Thứ Ba, 4 tháng 3, 2025

BIẾT THÌ THƯA THỐT, KHÔNG BIẾT DỰA CỘT MÀ NGHE

 


Vừa qua, trên một trang mạng của bọn lều báo “Việt Tân” đang rêu rao xuyên tạc về vấn đề lợi ích quốc gia, dân tộc. Chúng cho rằng: “Thanh niên phi biết đau khi đt nưc tt hậu, đc tài cai tr”, cán bộ đoàn là lực lượng dư luận viên phủ nhận mọi tiếng nói đóng góp, trù dập tất cả những gì có lợi cho nhân dân nhưng bất lợi với Đảng Cộng sản Việt Nam và chỉ biết bảo vệ lợi ích của Đảng cộng sản Việt Nam mà quên đi lợi ích dân tộc, lợi ích của nhân dân.

TỰ RÈN LUYỆN TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Đạo đức cách mạng và giáo dục đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và suốt đời chăm lo. Người là tấm gương sáng, mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng để thực sự “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; có phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước.

Sự phát triển lý luận chính trị và bản lĩnh sáng tạo của đảng chân chính cách mạng


Hơn 95 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đồng hành và lãnh đạo dân tộc, nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để làm nên những chiến công hiển hách trong các cuộc kháng chiến và những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Điều đó có cội nguồn sâu xa từ nền tảng lý luận khoa học, cách mạng, đường lối chính trị đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phê phán quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí công nghệ cao, nghi ngờ đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng


Gần đây, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, một số người đã nêu quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí công nghệ cao trong chiến tranh và đồng thời coi nhẹ vai trò của con người.

Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng, chỉ có các lực lượng trang bị vũ khí công nghệ cao mới có thể chiến thắng trong chiến tranh hiện đại, dẫn tới sự phủ nhận các giá trị của quốc phòng và an ninh truyền thống, bao gồm cả nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Sự thật là, việc sử dụng vũ khí công nghệ cao để chống lại kẻ thù là điều cần thiết, nhưng bất kể công nghệ vũ khí tiên tiến đến đâu thì yếu tố con người vẫn là chìa khóa quyết định.

Giữ gìn sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người, đó là nhờ có kỷ luật”. Chính nhờ có kỷ luật của Đảng nghiêm minh, các đảng viên nghiêm túc, tự giác chấp hành mà trong suốt 94 năm qua, Đảng ta đã vượt qua mọi thử thách hiểm nghèo và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nêu cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng internet trong Quân đội


 

Sự phát triển của công nghệ thông tin và các ứng dụng trên không gian mạng đã làm thay đổi bộ mặt của xã hội; internet và mạng xã hội có tầm ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến người dân Việt Nam, trong đó có cán bộ, đảng viên, nhân viên, hạ sỹ quan, binh sỹ trong quân đội. Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội để tăng cường hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước, Quân đội...

Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

 

Trước thời kỳ đổi mới, đất nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội. Nguyên nhân căn bản được Đại hội VI đánh giá là do chúng ta rơi vào tình trạng máy móc, giáo điều. Đại hội VI đã mở ra thời kỳ mới, trên cơ sở trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng đã vận dụng linh hoạt để tiến hành công cuộc đổi mới.

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH HIỆN NAY


Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức phá hoại, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công kích nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Trước tình hình đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CẦM QUYỀN, LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC NHÂN TỐ CHỦ YẾU BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA NHÂN DÂN


  Hiện nay trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền tự do, dân chủ của nhân dân, Đảng và Nhà nước ta luôn kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của Việt Nam để bảo đảm cho người dân được hưởng thụ quyền tự do, dân chủ một cách tốt nhất.

ĐỊNH HƯỚNG QUAN TRỌNG CHO HOẠT ĐỘNG CỦA CAND VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

 

Cuốn sách “Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân - Sáng ngời tư cách người Công an cách mạng” của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm ra mắt đúng vào dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuốn sách tập hợp, chọn lọc từ 80 trong số hơn 500 bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của Tổng Bí thư Tô Lâm khi giữ cương vị Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an.
Nội dung cuốn sách giúp người đọc hiểu rõ về công tác Công an, đồng thời nâng cao hiểu biết về bối cảnh, tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng lực lượng CAND - một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây không chỉ là những tư tưởng, định hướng quan trọng cho hoạt động của CAND mà còn là những gợi mở cho hoạt động của cả hệ thống chính trị trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, phát triển, giàu mạnh của dân tộc.
Điểm nổi bật, xuyên suốt trong cuốn sách thể hiện trong bốn chữ “Trí tuệ” và “Bản lĩnh”. “Trí tuệ” ở sự nhận diện đúng tình hình, thời thế để xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm an ninh, trật tự. “Bản lĩnh” ở sự kiên quyết, kiên trì, quyết liệt, quyết tâm cao, với tinh thần “gương mẫu, đi đầu” để thực hiện đạt hiệu quả cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đặt ra.
Trong 80 bài viết, Tổng Bí thư đều có sự đánh giá xác đáng về thành tựu, hạn chế của các mặt công tác Công an, dự báo, nhận định ở nhiều chiều cạnh về tình hình, bối cảnh trong nước, quốc tế, về “đối tác” - “đối tượng”, về “địch” - “ta”. Từ đó xác định năm trụ cột lớn của nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự là: “an ninh chính trị là then chốt; an ninh kinh tế, an ninh môi trường, an ninh con người, phát triển tài năng, trí tuệ, phẩm chất con người Việt Nam là trung tâm; an ninh tư tưởng - văn hóa là nền tảng tinh thần; an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh mạng là thường xuyên; an ninh đối ngoại là quan trọng”. Đây là những định hướng chiến lược của nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự và hoạt động của lực lượng CAND.
Để thực hiện thắng lợi, Tổng Bí thư yêu cầu phải luôn “kết hợp giữa xây và chống, trước mắt và lâu dài, triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là nhân tố bên trong có thể gây đột biến lớn”, với phương châm “giữ vững bên trong là chính”; đồng thời “chủ động nắm tình hình từ sớm, từ xa, từ cơ sở trong mọi tình huống, nắm tình hình từ khi mới khởi nguồn các vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự”, luôn “giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ”. Đây cũng là những yêu cầu cốt lõi của sự kiên quyết, kiên trì, quyết tâm, quyết liệt.
Trong toàn bộ cuốn sách, Tổng Bí thư đã nhiều lần sử dụng các tính từ mạnh mẽ khi đề cập đến yêu cầu này, như “kiên định sự lãnh đạo của Đảng”; “gương mẫu đi đầu”; “những việc cần làm ngay”; “đề cao trách nhiệm nêu gương, tinh thần chủ động, năng động, quyết liệt”; “kiên quyết thay thế người đứng đầu đơn vị, địa phương nếu để tội phạm lộng hành, tình hình phức tạp hoặc xảy ra vi phạm của cấp dưới”; “thường xuyên, nghiêm túc nêu gương theo tinh thần trong trước, ngoài sau, trên trước, dưới sau, phát động đi đôi với hành động, nói đi đôi với làm”;…
Đặc biệt, đồng chí Tô Lâm đã chỉ đạo lực lượng CAND gương mẫu, đi đầu “triển khai nhiều giải pháp mang tính đột phá, cách mạng trong xây dựng lực lượng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cán bộ”, tạo nên “điểm sáng” của Bộ Công an trong thời gian qua. Từ đó cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng, tạo niềm tin vững chắc để đồng chí cùng tập thể Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có nhiều chỉ đạo căn cơ, đột phá, sáng tạo, mạnh mẽ, quyết liệt, đáp ứng nhu cầu bức thiết của thực tiễn khi ở cương vị người đứng đầu Đảng ta, như: đẩy mạnh phòng, chống lãng phí, đặt phòng, chống lãng phí có vị trí tương đương với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; bố trí, sử dụng cán bộ;…
Giá trị nền tảng, cốt lõi của cuốn sách còn ở chữ “DÂN” thấm đẫm trong từng bài viết, từng chỉ đạo của Tổng Bí thư. Qua cuốn sách, Tổng Bí thư một lần nữa khẳng định bản chất của Công an, cội nguồn sức mạnh của Công an đọng lại ở hai chữ “Nhân dân”. Từ nhân dân, Tổng Bí thư xác định “Bảo vệ an ninh quốc gia cũng chính là bảo vệ cuộc sống của người dân”; “con người trở thành mục tiêu, động lực phát triển đất nước và được bảo vệ an ninh là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân”; “phải coi trọng và lấy thước đo cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân, hạnh phúc của mỗi con người làm tiêu chí, hiệu quả của công tác bảo vệ an ninh, trật tự”; “mọi chủ trương, kế hoạch, biện pháp công tác bảo vệ an ninh, trật tự phải vì lợi ích của Nhân dân, xuất phát từ yêu cầu của đời sống Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”.
Phương pháp công tác của Công an là “trọng dân, gần dân, lúc dân cần, lúc dân khó, có Công an”, từ đó chỉ đạo “tập trung điều chỉnh, bố trí lại lực lượng theo hướng tăng cường cho cơ sở”, gần dân, sát dân, mà trực tiếp là “bố trí Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã để đảm bảo Công an cấp cơ sở thực hiện tốt chức năng nắm tình hình, tiếp nhận, giải quyết ban đầu, tại chỗ các vấn đề về an ninh, trật tự ở cơ sở”.
Kết quả tích cực của việc bố trí Công an chính quy về các xã, phường, thị trấn là những chỉ dẫn quan trọng cho quyết định không tổ chức hoạt động Công an cấp huyện và nghiên cứu chủ trương bỏ cấp hành chính trung gian (cấp huyện) nhằm tăng cường hơn nữa cho Công an cấp xã. Biện pháp quan trọng để bảo đảm an ninh, trật tự là huy động sức mạnh của nhân dân, “phải dựa vào nhân dân, lấy yên dân làm nền tảng”, tập trung xây dựng thế trận lòng dân vững chắc gắn với thế trận an ninh nhân dân, nền an ninh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân.
Bảo vệ an ninh, trật tự không phải là nhiệm vụ tự thân, mà có sự liên hệ chặt chẽ với các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, đối ngoại và các lực lượng khác. Do vậy, giá trị cuốn sách ở chỗ, không chỉ định hướng cho hoạt động của lực lượng CAND mà còn cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn quan trọng cho hoạt động của cả hệ thống chính trị, nhất là khi cả nước đang tăng tốc, bứt phá bước vào kỷ nguyên mới, trong đó điểm nhấn nêu trên chỉ là hai trong số nhiều vấn đề được rút ra qua nghiên cứu cuốn sách của Tổng Bí thư Tô Lâm./.
CAND

ĐẤU TRANH BẢO VỆ NGUYÊN TẮC ĐẢNG LÃNH ĐẠO TUYỆT ĐỐI, TRỰC TIẾP, VỀ MỌI MẶT ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI


Trong những năm qua, các thế lực thù địch luôn đẩy mạnh các hoạt động phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng. Mũi nhọn tấn công của chúng là gây nhiễu về chính trị, tư tưởng, văn hóa; ra sức phủ nhận nền tảng tư tưởng và công tác nhân sự của Đảng; kích động tư tưởng ly khai, chống đối; lợi dụng vấn đề “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, “dân chủ”, “nhân quyền” “dân tộc”, “tôn giáo”; lợi dụng những vấn đề phức tạp trên Biển Đông và tình trạng tham nhũng, dịch bệnh để xuyên tạc, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó, những luận điệu xuyên tạc, công kích Quân đội nhân dân Việt Nam, hòng gây mất ổn định chính trị, xã hội và làm cho quân đội ta mất định hướng chính trị, là những luận điệu phản động, hết sức nguy hiểm và thâm độc cần kiên quyết đấu tranh, vạch trần, lật tẩy bản chất.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHÍNH SÁCH MỚI "NGHỊ ĐỊNH 52/2025/NĐ-CP SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI SĨ QUAN"!

     Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 21/2009/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với sĩ quan thôi phục vụ tại ngũ; sĩ quan tại ngũ hy sinh, từ trần; sĩ quan tại ngũ chuyển sang quân nhân chuyên nghiệp hoặc công chức quốc phòng.
Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 21/2009/NĐ-CP ngày 23/02/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam về chế độ, chính sách đối với sĩ quan thôi phục vụ tại ngũ; sĩ quan tại ngũ hy sinh, từ trần; sĩ quan tại ngũ chuyển sang quân nhân chuyên nghiệp hoặc công chức quốc phòng.

Bổ sung quy định về chế độ, chính sách đối với sĩ quan nghỉ hưu
Trong đó, Nghị định số 52/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung gạch đầu dòng thứ nhất điểm a khoản 2 Điều 2 Nghị định số 21/2009/NĐ-CP quy định về đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp một lần. 

Theo quy định mới, đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp một lần gồm: Sĩ quan thuộc diện dôi dư do thay đổi tổ chức, hoặc thay đổi biểu tổ chức, biên chế theo quyết định của cấp có thẩm quyền; sĩ quan hết hạn tuổi giữ chức vụ chỉ huy, quản lý đơn vị theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam mà quân đội không còn nhu cầu bố trí, sử dụng.

Nghị định số 52/2025/NĐ-CP cũng bổ sung khoản 3 Điều 2 Nghị định số 21/2009/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với sĩ quan nghỉ hưu: Sĩ quan khi có quyết định nghỉ hưu, nếu đã được thăng cấp bậc quân hàm, nâng lương được 2/3 thời hạn trở lên và được đánh giá từ mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên thì được thăng cấp bậc quân hàm, nâng lương (trừ trường hợp thăng quân hàm cấp tướng).

Bổ sung chế độ, chính sách đối với sĩ quan chuyển ngành
Đồng thời, Nghị định số 52/2025/NĐ-CP cũng sửa đổi điểm c, d, đ và bổ sung điểm e, g tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 21/2009/NĐ-CP quy định về các quyền lợi được hưởng của sĩ quan chuyển ngành được tuyển dụng vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Theo quy định mới, Sĩ quan chuyển ngành được tuyển dụng vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước được hưởng quyền lợi như sau:

a) Được ưu tiên bố trí việc làm phù hợp với ngành nghề chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ; được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết phù hợp với công việc đảm nhiệm;

b) Được miễn thi tuyển, nếu chuyển ngành về cơ quan, đơn vị cũ hoặc chuyển ngành theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Được ưu tiên cộng thêm điểm vào kết quả thi tuyển công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức tại thời điểm thi tuyển;

d) Sĩ quan được xếp và hưởng lương theo vị trí việc làm mới, công việc mới, chức vụ mới kể từ ngày quyết định chuyển ngành có hiệu lực. 

Trường hợp tiền lương theo nhóm, ngạch, bậc được xếp thấp hơn tiền lương theo cấp bậc quân hàm của sĩ quan được hưởng tại thời điểm chuyển ngành thì được bảo lưu mức lương, phụ cấp thâm niên và đóng - hưởng chế độ bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành trong thời gian là 18 tháng, kể từ ngày quyết định chuyển ngành có hiệu lực và do cơ quan, đơn vị mới chi trả. 

Việc tiếp tục cho hưởng lương bảo lưu ngoài thời gian 18 tháng do Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức xem xét, quyết định phù hợp với tương quan tiền lương nội bộ. 

Trong thời gian hưởng bảo lưu, mức tiền lương chênh lệch bảo lưu giảm tương ứng khi cán bộ, công chức, viên chức được nâng lương hoặc được hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung trong ngạch hoặc được nâng ngạch; trường hợp được nâng lương mà mức lương mới cao hơn mức lương tại thời điểm chuyển ngành thì được hưởng mức lương mới. 

Sau thời gian bảo lưu lương, tiếp tục được hưởng mức phụ cấp thâm niên tại thời điểm chuyên ngành hoặc được cộng nối để tính hưởng phụ cấp thâm niên ở các ngành được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên;

đ) Sĩ quan đã chuyển ngành, đủ điều kiện hưởng lương hưu, nếu mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ để tính lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội tại thời điểm nghỉ hưu thấp hơn mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành thì được lấy mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tại thời điểm chuyển ngành, được chuyển đổi theo chế độ tiền lương quy định tại thời điểm nghỉ hưu để làm căn cứ tính lương hưu;

e) Sĩ quan đã chuyển ngành, nếu không đủ điều kiện hưởng lương hưu mà thôi việc thì ngoài hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định, được giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc do cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức tại thời điểm thôi việc chi trả; trong đó: cứ mỗi năm công tác trong Quân đội được trợ cấp bằng 01 tháng tiền lương của tháng liền kề trước khi chuyển ngành, được chuyển đổi theo chế độ tiền lương quy định tại thời điểm thôi việc để làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc; thời gian công tác tại cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước, trợ cấp thôi việc thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức tại thời điểm thôi việc;

g) Đối với các trường hợp chuyển ngành sang làm việc tại các cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có thời gian công tác trong Quân đội được cấp có thẩm quyền xác định là chuẩn úy, khi nghỉ hưu thì hệ số lương làm cơ sở tính tiền lương bình quân làm căn cứ tính hưởng lương hưu đối với thời gian chuẩn úy được chuyển xếp là 3,90.

Theo Nghị định số 52/2025/NĐ-CP, sĩ quan chuyển ngành sang làm việc tại các cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước sau đó chuyển ngành sang cơ quan, đơn vị không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, khi nghỉ hưu, được cộng thêm khoản phụ cấp thâm niên nghề theo thời gian công tác trong Quân đội và cấp bậc quân hàm tại thời điểm liền kề trước khi sĩ quan chuyển ngành, được chuyển đổi theo chế độ tiền lương quy định tại thời điểm nghỉ hưu khi tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho thời gian công tác theo chế độ tiền lương do nhà nước quy định để làm căn cứ tính lương hưu đối với sĩ quan.

Ngoài ra, sĩ quan đã chuyển ngành nhưng do yêu cầu nhiệm vụ, được cấp có thẩm quyền quyết định trở lại phục vụ trong Quân đội, được sắp xếp công việc mới phù hợp với nhu cầu, năng lực của sĩ quan; thời gian chuyển ngành công tác tại cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước được tính vào thời gian công tác liên tục để xét nâng lương, thăng quân hàm và tính thâm niên công tác.

Chế độ, chính sách đối với sĩ quan chuyển ngành sang làm việc tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp không hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Nghị định số 52/2025/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 4 về chế độ, chính sách đối với sĩ quan chuyển ngành sang làm việc tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp không hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Theo đó, sĩ quan chuyển ngành sang làm việc tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp không hưởng lương từ ngân sách nhà nước được hưởng các chế độ, chính sách sau:

- Được bảo lưu thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành.

- Được hưởng trợ cấp một lần, cứ mỗi năm công tác được trợ cấp bằng 01 tháng tiền lương của tháng liền kề trước khi chuyển ngành, do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng quản lý sĩ quan trước khi chuyển ngành chi trả.

- Sĩ quan đã chuyển ngành, đủ điều kiện hưởng lương hưu, được thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành nhưng không được áp dụng cách tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ để tính lương hưu theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 3 Nghị định số 21/2009/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị định này./.

Yêu nước ST.

ANH HÙNG - BẤT KHUẤT - TRUNG HẬU - ĐẢM ĐANG

Phụ nữ Việt Nam thật đẹp xinh

Chị em, các cháu đều lung linh

Tề gia trị Quốc tham gia cả

Đâu phải nam nhi…gánh một mình!

Phụ nữ Việt Nam thật đảm đang

Xứng danh phụ nữ “ba sẵn sàng”

Việc nước việc nhà đều gánh vác

Đi đầu nhiều việc quả hiên ngang.

Phụ nữ Việt Nam rõ là oai

Văn hay võ giỏi…kém nào ai

Cưỡi voi phất cờ dựng nghiệp lớn

Nhị vị Trưng Vương…sáng danh hoài.

Phụ nữ Việt Nam…đảm việc nhà

Chồng có say xin…chẳng kêu la

Quá đà các anh có… lạc bước

Cũng là phụ nữ Việt Nam mà.

Phụ nữ Việt Nam…giỏi quá ha

Chăm dạy con cái rạng sơn hà

Một tay nuôi dạy do mẹ cả

Bởi vì ba còn….công tác xa.

Phụ nữ Việt Nam…quả anh hùng

Trung hậu bất khuất lại kiên trung

Công – dung – ngôn – hạnh …đầy đủ cả

Phụ nữ Việt Nam…quá tuyệt vời !

St

"CHÚNG TÔI NHIỆM VỤ KHÁC LẮM"

 "Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới hiện nay", đây là câu mà thỉnh thoảng chúng ta được nhìn thấy ở đâu đó. Vậy, tình hình mới hiện nay như thế nào ? Bảo vệ Tổ quốc ở thời bình ra sao ? Đơn giản, chúng ta chỉ vừa đi qua chiến tranh nhưng thực tính cuộc chiến gần đây nhất mới cách đây 36 năm.

Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới hiện nay đồng nghĩa với việc bảo vệ Đất nước, bảo vệ sự tồn vong của chế độ, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ thành quả của cách mạng, "thứ vô cùng quý" phải đánh đổi bằng biết bao nhiêu mạng sống của biết bao thế hệ người Việt Nam mới có được, đó là ngày hôm nay, hòa bình và độc lập.

 

Nhìn vào thực tế các cuộc chiến/cuộc xung đột trên thế giới hiện nay, chúng ta thấy rằng không nên dựa vào các nước lớn, dựa vào các nước lớn cuối cùng cũng chỉ trở thành quân bài, trở thành trò chơi đánh cược, trở thành nơi của các mưu đồ chính trị, sân chơi cho những kẻ chống phá, "cách mạng màu"... 

 

Trong dân, có thể có những người "ngại va chạm", không dám đối mặt với chiến tranh/chiến sự khi Tổ quốc bị lâm nguy, nhưng Quân đội (là một người lính, người chiến sĩ) thì có, dám bảo vệ, dám đương đầu, dám cầm súng mà ra chiến trường. "Đặc thù" không thể thiếu đi một người lính kiên trung ! 1 người chiến sĩ với tư tưởng vững vàng thì quân "lá chắn Tổ quốc" mạnh gấp bội, mạnh gấp 10, 100 người không dám đứng lên.

 

"Nhiệm vụ khác", công việc "đặc thù" để "bao quát" với một khối lượng công việc khổng lồ thì vô cùng khó. Đến mức phải hiểu "Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi/Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình" thì chắc mới đủ nhận thức không nghĩ rằng "nếu có chiến tranh tao bay ra nước ngoài là xong", "đội mũ PUBG né được 1 mạng", "AK dễ bắn ý mà", "ơ trong súng có đạn à", "đi quân sự để quay đăng TikTok, nhảy theo Trend xu hướng"... 

 

"Lúc đó" thì còn "khác" hơn rất rất nhiều lần. Không giống như trong trò chơi./.

HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

TÔ LÂM, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành người có ích cho xã hội.

 

Cách mạng khoa học công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, tạo nên sự biến cách to lớn trong đời sống xã hội, đặt ra những yêu cầu mới, nhu cầu mới, nhiệm vụ mới, suy nghĩ mới, hành động mới với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là tận dụng tối đa thời cơ, vận hội, đi tắt đón đầu, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Để thực hiện thắng lợi yêu cầu, nhiệm vụ, trọng trách trong giai đoạn mới, học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành những người hữu dụng đang là đòi hỏi cấp thiết đối với từng cá nhân, mỗi công dân, đặc biệt là những cán bộ, nhân viên trong hệ thống chính trị.

 

Học tập suốt đời không phải là vấn đề mới. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào toàn dân, toàn quân xóa nạn mù chữ, Người căn dặn: “… Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”[1]; “Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”[2]. Trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong những năm đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng cả nước thành xã hội học tập. Chủ trương học tập suốt đời được đề cập trong nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, Kết luận số 14-KL/TW, ngày 26-7-2002, Hội nghị Trung ương 6 khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, XI, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định “Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời”[3] bởi “Người Cách mạng phải học suốt đời, học trong sách vở, học lẫn nhau và học từ nhân dân; “bể học” mênh mông, không bao giờ cạn”.

 

Thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng, việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đã trở thành phong trào, thành nhu cầu, thành nếp văn hóa và đạt nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, đã hình thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất từ giáo dục mầm non đến đào tạo sau đại học; các loại hình trường, lớp, loại hình đào tạo được đa dạng hóa, mang lại cơ hội học tập cho người dân ở mọi lứa tuổi. Phương thức cung ứng, kết nối giữa các trình độ đào tạo được cải thiện; mạng lưới, quy mô giáo dục mở rộng khắp các vùng, miền của đất nước; các phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài từng bước đi vào chiều sâu, thực chất hơn ở hầu khắp các địa phương; môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, gắn với cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, gia đình văn hóa. Trong nhiều dòng họ, làng, xã, thôn, bản phong trào thi đua học tập phát triển mạnh. Ý thức học tập suốt đời đã và đang thấm sâu vào từng gia đình, từng khu dân cư, từng cơ sở đào tạo, từng vùng, miền... Đã có nhiều tấm gương tiêu biểu là nông dân, người lao động, cán bộ, giáo viên tích cực tự học, sáng tạo trong lao động, công tác, có nhiều đóng góp cho cộng đồng; nhiều tấm gương tiêu biểu trong áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, có nhiều nghiên cứu, sáng kiến giải pháp hiệu quả mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn, trong sản xuất và đời sống; nhiều người lớn tuổi nhờ tự học, tự nghiên cứu áp dụng kiến thức, kinh nghiệm để sản xuất đã giúp gia đình thoát nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới và đóng góp cho kinh tế - xã hội ở địa phương. Những mô hình mới, những tấm gương sáng về tinh thần học không bao giờ muộn, có nhiều người ở tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng vẫn theo học cao học, làm luận án tiến sĩ chỉ với mục đích học để làm gương cho con cháu noi theo và khuyên con cháu “học, học nữa, học mãi”; “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại”[4], góp phần để đất nước ta đạt được những thành tựu vĩ đại sau gần 40 năm đổi mới.

 

Bên cạnh kết quả, thực hiện chủ trương học tập suốt đời vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; việc tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn, ngại khó, ngại khổ trong học tập, không đào sâu suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học. Tình trạng hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chủ nghĩa cá nhân, bệnh kinh nghiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ, chất lượng phục vụ nhân dân; ảnh hưởng đến tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo, không đủ nền tảng kiến thức và tự tin về năng lực đề xuất và thực hiện những sáng kiến, giải pháp đột phá. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thỏa mãn với kiến thức đã học trong các trường lớp, cơ sở đào tạo, hoặc chạy theo việc học để hoàn thiện bằng cấp đủ điều kiện thăng tiến, không chịu nghiên cứu, học hỏi thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, kiến thức, kỹ năng hội nhập và khả năng thích ứng... Một bộ phận biểu hiện ngại học, không có khái niệm học thường xuyên, học suốt đời nên trở thành lạc hậu, bảo thủ, không thích nghi và bắt nhịp với “guồng quay” hối hả của nhịp sống “vũ bão” thời khoa học và công nghệ 4.0 và X.0.

 

Đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới để vươn mình, để “sánh vai” với thế giới như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của toàn dân tộc. Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài đưa đất nước, dân tộc bước vào xã hội giàu mạnh, người dân ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển; hơn lúc nào hết, chúng ta cần có những cán bộ có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu  trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh-gọn-mạnh; hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả và thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cách mạng 4.0 đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số khiến một phần nội dung giảng dạy tại nhà trường hôm nay có thể thành lạc hậu, lỗi thời sau vài năm; hơn thế, những điều phổ biến hiện nay thì 10 năm trước còn chưa xuất hiện và có 65% những công việc hiện nay sẽ bị thay thế bởi công nghệ trong những năm tới. Với thế giới phức tạp, không ổn định và biến đổi khôn lường, tri thức phải không ngừng được bổ sung, tuổi thọ con người dài hơn, thời gian về hưu đủ dài, buộc người cao tuổi phải học và hoạt động để không bị lạc hậu với xã hội hiện đại.

 

Trong bối cảnh đó, học tập suốt đời trở thành một quy luật sống; không chỉ giúp mỗi cá nhân nhận biết, thích nghi, không tụt hậu trước sự biến đổi từng ngày của thế giới hiện tại, làm giàu trí tuệ, hoàn thiện nhân cách, vượt qua khó khăn, thử thách để ngày càng tiến bộ và định vị bản thân trong xã hội hiện đại; cao hơn, đây là chìa khóa quan trọng để nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, là con đường duy nhất, hướng đi tất yếu của mọi quốc gia để đảm bảo sự phát triển thịnh vượng, bền vững. Học tập suốt đời giúp mỗi thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường trở thành nước dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và xã hội chủ nghĩa.

 

Chỉ khi đẩy mạnh thực chất học tập suốt đời, chúng ta mới giàu có những ý tưởng, giải pháp, sáng kiến để giải quyết những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, những vấn đề mới, chưa có tiền lệ; khắc phục triệt để những “điểm nghẽn” trong cơ chế, chính sách, biểu hiện hình thức trong tự phê bình và phê bình; xóa bỏ tình trạng trì trệ, lúng túng trong giải quyết công việc tại các địa phương, cơ quan, đơn vị; tạo ra được đội ngũ cán bộ dũng cảm, nhận thức đúng quy luật khách quan, chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ, dám nói những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, từ cuộc sống sinh động, từ đòi hỏi của đổi mới và yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; có quyết tâm, dám chịu trách nhiệm về kết quả công việc, lĩnh vực, ngành mà mình đảm trách, dám nhận lỗi, sửa sai, chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, biết làm chủ bản thân và công việc; dám chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng và nếu cần, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân. Khi đó, chúng ta sẽ xây dựng thành công đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, có khát vọng vươn lên, khát vọng phát triển, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình để hiện thực hoá nhiệm vụ cách mạng, tạo ra đột phá vì lợi ích của nhân dân, vì sự phát triển của đất nước.

 

Xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời chỉ thành công khi mỗi công dân ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với việc tự học tập suốt đời; mỗi cán bộ, đảng viên luôn ý thức rõ học tập suốt đời là nhiệm vụ cách mạng với thái độ nghiêm túc và ý thức tự giác cao. Qua học tập suốt đời để nhận thức được trách nhiệm đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn, thời điểm cụ thể; có năng lực làm chủ, năng lực tổ chức cuộc sống; để không ngừng tiến bộ, có sức khỏe, có chất lượng sống tốt hơn; hiểu biết, giữ gìn và góp phần xây dựng truyền thống văn hóa dân tộc; tin tưởng vào tương lai đất nước, vào đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mỗi công dân cần không ngừng học tập về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp, kinh nghiệm làm việc và khả năng phối hợp trong tập thể để nâng cao tính kỷ luật của tổ chức, năng suất lao động và phát huy sức mạnh tổng hợp; mỗi cán bộ, đảng viên cần học về tư cách người cán bộ cách mạng, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân; không ngừng tự học tập, tự cập nhật kiến thức mới, tham gia tích cực phong trào “học tập số”, phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học công nghệ, kiến thức số; tích cực tuyên truyền, vận động người thân, gia đình, dòng họ tự học tập suốt đời. Qua học tập suốt đời để hoàn thành được mọi nhiệm vụ mà Đảng, cách mạng và nhân dân giao phó.

 

Mỗi cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp cần nhận thức rõ mục tiêu chính của học tập suốt đời là phát triển con người xã hội chủ nghĩa, từ đó xác định các nội dung học tập suốt đời cho cán bộ, đảng viên, thành viên gắn với phát động thi đua, đánh giá, biểu dương, khen thưởng. Đảng, Nhà nước sẽ sớm tổng kết, đánh giá, nghiên cứu ban hành quy định, quy trình, đổi mới quan điểm đánh giá, sàng lọc, quy hoạch đội ngũ cán bộ, nhằm xây dựng hoàn chỉnh bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; bảo vệ cán bộ sẵn sàng đi tiên phong, sẵn sàng “vượt rào” đột phá vì lợi ích chung. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục theo định hướng mở, linh hoạt, liên thông, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi công dân và thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động. Có các giải pháp cụ thể nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, ý nghĩa của học tập suốt đời và sự đóng góp của học tập suốt đời đối với nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của nguồn nhân lực quốc gia. Theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện thí điểm các đề xuất đổi mới, sáng tạo; chủ động phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời động viên, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hoặc xem xét, điều chỉnh, có quyết định phù hợp với tình hình thực tế; có chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại do nguyên nhân khách quan.

 

Chúng ta đang sống trong thời đại mà tri thức, kiến thức, hiểu biết sẽ giúp con người phát huy cao độ tiềm năng để tận dụng tốt các cơ hội, ứng phó hiệu quả với những thách thức để phát triển bền vững; cũng là thời đại mà khối lượng kiến thức của nhân loại tăng lên hằng ngày theo cấp số nhân. Chỉ khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhà nhà, người người thực hiện hiệu quả học tập suốt đời, xây dựng được đội ngũ cán bộ dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, chúng ta mới vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng./.

SỨC MẠNH BẢO VỆ AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA

 Những ngày này, trên khắp dải biên cương Tổ quốc, nhân dân vùng biên giới hòa mình trong không khí của "Ngày hội Biên phòng toàn dân" rộn ràng, tươi vui, đậm sâu tình đoàn kết quân-dân. 

Đây không chỉ là dịp cán bộ, chiến sĩ biên phòng cùng cấp ủy, chính quyền địa phương, người dân ôn lại truyền thống gắn kết keo sơn, mà còn được tiếp thêm động lực để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, ổn định và giàu bản sắc.

 

Ngày hội của lòng dân

 

Ngày 3/3 hằng năm, không chỉ là Ngày truyền thống của Bộ đội Biên phòng mà còn là Ngày hội của toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh biên giới quốc gia. Bền bỉ suốt 36 năm qua, các hoạt động của "Ngày hội Biên phòng toàn dân" được tổ chức thường xuyên, rộng khắp đã tạo khí thế sôi nổi, trở thành ngày hội của nhân dân vùng biên giới, góp phần xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng vững chắc. Chính nhờ sự chung sức, đồng lòng quân dân mà thế trận biên phòng toàn dân ngày càng vững chắc, giúp bảo vệ biên cương Tổ quốc từ sớm, từ xa.

 

Trong tiết trời giá lạnh vùng biên giới không ngăn được những bước chân hối hả của bà con dân tộc Mông, Dao, Lô Lô ở huyện Mèo Vạc trong bộ trang phục truyền thống rực rỡ đổ về trung tâm Đồn Biên phòng Sơn Vĩ, Bộ đội Biên phòng Hà Giang từ rất sớm để tham dự "Ngày hội Biên phòng toàn dân" năm 2025.

 

Hòa trong lời ca, tiếng hát là những cái bắt tay siết chặt, những nụ cười rạng rỡ, không chỉ là minh chứng cho sự tri ân của lực lượng Bộ đội Biên phòng với nhân dân nơi đây, mà còn thể hiện niềm tin của bà con dành cho những người lính biên phòng ngày đêm canh giữ biên cương.

 

Phát biểu tại ngày hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Lò Minh Soòng mong muốn cấp ủy, chính quyền địa phương xã và Đồn Biên phòng Sơn Vĩ sẽ tiếp tục đẩy mạnh các nhiệm vụ phát triển kinh tế, gắn với củng cố quốc phòng-an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, chú trọng những địa bàn khó khăn, phức tạp. Đồng thời, thực hiện tốt các chính sách ưu tiên, hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, địa phương đối với người dân; tổ chức thực hiện thắng lợi các phong trào và các nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất ở địa phương.

 

Trong khuôn khổ ngày hội, diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi, đậm bản sắc văn hóa dân tộc như: kéo co, đẩy gậy. Bà con càng vui mừng và phấn khởi hơn khi được các y, bác sĩ khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí.

 

Dịp này, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Na Mèo, phối hợp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ủy ban nhân dân xã Na Mèo, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa tổ chức "Ngày hội Biên phòng toàn dân".

 

Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Phong trào "Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới", Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Na Mèo Vi Văn Thuật khẳng định: Công tác phối hợp giữa Đồn Biên phòng với các ngành, đoàn thể, cấp ủy, chính quyền địa phương, các lực lượng tham gia đã được phát huy, tạo sức mạnh tổng hợp trong giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

 

Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Na Mèo đã phối hợp chính quyền địa phương lựa chọn được chín cá nhân tham gia tự quản đường biên, cột mốc và chín tổ với 32 thành viên tự quản an ninh trật tự để đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Quan Sơn ra quyết định công nhận.

 

Đồn Biên phòng và địa phương đã hướng dẫn, đồng thời bồi dưỡng hạt nhân trong tham gia thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 9/1/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới; hướng dẫn gia đình, dòng họ, bà con nhân dân nắm rõ vị trí, dấu hiệu đường biên, cột mốc; thống nhất các quy ước tự quản an ninh, trật tự trong làng, bản…

 

Tại ngày hội, các cấp, các ngành có những phần quà ý nghĩa trao tặng các gia đình chính sách, hộ nghèo, người có uy tín, người tham gia bảo vệ cột mốc; học sinh nghèo vượt khó trong Chương trình "Nâng bước em tới trường-Con nuôi đồn biên phòng".

 

Cùng với 10 bạn được nhận quà, cháu Thao Thị Thùy Linh, lớp 8B, Trường Dân tộc bán trú Trung học cơ sở Na Mèo xúc động nói: "Gia đình cháu nghèo, nhưng may mắn được các chú bộ đội biên phòng đỡ đầu, cháu mới được tiếp tục đến trường. Nhận được món quà này, cháu rất vui và hứa cố gắng rèn luyện, học tập tốt, trở thành người có ích cho xã hội".

 

Quân dân đồng hành giữ vững biên cương

 

10 năm trước, ngày 9/1/2015, thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng các tỉnh, thành phố tham mưu, phối hợp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch liên tịch để tổ chức thực hiện.

 

Các đồn biên phòng và chính quyền các xã biên giới xây dựng các quy chế phối hợp trong thực hiện, trong đó xác định đồn biên phòng là lực lượng chủ trì, nòng cốt. Chính vì vậy, Ngày hội Biên phòng toàn dân năm 2025 càng có ý nghĩa đặc biệt, gắn với việc tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 01 của Thủ tướng Chính phủ với những hoạt động phong phú.

 

Thời gian qua, các đơn vị Bộ đội Biên phòng đã có nhiều phong trào, hoạt động nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và nhân dân ở khu vực biên giới. Với sự vào cuộc, quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị, nhất là các địa phương có biên giới, bờ biển, các đồn biên phòng đã nuôi dưỡng nhiều mô hình, cách làm hay, sáng tạo.

 

Các đồn biên phòng tích cực, chủ động phối hợp cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác vận động quần chúng; tích cực phát huy vai trò của già làng, trưởng khóm, ấp, người có uy tín trong các dòng họ, chức sắc, chức việc các tôn giáo. Công tác tuyên truyền được thực hiện với nhiều cách làm hay, hình thức đa dạng, thiết thực, phù hợp với đặc điểm tình hình, dân cư trên địa bàn biên giới.

 

Các đồn biên phòng đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động nhân dân, các lực lượng đứng chân trên địa bàn chấp hành và thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không nghe, không tin và không làm theo các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ xấu đối với chủ quyền lãnh thổ, cũng như thông tin xấu độc trên các nền tảng mạng xã hội.

 

Người dân ngày càng có ý thức, trách nhiệm và tích cực tham gia các hoạt động cụ thể để bảo vệ đường biên, cột mốc, như cùng lực lượng Biên phòng tuần tra, kiểm soát, bảo vệ, phát quang đường biên, cột mốc. Bên cạnh đó, phong trào còn được lồng ghép các phong trào như Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; dân vận khéo… đạt nhiều kết quả cao.

 

Đến nay, phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia đã không ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của quần chúng nhân dân về quản lý, bảo vệ biên giới, biển đảo cũng như phối hợp chặt chẽ với lực lượng biên phòng trong việc bảo vệ các tuyến biên giới trên đất liền và trên biển..., tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng "thế trận lòng dân" ở khu vực biên giới./.

PHẨM CHẤT HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

 PHẨM CHẤT HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, học tập suốt đời là yêu cầu bắt buộc đối với đội ngũ cán bộ. Tổng Bí thư Tô Lâm trong bài viết “Học tập suốt đời” đã khẳng định, cán bộ phải không ngừng rèn luyện, nâng cao kiến thức và bản lĩnh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Và điều cốt lõi là học để trở thành người tốt, cống hiến nhiều hơn, tốt hơn cho nhân dân chứ không phải để “vinh thân phì gia”, thu vén lợi lộc ích kỷ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Học phải đi đôi với hành”, bởi tri thức chỉ thực sự có giá trị khi được ứng dụng vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả công việc và phục vụ nhân dân tốt hơn. Không chỉ vậy, “hành” cũng là một quá trình “học”. Khi cán bộ trực tiếp giải quyết công việc thực tế sẽ hiểu sâu sắc hơn những nguyên lý, quy trình đã học trên sách vở. Thực tiễn luôn phong phú, đa dạng và biến đổi không ngừng, buộc người cán bộ phải linh hoạt vận dụng kiến thức, đồng thời tự rút ra kinh nghiệm từ chính những tình huống cụ thể. Học qua thực tiễn giúp tri thức trở nên sống động và hình thành tư duy nhạy bén, bản lĩnh vững vàng hơn.
Thực tiễn cuộc sống cũng là một trường học lớn, cán bộ có thể học từ đồng nghiệp, từ nhân dân, từ những phản hồi của xã hội. Biết lắng nghe, quan sát, rút kinh nghiệm từ thực tế sẽ có cái nhìn toàn diện và đưa ra quyết định đúng đắn hơn. Bằng rèn luyện, trau dồi trong thực tế, kết hợp nhuần nhuyễn giữa học và hành suốt đời, sẽ nâng cao năng lực, đạo đức và bản lĩnh. Đó là phẩm chất của con người nói chung và là phẩm chất bắt buộc của cán bộ nói riêng, trong mọi thời đại./.
Báo QĐND
Có thể là hình ảnh về 10 người và văn bản
Tất cả cảm xúc:
3

TIẾP TỤC VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO THỰC TIỄN

 Trong bài viết Rạng rỡ Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm nhắc lại lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.

Tổng Bí thư khẳng định: Chính vì vậy, Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, giữ vững bản chất cách mạng và vai trò tiên phong của mình. Trong bối cảnh hiện nay, Đảng càng phải kiên định nền tảng tư tưởng của mình, tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, bảo vệ vững chắc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Đảng phải không ngừng đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để tiếp tục dẫn dắt dân tộc trên con đường phát triển trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Với những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử công cuộc đổi mới đất nước, tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là "kim chỉ nam" cho mọi hành động của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ quan điểm chỉ đạo quá trình đổi mới và phát triển ở Việt Nam. Đó là: "Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh". Đây được coi là một trong những vấn đề "mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động".

 

Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, giữ vững bản chất cách mạng và vai trò tiên phong của mình.

 

Thực tiễn 95 năm ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng ta với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử để đất nước ta có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay càng chứng tỏ rằng sự kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn.

 

Việc tiếp tục kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần trở thành nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong đó, cần chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổng kết và chỉ đạo thực tiễn để giải quyết hiệu quả những vấn đề thực tiễn đặt ra. Bởi chính trong công việc lãnh đạo, chỉ đạo, khi nắm chắc quan điểm biện chứng và nguyên lý phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên sẽ có thêm "sức đề kháng" trước những luận điệu, âm mưu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; đồng thời tránh được tư duy rập khuôn, máy móc, vận dụng theo kiểu giáo điều làm xơ cứng, nghèo nàn những quan điểm triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

Các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu trong khi chỉ đạo làm tốt việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị được giao. Cán bộ, đảng viên thật sự coi trọng việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc định hướng phát triển và hoạt động thực tiễn ở cơ quan, địa phương, đơn vị sao cho thiết thực, hiệu quả; có những giải pháp phù hợp tình hình thực tế để đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống, sao cho "ý Đảng hợp lòng dân".

 

Quán triệt phương châm lý luận thống nhất với thực tiễn, và cũng cần nắm vững quan điểm thực tiễn để giải đáp những vấn đề do thực tiễn công cuộc đổi mới đặt ra hiện nay. Cấp ủy, tổ chức đảng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, đổi mới phương thức lãnh đạo bằng việc biết khơi gợi, lắng nghe những sáng kiến từ địa phương, cơ sở, của các tổ chức, cá nhân và quần chúng nhân dân, định hướng kịp thời những hoạt động sáng tạo của nhân dân hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững...

 

Việc quán triệt, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tại các địa phương, đơn vị thời gian qua là cách làm hiệu quả để tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn. Các nội dung chuyên đề, đề án về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hằng năm được cụ thể hóa vào các chương trình, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn; nhiều chương trình, phong trào, mô hình, điển hình về học tập và làm theo Bác được xây dựng, nhân rộng và có hiệu quả.

 

Thông qua việc đẩy mạnh tuyên truyền trong quần chúng nhân dân, vận động nhân dân tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tích cực phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, là thiết thực vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn./.