Thứ Ba, 4 tháng 3, 2025

Chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trong Chiến dịch Tây Nguyên

 

Cách đây 50 năm (1975-2025), thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương (QUTƯ), quân và dân ta đã mở Chiến dịch Tây Nguyên (4-3 đến 3-4-1975), giành thắng lợi vẻ vang; từ đó tạo ra sự thay đổi căn bản về so sánh thế và lực, mở ra thời cơ chiến lược có lợi cho ta, là cơ sở để Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên là kết quả của sự vận dụng sáng tạo đường lối quân sự của Đảng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và nghệ thuật quân sự Việt Nam; là tổng hòa của nhiều nhân tố, trong đó chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị, QUTƯ có ý nghĩa quan trọng, quyết định, được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

1. Nắm vững thời cơ, chủ động chỉ đạo xây dựng kế hoạch chiến lược, chọn Tây Nguyên là hướng chiến lược mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27-1-1973), Mỹ buộc phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, tạo ra sự thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng. Thực hiện Nghị quyết 21 của Đảng (7-1973), cùng với chỉ đạo quân và dân ta đẩy mạnh các hoạt động phản công, tiến công địch tạo chuyển biến cục diện trên chiến trường, Bộ Chính trị, QUTƯ kịp thời chỉ đạo Cơ quan Tổng hành dinh bắt tay vào xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam.

Từ cuối năm 1973 đến đầu năm 1974, quân và dân ở miền Nam tiếp tục giành được những thắng lợi rất quan trọng trên mặt trận quân sự, chính trị và chống phá bình định của địch, qua đó tạo ra thế mới và lực mới cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Thời cơ và điều kiện thuận lợi để ta giải phóng miền Nam bắt đầu xuất hiện.

Tháng 2-1974, QUTƯ, Bộ Tổng Tư lệnh dự kiến phương hướng chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm (1975-1976), trong đó xác định: Đòn tiến công chính của chủ lực là ở Tây Nguyên. Tháng 9-1974, QUTƯ và Bộ Tổng Tư lệnh chính thức giao cho Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (B3) chuẩn bị mở Chiến dịch Nam Tây Nguyên (tên gọi ban đầu của Chiến dịch Tây Nguyên) với khu vực tác chiến được xác định chủ yếu là Thuần Mẫn và Đức Lập.

Đến tháng 10-1974, Bộ Chính trị nhất trí kế hoạch giải phóng miền Nam, xác định quyết tâm chiến lược: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tiến công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh đến mức phát triển cao nhất... giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà”(1).

Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”(2). Về hướng tiến công chiến lược và nhiệm vụ cụ thể của từng chiến trường, Bộ Chính trị yêu cầu phải chủ động đón thời cơ chiến lược, chuẩn bị sẵn sàng tác chiến trên cả hai hướng chiến lược: Tây Nguyên (trọng tâm là Nam Tây Nguyên) là hướng chiến lược quan trọng, chủ yếu; miền Đông Nam Bộ là hướng quyết định cuối cùng. Đánh chiếm được Tây Nguyên sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền và điều kiện thuận lợi để ta tổ chức các chiến dịch tiếp theo, thực hiện chia cắt địch về chiến lược và phát triển nhanh về Sài Gòn.

Sau “đòn trinh sát chiến lược Phước Long”, ngày 8-1-1975, Bộ Chính trị kết luận: “Nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc...

Trên chiến trường Khu 5, Tây Nguyên, dùng ba sư đoàn quân chủ lực đánh Tây Nguyên, mở thông hành lang nối liền Nam Tây Nguyên với Đông Nam Bộ, phối hợp với quân chủ lực Miền tiến đánh Sài Gòn”(3). Nhạy bén và sáng suốt, Bộ Chính trị, QUTƯ quyết định chọn Tây Nguyên, địa bàn có vị trí vô cùng quan trọng về chiến lược làm hướng tiến công chiến lược, mở màn cho cuộc tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam. Đây là quyết định đúng đắn, một thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị và QUTƯ đã được thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh.

2. Xác định hướng tiến công và mục tiêu tiến công chiến dịch đúng đắn, sáng tạo

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với tiến công địch rộng khắp, liên tục ở mọi quy mô, vào những thời điểm quan trọng, trên cơ sở so sánh lực lượng và thế bố trí lực lượng giữa ta và địch, Bộ Chính trị, QUTƯ đã chỉ đạo quân và dân ta tổ chức các chiến dịch lớn đánh vào những nơi hiểm yếu nhưng địch lại sơ hở, để giành thắng lợi, làm rung chuyển thế trận chiến lược của địch, tạo thời cơ thuận lợi cho ta tiếp tục mở những đòn tiến công chiến lược tiếp theo.

Quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam, nhận thấy thế và lực của địch đã suy yếu, bị động nhưng Mỹ khó có khả năng can thiệp trở lại, Bộ Chính trị, QUTƯ đã phát hiện thời cơ giải phóng miền Nam. Sau nhiều lần chuẩn bị và thông qua, ngày 18-12-1974, Bộ Chính trị họp Hội nghị mở rộng thông qua kế hoạch và quyết tâm tổng tiến công chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam lần cuối cùng. Các ý kiến thảo luận tại hội nghị đều nhất trí với phương án của Thường trực QUTƯ chọn hướng chính là Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột là điểm đột phá chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975.

Xét về địa lý quân sự, Tây Nguyên là một địa bàn có nhiều thuận lợi cho đánh tiêu diệt lớn sinh lực địch, nhất là vùng xung quanh Buôn Ma Thuột. Đó là vùng tiếp giáp với đồng bằng Khu 5 và Nam Bộ, giành thắng lợi ở đó có thể dễ dàng phát triển xuống đồng bằng. Chọn Tây Nguyên là ta đã chọn đúng nơi hiểm yếu nhất của địch, bởi vì quân đội Sài Gòn lúc này đang tập trung lực lượng mạnh phòng thủ ở hai đầu (Trị - Thiên và Sài Gòn - Gia Định), yếu và sơ hở ở giữa (Quân khu 2).

Đánh vào chỗ địch sơ hở nhưng hiểm, ta có điều kiện mở cuộc tiến công tiếp theo giải phóng vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ, thực hiện chia cắt chiến lược, cô lập Quân khu 1 của địch, trực tiếp uy hiếp Quân khu 3, nhất là Sài Gòn - Gia Định. Thế trận phòng ngự của địch trên toàn miền Nam sẽ nhanh chóng bị phá vỡ. Bộ Chính trị, QUTƯ đã nắm chắc thời cơ và đưa ra quyết định chính xác mở Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên.

Trên địa bàn Tây Nguyên, địch bố trí phòng ngự mạnh ở phía Bắc (Kon Tum, Pleiku). Khu vực Buôn Ma Thuột (Nam Tây Nguyên) được xem như là hậu phương của chúng.

Trước ngày ta nổ súng mở màn chiến dịch, địch tập trung 8/10 trung đoàn ở Bắc Tây Nguyên. Tại Nam Tây Nguyên, lực lượng phòng ngự của địch tương đối mỏng, có nhiều sơ hở, dễ bị cô lập. Đây cũng là chiến trường ta có kinh nghiệm tác chiến và điều kiện làm công tác chuẩn bị bảo đảm đòn đánh mở đầu chắc thắng.

Đồng chí Lê Trọng Tấn nhận định: “Chọn Nam Tây Nguyên là đánh vào nơi hiểm yếu và nơi địch đề phòng chưa thật tốt lắm”(4). Trên cơ sở nhận định, đánh giá tình hình địch, tình hình ta, Bộ Chính trị đồng ý đề xuất của QUTƯ chọn Buôn Ma Thuột là mục tiêu then chốt chủ yếu của chiến dịch. Với trận tiến công Buôn Ma Thuột ở Nam Tây Nguyên, ta sẽ đánh vào chỗ yếu chí tử của địch, làm cho quân đội và chính quyền Sài Gòn hoàn toàn bị bất ngờ về hướng tiến công và quy mô lực lượng của ta. Cuộc tiến công chiến lược của ta có điều kiện phát triển lên thành tổng tiến công chiến lược.

Ngày 21-1-1975, QUTƯ và Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ bổ sung cho Chiến dịch Tây Nguyên, trong đó giải phóng Buôn Ma Thuột là nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch. Do tầm quan trọng về chiến lược, Bộ Chính trị, QUTƯ quyết định cử Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên.

Quyết định mở Chiến dịch tiến công Tây Nguyên thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bộ Chính trị, QUTƯ và Bộ Tổng Tư lệnh trong chỉ đạo, điều hành chiến tranh. Giải phóng được Tây Nguyên, tạo điều kiện phát triển thuận lợi xuống các tỉnh duyên hải miền Trung, tiến về hướng Nam uy hiếp Đông Nam Bộ, tiến lên hướng Bắc uy hiếp Kon Tum, Pleiku. Đó là điểm khởi đầu dẫn đến sự tan rã, sụp đổ về chiến lược của địch, tạo đà cho quân và dân ta tổ chức các chiến dịch tiếp theo, thực hiện mục tiêu cao nhất: Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

3. Chỉ đạo chuẩn bị lực lượng, tổ chức nghi binh và tạo lập thế trận cho Chiến dịch Tây Nguyên

Xác định Tây Nguyên là địa bàn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với chủ trương xây dựng lực lượng tại chỗ vững mạnh, rộng khắp, từ năm 1964, QUTƯ và Bộ Quốc phòng đã đưa một số đơn vị chủ lực vào chiến trường Tây Nguyên.

Đặc biệt, trước khi ta mở Chiến dịch Tây Nguyên, để tạo ưu thế về lực lượng, phương tiện cho đòn mở đầu tiến công chiến lược năm 1975, Bộ Chính trị, QUTƯ đã chỉ đạo điều động đến Tây Nguyên một lực lượng lớn gồm 4 sư đoàn bộ binh (10, 320A, 316 và 968), 4 trung đoàn bộ binh (95A, 95B, 25 và 271), 5 trung đoàn pháo mặt đất, cao xạ, 1 trung đoàn xe tăng, 1 trung đoàn đặc công, 1 trung đoàn thông tin và một số đơn vị vận tải, tạo ra ưu thế vượt trội lực lượng cả về số lượng và chất lượng so với quân địch.

So với lực lượng của đối phương, lực lượng của ta trên chiến trường Tây Nguyên gấp 3-4 lần, tạo nên thế và lực của ta mạnh hơn địch rất nhiều. Đây là một trong những yếu tố trực tiếp đưa Chiến dịch Tây Nguyên đến toàn thắng. Nhờ được tăng cường lực lượng, quân và dân Tây Nguyên đã triển khai lực lượng chính trị, quân sự, cả ba thứ quân vào một thế trận chiến lược và cơ động trên toàn chiến trường, tạo thế cài xen giữa ta và địch trên một không gian rộng, vừa thực hiện được chia cắt, vây hãm địch, vừa tạo ra thế chủ động tiến công địch.

Để tạo thế trận chiến lược cho Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị và QUTƯ đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị tiến hành một loạt các biện pháp nghi binh rất công phu, tích cực để thu hút và giam chân khối chủ lực cơ động của địch. Trên toàn chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị, QUTƯ đã xây dựng thế trận chiến lược tập trung lực lượng lớn ở Huế và Đông Bắc Sài Gòn, buộc đối phương phải căng ra ở hai đầu Nam, Bắc để giữ Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn, mở ra khu vực rộng lớn ở miền Trung, Tây Nguyên.

Từ đầu tháng 3-1975, phối hợp với Chiến dịch Tây Nguyên, quân và dân ta ở Mặt trận Trị - Thiên, Mặt trận đồng bằng Khu 5 đã đẩy mạnh hoạt động tiến công địch. Quân đoàn 2 mở chiến dịch tiến công phía Tây thành phố Huế. Sư đoàn 2 và lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu 5 mở đợt hoạt động ở phía Tây và Tây Nam thành phố Đà Nẵng, thị xã Tam Kỳ. Ở Nam Bộ, LLVT cách mạng cũng liên tiếp tổ chức các trận tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một vùng rộng thuộc tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông và 12 xã phía Nam Long An... Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chiến trường đã tạo đà cho Chiến dịch Tây Nguyên phát triển tiến công thuận lợi, giành thắng lợi nhanh chóng, thời cơ giải phóng dải đất Trung Trung Bộ xuất hiện.

Để chuẩn bị thế trận chiến dịch, Bộ Chính trị, QUTƯ chỉ đạo Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên tổ chức cho các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với LLVT, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên thực hiện các hoạt động tác chiến nghi binh, tập trung chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum; tổ chức tuyên truyền nghi binh ta sẽ đánh lớn ở Bắc Tây Nguyên. Địch tin chắc ta đánh lớn ở khu vực này, do đó đã tập trung phòng thủ, đối phó ở Bắc Tây Nguyên là chính. Trong khi đó, ta chỉ để lại Sư đoàn 968 ở Bắc Tây Nguyên, bí mật đưa 3 sư đoàn (10, 320A và 316), các đơn vị binh chủng tăng thiết giáp, pháo binh, thông tin, đặc công vào Nam Tây Nguyên.

Thực hiện sự chỉ đạo của QUTƯ “phải nghi binh rất nhiều để làm cho địch tập trung sự chú ý vào việc bảo vệ phía Bắc Tây Nguyên”(5), Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A không sử dụng vô tuyến điện để liên lạc. Toàn bộ mật danh vô tuyến liên lạc để lại cho Sư đoàn 968 giữ mối liên lạc thường xuyên như cũ, làm cho địch vẫn tưởng 2 sư đoàn chủ lực này vẫn ở sát Pleiku và Kon Tum. Trung đoàn Công binh 7 kết hợp với dân công triển khai rầm rộ mở các trục đường ở Bắc Tây Nguyên để thu hút sự chú ý của địch, làm cho chúng càng tin rằng ta đang chuẩn bị tiến công hướng này. Trong khí đó, công binh ta đã hoàn thành mạng đường cơ động chiến dịch hướng tới Đức Lập, Gia Nghĩa và Buôn Ma Thuột.

Mặt khác, để thực hiện nhiệm vụ nghi binh Bộ Tổng Tham mưu giao, cùng với việc sử dụng toàn bộ mật danh vô tuyến điện của Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A để liên lạc thường xuyên với Bộ, Sư đoàn 968 bất ngờ sử dụng lực lượng đánh chiếm một đoạn Đường 19, cắt đứt tuyến vận chuyển tiếp tế của quân đội Sài Gòn, hình thành thế bao vây chia cắt Pleiku, cô lập quận lỵ Thanh An, Lệ Ngọc, buộc địch huy động lực lượng lên giải tỏa và bảo vệ đường giao thông. Ngoài ra, Sư đoàn 968 còn tổ chức chuẩn bị trận địa ở Điểm cao 946, Bắc Ngọc Quận (Kon Tum) và Bắc Đường số 5A (Pleiku), sẵn sàng bắn vào thị xã Kon Tum, sân bay Cù Hanh và La Sơn để thu hút địch.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, QUTƯ, trực tiếp là Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã thực hiện thành công các hoạt động nghi binh, tạo thế, góp phần căng kéo, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận chủ lực địch, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ và thời cơ thuận lợi cho các lực lượng trên các hướng chủ yếu tạo nên sức mạnh áp đảo, đẩy mạnh tiến công.

Công tác nghi binh đạt hiệu quả cao, tạo đà cho Chiến dịch Tây Nguyên phát triển nhanh chóng, giành thắng lợi trong các trận then chốt quyết định, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch, mở ra thời cơ thuận lợi để quân và dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Có thể khẳng định, chỉ đạo chuẩn bị lực lượng, tổ chức nghi binh và tạo lập thế trận là một trong những thành công lớn của Bộ Chính trị và QUTƯ trong Chiến dịch Tây Nguyên.

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến mau lẹ, phức tạp; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh kiềm chế lẫn nhau và sẵn sàng can dự, chi phối vào nội bộ nước khác.

Các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, nhất là an ninh, an toàn không gian mạng, khủng bố, tội phạm, thiên tai, dịch bệnh... tiếp tục diễn biến ngày càng phức tạp. Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh các hoạt động thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, với những thủ đoạn chống phá ngày càng công khai, trực diện hơn. Trước tình hình đó, để tập trung xây dựng QĐND Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân cần tiếp tục thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tập trung xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị, giữ vững bản chất cách mạng, bảo đảm luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Để thực hiện tốt nội dung trên, cần tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, bảo đảm Quân đội luôn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc.

Đảng bộ Quân đội tiếp tục đi đầu trong thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng sinh hoạt, năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phê bình và tự phê bình, giữ nghiêm kỷ luật Đảng; đề cao tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy và chỉ huy cơ quan, đơn vị. Mặt khác, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Qua đó, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc về ý chí, niềm tin, trách nhiệm chính trị; xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị, tâm thế vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh, bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh luôn trung thành vô hạn, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, tiếp tục điều chỉnh tổ chức biên chế các cơ quan, đơn vị Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều chỉnh tổ chức biên chế là yêu cầu cấp thiết, đáp ứng đòi hỏi khách quan thực hiện mục tiêu tổ chức Quân đội có cơ cấu và quân số cân đối, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng, phù hợp với quyết tâm bảo vệ Tổ quốc và yêu cầu chiến đấu trong tình hình mới.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, cấp ủy đảng và người chỉ huy các cấp cần tiếp tục tăng cường quán triệt và thực hiện hiệu quả Kết luận 16 ngày 7-7-2017 của Bộ Chính trị về tổ chức QĐND Việt Nam đến năm 2021; Nghị quyết 05 ngày 17-1-2022 của Bộ Chính trị khóa XIII “Về tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo”. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 15, ngày 1-8-2017 của Bộ Chính trị về bảo đảm vũ khí, trang bị (VKTB) cho QĐND Việt Nam đến năm 2025; Nghị quyết 18 ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ‘‘Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ điều chỉnh tổ chức biên chế Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh” trong tình hình mới.

Điều chỉnh tổ chức từ cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng đến các cơ quan, đơn vị cấp chiến dịch, chiến thuật. Điều chỉnh thế bố trí để đáp ứng nhiệm vụ trên cả 5 môi trường tác chiến (không, bộ, biển, không gian mạng, không gian vũ trụ)(6). Giải thể, sáp nhập một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, thành lập một số đơn vị mới; bố trí đóng quân ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Rà soát hoàn chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của các đầu mối trực thuộc Bộ, phân định rõ, không để chồng chéo.

Điều chỉnh tổ chức, biên chế là vấn đề lớn, tác động trực tiếp đến tâm tư, tình cảm của một bộ phận cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp và người lao động. Các cơ quan, đơn vị cần đánh giá đúng tình hình, thấy rõ những thuận lợi, khó khăn, củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ đối với chủ trương của Đảng, Quân đội; từ đó, tạo sự đồng thuận, quyết tâm cao, tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng và Nhà nước; tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức biên chế Quân đội, có cơ cấu hợp lý, số lượng phù hợp, chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu nâng cao sức mạnh chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của LLVT nhân dân.

Ba là, tích cực đổi mới nội dung, phương pháp huấn luyện, diễn tập, nâng cao chất lượng tổng hợp, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) của Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Đổi mới nội dung, phương pháp huấn luyện, diễn tập, nâng cao chất lượng tổng hợp, SSCĐ của Quân đội là yêu cầu cấp thiết, vấn đề hết sức quan trọng, nhằm không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Các cấp ủy đảng, người chỉ huy phải thường xuyên coi trọng, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết của QUTƯ, Bộ Quốc phòng về công tác huấn luyện, nhất là Nghị quyết số 1659, ngày 20-12-2022 của QUTƯ về “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo”; tổ chức thực hiện tốt Chỉ lệnh công tác quân sự, quốc phòng của Tổng Tham mưu trưởng.

Đẩy mạnh đổi mới công tác huấn luyện theo tư duy mới về quân sự, quốc phòng của Đảng và phù hợp với yêu cầu Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược Biển Việt Nam, Luật Quốc phòng Việt Nam năm 2018.

Đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp huấn luyện, bám sát phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, địa bàn hoạt động, đối tượng tác chiến, phù hợp với tổ chức biên chế, sự phát triển của VKTB và nghệ thuật quân sự Việt Nam, yêu cầu tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; tăng cường huấn luyện thực hành, huấn luyện theo nhiệm vụ, tình huống, nâng cao khả năng cơ động tác chiến trong điều kiện địa hình, thời tiết phức tạp, địch sử dụng vũ khí công nghệ cao; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với luyện tập, diễn tập; xây dựng tinh thần quyết chiến, quyết thắng, tin tưởng vào thắng lợi của cách đánh, VKTB hiện có.

Đồng thời, tăng cường nghiên cứu, biên soạn, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống tài liệu huấn luyện cho các đối tượng, nhất là tài liệu huấn luyện cho các lực lượng mới thành lập; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, thực hành huấn luyện, diễn tập; tăng cường kết hợp giữa diễn tập chiến dịch, chiến lược với diễn tập chiến thuật, diễn tập vòng tổng hợp; kết hợp giữa diễn tập tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng với tác chiến của LLVT địa phương trong khu vực phòng thủ các cấp nhằm nâng cao năng lực tham mưu, chỉ huy tác chiến của cán bộ và trình độ, khả năng SSCĐ của các phân đội; đặc biệt chú ý công tác kiểm tra, rút kinh nghiệm luyện tập, diễn tập, nhất là rút kinh nghiệm phối hợp, hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng trong khu vực phòng thủ, nhằm nâng cao khả năng phòng tránh, đánh trả, bảo toàn lực lượng thời kỳ đầu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và khả năng tham gia ứng phó, khắc phục thảm họa thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, chống biến đổi khí hậu trong tình hình mới.

Bốn là, đầu tư nâng cao chất lượng và đồng bộ VKTB hiện có cho Quân đội phù hợp với tổ chức, biên chế và Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam.

Sức mạnh của Quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó, con người là yếu tố quyết định, VKTB là yếu tố rất quan trọng. Những năm gần đây, cùng với mua sắm và đẩy mạnh sản xuất, chế tạo, nhiều loại vũ khí, khí tài, nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại được đưa vào khai thác, sử dụng, góp phần nâng cao khả năng, sức mạnh SSCĐ của Quân đội.

Phát huy kết quả đạt được, Bộ Chính trị, QUTƯ chỉ đạo các cơ quan Bộ Quốc phòng cần bám sát chủ trương của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tổ chức thực hiện chặt chẽ công tác đầu tư, mua sắm, sản xuất, cải tiến, hiện đại hóa VKTB kỹ thuật; nâng cao năng lực làm chủ công nghệ sửa chữa, khai thác, sử dụng các loại VKTB kỹ thuật thế hệ mới, hiện đại. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án mua sắm, sản xuất, cải tiến, hiện đại hóa VKTB kỹ thuật, phù hợp với khả năng của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ của LLVT.

Trong đó, tập trung nghiên cứu, đầu tư trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật, khí tài hiện đại cho một số lực lượng, như: Hải quân, Phòng không-Không quân, Tác chiến điện tử, Thông tin liên lạc, Trinh sát kỹ thuật và Cảnh sát biển; đồng thời, đẩy nhanh lộ trình từng bước hiện đại hóa VKTB cho các lực lượng khác. Thực hiện chính sách mở rộng đa phương với nhiều nước trên thế giới để có nhiều lựa chọn trong mua sắm VKTB công nghệ cao, phù hợp với khả năng kinh tế và xu hướng phát triển khoa học-công nghệ. Hợp tác kỹ thuật quân sự phát triển tốt cả bề rộng lẫn chiều sâu, từng bước chuyển dần từ mua sắm sang hợp tác nghiên cứu khoa học-công nghệ, chuyển giao công nghệ sản xuất, sửa chữa, cải tiến, tăng hạn VKTB, đáp ứng với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Chiến thắng Tây Nguyên đã tròn 50 năm, nhưng những chỉ đạo chiến lược sắc bén, đúng đắn, sáng tạo, kịp thời của Bộ Chính trị, QUTƯ và những bài học quý được rút ra từ Chiến dịch Tây Nguyên vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Các cấp ủy đảng, cán bộ chỉ huy cơ quan, đơn vị các cấp trong toàn quân, nhất là cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo vào huấn luyện, SSCĐ và chiến đấu, xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

 

Hôm nay (5-3), tổ chức hội thảo khoa học về Chiến thắng Tây Nguyên.

 Hôm nay (5-3), tại TP Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Tỉnh ủy Đắk Lắk tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Chiến thắng Tây Nguyên 1975 và nửa thế kỷ xây dựng, phát triển Đắk Lắk”.

Cách đây 50 năm, thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị về giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, quân và dân miền Nam mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 bằng Chiến dịch Tây Nguyên. Hội thảo là một trong những hoạt động thiết thực kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Tây Nguyên hướng đến kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025).

Đây là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại truyền thống đấu tranh anh dũng, quật cường của dân tộc; tri ân công lao của những người con anh hùng đã ngã xuống, đóng góp cho thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Hội thảo cũng là dịp để quân dân tỉnh Đắk Lắk đánh giá và nhìn lại chặng đường xây dựng, phát triển tỉnh nhà sau 50 năm Chiến thắng Tây Nguyên; đề ra những chủ trương, giải pháp xây dựng, phát triển tỉnh Đắk Lắk giàu đẹp và bản sắc. Qua đó tôn vinh và khẳng định giá trị của Chiến thắng Tây Nguyên đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trước đó, chiều 4-3, Ban chỉ đạo hội thảo do Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban chỉ đạo hội thảo làm trưởng đoàn đã tổ chức lễ viếng các anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Đắk Lắk. Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam đến thăm Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk, trao kinh phí hỗ trợ xây dựng 5 nhà tình nghĩa, 10 nhà đại đoàn kết với tổng số tiền 1 tỷ đồng và tặng quà 50 gia đình chính sách, có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Cùng ngày, đoàn công tác Ban chỉ đạo hội thảo do Trung tướng Trương Thiên Tô, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam làm trưởng đoàn tới thăm, tặng quà các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh và người có công tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Đối ngoại Việt Nam: Tiếp nối thành quả to lớn của 80 năm trưởng thành cùng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

 Xuyên suốt chiều dài lịch sử 80 năm độc lập của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược mà Đảng xác định. Trước thềm kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, trước thách thức, cơ hội mới, đối ngoại Việt Nam sẽ tiếp nối truyền thống, tiếp nối thành quả đã đạt được trong chặng đường tám thập niên qua, tiếp tục đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

1- Đầu thế kỷ XX, sự kiện người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp năm 1918, đồng sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 đã đánh dấu sự khởi đầu hoạt động đối ngoại của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành độc lập dân tộc năm 1945, các hoạt động đối ngoại đảng, đối ngoại nhân dân do Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà cách mạng, yêu nước Việt Nam thực hiện đã đóng vai trò quan trọng trong việc đưa cách mạng Việt Nam tiếp cận với tư tưởng cách mạng tiến bộ, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các đảng cộng sản lớn, như Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Pháp và các lực lượng tiến bộ. Cùng với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 80 năm qua, nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam ngày càng trưởng thành, đóng góp hiệu quả vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng qua các thời kỳ, hình thành nên nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Trong thời kỳ 30 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ (1945 - 1975), đối ngoại đã phát huy tích cực vai trò, kết nối Việt Nam và thế giới, thực sự trở thành một mặt trận chiến lược, một mũi giáp công, huy động được nguồn lực quốc tế to lớn phục vụ đất nước. Đối ngoại đã góp phần quan trọng vào công tác tham mưu chiến lược trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình quốc tế, khu vực, “biến nguy thành cơ”. Đảng ta đã nhận thức và nắm bắt được thời cơ chiến lược mà bối cảnh quốc tế mang lại(1), từ đó đề ra quyết sách đúng đắn, kịp thời, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đứng lên giành chính quyền, huy động sức mạnh của lực lượng tiến bộ thế giới. Với tinh thần thêm bạn bớt thù(2), “thống nhất bên trong, tìm bạn bên ngoài”(3), hoạt động ngoại giao đã giúp Việt Nam mở rộng kết nối, phá thế bị bao vây, cô lập. Sau tuyên bố sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam (ngày 14-1-1950) và các chuyến công du quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước để mở rộng kết nối, phá thế bị bao vây, cô lập, Trung Quốc, Liên Xô và một loạt nước dân chủ nhân dân đã lần lượt công nhận, đặt quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam(4).  

Việt Nam đã tranh thủ được sự giúp đỡ, ủng hộ quý báu của bạn bè yêu chuộng hòa bình, các lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc và tiến bộ trên thế giới; đưa dòng thác cách mạng Việt Nam hòa vào làn sóng cách mạng thế giới. Trên thế giới, đã hình thành một mặt trận nhân dân rộng khắp, trong đó có cả nhân dân Mỹ và đông đảo chính khách, học giả, nhân sĩ nổi tiếng thế giới, phản đối chiến tranh, đoàn kết, ủng hộ Việt Nam. Bạn bè quốc tế, nhất là Liên Xô, Trung Quốc, đã dành cho Việt Nam sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn về tinh thần, vật chất, đào tạo cán bộ, giúp Việt Nam giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến. Việt Nam đã hình thành liên minh chiến đấu với Lào và Cam-pu-chia trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, đẩy mạnh giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân Lào, Cam-pu-chia, tăng cường đoàn kết giúp đỡ giữa nhân dân ba nước.

Trong thời kỳ này, đối ngoại, ngoại giao đã phát triển lên một tầm vóc mới, phối hợp chặt chẽ với các bước tiến quân sự trên chiến trường trong quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đạt đến đỉnh cao nghệ thuật đánh - đàm trong đàm phán, ký kết Hiệp định Pa-ri năm 1973. Việt Nam đã xây dựng nền ngoại giao đặc sắc “tuy hai mà một, tuy một mà hai” giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam; phát huy và phối hợp chặt chẽ các mối quan hệ của Đảng với các đảng cộng sản, các nước xã hội chủ nghĩa, các mối quan hệ về mặt nhà nước, hoạt động vận động nhân dân thế giới; thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, tranh thủ được xu thế hòa bình, trung lập và sự ủng hộ to lớn của bạn bè, nhân dân thế giới.

Đối ngoại, ngoại giao thời kỳ này đã đóng góp lớn cả về lý luận và thực tiễn, qua đó Đảng ta từng bước khái quát nên hệ thống quan điểm lý luận đối ngoại, bao gồm quan điểm về xu thế lớn trong sự vận động của thế giới, các lực lượng trên trường quốc tế, cách nhìn “đối tác”, “đối tượng”, lợi ích quốc gia - dân tộc, định vị Việt Nam, đoàn kết dân tộc - đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển và xây dựng nền đối ngoại, ngoại giao với ba trụ cột đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân. Quá trình triển khai đã để lại nhiều bài học quý báu cho nền ngoại giao Việt Nam:  phải nhận thức, đánh giá chính xác về tình hình thế giới, thời cuộc, về tình hình, sức mạnh trong nước; kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa yêu nước và cuộc đấu tranh của dân tộc với chủ nghĩa quốc tế; phát huy và tranh thủ sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại, nhưng dựa vào sức mình là chính; vận dụng khéo léo phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, lấy việc bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu cao nhất của mọi hoạt động.

Trong thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 1986), Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh, mở rộng quan hệ với các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện với Liên Xô, cải thiện quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam Á, đấu tranh giữ vững an ninh biên giới Tây Nam, giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi thảm họa diệt chủng, củng cố sự đoàn kết, gắn bó keo sơn, mối quan hệ đặc biệt với Lào và Cam-pu-chia, bảo vệ biên giới phía Bắc. Việt Nam kiên trì khôi phục quan hệ hữu nghị và láng giềng với Trung Quốc, đấu tranh chống cấm vận của chính quyền Mỹ, phát triển quan hệ với các nước dân tộc chủ nghĩa, không liên kết, có một số bước đi mở rộng quan hệ với các nước tư bản phát triển và các tổ chức quốc tế. Đây cũng là giai đoạn Việt Nam trở thành thành viên của một loạt tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế lớn, như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF, năm 1956), Ngân hàng Thế giới (WB, năm 1956), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB, năm 1976), Phong trào Không liên kết (NAM, năm 1976), Liên hợp quốc (năm 1977), Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV, năm 1978).

Việt Nam đã tranh thủ được nguồn viện trợ đáng kể từ các nước xã hội chủ nghĩa, các tổ chức quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với một số nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, góp phần khôi phục đất nước sau chiến tranh, phát huy vai trò trên trường quốc tế. Việt Nam cũng thực hiện được mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền biên giới quốc gia, bảo vệ thành quả cách mạng, làm thất bại âm mưu chống phá Đảng, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động. Việc triển khai quan hệ với các nước trong khu vực góp phần tạo nền tảng thuận lợi để thúc đẩy hoạt động đối ngoại giai đoạn sau, hướng tới xây dựng Đông Nam Á trở thành khu vực hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Nỗ lực không ngừng nghỉ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong giai đoạn tái thiết đất nước sau năm 1975, từ cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới cho đến tích cực giải quyết vấn đề, vướng mắc với các nước láng giềng, cải thiện quan hệ với các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), bước đi đầu tiên trong đàm phán bình thường hóa quan hệ với Mỹ và các nước phát triển phương Tây đã đặt nền móng để Việt Nam tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại với các quốc gia có chế độ chính trị và kinh tế khác biệt, từng bước đạt được thành tựu đối ngoại đột phá, có tính lịch sử trong thời kỳ mới.

Thời kỳ đổi mới đất nước (năm 1986 đến nay) diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế biến động lớn. Tác động sâu rộng nhất, trực tiếp nhất, trực diện nhất đối với Việt Nam là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô Viết ở Liên Xô và một số nước Đông Âu, thế giới chuyển dần từ trật tự hai cực sang trật tự đa cực, đa trung tâm. Trong quan hệ quốc tế, hợp tác và cạnh tranh, đối tác và đối tượng ngày càng đan xen; tập hợp lực lượng ngày càng đa dạng. Thành tựu vượt bậc của cách mạng khoa học - kỹ thuật thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, hình thành xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức. Các nước coi trọng, ưu tiên phát triển kinh tế, gắn an ninh với phát triển. Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, nổi lên là khu vực phát triển năng động, ngày càng quan trọng cả về kinh tế và chính trị - an ninh, nhưng còn hiện hữu nhiều nhân tố gây mất ổn định.

Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã hình thành và không ngừng hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; là bạn, thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta đã đạt được kết quả hết sức quan trọng, nổi bật.

Một là, tiếp tục góp phần phá thế bị cô lập, bao vây, cấm vận, tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa; mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với tất cả nước láng giềng, các nước lớn, đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống(5).

Hai là, tạo dựng được môi trường quốc tế thuận lợi và huy động được nguồn lực từ bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội. Từ một nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam trở thành một nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa liên kết kinh tế sâu rộng(6). Đối ngoại, ngoại giao đã tích cực phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành huy động nguồn lực quan trọng cho phát triển, như đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), viện trợ phát triển chính thức (ODA); đưa Việt Nam trở thành mắt xích trong nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu. Ngoại giao kinh tế ngày càng trở thành một ưu tiên trong chiến lược đối ngoại, tạo ra cơ hội lớn cho nền kinh tế, giúp thúc đẩy xuất khẩu, thu hút FDI và mở rộng thị trường tiêu thụ. Việc chủ động tham gia các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế lớn, như Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cũng góp phần tạo cơ hội để Việt Nam tham gia xây dựng quy tắc thương mại quốc tế công bằng, minh bạch.

Ba là, đóng vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; cùng với quốc phòng, an ninh tăng cường bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, từ khi nước chưa nguy. Vấn đề biên giới với các nước liên quan từng bước được giải quyết, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để bảo vệ chủ quyền, giữ vững đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực. Việt Nam đã xử lý thỏa đáng vấn đề nảy sinh trên biển, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích của đất nước; kiên trì giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, kiên trì chủ trương giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

Bốn là, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với phát triển và an ninh của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ Việt Nam đã xác lập vào thực chất; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện, sâu rộng. Chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế hợp tác đa phương khu vực và quốc tế, nhất là ASEAN và Liên hợp quốc. Đẩy mạnh và đưa vào chiều sâu hợp tác quốc phòng - an ninh; đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục -  đào tạo và lĩnh vực khác.

Năm là, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực và đầy tinh thần trách nhiệm vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới. Việt Nam đã tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế lớn, hoàn thành nhiều trọng trách quốc tế quan trọng(7); chủ động, tích cực đưa ra nhiều ý tưởng, sáng kiến, tham gia giải quyết vấn đề chung của khu vực và thế giới. Đối ngoại, ngoại giao đa phương Việt Nam đã thể hiện bước trưởng thành mạnh mẽ, chứng minh Việt Nam là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Việt Nam đã xây dựng hệ thống lý luận đối ngoại ngày càng toàn diện, đầy đủ, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm lớn về đối ngoại phù hợp với yêu cầu thực tiễn, phục vụ đắc lực cho việc củng cố cục diện đối ngoại. Hệ thống phương châm đối ngoại cũng được hoàn thiện để ngày càng đáp ứng với biến chuyển nhanh chóng của tình hình thế giới, khu vực và mục tiêu đối ngoại. Đồng chí cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đúc kết trường phái đối ngoại, ngoại giao mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” với đặc tính “gốc chắc, thân vững, cành uyển chuyển”, là sự kết tinh của nền đối ngoại Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hóa dân tộc, tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại.

Kết quả công tác đối ngoại sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới một lần nữa khẳng định lại giá trị của nhiều bài học đối ngoại qua các thời kỳ trước cũng như mang lại nhiều bài học quý giá mới. Một là, bài học về sự lãnh đạo thống nhất, tuyệt đối của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với công tác đối ngoại; luôn đổi mới tư duy, chủ động nghiên cứu, dự báo sát, đúng tình hình, kịp thời ban hành quyết sách, chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp. Hai là, bài học về nhận diện và đón bắt thời cơ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam là bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Ba là, bài học kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược. Nguyên tắc là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sách lược là cơ động, linh hoạt điều chỉnh tùy theo vấn đề, tùy từng thời điểm và tùy theo đối tượng hay đối tác, tuân thủ tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “thêm bạn bớt thù”, “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Bốn là, xử lý hài hòa các mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế, đối tác và đối tượng, hợp tác và cạnh tranh. Năm , bài học về công tác đào tạo cán bộ, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại từ Trung ương đến địa phương.

2- Thực tiễn 80 năm qua là một căn cứ để phát triển quan điểm, tầm nhìn về đối ngoại, ngoại giao trong thời đại mới; là tiền đề để đưa nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam lớn mạnh cả về tầm vóc, hiệu lực, hiệu quả, góp phần tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa Việt Nam với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giúp Việt Nam tích lũy đủ thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Sau gần 80 năm lập nước và gần 40 năm Đổi mới dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản, Việt Nam đang đứng trước khởi điểm lịch sử mới, kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc Việt Nam”(8). Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Tổng Bí thư Tô Lâm cũng chỉ rõ: “Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, từ đây, mọi người dân Việt Nam, hàng trăm triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng tâm hiệp lực, chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh”(9).

Thế giới đang bước vào một giai đoạn mới với chuyển động rất nhanh, mạnh, phức tạp. Trật tự “đa cực, đa trung tâm” nổi lên ngày càng rõ nét; các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đẩy mạnh cạnh tranh chiến lược, kiềm chế lẫn nhau, đẩy mạnh liên kết, tập hợp lực lượng, quyết tâm giành vị thế và lợi ích… Xung đột dân tộc, tôn giáo, hoạt động khủng bố, chiến tranh cục bộ, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, tài nguyên diễn ra dưới hình thức mới, gay gắt hơn... Sự phân mảnh kinh tế và cạnh tranh - địa - chính trị ngày càng gia tăng, trong khi các vấn đề toàn cầu, như biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng và dịch bệnh đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ từ cộng đồng quốc tế. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với tiến bộ vượt bậc trong công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (big data) đã mở ra tiềm năng phát triển vượt bậc cho các nước đi sau, các nước đang phát triển để tận dụng thành tựu phát triển của nhân loại, thông qua hội nhập, huy động và phân bổ hiệu quả hơn nguồn lực, tiếp nhận kiến thức, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế, thực hiện “đi tắt, đón đầu”, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển nhanh và bền vững.

Để vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đối ngoại Việt Nam cần có sự hoàn thiện liên tục về nhận thức, đổi mới sáng tạo về tư duy, chủ động, khéo léo trong biện pháp để thực hiện tốt vai trò kiến tạo, định hình cục diện đối ngoại thuận lợi, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển.

Thứ nhất, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác đối ngoại, ngoại giao, phát huy sức mạnh của đối ngoại trên cả ba trụ cột đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Đây là một trong những bài học quan trọng nhất mà ngoại giao Việt Nam sớm rút ra và luôn quán triệt trong suốt 80 năm trưởng thành và phát triển của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thành tựu đối ngoại trong chặng đường vừa qua càng chứng minh sự đúng đắn và sáng suốt của Đảng ta trong việc kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định lợi ích cao nhất cho đất nước, nhân dân. Trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục nâng cao và thống nhất về nhận thức, hành động; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để tăng cường hiệu quả công tác đối ngoại; xác định đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đưa đối ngoại, ngoại giao lan tỏa vào từng mạch phát triển quan trọng của đất nước, đi sâu vào mọi mặt của đời sống chính trị đất nước. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và nhịp nhàng trên mặt trận đối ngoại dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng vì mục tiêu chung là lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm tính tổng thể, gắn kết, tuân thủ mục tiêu, định hướng chung, đồng thời phù hợp với ưu tiên đối ngoại ở từng thời điểm và địa bàn cụ thể. Trong triển khai hoạt động đối ngoại, cần phát huy vai trò, tính đặc thù, phù hợp với đặc điểm, thế mạnh của mỗi trụ cột đối ngoại trên cơ sở nhận thức rõ đặc trưng của từng trụ cột, về lực lượng, không gian, công cụ cũng như cách thức triển khai, trong đó thế mạnh về truyền thống quan hệ lâu dài, gắn bó, thủy chung của đối ngoại đảng cần kết hợp chặt chẽ với khả năng hội nhập năng động, tích cực, toàn diện, tính hiệu lực, hiệu quả cao của ngoại giao nhà nước và sức lan tỏa, thuyết phục dựa trên sức mạnh chính nghĩa của đối ngoại nhân dân.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện tư duy và tăng cường sự phối hợp giữa ngoại giao với an ninh, phát triển. Với nền tảng là những thành tựu vĩ đại của 80 năm lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thực tiễn gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam có thể tự tin về khả năng bảo đảm an ninh đối ngoại của đất nước. Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam cần phát triển toàn diện hơn tư duy biện chứng về an ninh và phát triển, trong đó đối ngoại góp phần bảo đảm vững chắc môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển, đồng thời phát triển cần được xem là mục tiêu ưu tiên và cũng là điều kiện, tiền đề bảo đảm an ninh cho đất nước. Về tổng thể, đối ngoại cần phối hợp chặt chẽ với quốc phòng - an ninh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giải quyết vấn đề trên biển theo luật pháp quốc tế, duy trì môi trường hòa bình ở khu vực; đồng thời, tăng cường quan hệ với các nước để tạo thế đan xen lợi ích chiến lược, góp phần củng cố quốc phòng - an ninh. Trong quan hệ với các nước lớn và nhóm nước lớn, Việt Nam cần đặc biệt coi trọng, vừa bảo đảm độc lập, tự chủ, thực hiện ưu tiên của chính sách đối ngoại, vừa xử lý khôn khéo, thúc đẩy hài hòa các mối quan hệ, hóa giải “từ sớm, từ xa” tác động bất lợi, đồng thời tranh thủ khai thác tiềm lực kinh tế, tạo đột phá trong quan hệ kinh tế. Trong quan hệ với các nước láng giềng, Việt Nam cần tiếp tục củng cố phên giậu an ninh và phát triển liền kề thông qua các mối quan hệ song phương và trong khuôn khổ ASEAN, đồng thời đóng góp tích cực và phát huy vai trò trong ASEAN, nhất là trong vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế và phát triển để tăng cường hội nhập toàn diện và sâu rộng trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN cũng như giữa ASEAN với mạng lưới đối tác bên ngoài.

Thứ ba, tiếp tục thúc đẩy ngoại giao kinh tế. Trên cơ sở xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tiếp tục khai thác tối đa lợi ích của hiệp định thương mại tự do, đầu tư hiện có, nhất là thị trường, lĩnh vực chưa được khai thác; khai mở nguồn đầu tư, tài chính mới, thị trường mới, nhất là nguồn lực từ các khu vực, như Trung Đông, Mỹ La-tinh hay doanh nghiệp, quỹ đầu tư lớn; giải quyết dự án lớn tồn đọng, từ đó tạo đòn bẩy thu hút dự án mới; tiếp tục rà soát, đôn đốc triển khai cam kết, thỏa thuận quốc tế, cụ thể hóa khuôn khổ quan hệ vừa được nâng cấp với đối tác thành chương trình, dự án hợp tác kinh tế thiết thực, hiệu quả. Đồng thời, tiếp tục nhận diện, tranh thủ cơ hội từ xu hướng kinh tế mới đang định hình, như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng; tạo lập hợp tác sâu rộng với trung tâm đổi mới sáng tạo của thế giới trong lĩnh vực mang tính đột phá, như công nghệ cao, bán dẫn, AI, lượng tử để góp sức thúc đẩy động lực tăng trưởng mới, đột phá vào lĩnh vực mới, tạo đà cho bước phát triển đột phá của đất nước.

Thứ tư, phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại, ngoại giao trên tất cả lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, y tế, môi trường, góp phần vào tăng trưởng bền vững, duy trì sự phát triển lành mạnh, ổn định, góp sức để ứng phó với các thách thức toàn cầu mới, như biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh tài nguyên, an ninh môi trường, an ninh mạng. Việt Nam có nhiều điều kiện mới thuận lợi để phát huy mạnh mẽ ngoại giao văn hóa trên cơ sở xây dựng nội lực văn hóa, phát triển một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng hình ảnh một nước Việt Nam văn minh, giàu truyền thống, nâng “sức mạnh mềm” quốc gia lên một tầm cao mới. Bên cạnh đó, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, khơi dậy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, khát vọng phát triển, nâng cao niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế để duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại ngang tầm nhiệm vụ. Cán bộ đối ngoại là đại diện của dân tộc, của Đảng, Nhà nước, văn hóa, khí phách và cốt cách con người Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam cần chú trọng nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư vào công tác đào tạo và đào tạo lại, xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, ở trong nước phải là chuyên gia, là “từ điển” đối với lĩnh vực, địa bàn mình phụ trách, khi ra nước ngoài phải là chuyên gia về Việt Nam; đồng thời, bảo đảm cơ chế, chính sách phù hợp để cán bộ yên tâm cống hiến, xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại thực sự tinh nhuệ, có năng lực cao, đáp ứng tốt yêu cầu của thời đại mới.

Trải qua 80 năm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng với thành tựu đáng tự hào, đối ngoại Việt Nam luôn giữ vững vai trò quan trọng trong việc tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định và thúc đẩy hội nhập quốc tế. Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khi ý Đảng hòa quyện với lòng dân trong khát vọng đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới, đối ngoại càng khẳng định vai trò chiến lược, trở thành mặt trận tiến công mũi nhọn, giúp Việt Nam nâng cao vị thế, mở rộng hợp tác quốc tế, làm tiền đề để củng cố sức mạnh tổng hợp quốc gia. Với ba trụ cột chính là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, nền ngoại giao toàn diện, hiện đại của Việt Nam ngày càng phát huy sức mạnh tổng hợp, tiếp tục đóng góp quan trọng giúp đất nước tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, vững tin bước vào một tương lai phồn vinh, hạnh phúc, thịnh vượng, đi lên chủ nghĩa xã hội, sánh vai với các cường quốc năm châu ./.

 

 

 

ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC, CỦNG CỐ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỚI NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN”

 


 

Xây dựng “thế trận lòng dân” là quá trình phát huy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí, niềm tin, quyết tâm của toàn dân tộc, tạo thành nền tảng chính trị - tinh thần vững chắc để huy động sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Do đó, để phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”, cần đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Việc đẩy mạnh xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ có vai trò quan trọng, để Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh” xứng đáng với niềm tin của nhân dân, là bộ tham mưu chiến đấu và tiên phong của cách mạng, hạt nhân quy tụ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân. Tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Đẩy mạnh các giải pháp hiện thực hóa chủ trương xây dựng Chính phủ “đổi mới, liêm chính, kỷ cương, hành động, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ”; đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; khắc phục việc đề xuất, ban hành những chính sách kém hiệu quả, không hợp với lòng dân, gây bức xúc dư luận.

Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; củng cố vững chắc hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, để thực sự gần dân và hiểu dân; chăm lo củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Duy trì nghiêm kỷ cương, pháp luật, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhằm củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

NÂNG CAO NHẬN THỨC, TRÁCH NHIỆM CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ TOÀN DÂN VỀ CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” TRONG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

 


Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, quyết định đến việc xây dựng “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân. Bởi lẽ, có nhận thức đúng đắn về chủ trương xây dựng “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân mới nâng cao được nhận thức về trách nhiệm và có được hành động đúng đắn. 

Do đó, cần quán triệt sâu rộng trong hệ thống chính trị và nhân dân về chủ trương xây dựng “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Bên cạnh đó, cần phát huy dân chủ rộng rãi, tạo đồng thuận, nhất trí cao trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. 

Yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp nắm chắc nội dung, yêu cầu xây dựng “thế trận lòng dân” của từng địa phương để có biện pháp giáo dục, quán triệt cho phù hợp. Chú trọng đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục chuyên đề gắn với các sự kiện chính trị của đất nước. Phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, phương tiện thông tin, truyền thông và thiết chế văn hóa để giáo dục, tuyên truyền. Đẩy mạnh các phong trào thi đua nhằm xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến về xây dựng “thế trận lòng dân”.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NHẤN MẠNH VIỆC PHÁT HUY MẠNH MẼ “THẾ TRẬN LÒNG DÂN”

 


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không chỉ tiếp tục khẳng định vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân” mà còn bổ sung thêm vấn đề phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. Việc khẳng định phải xây dựng, phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân không chỉ phù hợp với vị trí, vai trò của “thế trận lòng dân” mà còn phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Thứ nhất, xuất phát từ vị trí, vai trò “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. “Thế trận lòng dân” là nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở nước ta hiện nay. Sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân phụ thuộc rất lớn vào “thế trận lòng dân”. “Thế trận lòng dân” là nguồn mạch để động viên mọi lực lượng của đất nước đấu tranh cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; là chỗ dựa vững chắc, là niềm tin cho mọi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, sẵn sàng xả thân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chỉ có “thế trận lòng dân” vững chắc mới quy tụ được lòng người, quy tụ được lực lượng vật chất và tinh thần, tạo nên sức mạnh to lớn bảo đảm cho thắng lợi chung của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Nếu không tạo được “thế trận” và để “lòng dân” ly tán thì đó chính là nguy cơ mất nước trước sự xâm lăng của các thế lực bên ngoài.

Thứ hai, xuất phát từ thực trạng xây dựng “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, nhất là thường xuyên chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần quan trọng vào việc quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, việc xây dựng “thế trận lòng dân”, nhất là hiện thực hóa các nội dung xây dựng “thế trận lòng dân” còn có mặt hạn chế. Đặc biệt, những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng, quản lý, điều hành xã hội của Nhà nước; những biểu hiện thiếu chuẩn mực đạo đức, giá trị văn hóa, lối sống trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc và giá trị con người Việt Nam… làm ảnh hưởng đến sự đồng thuận, gắn kết trong xã hội, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận nhân dân, tác động không nhỏ đến quá trình xây dựng “thế trận lòng dân”.

Thứ ba, xuất phát từ tình hình thế giới, khu vực, trong nước và mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học - công nghệ, bên cạnh những thuận lợi, như xu hướng hòa bình và hợp tác giữ vai trò chủ đạo tạo điều kiện cho việc mở rộng quan hệ, hợp tác trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân; tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến; nâng cao trình độ nguồn nhân lực,… cũng có không ít những thách thức đặt ra đối với quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đáng chú ý là tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp; các vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống, như xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, tội phạm xuyên quốc gia, thiên tai, dịch bệnh, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch... Tình hình đó càng cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, niềm tin và khát vọng phát triển để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC.

 

Về vị trí “thế trận lòng dân” được đặt lên hàng đầu trong mối quan hệ với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Đây không đơn thuần là sự sắp xếp cơ học mà đó là sự khẳng định, bổ sung, có sự phát triển mới về tư duy của Đảng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn.

Thứ nhất, xuất phát từ truyền thống dân tộc, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dânTrong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta phải thường xuyên chống lại những kẻ thù to lớn, hung bạo. Nguyên nhân cơ bản giúp dân tộc ta đánh thắng mọi kẻ thù mà tiềm lực quân sự lớn mạnh hơn rất nhiều lần là bởi chúng ta luôn ý thức rất rõ vai trò to lớn, yếu tố quyết định thắng lợi chính là sức mạnh của “lòng dân”. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ rõ, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử và quyết định sự phát triển của lịch sử. V.I. Lênin khẳng định: “Cuộc cách mạng chỉ thực sự là một cuộc cách mạng khi nào hàng chục triệu người đồng lòng hăng hái nổi dậy”. Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của nhân dân vào thực tiễn Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của “lòng dân”. Người luôn khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo Người, trong xã hội muốn thành công phải có đủ 3 điều kiện là: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Ba điều kiện này đều quan trọng, nhưng quan trọng nhất là “nhân hòa”, nghĩa là mọi người đều nhất trí, đồng lòng. Từ đó, Người khẳng định một chân lý: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”;

Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ giữa “thế trận lòng dân” với “thế trận quốc phòng toàn dân” và “thế trận an ninh nhân dân”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 khẳng định: “Nền quốc phòng toàn dân được xây dựng trên nền tảng “thế trận lòng dân”, biểu hiện ở lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, sự đồng thuận, tin tưởng tuyệt đối của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, về chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, vào khả năng và sức mạnh tổng hợp của đất nước, sức mạnh vô địch của nhân dân và của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Như vậy, “thế trận lòng dân” là yếu tố nền tảng, quyết định “thế trận quốc phòng toàn dân” và “thế trận an ninh nhân dân”. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân bao gồm 3 yếu tố: xây dựng tiềm lực, xây dựng lực lượng và xây dựng thế quốc phòng toàn dân, trong đó “thế trận lòng dân” là yếu tố quan trọng nhất trong xây dựng thế quốc phòng toàn dân. Đó là sự kế thừa tư tưởng “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN”

 



Trước Đại hội X của Đảng (năm 2006), trong các văn kiện chính thức, Đảng ta chưa sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân”, nhưng tư tưởng, quan điểm phát huy sức mạnh “lòng dân”, “dựa vào dân”, “lấy dân làm gốc”, “đoàn kết toàn dân tộc” luôn nhất quán, xuyên suốt trong đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng. 


Đại hội X của Đảng lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân” để nhấn mạnh nhiệm vụ “xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt”. 


Đại hội XI của Đảng (năm 2011) chỉ rõ: “Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc”. 


Đại hội XII của Đảng (năm 2016) một lần nữa nhấn mạnh nhiệm vụ: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 


Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) xác định: “Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”.

Bộ đội Biên phòng hết lòng vì dân.

 m trên tay phần quà nặng nghĩa tình do Đồn Biên phòng Lò Gò (Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh) trao tặng, bà Tiêu Thị Vân, 80 tuổi, ngụ tại xã Hòa Hiệp, huyện Tân Biên (Tây Ninh) phấn khởi bày tỏ:

“Thấu hiểu khó khăn của đồng bào vùng biên giới nên các chú Bộ đội Biên phòng luôn quan tâm động viên, tặng quà, hỗ trợ bà con những lúc khó khăn. Tình cảm ấy góp phần thắt chặt mối quan hệ đoàn kết quân dân càng thêm khăng khít”.

Tỉnh Tây Ninh có đường biên giới dài 240km tiếp giáp với Vương quốc Campuchia. Khu vực này có 21 dân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu là đồng bào Khmer.

Quán triệt chủ trương của Tỉnh ủy Tây Ninh tăng cường phát triển kinh tế-xã hội ở các xã vùng biên và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu, những năm qua, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh thường xuyên chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, nhất là các đồn biên phòng khu vực biên giới thực hiện tốt công tác vận động quần chúng, bám sát cơ sở, đồng hành với nhân dân dọc tuyến biên giới và đồng bào dân tộc thiểu số; triển khai thực hiện nhiều mô hình, phong trào, chương trình hiệu quả, như: “Xuân biên phòng ấm lòng dân bản”, “Biên cương đêm hội trăng rằm”, “Nâng bước em tới trường-Con nuôi đồn biên phòng”, “BĐBP chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau”...

Chỉ riêng Chương trình “Xuân biên phòng ấm lòng dân bản”, Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh và các đồn biên phòng trực thuộc đều đặn tổ chức vào dịp Tết Nguyên đán hằng năm tại 20 xã thuộc 5 huyện, thị xã biên giới, gồm: Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu, Châu Thành và thị xã Trảng Bàng. Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, BĐBP tỉnh Tây Ninh đã trao hơn 3.000 suất quà tặng gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số; tặng 200 suất học bổng “Nâng bước em tới trường” hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn các xã biên giới...

Thượng tá Võ Hoài Thanh, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Cửa khẩu Phước Tân chia sẻ: Tùy theo khả năng, điều kiện thực tế, các đồn biên phòng tích cực phối hợp với địa phương tổ chức Chương trình “Xuân biên phòng ấm lòng dân bản” để hỗ trợ, động viên nhân dân. Dịp Tết vừa qua, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Phước Tân phối hợp với UBND 3 xã: Hòa Hội, Hòa Thạnh và Thành Long (đều thuộc huyện Châu Thành) trao 200 phần quà tặng gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số; thăm, tặng quà 2 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 3 già làng, người có uy tín trong đồng bào dân tộc Khmer và 5 cháu học sinh trong Chương trình “Nâng bước em tới trường”.

Theo đồng chí Trương Văn Hoàn, Bí thư Huyện ủy Châu Thành: Phát huy truyền thống, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, ngoài nhiệm vụ chuyên môn, BĐBP tỉnh Tây Ninh nói chung và Đồn Biên phòng Cửa khẩu Phước Tân nói riêng luôn hết lòng vì dân, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng vùng biên an toàn, vững mạnh; đồng thời gắn bó mật thiết với nhân dân thông qua nhiều chương trình, hoạt động hữu ích, góp phần phát triển an sinh xã hội và chăm lo đời sống nhân dân khu vực biên giới ngày càng yên bình, ấm no. 

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Không vướng mắc nào có thể cản trở hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc​.

 Sáng 4-3, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tọa đàm với các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam nhằm thúc đẩy hợp tác, đầu tư, góp phần cùng Việt Nam tăng trưởng 8% trở lên trong năm 2025 và tăng trưởng 2 con số trong những năm tiếp theo.

Đây là cuộc làm việc thứ 9 của Thủ tướng Phạm Minh Chính với cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong vòng 1 tháng qua.

Dự tọa đàm có Phó thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc và Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng; Bộ trưởng, lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương; lãnh đạo một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam Choi Young Sam; Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam Ko Tae Yeon; lãnh đạo 35 doanh nghiệp Hàn Quốc tiêu biểu đang đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

Tại tọa đàm, Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam và lãnh đạo các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam đánh giá cao môi trường đầu tư, kinh doanh, nhất là thời gian qua, Việt Nam đã nỗ lực hoàn thiện thể chế pháp luật, sửa đổi, bổ sung nhiều luật, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh.

Đặc biệt là việc Thủ tướng rất quan tâm, thường xuyên có các cuộc gặp gỡ doanh nghiệp để lắng nghe, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp. Nhờ đó, qua khảo sát có 82% doanh nghiệp Hàn Quốc tin tưởng và mong muốn tiếp tục đầu tư, mở rộng đầu tư tại Việt Nam.

Phía Hàn Quốc cho biết sẵn sàng đồng hành cùng Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế, nhất là đầu tư vào các dự án quy mô lớn như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, Nhà máy điện hạt nhân, dự án trong lĩnh vực công nghệ cao, điện tử, trí tuệ nhân tạo, chíp bán dẫn, năng lượng xanh, công nghệ sinh học, vật liệu mới, đóng tàu, sản xuất ô tô, logistics, tài chính, dược phẩm; tiếp tục đẩy mạnh hỗ trợ phát triển cho Việt Nam.

Bày tỏ sự lo ngại về ảnh hưởng của việc một số nước thay đổi chính sách thương mại, phía Hàn Quốc đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương Việt Nam cần có giải pháp ứng phó hiệu quả trước những thay đổi chính sách thương mại của các nước; tiếp tục hoàn thiện và ổn định chính sách pháp luật, nhất là khung pháp lý về các ngành công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo (AI), chíp bán dẫn; thực thi hiệu quả chính sách thuế VAT, thuế xuất nhập khẩu nội địa. Việt Nam vận hành hiệu quả, giúp doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi hơn Quỹ hỗ trợ đầu tư; tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và quy trình thực thi; rút ngắn thời gian đưa ra quyết định, cấp phép đầu tư; đơn giản hóa việc cấp phép lao động; cải thiện dịch vụ logistics, ổ định cấp điện…

Cùng lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương trao đổi những vấn đề phía Hàn Quốc quan tâm, đề nghị, kết luận cuộc tọa đàm, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao Hàn Quốc, các doanh nghiệp Hàn Quốc đồng hành, chia sẻ, hợp tác chặt chẽ cùng Việt Nam trong quá trình phát triển và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, góp phần cùng Việt Nam thực hiện thành công mục tiêu đã đề ra.

Giao Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ tổng hợp, các bộ, ngành, địa phương Việt Nam khẩn trương trả lời, xử lý dứt điểm kiến nghị, đề xuất của doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dành nhiều thời gian phản hồi cụ thể về quan tâm, trăn trở, đề xuất của đại biểu.

Trong đó, trước quan tâm của các doanh nghiệp về quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ, chính sách của Hoa Kỳ và phản ứng, giải pháp của Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, Việt Nam và Hoa Kỳ là hai nền kinh tế bổ sung cho nhau, không cạnh tranh gay gắt mà cạnh tranh lành mạnh; hai nước là Đối tác chiến lược toàn diện, có nhiều duyên nợ, nhiều đặc điểm khác so với các đối tác khác.

Phía Việt Nam cũng đã chủ động, tích cực tiếp xúc với các cấp, ngành, doanh nghiệp của Hoa Kỳ để tiếp tục tăng cường hợp tác, hiểu biết lẫn nhau, chia sẻ thuận lợi và khó khăn, thúc đẩy hợp tác kinh tế ngang tầm quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện. Đồng thời, tích cực tháo gỡ các vướng mắc của các đối tác Hoa Kỳ một cách công bằng, hợp lý, đúng quy định, luật pháp của hai bên. Trong đó, rà soát các chính sách thuế hợp lý, hài hòa, bảo đảm lợi ích hai bên, đồng thời thúc đẩy thương mại theo hướng cân bằng hơn.

Với quan điểm, trong quan hệ với mỗi đối tác, trong mỗi thời kỳ khác nhau thì sẽ có những quan tâm và chia sẻ khác nhau, điều rất quan trọng là nắm chắc tình hình, phản ứng phù hợp, kịp thời, linh hoạt, hiệu quả, Thủ tướng cho rằng thế giới đang chứng kiến những biến đổi nhanh, khó lường với nhiều vấn đề mang tính khu vực, toàn cầu, mở ra nhiều cơ hội, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức với sự phát triển của mỗi quốc gia, khu vực, nhất là các nước đang phát triển, chậm phát triển. Điều này đòi hỏi phải có cách tiếp cận toàn diện, toàn dân, toàn cầu, tăng cường đoàn kết quốc tế, tỉnh táo đưa ra chính sách để ứng phó, lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ giữa các chủ thể để cùng chung sống, cùng phát triển trong môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

Thủ tướng nêu rõ, quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trải qua những thăng trầm và đột phá đã phát triển ngày càng tốt hơn, toàn diện hơn, tích cực hơn. Hiện có hơn 200 nghìn người Việt Nam tại Hàn Quốc và khoảng 200 nghìn người Hàn Quốc tại Việt Nam. Các doanh nghiệp Hàn Quốc hoạt động tại Việt Nam ngày càng nhiều với quy mô, lĩnh vực được mở rộng. Trong bối cảnh tổng đầu tư toàn cầu sụt giảm, đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam vẫn tăng.

Chia sẻ về những kết quả tích cực của Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội năm 2024, Thủ tướng cho biết môi trường đầu tư - kinh doanh của Việt Nam tiếp tục được cải thiện, được cộng đồng quốc tế, nhà đầu tư đánh giá tích cực. Quy mô nền kinh tế Việt Nam hiện xếp khoảng 33-34 thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế lớn đã nâng hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam, xếp hạng tín nhiệm ở mức “ổn định”, tăng 12 bậc; chỉ số phát triển Chính phủ điện tử tăng 15 bậc, chỉ số tự do kinh tế tăng 13 bậc, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu tăng 2 bậc, phát triển bền vững tăng 1 bậc, chỉ số phát triển con người (HDI) tăng 8 bậc, là top 50 quốc gia dẫn đầu về chỉ số an toàn thông tin mạng.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, Việt Nam đang tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực, trên tinh thần “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị và nhân lực thông minh” để giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Trong đó, đang rất tích cực tháo gỡ vướng mắc trong các luật, trong đó có nhiều nội dung mà các doanh nghiệp Hàn Quốc đã đề cập.

Cùng với đó, Việt Nam đẩy mạnh xây dựng hạ tầng chiến lược giao thông, logistics, hạ tầng năng lượng, điện bảo đảm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, hạ tầng số, hạ tầng xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục theo hướng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu; phát triển các ngành công nghiệp cơ bản, công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí… Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, quản trị thông minh, tiến hành cách mạng về tổ chức bộ máy, giảm khâu trung gian, xóa bỏ cơ chế xin cho, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; giảm phiền hà, sách nhiễu, giảm chi phí, thời gian cho người dân và doanh nghiệp.

Để phát triển nhanh, bền vững, Thủ tướng nêu rõ, Việt Nam đang tiếp tục xây dựng, triển khai các chính sách ưu đãi phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế sáng tạo; xây dựng chính sách thuế phù hợp tình hình, hài hòa lợi ích các bên; chính sách nội địa hóa, giảm phòng vệ thương mại; chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư… Mục tiêu cuối cùng là giữ vững độc lập, chủ quyền của đất nước, nhân dân ngày càng hạnh phúc và ấm no, cũng là môi trường tốt nhất cho nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các doanh nghiệp Hàn Quốc hoạt động hiệu quả, bền vững.

Người đứng đầu Chính phủ đề nghị các doanh nghiệp Hàn Quốc đã làm tốt rồi thì tốt hơn nữa việc tư vấn cho sự phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam; góp ý xây dựng về xây dựng thể chế thông thoáng, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; mở rộng đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, xác định Việt Nam là cứ điểm phát triển, là mắt xích quan trọng trong quá trình sản xuất, kinh doanh, chuỗi cung ứng góp phần đa dạng hóa chuỗi cung ứng của Hàn Quốc và kết nối chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu; thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến, tiến bộ khoa học kỹ thuật của Hàn Quốc vào Việt Nam, góp phần tăng tỷ lệ nội địa hóa; tăng cường trong hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, xem xét đưa chuyên gia, nhân lực chất lượng cao của Hàn Quốc sang làm việc tại Việt Nam; tích cực tiếp nhận công nhân lành nghề Việt Nam sang Hàn Quốc làm việc; chia sẻ kinh nghiệm quản trị hiện đại, thông minh, cải cách bộ máy phù hợp quy luật phát triển chung của thế giới, phù hợp hoàn cảnh của Việt Nam với bước đi chắc chắn.

Nhấn mạnh, doanh nghiệp Hàn Quốc tham gia hệ sinh thái sản xuất của Việt Nam; kết nối doanh nghiệp khởi nghiệp hai nước; tích cực tham gia và hỗ trợ Việt Nam xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu, phát triển, Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp Hàn Quốc đồng hành cùng Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam mở rộng đầu tư vào dự án công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch, có giá trị gia tăng cao, nhất là các ngành mới nổi. Trong đó phải kể đến công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng tái tạo, tài chính số, y tế sinh học, sản xuất thông minh; cùng với đó đẩy mạnh đầu tư hợp tác trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, các dự án bất động sản, phát triển kết cấu hạ tầng, viễn thông, phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và giải trí… mà hai bên có nhiềm tiềm năng, thế mạnh có thể bổ trợ cho nhau.

Thủ tướng khẳng định, Việt Nam cam kết luôn đồng hành, chia sẻ với doanh nghiệp, trong đó chia sẻ về ý tưởng, tầm nhìn, hành động, với “tầm nhìn xa, trông rộng, nghĩ sâu, làm lớn”; bảo đảm cho các doanh nghiệp Hàn Quốc kinh doanh đúng pháp luật, lành mạnh, hiệu quả năm sau cao hơn năm trước, thập kỷ sau cao hơn thập kỷ trước. Việt Nam sẵn sàng lắng nghe các ý kiến đóng góp, tăng cường sự hiểu biết, nâng cao hiệu quả hợp tác; mong các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư tại Việt Nam ngày càng trưởng thành dựa trên nền tảng quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện hai nước, trên tinh thần “cùng làm, cùng thắng, cùng phát triển”.

Thủ tướng khẳng định, Việt Nam luôn chủ động để hợp tác ngày càng chặt chẽ, hiệu quả, sâu rộng, thiết thực. “Không vướng mắc nào có thể cản trở hai bên. Do đó, hai bên cần lạc quan, tin tưởng vào triển vọng hợp tác; biến những điều này thành kết quả cụ thể, của cải vật chất cụ thể, hưởng thụ bình đẳng; mang lại cuộc sống ngày càng hạnh phúc, ấm no cho nhân dân hai nước”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Tổng Bí thư Tô Lâm: Xây dựng cơ chế chính sách, thu hút nguồn nhân lực cao trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số.

 Chiều 4-3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học-công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chủ trì phiên họp thứ 2 của Ban Chỉ đạo (BCĐ). Phiên họp nhằm xem xét, đánh giá tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 57/NQ-TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị, định hướng giải pháp thời gian tới.

Dự phiên họp có Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo; đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, thành viên Ban Chỉ đạo; lãnh đạo Tổ giúp việc của Ban Chỉ đạo và một số đơn vị liên quan.

Tại phiên họp, đại diện Văn phòng Trung ương Đảng đã trình bày Báo cáo tóm tắt tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị. Các thành viên BCĐ đã thảo luận và đóng góp nhiều ý kiến quan trọng, đánh giá những kết quả bước đầu, xem xét những vướng mắc, khó khăn; giải pháp để phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thay mặt BCĐ Trung ương, Tổng Bí thư Tô Lâm hoan nghênh công tác chuẩn bị bước đầu khẩn trương, tương đối kỹ lưỡng của Cơ quan Thường trực BCĐ, đánh giá cao những ý kiến đóng góp, trách nhiệm trong thảo luận. Sau hơn một tháng triển khai phiên họp thứ nhất của BCĐ, đã cơ bản hoàn thành nhóm các vấn đề về hoàn thiện nền tảng BCĐ, trong đó đã thành lập tổ giúp việc, hội đồng tư vấn quốc gia, quy chế hoạt động; kịp thời ban hành Nghị quyết số 193/2025/NQ-QH15 với 12 cơ chế, chính sách thí điểm để thể chế hóa Nghị quyết số 57 vào thực tiễn. Việc chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng bước đầu đã có những tích cực, mang lại nhiều lợi ích...

Bên cạnh kết quả đạt được, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại cần khắc phục, đó là: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nhận thức đổi mới tư duy quyết tâm chính trị còn chậm. Thể chế, cơ chế chính sách chưa hoàn thiện đồng bộ, còn những vướng mắc. Việc thiếu hụt nguồn nhân lực, nhất là nguồn lực chất lượng cao thành nguy cơ tạo thành điểm nghẽn. Việc đầu tư, hoàn thiện hạ tầng (đường truyền internet, 5G, cơ sở dữ liệu) và phát triển các công nghệ mới (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn,...) chưa được quan tâm đúng mức. Chuyển đổi số trong hoạt động các cơ quan, chất lượng dịch vụ công, số hóa còn hạn chế. Chưa chú trọng, mạnh dạn đưa sản phẩm KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào thực tiễn hoạt động quản lý, phục vụ người dân, doanh nghiệp, nhất là sản xuất, kinh doanh...

Tổng Bí thư Tô Lâm cơ bản đồng tình với các nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới, nhấn mạnh 2025 là năm khởi đầu, năm định hướng lộ trình triển khai các chính sách nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 57 tạo nền tảng cho sự phát triển vững chắc.

Tổng Bí thư yêu cầu trong quý 2-2025 và thời gian tới cần tập trung các nhiệm vụ trọng tâm, đó là: Gắn việc triển khai Nghị quyết 57 với tiếp tục triển khai Nghị quyết 18 để tái cấu trúc hệ thống quản lý từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đồng bộ. Khẩn trương hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách bảo đảm nguồn lực, nhân lực để triển khai Nghị quyết 57, đồng bộ, hiệu quả. Tập trung xây dựng, hoàn thiện hạ tầng số, nền tảng số, đặc biệt là trung tâm dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp, về đất đai. Mạnh dạn lựa chọn đưa các sản phẩm, các giải pháp ứng dụng KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số sớm đi vào thực tiễn.

Thường trực BCĐ cần tập trung chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, những kiến nghị vướng mắc của thành viên BCĐ; các đồng chí Phó trưởng ban chỉ đạo cần tham gia chỉ đạo triển khai các hoạt động của BCĐ; phát huy mạnh mẽ, hiệu quả vai trò của cơ quan thường trực hội đồng tư vấn quốc gia, tổ giúp việc...

Về nhiệm vụ cụ thể, đối với xây dựng, hoàn thiện thể chế, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu Đảng ủy Quốc hội và Đảng ủy Chính phủ theo chức năng nhiệm vụ cần tập trung xây dựng, sửa đổi, bổ sung các luật để trình Quốc hội xem xét thông qua đáp ứng yêu cầu Nghị quyết 57. Nghiên cứu phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho các công nghệ chiến lược; hoàn thiện thể chế và thành lập quỹ đầu tư cho phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Với nhiệm vụ phát triển hạ tầng công nghệ, dữ liệu ứng dụng, Tổng Bí thư đề nghị Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện hạ tầng số, nền tảng số bảo đảm phủ sóng mạng di động băng thông rộng 5G toàn quốc, đẩy mạnh triển khai internet vệ tinh. Sớm đưa trung tâm dữ liệu quốc gia vào vận hành; kịp thời tháo gỡ những rào cản về cơ chế, chính sách hạ tầng, nhân lực chất lượng cao cho phát triển...

Về phát triển trí tuệ nhân tạo, phải xác định công nghệ trí tuệ nhân tạo là công nghệ mũi nhọn, đột phá; có kế hoạch triển khai nghiên cứu, ứng dụng sớm. Về phát triển dữ liệu, có 3 điểm trọng tâm cần lưu ý đó là chất lượng cao, khả năng chia sẻ và bảo mật; yêu cầu quý 2-2025 phải hoàn thành rà soát cập nhật chiến lược dữ liệu quốc gia; hoàn thành triển khai xây dựng, khai thác sử dụng 114 cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành... 

Tổng Bí thư Tô Lâm cũng yêu cầu Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo xây dựng cơ chế chính sách, thu hút, phát triển nguồn nhân lực cao trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của KHCN, chuyển đổi số. Ban Tổ chức Trung ương sớm trình Ban Bí thư hướng dẫn kiện toàn, bố trí cán bộ có chuyên môn KHCN trong cấp ủy các cấp, hoàn thành trong tháng 5-2025.

Về hợp tác quốc tế, Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Bộ Ngoại giao phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng chiến lược hợp tác quốc tế về các công nghệ chiến lược. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tận dụng tối đa nguồn lực toàn cầu, ký kết các hiệp định hợp tác với các quốc gia tiên tiến về KHCN.

Về tổ chức thực hiện, Tỉnh ủy, Thành ủy lập BCĐ về phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số do Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy làm trưởng BCĐ. Xây dựng ban hành kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết 57 bảo đảm mục tiêu nhiệm vụ gắn với lộ trình sản phẩm cụ thể và yếu tố đặc thù địa phương. Các đồng chí phó BCĐ và thành viên BCĐ tập trung chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ được phân công; phát huy mạnh mẽ, thực chất, hiệu quả cơ quan thường trực hội đồng tư vấn quốc gia và tổ giúp việc của BCĐ.

Đảng ủy các cơ quan Trung ương dẫn dắt thúc đẩy, tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết 57 trong hệ thống các cơ quan đảng bảo đảm đồng bộ trong hệ thống chính trị... Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo rà soát, bổ sung các nhiệm vụ, giải pháp trong chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết 57 bảo đảm đồng bộ với các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết 57 và Nghị quyết 193 của Quốc hội theo hướng rõ việc, rõ sản phẩm, rõ cơ quan chịu trách nhiệm, thường xuyên kiểm điểm, đánh giá tiến độ, phát hiện các tồn tại, điểm nghẽn, kịp thời báo cáo Trung ương... 

Tổng Bí thư giao Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo chủ trì, phối hợp Hội đồng Tư vấn quốc gia trong tháng 4-2025 phải xây dựng và trình Trưởng ban chỉ đạo phê duyệt Kế hoạch triển khai Nghị quyết 57 bảo đảm tính hành động, hiệu quả, đo lường được và có cơ chế điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với thực tiễn.

THẾ NÀO LÀ “THUYẾT ÂM MƯU”

 

Hiện nay, trong đời sống xã hội cũng như trên cộng đồng mạng, chúng ta thường bắt gặp cụm từ “thuyết âm mưu”. Vậy, thuyết âm mưu là gì và bản chất của nó như thế nào mà được nhiều người quan tâm như vậy? Thuyết âm mưu có phải là học thuyết hay là lý thuyết không?

Căn cứ vào những nội dung hàm chứa của học thuyết cần có, “thuyết âm mưu” không phải là học thuyết. Học thuyết phải là những vấn đề được trình bày có hệ thống về một lĩnh vực nào đó như khoa học, chính trị, đạo đức, kinh doanh... Căn cứ vào hệ thống đó mà người đọc, người xem có thể tìm hiểu và nắm được những vấn đề cần có trong chỉ đạo cũng như trong hoạt động. Xét về lý thuyết, “thuyết âm mưu” cũng không phải là loại chiêm nghiệm có tính hợp lý về cái gì đó, điều gì đó trừu tượng hoặc được khái quát hóa kết quả có được từ những quan sát, ghi nhận diễn ra của sự việc, hiện tượng. Đã nói đến lý thuyết, người ta nghĩ ngay đến quá trình suy nghĩ, chiêm nghiệm có tính chất lý trí được gắn liền với quá trình nghiên cứu, quan sát.