Việt Nam; tham gia tích cực đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao ít phát thải ở Đồng bằng sông Cửu Long; đề nghị EU tiếp tục duy trì viện trợ ODA cho Việt Nam thông qua các kênh hợp tác song phương.

Khẳng định Chính phủ Việt Nam cam kết bảo đảm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là một hợp phần quan trọng của kinh tế Việt Nam; bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, bằng luật pháp quốc tế, Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp châu Âu cùng lắng nghe và thấu hiểu; cùng chia sẻ tầm nhìn, nhận thức và hành động; cùng làm, cùng hưởng, cùng thắng và phát triển; cùng chia sẻ niềm vui, hạnh phúc và niềm tự hào; tiếp tục ủng hộ, tin tưởng Việt Nam./.



TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TIẾP TỤC VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO THỰC TIỄN!

     Trong bài viết Rạng rỡ Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm nhắc lại lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.

Tổng Bí thư khẳng định: Chính vì vậy, Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, giữ vững bản chất cách mạng và vai trò tiên phong của mình. Trong bối cảnh hiện nay, Đảng càng phải kiên định nền tảng tư tưởng của mình, tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, bảo vệ vững chắc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Đảng phải không ngừng đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để tiếp tục dẫn dắt dân tộc trên con đường phát triển trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Với những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử công cuộc đổi mới đất nước, tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là "kim chỉ nam" cho mọi hành động của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ quan điểm chỉ đạo quá trình đổi mới và phát triển ở Việt Nam. Đó là: "Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh". Đây được coi là một trong những vấn đề "mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động".

Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, giữ vững bản chất cách mạng và vai trò tiên phong của mình.

Thực tiễn 95 năm ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng ta với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử để đất nước ta có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay càng chứng tỏ rằng sự kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn.

Việc tiếp tục kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần trở thành nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong đó, cần chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổng kết và chỉ đạo thực tiễn để giải quyết hiệu quả những vấn đề thực tiễn đặt ra. Bởi chính trong công việc lãnh đạo, chỉ đạo, khi nắm chắc quan điểm biện chứng và nguyên lý phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên sẽ có thêm "sức đề kháng" trước những luận điệu, âm mưu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; đồng thời tránh được tư duy rập khuôn, máy móc, vận dụng theo kiểu giáo điều làm xơ cứng, nghèo nàn những quan điểm triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu trong khi chỉ đạo làm tốt việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị được giao. Cán bộ, đảng viên thật sự coi trọng việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc định hướng phát triển và hoạt động thực tiễn ở cơ quan, địa phương, đơn vị sao cho thiết thực, hiệu quả; có những giải pháp phù hợp tình hình thực tế để đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống, sao cho "ý Đảng hợp lòng dân".

Quán triệt phương châm lý luận thống nhất với thực tiễn, và cũng cần nắm vững quan điểm thực tiễn để giải đáp những vấn đề do thực tiễn công cuộc đổi mới đặt ra hiện nay. Cấp ủy, tổ chức đảng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, đổi mới phương thức lãnh đạo bằng việc biết khơi gợi, lắng nghe những sáng kiến từ địa phương, cơ sở, của các tổ chức, cá nhân và quần chúng nhân dân, định hướng kịp thời những hoạt động sáng tạo của nhân dân hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững...

Việc quán triệt, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tại các địa phương, đơn vị thời gian qua là cách làm hiệu quả để tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn. Các nội dung chuyên đề, đề án về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hằng năm được cụ thể hóa vào các chương trình, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn; nhiều chương trình, phong trào, mô hình, điển hình về học tập và làm theo Bác được xây dựng, nhân rộng và có hiệu quả.

Thông qua việc đẩy mạnh tuyên truyền trong quần chúng nhân dân, vận động nhân dân tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tích cực phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, là thiết thực vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn./.
Yêu nước ST.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN - CHỚP THỜI CƠ, ĐÁNH VÀO NƠI HIỂM YẾU NHẤT CỦA ĐỊCH!

     Chiến dịch Tây Nguyên là đòn chiến lược then chốt mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đánh vào nơi hiểm yếu nhất của địch trên chiến trường miền Nam.

Chiến dịch Tây Nguyên là đòn chiến lược then chốt mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đánh vào nơi hiểm yếu nhất của địch trên chiến trường miền Nam.

Chiến dịch Tây Nguyên diễn ra từ 4/3 đến 3/4/1975.

Chiến thắng của Chiến dịch Tây Nguyên thể hiện sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng về tất cả các mặt, từ việc chọn chiến trường, thời điểm, chọn vị trí đột phá cho đến việc chớp thời cơ phát triển chiến dịch đến những thắng lợi tiếp theo to lớn hơn.

Thắng lợi của chiến dịch mở ra thời cơ trực tiếp để ta tiến lên thực hiện quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 03 THÁNG 3 NĂM 1955!

     “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”!
 
Đây là tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ những thắng lợi chúng ta đã giành được tuy rất to, nhưng mới chỉ là thắng lợi bước đầu trên đường đi lâu dài, gian khổ. Cho nên, chúng ta quyết không nên vì thắng mà kiêu, phải nhận thấy còn nhiều khó khăn để khắc phục, chứ không phải thấy khó khăn mà sợ hãi, nản chí. Người cán bộ cách mạng phải mạnh dạn, phải có quyết tâm, phải có chí khí tiến lên mãi, tiến lên không ngừng. Trong hoàn cảnh hòa bình, số đông cán bộ ta vẫn giữ vững truyền thống cách mạng tốt đẹp, cần cù chất phác, bền bỉ đấu tranh, làm tròn nhiệm vụ. Song, có một số cán bộ lầm tưởng hòa bình là thái bình, thờ ơ với đạo đức cách mạng, còn bởi tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trước đây chi phối mà không nhận rõ phải, trái, không giữ vững lập trường, phạm những sai lầm khuyết điểm.

Đối với người cán bộ cách mạng, để không ngừng tiến bộ, thì cần phải học tập lý luận, trau dồi đạo đức; nhận rõ điều gì là phải thì cố gắng làm, điều gì là trái thì kiên quyết tránh. Phải hiểu rằng bổn phận của người cán bộ cách mạng là suốt đời hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phải cố gắng thực hiện cho kỳ được: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải gần gũi nhân dân, học tập nhân dân, vì gần gũi nhân dân sẽ cảm thông những khó khăn, gian khổ của nhân dân, thấy rõ những gương anh hùng của nhân dân, giúp ta củng cố lập trường, trau dồi tư tưởng. Cách sửa chữa tốt nhất và quý nhất là thật thà tự phê bình và phê bình. Mỗi người cán bộ bất kỳ làm công việc gì, ở địa vị nào quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, làm tròn nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho như thế mới là thiết thực góp phần vào công cuộc đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta.

Thực hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam còn luôn chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ để góp phần quan trọng tới việc hoàn thành nhiệm vụ, tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Nắm vững quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và đạo đức của người cán bộ cách mạng trong giai đoạn mới để quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện thật sự khoa học, công tâm, theo một quy trình dân chủ, trong đó chú trọng việc xây dựng cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành có trình độ chuyên môn giỏi, thật sự kiên định vững vàng, tin cậy về bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ, năng động, sáng tạo, có kiến thức cơ bản trong điều hành tổ chức, giải quyết mọi nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG TÌNH HÌNH MỚI!

     Đảng lãnh đạo quân đội là một nguyên tắc bất di bất dịch, vấn đề tối quan trọng trong lý luận và thực tiễn xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản do các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin sáng lập, đặc biệt là những quan điểm của lãnh tụ V.I.Lênin sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.

V.I.Lênin cho rằng, giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó khăn hơn nhiều; “không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”(1)... Vì vậy, muốn bảo vệ chính quyền cách mạng cần có quân đội hùng mạnh và vấn đề “cốt tử” là quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản. Trong nhiều nhiệm vụ mà Đảng phải thi hành để xây dựng, củng cố, phát triển quân đội, vấn đề trên hết là tuyên truyền, giáo dục ý thức giác ngộ cho quần chúng, cho quân nhân; giáo dục chính trị đồng thời với tăng cường kỷ luật nghiêm minh gắn với nâng cao kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm hoạt động quân sự của quân nhân.

Đảng Cộng sản Nga và V.I.Lênin đã thiết lập và thi hành chế độ công tác Đảng, công tác chính trị, hệ thống cơ quan chính trị, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội cách mạng. Nhờ vậy, quân đội giữ vững được bản chất cách mạng, có mục tiêu lý tưởng chiến đấu rõ ràng, có trình độ tổ chức, trình độ huấn luyện và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ chính quyền cách mạng, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới và là chỗ dựa tin cậy cho nhân dân lao động trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Liên Xô sau này.

Nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm hay, những bài học quý được rút ra từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như kinh nghiệm của một số nước xã hội chủ nghĩa vào thực tế và bối cảnh Việt Nam, trong đó có bài học về giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quán triệt và thực hiện rất sớm, nghiêm minh, chặt chẽ, nhất quán nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”; thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội.

Cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội được xác định ngay từ những đội vũ trang đầu tiên được thành lập và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với thực tiễn cách mạng. Khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân ngày 22-12-1944 (tổ chức quân sự tiền thân của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam), Đảng chủ trương phải có chi bộ đảng, có chính trị viên bên cạnh người đội trưởng, làm cơ sở cho tổ chức và duy trì hoạt động của Đội.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, cơ chế lãnh đạo cũng như việc thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội có sự thay đổi về tên gọi, cơ chế, nguyên tắc hoạt động... song mục tiêu và bản chất không thay đổi. Từ Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân phát triển thành Việt Nam Giải phóng quân, Đảng tiếp tục khẳng định phải “... xác định rõ hơn việc tổ chức sự lãnh đạo của Đảng và tiến hành công tác chính trị trong lực lượng vũ trang”(2), tập trung xây dựng chi bộ đảng và ban công tác chính trị ở đại đội, bố trí chính trị viên từ trung đội trở lên, coi “công tác chính trị... là linh hồn của Việt Nam Giải phóng quân”(3).

Đây là những thuộc tính bản chất nhất của quân đội cách mạng, nhân tố quyết định để Quân đội ta giành thắng lợi trong các trận chiến đấu ngay sau ngày thành lập, và chưa đầy một tuổi đã làm nòng cốt cùng toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Sau Cách mạng Tháng Tám, trải qua các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc cũng như trong giai đoạn đổi mới đất nước, xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh” hiện nay, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trải qua nhiều lần được điều chỉnh, bổ sung và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn.

Năm 1946, 1947, hệ thống tổ chức đảng trong quân đội được thiết lập từ Trung ương Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) xuống đến chi bộ; đồng thời toàn quân thực hiện chế độ “chính trị ủy viên cùng đội trưởng phụ trách đơn vị”. Tháng 10-1948, Đảng lập chế độ “chính trị ủy viên đại diện Đảng phụ trách trong quân đội” (còn gọi tắt là “chế độ chính ủy tối hậu quyết định”). Tháng 9-1949, dù chưa ban hành cơ chế cụ thể, song trên thực tế đã có những thay đổi, thực chất là trở lại thực hiện mô hình “đảng ủy lãnh đạo tập thể theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn trưởng, đội trưởng cùng chính ủy, chính trị viên phụ trách đơn vị”.

Từ tháng 5-1952 đến tháng 12-1982, Đảng thiết lập cơ chế “đảng ủy lãnh đạo, thủ trưởng quân chính phân công phụ trách” theo Nghị quyết số 07/NQ-TW ngày 20-5-1952 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II. Từ tháng 12-1982 đến tháng 7-1985, Đảng thiết lập và thực hiện chế độ “một người chỉ huy trong quân đội” theo Quyết định 07 và Nghị quyết số 27/NQ-TW của Bộ Chính trị khóa V.

Sau 23 năm thực hiện chế độ một người chỉ huy, cơ chế này bộc lộ những hạn chế, bất cập, ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Kế thừa những kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công trong thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội, chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐND Việt Nam, ngày 20-7-2005, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX ban hành Nghị quyết số 51/NQ-TW về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐND Việt Nam.

Nghị quyết ra đời đã đáp ứng yêu cầu thực tiễn xây dựng, thực hiện nhiệm vụ của quân đội và sự mong mỏi, kỳ vọng của nhiều thế hệ cán bộ quân đội. Để thực hiện Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 513 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), hệ thống các tổ chức trong quân đội từng b­ước được thành lập, hoàn thiện và vận hành đồng bộ theo cơ chế mới. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng được nâng lên; hiệu lực của ng­ười chỉ huy đ­ược tăng cường; vai trò chủ trì về chính trị của chính ủy, chính trị viên được khẳng định; chất lượng, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân đ­ược nâng cao hơn trước.

Nhìn lại lịch sử chặng đường hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta gắn liền với nhiều lần bổ sung, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Mỗi lần thay đổi cơ chế, chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, các mối quan hệ của các tổ chức, các bộ phận hợp thành cơ chế lãnh đạo của Đảng cũng có những thay đổi nhất định, tương xứng, phù hợp với thực tiễn, song mục tiêu giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng đối với quân đội, bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc của Đảng đối với quân đội trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống, mọi nhiệm vụ là không thay đổi. Đây cũng là nguyên tắc bất di bất dịch, bảo đảm cho QĐND Việt Nam phát triển, không ngừng lớn mạnh, đủ sức hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Bác Hồ và nhân dân tin tưởng giao cho.

Từ thực tế lịch sử cũng như những bài học kinh nghiệm của Quân đội ta và quân đội một số nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, bước đầu rút ra một số vấn đề cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong thời gian tới như sau:
Trước hết, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng phải trung thành và kiên định thực hiện nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo QĐND Việt Nam “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Đây là yếu tố cơ bản nhất, quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến sự nghiệp xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Phải thiết lập, xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo phân công cá nhân phụ trách; thực hiện tự phê bình và phê bình.

Hai là, duy trì hoạt động có hiệu quả hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong quân đội, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy đảng và sự chỉ đạo, hướng dẫn của chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị cấp trên. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, một khâu quan trọng của cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội, là bài học kinh nghiệm thành công, là vấn đề có ý nghĩa quyết định để hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị thực sự là “linh hồn”, “mạch sống” của quân đội.

Ba là, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống trong sáng, có năng lực trí tuệ và tổ chức thực tiễn, có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng tổ chức hoạt động quân sự, kỹ năng mềm, trình độ công nghệ thông tin và ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu quân đội hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Bốn là, tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân dân. Đây là yêu cầu cơ bản, nội dung đặc biệt quan trọng đã trở thành truyền thống, bản sắc, cũng là một chức năng của QĐND Việt Nam; yếu tố cội nguồn, tạo nên sức mạnh vô tận, động lực nội sinh để xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.
----------------
(1) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 42, NXB CTQG, Hà Nội, 2005, tr.310
(2) Lịch sử Tổng cục Chính trị, tập 1 (1944-1975), NXB QĐND, Hà Nội, 2004, tr.34
(3) Lịch sử Tổng cục Chính trị, tập 1 (1944-1975), NXB QĐND, Hà Nội, 2004, tr.35.

Theo  QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HƠN 5.000 CHIẾN SĨ BA MIỀN HỢP LUYỆN DIỄU BINH 50 NĂM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC!

     Sáng 4/3, tại Trung tâm Huấn luyện quân sự Quốc gia 4 diễn ra lần hợp luyện của lực lượng diễu binh, diễu hành của Quân đội chuẩn bị trong lễ kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước.
Hơn 5.400 chiến sĩ hợp luyện với hai nội dung chính: biểu diễn của Đoàn Nghi lễ Quân đội trước lễ kỷ niệm; diễu binh, diễu hành lễ kỷ niệm. Lần hợp luyện này diễn ra theo hình thức trực tiếp và trực tuyến với các cụm quân khu.

Trong phần hợp luyện diễu binh, diễu hành có lực lượng của Bộ Quốc phòng tại 4 cụm. Trong đó, cụm 1 (Trung tâm Huấn luyện quân sự Quốc gia 4) gồm các Quân khu 1, 2, 3, 4, Quân chủng Hải quân, Quân chủng Phòng không Không quân, Quân đoàn 12; các Binh chủng Tăng thiết giáp, Đặc công, Thông tin liên lạc và Đoàn Nghi lễ Quân đội.

Khối cờ Đảng, cờ Tổ quốc; khối nữ Quân nhạc; khối sĩ quan Lục quân; khối sĩ quan Hải quân; khối sĩ quan Phòng không Không quân; khối sĩ quan Cảnh sát biển; khối nữ sĩ quan Thông tin; khối nữ sĩ quan Quân y; khối nữ chiến sĩ gìn giữ hòa bình Việt Nam; khối chiến sĩ Lục quân; khối chiến sĩ Tăng thiết giáp; khối chiến sĩ Đặc công; khối nữ Dân quân miền Bắc; khối Hồng kỳ.

Tại cụm 2 (Quân khu 5) gồm: khối Lực lượng tác chiến không gian mạng; khối chiến sĩ Đặc nhiệm dù; khối nam Dân quân biển.

Tại cụm 3 (Quân khu 9 và Quân đoàn 34) gồm: khối sĩ quan Lục quân; khối sĩ quan Biên phòng; khối sĩ quan đại diện năm cánh quân; khối sĩ quan Hậu cần, kỹ thuật; khối chiến sĩ tác chiến điện tử.

Tại cụm 4 (Quân khu 7) gồm: tiêu binh lễ đài; khối Quân nhạc; khối sĩ quan Cảnh sát biển; khối nam Dân quân tự vệ; khối nữ Dân quân tự vệ; khối chiến sĩ giải phóng quân; khối nữ chiến sĩ biệt động; khối nữ Du kích miền Nam.

Trực tiếp kiểm tra huấn luyện diễu binh, diễu hành, Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng biểu dương tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia luyện tập và phục vụ.

Đại tướng Nguyễn Tân Cương cho biết các cụm hợp luyện từ 18/2 đến nay, tuy nhiên thực tế các đơn vị đã tổ chức tuyển chọn, tập luyện từ tháng 12/2024, trong đó có khối, cán bộ, chiến sĩ được huy động từ đợt diễu binh kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Ông yêu cầu lực lượng tích cực luyện tập nhuần nhuyễn, thuần thục các động tác điều lệnh theo nhiệm vụ của từng khối, từng lực lượng; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện và hợp luyện, khắc phục mọi khó khăn, tận dụng mọi thời gian để tập luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật.

Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý tiếp tục sâu sát, theo dõi nắm chắc kết quả để chấn chỉnh, rút kinh nghiệm; tổ chức đánh giá, xếp loại đối với từng cá nhân, từng tổ, từng hàng, từng khối.

Thứ trưởng cũng lưu ý các chỉ huy đơn vị cần duy trì nghiêm các chế độ; điều hành huấn luyện, hợp luyện bảo đảm an toàn tuyệt đối về người, vũ khí trang bị. Xây dựng kế hoạch cơ động các lực lượng vào miền nam và TPHCM để thực hiện nhiệm vụ; cần chú ý đến công tác hậu cần ăn ở, thời tiết, khí hậu trong quá trình luyện tập.

Với phần thuyết minh các khối, lãnh đạo Bộ Quốc phòng yêu cầu lời thuyết minh cần bám sát lịch sử truyền thống của từng đơn vị, quân binh chủng, đặc biệt là những lời căn dặn của Bác Hồ với lực lượng đó.

Dự kiến lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành mừng 50 năm ngày thống nhất đất nước sẽ diễn ra vào sáng 30/4, tại đường Lê Duẩn, quận 1, TPHCM./.



Đại tướng Nguyễn Tân Cương thăm hỏi, động viên lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành tại buổi hợp luyện.
Yêu nước ST.

Đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội - một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách hiện nay

 

TCCS - “Phi chính trị hóa” quân đội là một trong những âm mưu thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của quân đội, làm cho quân đội từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp, xa rời mục tiêu chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước. Vì vậy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh làm thất bại những thủ đoạn, nhất là thủ đoạn mới của các thế lực thù địch là nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách, cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, hiệu quả.

“Phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam là âm mưu trong tổng thể chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Đây là một âm mưu không mới, nhưng cực kỳ thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động ngoan cố chống phá cách mạng nước ta trong suốt thời gian qua. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là tất yếu khách quan, một nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách hiện nay. Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động sử dụng những thủ đoạn ngày càng đa dạng, tinh vi và thâm hiểm hơn. Các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận hệ tư tưởng của Đảng, của quân đội là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta; triệt để “khoét sâu” vào những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội trong nước để phủ nhận những thành tựu đạt được của công cuộc đổi mới ở nước ta; lợi dụng tình trạng quan liêu, tham nhũng, thoái hóa biến chất ở một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm kích động, gây chia rẽ, làm mất lòng tin của nhân dân, của quân đội vào Đảng; kêu gọi “đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013”, đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”(?!)...

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Họ kêu gọi xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng và cán bộ tham gia phụ trách công tác Đảng trong quân đội, kêu gọi xây dựng quân đội “trung lập”, quân đội “quốc gia”, không lệ thuộc một khuynh hướng chính trị, một đảng phái nào; tung hô ca ngợi mô hình quân đội một số nước để chứng minh quân đội không liên quan đến chính trị; kêu gọi Quân đội nhân dân Việt Nam nên liên minh với quân đội một số nước để tiến lên hiện đại, trở thành quân đội “nhà nghề”(?!). Họ cho rằng, các vấn đề liên quan đến quân sự, quốc phòng phải được nhân dân bàn bạc công khai và quyết định thông qua những "diễn đàn dân chủ"; lợi dụng chủ trương tinh giản biên chế, cơ cấu, sắp xếp lại quân đội đã và đang thực hiện để xuyên tạc, kích động, quy chụp cho rằng đó là biểu hiện của tham nhũng, lợi ích nhóm, đặc quyền, đặc lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong quân đội...

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh chống phá trên cả lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đạo đức, truyền bá lối sống thực dụng, buông thả, thờ ơ, lãnh đạm, không quan tâm đến các vấn đề chính trị - xã hội của đất nước, của quân đội, nhằm thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo ra khoảng trống về ý thức hệ, hòng “pha loãng”, làm “nhạt dần” bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội, tạo “mảnh đất màu mỡ” cho tư tưởng phi vô sản thâm nhập vào đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội.

Nguy hiểm hơn, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để phát tán những bài viết, clip với cường độ, tần suất ngày càng tăng nhằm thổi phồng, xuyên tạc sự thật, khoét sâu mâu thuẫn, kích động tư tưởng công thần, địa vị, bè phái, cục bộ địa phương, đòi hưởng thụ đãi ngộ; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo, vùng miền; vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Họ lợi dụng quân đội tham gia phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, lợi dụng những sự việc xảy ra trong quân đội để suy diễn, chia rẽ quân đội với nhân dân, với Đảng, nhằm chia rẽ tinh thần đoàn kết “quân với dân như cá với nước”, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam, bôi xấu hình ảnh và bản chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”…

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định, quân đội là công cụ bạo lực của Nhà nước, do Nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng, do vậy bản chất giai cấp của Nhà nước như thế nào thì bản chất giai cấp của quân đội cũng như thế; không có quân đội siêu giai cấp, đứng ngoài giai cấp, trung lập về chính trị. Tuy nhiên, chúng ta không được một phút lơ là, chủ quan, bởi trên thực tế, các thế lực thù địch đã từng thực hiện thành công “phi chính trị hóa” đối với quân đội Liên Xô, quân đội các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trong những năm 80 của thế kỷ XX; và gần đây là những sự kiện bất ổn chính trị - xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở một số nước châu Á, châu Âu và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung Đông, Bắc Phi.

Đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội trong những năm qua luôn được coi trọng. Trong lực lượng quân đội, ở tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, cán bộ, chiến sĩ được giáo dục tinh thần cảnh giác với âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; đã có những chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện mang lại hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống “phi chính trị hoá” quân đội. Song, thực tế vẫn còn những hạn chế, có mặt chưa theo kịp với diễn biến của tình hình thực tiễn. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, chiến sĩ hiểu chưa sâu sắc và chưa đầy đủ về âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Do vậy, còn có những biểu hiện thiếu cảnh giác, bị động, lúng túng khi phải đối mặt với những tình huống khó khăn, phức tạp, nhất là đấu tranh trực diện với những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch. Trước những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt của âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội đã làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, ở những mức độ nhất định xuất hiện tư tưởng, tâm lý dao động về chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những hiện tượng này đã và đang gây tác hại không nhỏ đến bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở trong giai đoạn cách mạng mới. Bởi vậy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh, làm thất bại những thủ đoạn, nhất là những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch luôn là nhiệm vụ quan trọng, mang tính cấp bách, cần có hệ thống giải pháp phòng, chống đồng bộ, hiệu quả.

Để làm vô hiệu hóa và đập tan âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

Từ khi quân đội ta ra đời đến nay, Đảng ta luôn khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến mọi sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta. Trong khi đó, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của quân đội, làm cho quân đội từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp. Do vậy, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là giải pháp có ý nghĩa quyết định làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, vấn đề cơ bản, cấp bách hiện nay là phải xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao. Theo đó, phải thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng các cấp trong quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, chỉ huy các cấp; hết sức tránh mọi biểu hiện hạ thấp vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ, đảng bộ đối với cơ quan, đơn vị.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thăm khu trưng bày sản phẩm của Đoàn Thanh niên các quân, binh chủng, nhà trường trong toàn quân tại Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X, nhiệm kỳ 2022 - 2027_Ảnh: TTXVN

Tổ chức đảng các cấp trong quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, trọng tâm là thực hiện tốt các quy định của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương về trách nhiệm nêu gương gắn với thực hiện sinh hoạt chuyên đề “tự soi, tự sửa”. Kết hợp chặt chẽ xây dựng tổ chức đảng các cấp trong quân đội trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp có trình độ cao, phẩm chất và năng lực toàn diện đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong những năm tới. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, giữa tổ chức đảng với các tổ chức trong đơn vị, giữa đảng viên với quần chúng, cán bộ với chiến sĩ. Xây dựng các tổ chức trong đơn vị thực sự đoàn kết nhất trí cao, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, luôn bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng được thông suốt từ trên xuống dưới, tới từng đơn vị, từng cán bộ, chiến sĩ. Kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện buông lỏng xây dựng tổ chức đảng, thiếu gắn kết việc xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

Hai là, tăng cường giáo dục, giác ngộ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội; tinh thần cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội cho cán bộ, chiến sĩ.

Đây là giải pháp quan trọng trong đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội. Bởi, sự giác ngộ sâu sắc về bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội sẽ trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, ngăn chặn sự xâm nhập của những luồng tư tưởng phi vô sản, góp phần làm thất bại âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch. Vì vậy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhận thức sâu sắc rằng, quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện, nhất thiết phải lấy chính trị của Đảng làm gốc, làm cốt; phải mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc, thực hiện mục tiêu cao cả là chiến đấu vì độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Theo đó, cần tăng cường giáo dục về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, mục tiêu lý tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội và âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch cho cán bộ, chiến sĩ. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời với việc coi trọng giác ngộ bản chất giai cấp công nhân, cần giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, bồi dưỡng tình cảm đối với quê hương, đất nước, con người Việt Nam cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Có như vậy mới bảo đảm cho quân đội ta gắn bó với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần đặc biệt chú trọng giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, chiến sĩ về chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, nhất là âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Từ đó, không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, đối phó có hiệu quả trước sự chống phá của các thế lực thù địch với các thủ đoạn và tính chất khác nhau. Hình thức, phương pháp giáo dục cần được tiến hành phù hợp, linh hoạt, sáng tạo; trong đó, hết sức coi trọng các hình thức, như: Huấn luyện chính trị, giáo dục thông qua thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, thông qua phong trào hành động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ và các hoạt động khác của công tác tư tưởng, văn hoá...

Ba là, quản lý chặt chẽ mọi mặt và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Phát huy vai trò các tổ chức, lực lượng quản lý chặt chẽ mọi mặt của các tổ chức, từng con người và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm nắm chắc diễn biến tư tưởng chính trị hằng ngày, hằng giờ của từng cán bộ, chiến sĩ; từ đó kịp thời phát hiện, có những biện pháp ngăn chặn những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, không tạo những sơ hở để kẻ thù lợi dụng chống phá. Muốn vậy, phải thường xuyên nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, quản lý chặt chẽ mọi mặt và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong từng cơ quan, đơn vị. Cần quản lý về lịch sử chính trị, lập trường, quan điểm, thái độ chính trị, trình độ giác ngộ chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, quan hệ của mọi quân nhân. Thực hiện tốt chế độ phân công, phân cấp quản lý; phát huy vai trò của cấp ủy, hệ thống chỉ huy các cấp; tăng cường quản lý đội ngũ cán bộ; thường xuyên củng cố, kiện toàn các tổ chức trong đơn vị; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với quản lý hành chính theo điều lệnh quân đội; chủ động phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn đóng quân giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

Môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh trong quân đội là bức tường thành vững chắc vô hiệu hóa sự tấn công của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nói chung, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch nói riêng. Trong tình hình hiện nay, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương, “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần đẩy mạnh tổ chức các hoạt động thể thao, văn hoá, văn nghệ, đọc báo, nghe đài, hội thao, hội thi, nhất là trong các ngày nghỉ, giờ nghỉ nhằm tạo ra đời sống tinh thần phong phú, vui tươi, lành mạnh, đồng thời góp phần phòng ngừa, đẩy lùi sự xâm nhập của các loại ấn phẩm độc hại. Người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên ở các cơ quan, đơn vị cần đổi mới phương pháp, tác phong công tác, triệt để khắc phục lối quản lý hành chính đơn thuần, áp đặt, thiếu tính thuyết phục, thiếu trách nhiệm trong tổ chức đời sống vật chất, tinh thần của đơn vị, không tạo ra “khoảng trống” để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện các hoạt động chống phá. Cán bộ, chiến sĩ phải gương mẫu trong thực hiện các quy định về việc cưới, việc tang, lễ hội, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội; xây dựng lối sống văn minh, ứng xử có văn hóa, giải quyết hài hòa các mối quan hệ, đề cao tình đồng chí, đồng đội, tình đoàn kết quân - dân, yêu thương, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Xây dựng và phát huy lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao tinh thần cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội cho cán bộ, chiến sĩ_Nguồn: dangcongsan.vn

Bốn là, tổ chức có hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động.

Đây là giải pháp mang tính thời sự cấp bách hiện nay, bởi đấu tranh trực diện trên mặt trận tư tưởng, lý luận chống âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội luôn có tầm quan trọng đặc biệt và là mặt trận cam go, quyết liệt hiện nay. Trong cuộc đấu tranh này, phải tổ chức thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng quân đội cách mạng; vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của những luận điệu “quân đội trung lập về chính trị”, “quân đội phi giai cấp”,... của các thế lực thù địch. Đồng thời, tiếp tục khẳng định, quân đội ta ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, dân tộc sâu sắc đã làm nên truyền thống tốt đẹp “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(1). Thời gian tới, mặc dù tình hình chính trị thế giới, khu vực còn nhiều diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt chống phá, nhưng quân đội ta vẫn luôn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, kiên định và tuyệt đối trung thành với mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Để tổ chức đấu tranh có hiệu quả trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, phải chú trọng hơn nữa nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện truyền thông xã hội cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong định hướng nhận diện và đấu tranh kịp thời, có trọng tâm với các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, phát huy vai trò cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 của đảng ủy các cấp thực hiện tốt việc tham mưu, xây dựng, ban hành đồng bộ hệ thống quy chế, quy định, chương trình hành động cụ thể; thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, cung cấp thông tin và định hướng đấu tranh kịp thời, có trọng tâm. Phát huy sâu, rộng vai trò của lực lượng 47 ở các cơ quan, đơn vị toàn quân tham gia đấu tranh vạch trần bản chất phản động trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận có đủ phẩm chất và năng lực, nhạy bén trong đấu tranh và tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí và các đơn vị văn hóa, nghệ thuật quân đội, kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với hệ thống truyền thông, văn hóa, nghệ thuật của cả nước để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Thực hiện tốt việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, sớm kết luận những vấn đề mới, còn có ý kiến khác nhau từ thực tiễn tạo cơ sở vững chắc để đấu tranh với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội./.

 

Giá trị bền vững và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin

 

(LLCT) - Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời, phát triển đã gần 172 năm với bao thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn mang trong lòng nó những giá trị bền vững không thể bác bỏ là: Phát triển; Chủ nghĩa nhân đạo triệt để; Phương pháp biện chứng duy vật và quan niệm duy vật về lịch sử; Học thuyết giá trị thặng dư, hình thái kinh tế - xã hội, CNXH. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho chúng ta nhận thức và giải quyết những vấn đề thực tiễn của thế giới đương đại; xây dựng CNXH và thực hiện sự nghiệp đổi mới thành công.


1. Những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin

Kẻ thù tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin dè bỉu rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là một học thuyết khoa học mà là một giáo điều giống như kinh thánh mà những người cộng sản phải học thuộc lòng vận dụng ở mọi nơi. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin không thể phát triển, sẽ đi vào ngõ cụt. Điều này hoàn toàn không có căn cứ. Chúng ta đều biết, ngay khi C.Mác và Ph.Ăngghen còn sống, các kẻ thù tư tưởng của các ông cũng đã nói như vậy. Ngay từ năm 1887, trong một bức thư gửi một nữ sĩ người Mỹ bà Phlo-ren-xơ Ken-li-vi-sne-vét-xcai-a, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”(1). V.I.Lênin sau này cũng không ít lần nhắc nhở những người cộng sản Nga rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng những người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng nguyên lý ấy thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga”(2). Chính vì vậy mà V.I.Lênin đã bổ sung nhiều luận điểm lý luận so với thời đại của C.Mác, Ph.Ăngghen. Hồ Chí Minh rất nhiều lần căn dặn, nhắc nhở cán bộ, đảng viên học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”(3); “Học để mà làm”(4). Đồng thời, Hồ Chí Minh đã bổ sung nhiều luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp tình hình thực tiễn Việt Nam, chẳng hạn như: cách mạng ở thuộc địa có thể nổ ra trước cách mạng ở chính quốc; đảng cộng sản không chỉ đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và nhân dân lao động mà còn đại biểu cho lợi ích của cả dân tộc; thực hiện liên minh công - nông - trí ở Việt Nam,v.v.. Những đảng cộng sản chân chính đã vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp điều kiện thực tiễn của mỗi nước. Điều đó chứng tỏ phát triển là một giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì vậy mà chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn tồn tại và phát triển. Nhờ phát triển mà chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn tồn tại, chính sự tồn tại lại đòi hỏi chủ nghĩa Mác - Lênin phải được phát triển.

Cùng với phát triển thì chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa nhân đạo triệt để nhất. Bởi lẽ, sự ra đời và tồn tại của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng do nhu cầu giải phóng con người và cũng nhằm mục đích giải phóng con người. Ngoài mục tiêu giải phóng con người khỏi mọi hình thức người nô dịch người, người áp bức người, người đàn áp người, chủ nghĩa Mác - Lênin không có mục tiêu nào khác. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “sẽ xuất hiện một liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(5).

 Phương pháp biện chứng duy vật và quan niệm duy vật về lịch sử cũng là một giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bởi lẽ, nhân loại đã tìm ra rất nhiều phương pháp nghiên cứu mới nhưng chưa có phương pháp nào thay thế được phương pháp biện chứng duy vật mà chỉ có làm giàu thêm cho phương pháp biện chứng duy vật mà thôi. Còn với quan niệm duy vật về lịch sử thì đúng như Ph.Ănghen đã khẳng định, giống như Đác-uyn đã phát hiện ra quy luật của thế giới hữu cơ, C.Mác đã phát hiện ra quy luật phát triển của xã hội loài người(6). Còn V.I.Lênin thì khẳng định: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”(7). Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác về bản chất cũng là chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhưng đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội. Trong xã hội thì các quy luật chỉ có thể nảy sinh, tồn tại, vận động thông qua hoạt động thực tiễn có ý thức của con người. Do vậy, bằng và thông qua hoạt động thực tiễn, con người có thể tác động làm cho quy luật nhanh hoặc chậm diễn ra hơn. Đó chính là tính xu hướng thể hiện đặc thù của quy luật xã hội và quan niệm duy vật về lịch sử bao quát được đặc thù này. Cũng vì vậy mà quan niệm duy vật về lịch sử mang giá trị bền vững.

Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, internet vạn vật, dữ liệu lớn (Big data), các nhà sản xuất đã sử dụng nhiều robot, dây chuyền tự động hóa nhằm giảm giá thành sản xuất, tăng năng suất lao động. Lợi dụng tình hình này nhiều ý kiến cho rằng, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác cũng như học thuyết về vai trò sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác - Lênin không còn đúng nữa. Tuy nhiên, chúng ta đều rõ nếu không có người công nhân chế tạo, lập trình, sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa robot, dây chuyền tự động hóa thì robot, dây chuyền tự động hóa chỉ là đống sắt vụn vô tri, vô giác. Trong mối quan hệ giữa người lao động và máy móc (trong đó có robot, dây chuyền tự động) thì người lao động mà ở đây là người công nhân vẫn đóng vai trò quyết định. Đúng là giai cấp công nhân có sự biến đổi về mặt cơ cấu như công nhân “cổ xanh”, công nhân “cổ cồn”, công nhân “cổ vàng” nhưng họ đều là công nhân, đều là người lao động và thiếu họ thì nền sản xuất hiện đại không thể tồn tại. Do vậy, cái mà tạo ra giá trị thặng dư vẫn là sức lao động sống của người công nhân. Điều này vẫn giữ nguyên giá trị từ những cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn như trên đã nêu. Hơn nữa, xét về mặt kinh tế, người công nhân hiện đại vẫn là người sản xuất chính ra của cải vật chất của xã hội hiện đại. Xét về mặt chính trị, tư tưởng thì chỉ có giai cấp công nhân hiện đại mới là người có thể đoàn kết với nông dân, những người lao động khác và dẫn dắt họ xây dựng được xã hội mà ở đó có công bằng, tự do, bác ái, mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Xét về mặt văn hóa, đạo đức, chỉ có giai cấp công nhân hiện đại mới xây dựng được các giá trị văn hóa, đạo đức mới như công bằng, chân, thiện, mỹ, bình đẳng, tôn trọng,v.v.. Do vậy, giai cấp công nhân hiện đại vẫn đóng vai trò sứ mệnh lịch sử toàn thế giới lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa bóc lột, áp bức, nô dịch con người. Đúng như C.Mác nói: “trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ sẽ giành được cả thế giới”(8).

Lịch sử vận động, phát triển của nhân loại đã chứng minh, sự phát triển của lịch sử xã hội loài người không theo kiểu duy nhất “kinh tế quyết định”; không theo kiểu “phương Tây là trung tâm”; cũng không theo kiểu “làn sóng thứ ba”. Mặc dù, sự phát triển của các quốc gia, dân tộc là hết sức đa dạng, phong phú nhưng vẫn theo quy luật thay thế các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp lên cao một cách lịch sử - tự nhiên. Bởi lẽ, những nguyên nhân dẫn tới những sự thay thế này là do những mâu thuẫn bên trong lòng của mỗi hình thái kinh tế - xã hội quy định. Đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,... Những mâu thuẫn này được giải quyết sẽ tạo cho sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội mới. Quá trình này diễn ra không phụ thuộc vào ý chí, mong muốn của con người. Do vậy, đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”(9). Cả về mặt lý luận, cả về mặt thực tiễn đều chứng tỏ học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác vẫn giữ nguyên giá trị.

Mặc dù CNXH hiện thực ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu sụp đổ, nhưng như vậy không có nghĩa là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH sụp đổ. Không thể đồng nhất sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu với sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH. Đây là sự sụp đổ của một mô hình CNXH giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ, không đổi mới; sự sụp đổ của nhận thức sai lầm, giáo điều về CNXH. Hơn nữa, sự tồn tại, đổi mới, mở cửa, phát triển của CNXH ở Cu Ba, Lào, Việt Nam, v.v.. cũng chứng tỏ CNXH với tư cách là một lý tưởng, một chế độ chính trị, một phong trào hiện thực vẫn tồn tại và phát triển. Do vậy, có thể khẳng định lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH vẫn là một giá trị bền vững.

2. Ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho giai cấp công nhân hiện đại và nhân loại tiến bộ.

Thời đại ngày nay đang có nhiều biến đổi ngày càng khó lường, nhiều học thuyết, nhiều trào lưu tư tưởng tìm cách len lỏi vào phong trào công nhân, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho giai cấp công nhân hiện đại và nhân loại tiến bộ. Với lý luận hình thái kinh tế-xã hội, học thuyết về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, với phương pháp biện chứng duy vật và quan niệm duy vật về lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn trang bị cho giai cấp công nhân hiện đại cách tiếp cận khoa học, khách quan về thế giới đương đại cũng như con đường giải phóng con người, trước hết là giải phóng giai cấp công nhân. Trên cơ sở tiếp cận khách quan, khoa học, giai cấp công nhân với phương pháp luận khoa học biện chứng sẽ nhận thức rõ quy luận vận động của lịch sử loài người. Trên cơ sở đó, tin tưởng vào tương lai của nhân loại một cách có căn cứ. Dù thế giới có đổi thay, dù khoa học công nghệ có biến đổi nhanh, khó lường, dù chủ nghĩa đế quốc không từ thủ đoạn nào chống phá, bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng với thế giới quan, phương pháp luận khoa học, giai cấp công nhân hiện đại vẫn tin vào chính chủ nghĩa Mác - Lênin, tin vào tương lai tươi sáng của nhân loại, tin vào con đường giải phóng mình và giải phóng nhân loại tiến bộ.

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học duy nhất đáp ứng yêu cầu giải phóng triệt để con người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức.

Thực tế gần 172 năm phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin và gần 103 năm phát triển của CNXH hiện thực đã chứng tỏ, cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng nhiệm vụ lịch sử giải phóng triệt để con người mà chưa học thuyết nào có thể thay thế được. Đã xuất hiện nhiều lý thuyết, nhiều trào lưu tư tưởng, nhiều học thuyết đặt ra nhiệm vụ giải phóng con người, nhưng về cơ bản đều là những học thuyết, trào lưu không đáp ứng yêu cầu giải phóng con người, trước hết là giải phóng giai cấp công nhân một cách triệt để, khoa học, thực tiễn. Chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin ngay từ mục đích ra đời đã vì sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân với những con đường, biện pháp, cách thức khoa học, thực tiễn mới đủ cơ sở để giải phóng giai cấp công nhân. Một số tôn giáo cũng muốn giải phóng con người nhưng phải sau khi chết mới được giải phóng thực sự. Chủ nghĩa Mác - Lênin hướng vào giải phóng con người hiện thực và đền bù cho con người hiện thực đang sống, đang hoạt động thực tiễn. Mọi lập luận, lý giải của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ nhằm phục vụ cho việc giải phóng con người, trước hết là giải phóng giai cấp công nhân khỏi mọi hình thức nô lệ, áp bức, bóc lột, nô dịch. Vậy mục đích này có gì sai với mưu cầu, ước vọng, hoài bão của loài người chân chính? Phải chăng nó sai ở chỗ nó muốn đạp đổ mọi hình thức người áp bức người, người nô dịch người, người đàn áp người. Khi ấy nó động chạm vào lợi ích của những kẻ đi nô dịch, thống trị, áp bức, đàn áp. Chính vì vậy, mà các giai cấp thống trị, nô dịch, đàn áp, áp bức tìm mọi cách chống phá, xuyên tạc, nói xấu, bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết muốn lật đổ sự thống trị của các giai cấp thống trị này?! Có thể nói, sự chống phá quyết liệt của những kẻ thống trị đối với chủ nghĩa Mác - Lênin phần nào cũng nói lên tính khoa học, nhân văn, cách mạng của chính chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học trang bị cho ta phương pháp luận nhận thức đúng đắn xu thế của chủ nghĩa tư bản hiện đại.

Với phương pháp biện chứng, thế giới quan duy vật, lý luận hình thái kinh tế-xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rằng từ trong lòng của chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ nảy sinh những điều kiện, tiền đề về khoa học, kinh tế, vật chất, kỹ thuật và nguồn nhân lực cho sự ra đời của một xã hội mới tốt đẹp hơn - đó là CNXH, chủ nghĩa cộng sản. Các nước tư bản hiện đại có sự tăng trưởng kinh tế và có sự phát triển về nhiều mặt. Những thành tựu này chính là thành tựu của nhân loại tồn tại dưới chủ nghĩa tư bản. Đây không phải là thành tựu của riêng chủ nghĩa tư bản. Hơn nữa, đúng như một nhận định của một giáo sư người Anh: “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”(10). Chủ nghĩa tư bản ngày nay đạt nhiều thành tựu về kinh tế, khoa học-công nghệ, giáo dục nhưng chủ nghĩa tư bản không bao giờ giải quyết được một cách triệt để những vấn đề bất công xã hội, đói nghèo của một bộ phận dân cư, kiểm soát vũ khí, hủy hoại môi trường tự nhiên,v.v.. Bởi do lợi ích của giai cấp thống trị không cho phép họ giải quyết một cách triệt để những vấn đề này.

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho những người cộng sản trong lựa chọn con đường, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ngay từ cuối 1845 đầu 1846, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một ý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”(11). Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin có vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho những người cộng sản lựa chọn, tìm tòi con đường xây dựng CNXH trên đất nước của mình. Những con đường, biện pháp ấy phải được tìm thấy từ trong thực tiễn mỗi quốc gia, dân tộc, chứ không thể tìm từ một ý tưởng nào đó rồi bắt hiện thực khuôn theo. Chính phương pháp luận này là do chủ nghĩa Mác - Lênin mang lại. Do vậy, với phương pháp luận này những người cộng sản chân chính sẽ vận dụng sáng tạo, thành công những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào nhận thức mô hình và con đường xây dựng CNXH trên quê hương của mình.

Chủ nghĩa Mác - Lênin trang bị cho những người cộng sản Việt Nam phương pháp luận khoa học để thực hiện đổi mới thành công.

Nhờ vận dụng đúng đắn thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút kinh nghiệm từ cải tổ của Liên Xô, quán triệt tốt quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được mô hình CNXH Việt Nam với tám đặc trưng bản chất; tám phương hướng xây dựng CNXH và chín mối quan hệ lớn cần giải quyết. Đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam còn đứng vứng trên lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết tốt nhiều vấn đề thực tiễn nảy sinh như xóa thế bao vây cấm vận, mở rộng đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân có điều kiện; chú trọng xây dựng đảng về đạo đức; phát triển kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng của nền kinh tế; xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN,v.v.. Nhờ vậy, sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đạt nhiều thành tựu rất đỗi tự hào. Những thành tựu này có nhiều nguyên nhân, trong có có nguyên nhân Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì, kiên quyết trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn nảy sinh.

Như vậy, có thể khẳng định, thực tiễn có nhiều đổi thay, khoa học, công nghệ có nhiều đột phá, phong trào cách mạng có nhiều biến động nhưng bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên giá trị. Có thể có những luận điểm riêng biệt nào đó do thực tiễn đổi thay phải được bổ sung, phát triển nhưng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên giá trị khoa học, cách mạng bền vững. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho chúng ta nhận thức và giải quyết những vấn đề thực tiễn của thế giới đương đại; xây dựng CNXH và thực hiện sự nghiệp đổi mới vì CNXH.

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2025

Bảo vệ giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”

 

 

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh những giá trị văn hóa – chính trị – đạo đức của thời đại, là sự tiếp nối truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nét đặc trưng của giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện ở sự tận trung với Đảng, với nước, trọn hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

NHẬN DIỆN CÁC CHIÊU TRÒ “NHÂN DANH NHÂN DÂN” ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

 


Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã núp dưới chiêu bài “nhân danh nhân dân” để thực hiện các hành vi chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm những quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, hòng chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân. Hành vi “nhân danh nhân dân” của họ có một số biểu hiện: