Thứ Ba, 4 tháng 3, 2025

 

Bộ Quốc phòng và TP Hà Nội làm việc về một số nhiệm vụ quân sự, quốc phòng

Sáng 5-3, Bộ Quốc phòng và UBND thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm về quân sự, quốc phòng gắn với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025.

Thượng tướng Vũ Hải Sản, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đồng chủ trì hội nghị.

Hội nghị thống nhất đánh giá, tiến độ thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng gắn với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian qua đã được Bộ Quốc phòng phối hợp với UBND thành phố Hà Nội triển khai tích cực.

Tuy nhiên, đến nay, vẫn còn một số vướng mắc, khó khăn rất cần các bên liên quan cùng phối hợp chặt chẽ, tích cực tháo gỡ.

Bộ Quốc phòng và TP Hà Nội làm việc về một số nhiệm vụ quân sự, quốc phòng
Thượng tướng Vũ Hải Sản phát biểu tại hội nghị.

Cụ thể như, đối với việc bàn giao khu đất 20ha xây dựng Trung tâm thể dục thể thao Quân đội, ngày 8-12-2024, UBND thành phố Hà Nội ban hành quyết định giao 8,88ha đất (giai đoạn 1) cho Cục Quân huấn (nay là Cục Quân huấn - Nhà trường), Bộ Tổng Tham mưu để thực hiện dự án. Tuy nhiên, kinh phí giải phóng mặt bằng thu hồi hơn 11ha đất (khoảng 171,3 tỷ đồng) chưa có trong kế hoạch đầu tư công trung hạn của thành phố; thành phố chưa giao nhiệm vụ cho UBND quận Nam Từ Liêm giải phóng mặt bằng thu hồi diện tích đất này giao cho Bộ Quốc phòng.

Đối với dự án khu đất trụ sở Bộ tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam tại phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, năm 2017, UBND quận Nam Từ Liêm đã bàn giao cho Bộ tư lệnh Cảnh sát biển 5,441ha xây dựng trụ sở và đưa vào sử dụng; còn gần 2.000ha đất của 25 tổ chức, hộ gia đình chưa giải phóng mặt bằng để bàn giao cho đơn vị.

Đối với dự án mở rộng Nhà tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, thành phố Hà Nội đã phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã hoàn thiện hồ sơ quy hoạch điều chỉnh tổng mặt bằng chi tiết, trình Bộ Quốc phòng phê duyệt. Tuy nhiên, quá trình triển khai công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tái định cư theo quy hoạch, còn một số tập thể thuộc diện phải di dời, thu hồi đất chưa đồng ý phương án đền bù, hỗ trợ của địa phương.  

Bộ Quốc phòng và TP Hà Nội làm việc về một số nhiệm vụ quân sự, quốc phòng
Quang cảnh hội nghị.

Về việc bàn giao khu gia đình quân đội trên địa bàn thành phố Hà Nội, theo báo cáo, trên địa bàn thành phố Hà Nội còn 108 khu gia đình chưa bàn giao ra địa phương quản lý.

Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật đã ban hành văn bản triển khai thực hiện quản lý, bàn giao các khu gia đình quân đội ra địa phương, trong đó có các đơn vị trên địa bàn thành phố Hà Nội. Bộ Quốc phòng đề nghị UBND thành phố Hà Nội chỉ đạo các cơ quan chức năng thuộc quyền tiếp nhận các khu gia đình theo pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan.

Bên cạnh đó, về việc bố trí quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội cho lực lượng quân đội, Bộ Quốc phòng đã có văn bản đề nghị UBND thành phố bố trí quỹ đất để thực hiện chính sách nhà ở cho cán bộ quân đội. Thành phố đã giao Sở Quy hoạch - Kiến trúc chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương liên quan tham mưu với UBND thành phố về đề xuất của Bộ Quốc phòng.

Tại hội nghị, các đại biểu đã cùng thảo luận, đưa ra giải pháp thống nhất tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ, để trong thời gian tiếp theo có thể nhanh chóng triển khai, hoàn thành các dự án, công trình phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng gắn với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội. 

Bộ Quốc phòng và TP Hà Nội làm việc về một số nhiệm vụ quân sự, quốc phòng
Trung tướng Nguyễn Quốc Duyệt, Tư lệnh Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội phát biểu tại hội nghị. 

Kết luận hội nghị, Thượng tướng Vũ Hải Sản và Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Trần Sỹ Thanh cùng thống nhất với nội dung báo cáo, đồng tình với ý kiến của các sở, ban, ngành, địa phương của Hà Nội.

Để nâng cao hiệu quả trong công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng gắn với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Thủ đô, hai đồng chí yêu cầu các cơ quan, đơn vị của Bộ Quốc phòng tích cực, chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, UBND các quận (huyện) của thành phố Hà Nội để triển khai thực hiện; đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ được giao, chỉ đạo, giao nhiệm vụ, xác định thời gian hoàn thành công việc trên cơ sở nội dung tham mưu, đề xuất biện pháp, giải pháp giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Thượng tướng Vũ Hải Sản cũng đề nghị UBND thành phố Hà Nội, trên cơ sở Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành, chỉ đạo các sở, ngành và UBND các quận (huyện) có liên quan đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng đối với các dự án, làm tốt công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, thu hồi, bàn giao đất theo pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan.

"Khắc tinh" của tội phạm trên biên giới biển Hoài Nhơn

 Đấu tranh với tội phạm ma túy là cuộc chiến đầy cam go và nguy hiểm, nhưng vượt lên mọi khó khăn, thử thách, Thượng úy Hà Văn Anh, Đội trưởng Đội Phòng, chống ma túy và tội phạm (PCMT&TP), Đồn Biên phòng Tam Quan Nam, BĐBP Bình Định vẫn luôn nỗ lực, cố gắng, kiên trì, mưu trí, dũng cảm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần đem lại bình yên cho nhân dân trên địa bàn biên giới biển của tỉnh.

Ngay từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, chàng trai trẻ Hà Văn Anh, sinh năm 1997, quê ở xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đã nuôi mơ ước được trở thành người chiến sĩ mang quân hàm xanh, chính vì vậy, Hà Văn Anh đã nỗ lực, cố gắng học tập và thi đỗ vào Học viện Biên phòng.

Năm 2019, chàng sĩ quan trẻ Hà Văn Anh tốt nghiệp về nhận công tác tại BĐBP Bình Định. Trải qua quá trình công tác từ trinh sát viên PCMT&TP, Đội trưởng Kiểm soát hành chính; Trung đội trưởng Trung đội 1, Đại đội 1, Tiểu đoàn Huấn luyện đến Đội trưởng Đội PCMT&TP, Đồn Biên phòng Tam Quan Nam, dù ở bất cứ cương vị nào, Thượng úy Hà Văn Anh đều luôn nỗ hết mình, tích cực trau dồi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, học hỏi kinh nghiệm từ những người đi trước, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Anh luôn trăn trở làm sao để nắm chắc tình hình địa bàn, tội phạm kịp thời tham mưu tốt cho lãnh đạo đơn vị trong đấu tranh, xác lập chuyên án, tổ chức đánh án hiệu quả, đảm bảo an toàn tuyệt đối...

Thượng úy Hà Văn Anh chia sẻ: "Đồn Biên phòng Tam Quan Nam được giao quản lý đường bờ biển dài 24km, với 6 xã, phường ven biển: Tam Quan Bắc, Tam Quan Nam, Hoài Thanh, Hoài Hương, Hoài Hải và Hoài Mỹ (thị xã Hoài Nhơn), gồm 54 thôn, hơn 22.500 hộ, trên 89.000 nhân khẩu. Địa bàn rộng, dân số đông, tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội tương đối phức tạp. Nhận thức được vị trí, vai trò, trách nhiệm của người sĩ quan Biên phòng, để duy trì được an ninh trật tự trên địa bàn, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, tôi đã tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy đồn có các chủ trương, giải pháp, chỉ đạo lực lượng nghiệp vụ của đơn vị tổ chức điều tra, xác minh, phát hiện, bắt giữ, xử lý các vụ việc hình sự, hành chính đảm bảo đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật. Qua đó, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia".

Với trọng trách được giao, Thượng úy Hà Văn Anh đã phối hợp với các lực lượng tổ chức tuần tra, kiểm soát được 144 lượt/864 người tham gia, kiểm tra trên 1.250 lượt phương tiện/6.250 lao động; phát hiện và tham mưu cho Ban chỉ huy đồn và chỉ huy các cấp xử lý 200 vụ/200 trường hợp vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực: Thủy sản, giao thông đường thủy nội địa và các lĩnh vực khác có liên quan với tổng số tiền xử phạt là 988 triệu đồng. Đồng thời, tham mưu cho đơn vị chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan đấu tranh thành công 5 kế hoạch nghiệp vụ, 1 chuyên án về ma túy, bắt giữ 7 đối tượng về hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tang vật 108,2236g ma túy (Methaphetamine); phối hợp với Đoàn Đặc nhiệm PCMT&TP miền Trung, Cục PCMT&TP BĐBP; Phòng PCMT&TP, BĐBP Bình Định và các cơ quan, đơn vị liên quan đấu tranh thành công Chuyên án A2-824p, triệt phá đường dây mua bán người xảy ra tại địa bàn các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Kon Tum, bắt giữ 6 đối tượng, giải cứu thành công 10 nữ nạn nhân.

Bên cạnh đó, thực hiện kế hoạch cao điểm phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, anh đã trực tiếp tham mưu cho đơn vị phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan đấu tranh thành công 1 kế hoạch nghiệp vụ và 1 chuyên án về ma túy, bắt giữ 2 đối tượng có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ 90,0846g ma túy đá (Methamphetamine).

Nhận xét về Thượng úy Hà Văn Anh, Thiếu tá Nguyễn Văn Thi, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Tam Quan Nam cho biết: "Đồng chí Hà Văn Anh là một sĩ quan trẻ có năng lực, trình độ, năng nổ, nhiệt huyết trong công việc, nắm vững các biện pháp công tác nghiệp vụ về PCMT&TP, nắm chắc tình hình hoạt động của các đối tượng trên địa bàn đơn vị quản lý; thường xuyên tham mưu đúng, trúng và có những đối sách linh hoạt, kịp thời, góp phần đảm bảo an ninh trật tự địa bàn, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm trên khu vực biên giới biển".

Với sự cố gắng, nỗ lực không ngừng trong công tác, Thượng úy Hà Văn Anh đã được Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định tặng Bằng khen vì có thành tích đột xuất, xuất sắc trong tham gia đấu tranh Chuyên án A2-824p; Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở năm 2024, danh hiệu Gương mặt trẻ tiêu biểu BĐBP tỉnh; được tuyên dương là Đảng viên trẻ tiêu biểu tỉnh Bình Định năm 2024.

Dệt thổ cẩm của người Khmer ở An Giang

 Trong sinh hoạt đời thường cũng như trong lễ hội, đồng bào Khmer luôn có ý thức giữ gìn và phát triển những truyền thống văn hóa của dân tộc mình. Một trong những nét văn hóa đặc trưng, thể hiện rõ tính độc đáo, không thể lẫn với bất kỳ một dân tộc nào khác, đó là bộ trang phục của người Khmer. Để tạo ra một bộ trang phục hoàn chỉnh là quá trình công phu, đòi hỏi sự tỉ mỉ, tinh tế, sáng tạo của người thợ dệt. Hiện nay, tại vùng núi Bảy Núi của tỉnh An Giang, chỉ duy nhất bà con ở ấp Srây Sakốth, xã Văn Giáo, huyện biên giới Tịnh Biên còn giữ được nghề dệt thổ cẩm Khmer (còn gọi là Khmer Silk). Không đơn thuần chỉ là sinh kế, nghề dệt thổ cẩm tại đây vẫn đang âm thầm gìn giữ nét văn hóa đặc sắc của người Khmer Nam bộ.

Rộn ràng tiếng khung cửi

Từ thành phố Châu Đốc, men theo tỉnh lộ 948 ngược về dãy Thiên Cấm Sơn khoảng chừng gần 30km là đến làng dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer, tọa lạc tại ấp Srây Sakốth, xã Văn Giáo. Bên dưới những nếp nhà đơn sơ là những người chị, người mẹ đang miệt mài bên khung dệt hoặc nong tằm, nong kén. Tiếng thoi đưa khung cửi rộn ràng khắp vùng.

Bà Neáng Nhây là người cao niên nhất và cũng là nghệ nhân có tay nghề cao nhất trong ấp cho biết, xã Văn Giáo có 4 ấp: Đây Cà Hom, Mằng Rò, Srây Sakốth, Văn Trà. Trong đó, ấp Srây Sakốth có 100% đồng bào dân tộc thiểu số Khmer sinh sống. Cũng như làng nghề dệt lụa của đồng bào dân tộc Chăm ở xứ lụa Tân Châu, từ xa xưa, Văn Giáo đã nổi tiếng về trồng dâu, nuôi tằm và ươm tơ dệt lụa, nhà nào cũng có xa quay và khung cửi chạy rầm rập. Ban đầu, nghề dệt thổ cẩm chủ yếu phục vụ cho nhu cầu ăn mặc trong gia đình, hoặc dùng để may trang phục cho các sư, sãi ở chùa rộng hơn một chút là phục vụ cho nhu cầu của người dân quanh vùng dùng để may lễ phục tham gia trong các dịp lễ tết, hội hè.

Trong thời gian chiến tranh biên giới Tây Nam (năm 1978), bà con Văn Giáo tản mát, ly tán khắp nơi. Người thì chạy về Châu Đốc, Long Xuyên, cũng có người sơ tán đến vùng Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu nên nghề này bị mai một. Nhiều năm sau đó, do cuộc sống khó khăn, nên bà con không mặn mà quay lại nghề truyền thống. Mãi đến những năm đầu của thập niên 1990, bà con mới khôi phục lại nghề dệt truyền thống như trồng dâu, nuôi tằm, nhuộm vải, quay tơ, dệt... Tuy vất vả, nhưng những người thợ rất vui vì góp phần gìn giữ được nét văn hóa của dân tộc. Năm 1998, vải thổ cẩm của người Khmer Văn Giáo lần đầu “xuất cảnh” sang Campuchia với tên gọi “Khmer Silk”. Không lâu sau đó, Hợp tác xã dệt thổ cẩm Khmer Văn Giáo ra đời, chính thức đánh dấu sự trở lại của nghề dệt thổ cẩm tưởng chừng như đã thất truyền ở An Giang.

Năm 2006, Sở Khoa học và Công nghệ của tỉnh An Giang xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm “Lụa thổ cẩm Văn Giáo”. Năm 2007, nghề dệt thổ cẩm của xã Văn Giáo được UBND tỉnh An Giang công nhận làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống. Đầu năm 2023, sản phẩm dệt thổ cẩm được hội đồng cấp tỉnh đánh giá và công nhận sản phẩm xà rông đạt chuẩn sản phẩm OCOP 3 sao theo Chương trình "Mỗi xã một sản phẩm". Đây là điều kiện thuận lợi để quảng bá bản sắc văn hóa độc đáo của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi đến du khách gần xa, góp phần bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống của địa phương.

Hiện nay, làng dệt thổ cẩm Khmer Văn Giáo có khoảng hơn 70 hộ, với gần 130 thợ dệt thổ cẩm, trong đó có 2 nghệ nhân, 2 thợ giỏi. Các sản phẩm dệt thổ cẩm Khmer Văn Giáo ngoài tiêu thụ ở các tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số Khmer sinh sống, còn được xuất khẩu sang các nước: Thái Lan, Campuchia, Myanmar... Đồng thời, phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước, như: Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia... với thương hiệu Khmer Silk. Sản phẩm làm ra được tiêu thụ hết, không tồn đọng. Thu nhập của xã viên ổn định, giải quyết việc làm thường xuyên cho phụ nữ nghèo, cận nghèo dân tộc thiểu số Khmer.

Độc đáo sản phẩm “Khmer Silk”

Mỗi sản phẩm thổ cẩm “Khmer Silk” Văn Giáo đều mang nét văn hóa truyền thống đặt trưng, không máy móc nào có thể thay thế được, dù chỉ là những công đoạn nhỏ nhất.

Là chủ cơ sở quy mô, đồng thời cũng là người truyền nghề cho nhiều lao động nữ tại địa phương, bà Néang Chanh Ty cho biết, thổ cẩm Khmer gây ấn tượng bởi màu sắc phong phú và hoa văn cực kỳ tinh xảo. Bên cạnh đó, thổ cẩm Khmer thường có hoa văn thể hiện hình ảnh gần gũi trong đời sống hàng ngày hoặc phỏng theo hình ảnh trong các tuồng cổ, truyện cổ tích Khmer. Hoa văn phỏng theo các tuồng cổ thường rất phức tạp nên đòi hỏi người thực hiện phải có tay nghề cao và tâm huyết.

Để có một sản phẩm thổ cẩm hoàn chỉnh, đòi hỏi phải trải qua nhiều công đoạn với thời gian dài. Ngoài tay nghề cao, người làm thổ cẩm còn phải tỉ mỉ, cẩn thận và chăm chút đến từng sợi tơ. Mỗi sản phẩm hoàn chỉnh phải qua 5 công đoạn chính: Nhuộm tơ, phơi nắng, làm bông, nhuộm sợi màu lần 2, đánh sợi và lâu nhất là khâu dệt. Tùy độ khó của các sản phẩm mà thời gian dệt sẽ khác nhau. Trung bình, một người thợ giỏi phải mất 3 đến 5 ngày, thợ thường có thể mất 10 đến 15 ngày mới có thể dệt xong một tấm thổ cẩm, chưa kể thời gian chuẩn bị nguyên liệu, nhuộm tơ, bắt bông... Tơ được sử dụng để dệt phải là tơ có nguồn gốc tự nhiên, kết hợp với phương pháp nhuộm đặc biệt mới có thể cho ra những thước thổ cẩm vừa mềm mại, bóng bẩy, không đổ lông lại có độ bền cao. Theo chia sẻ của các nghệ nhân, phải trải qua đến 17 công đoạn mới có thể cho ra một sản phẩm hoàn chỉnh. Mỗi công đoạn đều hết sức tỉ mỉ, vì nếu có bất kỳ sai sót nào cũng coi như hư hỏng, phải làm lại từ đầu.

Điểm đặc biệt của thổ cẩm Khmer không chỉ nằm ở kỹ thuật nhuộm tơ, mà còn ở kỹ thuật dệt 3 lớp với 3 màu khác nhau. Vì thế, nếu nhìn ngang tấm thổ cẩm sẽ có màu xanh, nhìn nghiêng bên trái sẽ có màu cam và nghiêng bên phải sẽ có màu đỏ. Một trong những bí quyết tạo màu sắc đẹp chất lượng cao là các nghệ nhân làng nghề đã dùng chất liệu tự nhiên để chế thuốc nhuộm, nhờ đó làm cho lụa óng ả, mượt mà hơn. Kỳ công trong hầu hết các công đoạn từ se tơ đến thành phẩm nên thổ cẩm có giá khá cao, từ vài trăm ngàn đến vài triệu, thậm chí cả chục triệu đồng một sản phẩm.

Từ sản phẩm truyền thống ban đầu, thợ dệt sáng tạo hoa văn cách điệu, mẫu mã đa dạng, phong phú; màu sắc hài hòa, hoa văn sắc sảo, chủ yếu là mặt hàng xà rông, khăn choàng cổ, phông màn cửa, các loại khác theo đặt hàng. Từ bàn tay khéo léo, sự sáng tạo của người phụ nữ Khmer, nhiều sản phẩm thổ cẩm Khmer Văn Giao đã có mặt ở nhiều nơi trên đất nước và được người tiêu dùng trên thế giới ưa chuộng, Top of Form, từ đó, đã góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Quân y BĐBP làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho bộ đội và nhân dân ở khu vực biên giới

 Thời gian qua, đội ngũ cán bộ quân y BĐBP không chỉ đảm bảo y tế cho cán bộ, chiến sĩ BĐBP, mà còn tận tình khám chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí, phòng chống dịch bệnh và hướng dẫn kỹ năng phòng bệnh cho người dân. Chính vì vậy, những “thầy thuốc quân hàm xanh” giữ vai trò nòng cốt trong việc chăm sóc sức khỏe cho bộ đội và nhân dân ở khu vực biên giới, hải đảo. Sự tận tâm của đội ngũ cán bộ quân y BĐBP đã góp phần nâng cao chất lượng y tế cộng đồng, thắt chặt tình quân dân, giữ vững an ninh nơi biên giới.

Tất cả vì sức khỏe đồng bào

Điều kiện y tế ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế do địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn và cơ sở hạ tầng y tế chưa được đầu tư đầy đủ. Các trạm y tế tại địa phương thường thiếu thốn trang thiết bị, thuốc men và nhân lực y tế, khiến việc khám chữa bệnh cho người dân gặp nhiều khó khăn. Nhiều khu vực còn thiếu bác sĩ, đặc biệt là các bác sĩ chuyên khoa, dẫn đến tình trạng người dân phải di chuyển xa để tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng. Bên cạnh đó, điều kiện kinh tế còn khó khăn, nhận thức về chăm sóc sức khỏe của một bộ phận người dân chưa cao, làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh lý phổ biến như suy dinh dưỡng, bệnh truyền nhiễm và bệnh mãn tính.

Trước thực trạng đó, đội ngũ quân y Biên phòng đã phát huy vai trò nòng cốt trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại các khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa. Thông qua các chương trình kết hợp quân dân y, các đơn vị BĐBP không chỉ tổ chức khám chữa bệnh miễn phí, mà còn cấp phát thuốc, tư vấn sức khỏe và tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh cho người dân. Đặc biệt, mô hình “Thầy thuốc quân hàm xanh” đã được triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng y tế, giúp người dân có điều kiện tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn, đồng thời, thắt chặt tình đoàn kết quân dân, góp phần bảo vệ vững chắc biên giới quốc gia. BĐBP và ngành y tế địa phương đã phối hợp chặt chẽ để triển khai thực hiện 10 tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế xã. Công tác củng cố hệ thống y tế cơ sở và nâng cao năng lực khám chữa bệnh được thực hiện thông qua các mô hình như: Kết hợp quân dân y tại trạm y tế xã (toàn diện hoặc theo từng lĩnh vực), thành lập các phòng khám quân dân y tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, nơi cách biệt hoặc xa trạm y tế nhằm phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Hiện nay, BĐBP có hơn 100 phòng khám và trạm y tế quân dân y kết hợp trải dài biên giới, hoạt động rất có hiệu quả và tạo được lòng tin đối với nhân dân, chính quyền địa phương. Đồng thời, các chiến dịch khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí được tổ chức thường xuyên, kết hợp với tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho người dân, đồng thời, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Năm 2024, các đơn vị đã tổ chức khám, điều trị tại các tuyến quân y cho 96.746 lượt người, trị giá trên 2,29 tỷ đồng, cấp cứu cho 768 lượt người dân; thường xuyên tổ chức các đợt khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân trên địa bàn biên giới cho hơn 26.800 lượt người, trị giá trên 5,93 tỷ đồng; tham gia tiêm chủng mở rộng tại địa phương cho hơn 48.900 lượt trẻ em.

Đặc biệt, hình ảnh “thầy thuốc quân hàm xanh” của BĐBP đã để lại ấn tượng sâu sắc qua các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người dân sinh sống tại khu vực biên giới Lào và Campuchia. Những chương trình này càng trở nên ý nghĩa trong các sự kiện Giao lưu hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia. Năm 2024, các tuyến quân y BĐBP đã cấp cứu cho 69 lượt người, khám cho hơn 5.000 lượt người dân nước bạn với trị giá trên 352 triệu đồng; tổ chức 4 đợt khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho hơn 3.700 người dân nước láng giềng với trị giá trên 438 triệu đồng, đem lại hiệu quả cao về tinh thần quốc tế hữu nghị, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Đảm bảo tỷ lệ quân số khỏe trên 98,5%

Quân y BĐBP đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ tại các tuyến biên giới, biển đảo. Trước điều kiện địa hình hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt và môi trường sinh hoạt còn nhiều khó khăn, đội ngũ quân y không chỉ đảm nhiệm công tác khám, chữa bệnh, mà còn tích cực hướng dẫn bộ đội các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe trong môi trường đặc thù. Đồng thời, đội ngũ cán bộ quân y BĐBP thường xuyên nắm chắc tình hình trên các tuyến biên giới, biển đảo, duy trì nghiêm nền nếp, chế độ quân y sẵn sàng chiến đấu; bảo đảm kịp thời lực lượng, phương tiện, vật chất quân y cho các nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt là đối với các đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, kiểm soát cửa khẩu, tuần tra biên giới, đấu tranh phòng, chống tội phạm; sẵn sàng ứng phó với các tình huống khẩn cấp như phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. Đặc biệt, trong đợt bão số 3 vừa qua, quân y BĐBP đã bảo đảm tốt lực lượng và phương tiện cho các huấn luyện viên cùng chó nghiệp vụ tham gia tìm kiếm cứu nạn tại tỉnh Lào Cai.

Không chỉ làm tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe, đội ngũ “thầy thuốc quân hàm xanh” còn tích cực trong công tác phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như cúm mùa, sốt xuất huyết, não mô cầu, cúm A/H5N1, thủy đậu, đậu mùa khỉ...; chú trọng công tác tiêm chủng, phòng bệnh cho chiến sĩ mới, theo dõi sát tình hình sức khỏe, kịp thời phát hiện và điều trị bệnh. Đồng thời, đơn vị cũng tổ chức tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, giáo dục nếp sống vệ sinh khoa học và triển khai chương trình Giáo dục đồng nhóm, phòng chống HIV/AIDS tại Trung tâm Huấn luyện BĐBP.

Bên cạnh đó, công tác quản lý sức khỏe quân nhân cũng được thực hiện chặt chẽ. Quân y BĐBP tổ chức khám sức khỏe định kỳ, theo dõi sát tình trạng sức khỏe của bộ đội, nâng cao chất lượng điều trị, đảm bảo tỷ lệ quân số khỏe đạt trên 98,5%. Đặc biệt, để chủ động trong công tác cấp cứu, điều trị, đội ngũ quân y đã tổ chức tập huấn phòng, chống say nắng, say nóng, quản lý bệnh mạn tính, cấp cứu các tình huống nguy hiểm như điện giật, đuối nước, rắn cắn... cho gần 1.000 cán bộ, chiến sĩ trong toàn lực lượng theo hình thức trực tiếp và trực tuyến. Ngoài ra, quân y BĐBP cũng phối hợp chặt chẽ với Cục Quân y để tổ chức các lớp tập huấn nâng cao chuyên môn cho quân y đồn Biên phòng và nhân viên y tế thôn, bản tại các tỉnh biên giới phía Bắc như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh... Qua đó, góp phần nâng cao năng lực y tế tuyến cơ sở, bảo đảm sức khỏe cho bộ đội và nhân dân khu vực biên giới.

Với tinh thần trách nhiệm cao, sự tận tâm và hi sinh thầm lặng, đội ngũ cán bộ quân y BĐBP tiếp tục khẳng định vai trò là chỗ dựa vững chắc về y tế cho bộ đội và nhân dân nơi biên cương, góp phần giữ vững sức mạnh chiến đấu và bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Phát huy vai trò “đầu tàu” của đảng viên đồn Biên phòng nơi cực Nam Tổ quốc

 Hơn 10 năm qua, các chi bộ ấp, khóm ven biển ở khu vực biên giới biển tỉnh Cà Mau đều có các đảng viên đồn Biên phòng tham gia sinh hoạt. Các đảng viên Biên phòng không chỉ góp phần tăng cường sức chiến đấu của chi bộ địa phương mà còn mang theo tâm huyết và trách nhiệm, kịp thời chia sẻ, hỗ trợ nhân dân vượt qua khó khăn trong cuộc sống, phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng thế trận biên phòng toàn dân ngày càng vững mạnh.

Thượng tá Đặng Việt Hùng, Chủ nhiệm Chính trị BĐBP Cà Mau cho biết: Địa bàn biên giới biển tỉnh Cà Mau có 23 xã, thị trấn thuộc 6 huyện ven biển. Thực hiện chủ trương của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP về việc phân công đảng viên đồn Biên phòng tham gia sinh hoạt các chi bộ, ấp, khóm, thôn, bản trên khu vực biên giới, Đảng ủy BĐBP tỉnh đã phân công 52 đồng chí đảng viên tham gia sinh hoạt chi bộ các khóm, ấp ven biển. Các đảng viên Biên phòng đã trở thành cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân khu vực biên giới biển, gắn kết giữa các đảng viên Biên phòng với chi bộ ấp, khóm ven biển.

Góp phần hoàn thành các chỉ tiêu nghị quyết chi bộ đề ra

Theo giới thiệu của Thượng tá Đặng Việt Hùng, chúng tôi về địa bàn xã Khánh Hội, huyện U Minh, đây là xã biên giới biển do Đồn Biên phòng Khánh Hội phụ trách. Tại đây, chúng tôi gặp Đại úy Tô Ngọc Quý, Trạm trưởng Trạm Kiểm soát Biên phòng Khánh Hội, Đồn Biên phòng Khánh Hội, là đảng viên được giới thiệu tham gia sinh hoạt tại Chi bộ ấp 3, xã Khánh Hội. Mặc dù mới tham gia sinh hoạt hơn 3 năm, nhưng Đại úy Tô Ngọc Quý đã có nhiều đóng góp cùng cấp ủy, chi bộ trong lãnh đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ, chỉ tiêu nghị quyết chi bộ nhiệm kỳ 2020-2025 đã đề ra.

Ông Lâm Thanh Lơ, Bí thư Chi bộ ấp 3, xã Khánh Hội cho biết: “Địa bàn ấp 3 nằm ngay khu vực cửa biển, hằng ngày có nhiều phương tiện của ngư dân địa phương và các tỉnh lân cận ra vào hoạt động đánh bắt hải sản và trao đổi hàng hóa, tình hình an ninh trật tự có thời điểm diễn ra phức tạp. Bên cạnh đó, nhiều người dân không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế khó khăn, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, nhất là những hộ dân từ nơi khác về tạm trú để lao động theo mùa vụ”.

Theo ông Lâm Thanh Lơ, từ khi có Đại úy Tô Ngọc Quý về tham gia sinh hoạt tại chi bộ đã tạo ra những thay đổi tích cực, từ việc tuyên truyền pháp luật đến việc nâng cao cảnh giác cho bà con về phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thủy sản. Đại úy Tô Ngọc Quý đã tham mưu cho cấp ủy, chi bộ, chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động ngư dân lắp đặt 100% thiết bị giám sát hành trình tàu cá; 100% chủ tàu, thuyền trưởng hoạt động xa bờ cam kết không vi phạm vùng biển nước ngoài.

Tích cực tham gia phát triển đảng viên mới

Bên cạnh nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới, các đảng viên đồn Biên phòng còn là hạt nhân tích cực trong công tác phát triển Đảng tại địa phương. Tại ấp Chánh Tài, xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, nơi có 284 hộ dân sinh sống rải rác ven sông, nhiều năm qua, đời sống của bà con gặp không ít khó khăn do giá tôm bấp bênh, tình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã hội vẫn còn diễn ra.

Ông Phạm Minh Giàu, Phó Bí thư Chi bộ ấp Chánh Tài thông tin, những năm trước, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn khá phức tạp. Từ năm 2020, Thiếu tá Trần Hoài Bắc, nhân viên Đội Vận động quần chúng, Đồn Biên phòng Tân Tiến về tham gia sinh hoạt Đảng, cấp ủy và chi bộ ấp đã có nhiều đổi mới trong phương thức lãnh đạo xây dựng địa bàn vững mạnh. Thiếu tá Trần Hoài Bắc không chỉ giúp chi bộ nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo, chỉ đạo mà còn trực tiếp tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân thay đổi nhận thức, chung tay giữ gìn an ninh trật tự địa bàn.

Ngoài ra, Thiếu tá Trần Hoài Bắc còn cùng với cán bộ địa phương tích cực vận động nhân dân cung cấp thông tin về tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cho đồn Biên phòng và Công an xã để tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Đặc biệt, Thiếu tá Trần Hoài Bắc đã tham mưu, giới thiệu 3 quần chúng ưu tú cho Chi bộ ấp Chánh Tài tạo nguồn kết nạp Đảng, đưa đảng số lên 17 đồng chí.

"Từ những đề xuất, tham mưu của đồng chí Bắc, cấp ủy, chi bộ, Ban nhân dân ấp đã tích cực đi đến từng cụm dân cư tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương; phát huy vai trò của Tổ hòa giải, làm thay đổi cách nghĩ, cách làm của người dân" - ông Phạm Minh Giàu chia sẻ.

Sự gắn kết bền chặt giữa đảng viên đồn Biên phòng và cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương là minh chứng rõ nhất cho chủ trương của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP về việc phân công đảng viên đồn Biên phòng tham gia sinh hoạt các chi bộ, ấp, khóm, thôn, bản trên khu vực biên giới. Không chỉ giúp chi bộ cơ sở nâng cao năng lực lãnh đạo, sự tham gia của các đảng viên đồn Biên phòng còn giúp bà con an tâm bám biển, thắt chặt tình đoàn kết quân - dân, để khu vực biên giới biển của tỉnh ngày càng bình yên, vững mạnh.

Mang hạnh phúc, ấm no đến với đồng bào các dân tộc miền biên viễn

 Phát huy bản chất cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ", những năm qua, cán bộ, chiến sĩ BĐBP luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, gắn bó với địa bàn biên giới và đồng bào các dân tộc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Nhiều phong trào, chương trình, mô hình giúp đồng bào các dân tộc miền biên viễn phát triển kinh tế, xã hội đã được BĐBP triển khai phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của từng địa phương, góp phần mang lại ấm no, hạnh phúc cho đồng bào các dân tộc, xây dựng biên cương ngày càng giàu mạnh.

Nhiều phong trào, chương trình, mô hình hoạt động hiệu quả

Thời gian qua, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác xóa đói, giảm nghèo, nhất là hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” do Thủ tướng Chính phủ phát động, các đơn vị BĐBP luôn tích cực đi đầu trong công tác an sinh xã hội, hết lòng giúp đỡ nhân dân đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, góp phần cải thiện đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo.

Mặc dù địa bàn đóng quân của các đơn vị BĐBP chủ yếu là địa hình miền núi, vùng sâu, vùng xa, đường sá đi lại khó khăn, khí hậu, thời tiết khắc nghiệt; trình độ nhận thức của người dân không đồng đều; tập quán canh tác, trồng trọt, chăn nuôi lạc hậu..., nhưng cán bộ, chiến sĩ BĐBP không quản ngại khó khăn, gian khổ, kiên trì “3 bám, 4 cùng” với đồng bào các dân tộc, chủ động phối hợp các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương tổ chức, triển khai nhiều chương trình, hoạt động hướng về biên giới, hải đảo; vừa trực tiếp góp công, góp của, vừa huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia ủng hộ, giúp đỡ đồng bào, chiến sĩ nơi biên giới, phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo.

Tiêu biểu như: Chương trình “Bò giống giúp người nghèo nơi biên giới”, từ năm 2014 đến nay, đã trao tặng cho các hộ nghèo ở khu vực biên giới gần 30.000 con bò giống, tổng trị giá hơn 400 tỷ đồng. Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” tổ chức vào các dịp Tết Nguyên đán từ năm 2016 đến nay, với các hoạt động tặng quà Tết, bò giống; xây dựng công trình dân sinh, nhà ở; khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân ở khu vực biên giới, tổng trị giá gần 300 tỷ đồng. Chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương” triển khai ở 210 xã biên giới thuộc 26 tỉnh, thành; huy động kinh phí hơn 291 tỷ đồng hỗ trợ hội viên hội phụ nữ với các hoạt động như: Mô hình sinh kế, vốn khởi nghiệp, công trình dân sinh, sổ tiết kiệm, chăn nuôi gia súc, gia cầm... Chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn biên phòng”, hằng năm, nhận đỡ đầu gần 3.000 cháu học sinh có hoàn cảnh khó khăn, trong đó, có khoảng 200 cháu học sinh của nước bạn Lào và Campuchia, với mức hỗ trợ 500 nghìn đồng/tháng, tổng trị giá khoảng 153 tỷ đồng...

Ngoài ra, BĐBP còn triển khai nhiều phong trào, chương trình, mô hình khác, góp phần cùng cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới như: “BĐBP chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”, “Thầy giáo quân hàm xanh”, “Thầy thuốc quân hàm xanh”, “Cán bộ tăng cường xã”…

Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc

Nhận thức rõ vai trò là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong sự nghiệp quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia và tầm quan trọng của việc xây dựng “thế trận lòng dân”, BĐBP luôn tích cực, chủ động tham mưu, phối hợp với cấp ủy, chính quyền các địa phương khu vực biên giới chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, thế trận biên phòng toàn dân vững chắc. Trọng tâm là, tuyên truyền cho nhân dân, đồng bào các dân tộc về tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Luật Biên phòng Việt Nam, các nghị định, hiệp định, quy chế về biên giới, cửa khẩu…

Qua đó, làm cho nhân dân thấy rõ quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia; chức năng, nhiệm vụ của BĐBP; âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân, giữa Quân đội nói chung, BĐBP nói riêng với đồng bào các dân tộc anh em, hòng phá vỡ “thế trận lòng dân” ở khu vực biên giới.

Với phương châm sống "Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt", cán bộ, chiến sĩ BĐBP thường xuyên bám sát địa bàn, nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng hệ thống chính trị các cấp vững mạnh, thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, giải quyết kịp thời những vướng mắc phát sinh, không để xảy ra “điểm nóng” trên địa bàn. Chủ động tham mưu xây dựng, nâng cao chất lượng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các xã, phường, thôn, bản; làm tốt công tác phát triển đảng viên mới, “xóa” thôn, bản “trắng” về đảng viên ở vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh các phong trào thi đua, các cuộc vận động với nhiều nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, như: phong trào “Quần chúng tham gia tự quản đường biên, mốc quốc giới và an ninh, trật tự xóm, bản khu vực biên giới”, “Tổ tàu thuyền đoàn kết, an toàn”, “Bến bãi tự quản văn hóa”, “Đường biên thanh niên làm chủ”, “Phụ nữ vì sự phát triển và bình yên tuyến biển”...

Các cơ quan, đơn vị BĐBP đã trực tiếp triển khai, tham gia hàng trăm chương trình, dự án, mô hình phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện các cuộc vận động, các phong trào, các chính sách xã hội, chính sách hậu phương quân đội, giúp nhân dân định canh, định cư, hỗ trợ giống, vốn sản xuất, kết hợp quân dân y, xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, xây dựng các điểm sáng văn hóa vùng cao biên giới, hải đảo. Với nhận thức đúng, trách nhiệm cao, tổ chức thực hiện khoa học, phù hợp với thực tiễn, BĐBP đã triển khai đồng bộ các chủ trương, giải pháp xây dựng “thế trận lòng dân” khu vực biên giới và đạt hiệu quả thiết thực. Nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị và nhân dân ở khu vực biên giới về tăng cường “thế trận lòng dân”, tạo sức mạnh tổng hợp, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia ngày càng được nâng cao.

Cả cuộc đời tự nguyện bảo vệ cột mốc biên giới

 Hàng chục năm qua, ông Vi Văn Hợi, sinh năm 1946, ở bản Cha Khót, xã Na Mèo, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa cùng gia đình đã tự nguyện bảo vệ cột mốc chủ quyền của Tổ quốc. Đến nay, khi tuổi đã cao, sức khỏe không còn tốt, ông Hợi vẫn nỗ lực, kiên trì thực hiện nhiệm vụ đặc biệt mà mình đã lựa chọn. Cùng với đó, trong vai trò là già làng, người có uy tín của bản Cha Khót, ông luôn giáo dục con cháu, thế hệ trẻ chung sức với BĐBP tuần tra bảo vệ biên giới, mốc quốc giới.

Sáng sớm của một ngày cuối tháng 2, ông Vi Văn Hợi đã có mặt tại trung tâm xã Na Mèo chuẩn bị dự chương trình 'Ngày hội Biên phòng toàn dân" năm 2025 do địa phương và BĐBP tổ chức. Khi ông Hợi có mặt, đại diện lãnh đạo chính quyền địa phương, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Na Mèo (BĐBP Thanh Hóa) đều đến chào hỏi, mời vị cao niên ngồi ở vị trí trang trọng đã chuẩn bị trước. Ở địa phương xa xôi này, hầu như ai cũng biết, ông Hợi là một trong những tấm gương điển hình thực hiện phong trào tự nguyện bảo vệ đường biên, mốc quốc giới. Quả thực người đàn ông dân tộc Thái ở bản Cha Khót đã âm thầm thực hiện nhiệm vụ đặc biệt suốt hàng chục năm qua và được mọi người gọi với cái tên trìu mến “cụ Hợi cột mốc”.

Trong câu chuyện, ông Hợi kể rằng, khoảng năm 1950, ông đã theo gia đình di chuyển từ xã Yên Khương, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa lên vùng đất biên giới sinh sống. Khi lớn lên, ông thấy về sau có thêm nhiều gia đình khác từ nhiều nơi đến định cư tập trung tại vùng đất giáp biên lập nên bản Cha Khót như bây giờ. Xuyên suốt quá trình dài, cuộc sống của hàng chục hộ gia đình đồng bào dân tộc Thái ở đây chủ yếu gắn bó với ruộng lúa nước, núi rừng ở mảnh đất sát biên. Hàng chục năm về trước, mỗi lần BĐBP tuần tra biên giới qua địa phận bản, bà con lại chung tay chuẩn bị bữa ăn, bố trí nơi sinh hoạt cho bộ đội nghỉ lại khi cần. Đến năm 1978, khi Chính phủ hai nước Việt Nam - Lào có chủ trương phân giới, cắm mốc, tăng dày mốc quốc giới, ông Hợi cùng nhiều người đàn ông khỏe mạnh ở Cha Khót tình nguyện tham gia gùi lương thực, thực phẩm, dẫn đoàn cắt rừng nhiều tháng trời để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này.

Cho đến khi công tác phân giới, cắm mốc trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào hoàn thành, trên địa bàn bản Cha Khót có cột mốc 332 được xây dựng kiên cố, khang trang. Cột mốc này nằm cách trung tâm xã Na Mèo khoảng 20km và cách khu dân cư bản Cha Khót khoảng 4km đường rừng núi. Khi công tác phân giới, cắm mốc hoàn thành, BĐBP và chính quyền địa phương các cấp đã triển khai vận động nhân dân ở các bản giáp biên tham gia phong trào tự quản đường biên, cột mốc biên giới. Và khi đó, ông Vi Văn Hợi đã ngay lập tức đăng ký bảo vệ cột mốc 332. Nhớ đến quãng thời gian đó, ông Vi Văn Hợi chia sẻ: “Chúng tôi sinh sống, canh tác, lao động sản xuất trên khu vực biên giới, gần với vị trí cột mốc chủ quyền của Tổ quốc. Thông qua việc BĐBP tuyên truyền, tôi hiểu rằng, mình cần có trách nhiệm, góp sức bảo vệ hệ thống cột mốc, cũng như sự bình yên của bản làng. Từ đó, tôi cùng các thành viên trong gia đình đã đăng ký với Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Na Mèo và chính quyền địa phương tự nguyện bảo vệ cột mốc chủ quyền 332”.

Từ đó, trong quá trình lao động sản xuất, ông Hợi luôn chú ý đến hiện trạng cột mốc chủ quyền, tình hình trên khu vực biên giới của bản làng. Khi phát hiện những vấn đề nảy sinh, dấu hiệu bất thường trên khu vực biên giới, bản làng, ông đều tìm cách báo cho BĐBP kịp thời xử lý. Không chỉ vậy, mỗi tháng một lần, ông cùng con cháu và thanh niên trong bản tập trung để phát quang đường tuần tra, xung quanh khu vực cột mốc chủ quyền 332. Ông đã đều đặn làm nhiệm vụ đặc biệt như vậy từ hàng chục năm qua cho đến tận bây giờ. Khi được hỏi về những kỷ niệm trong quá trình tham gia bảo vệ đường biên, cột mốc chủ quyền, ông Hợi nhắc đến câu chuyện: “Có lần, tôi lên thăm mốc 332 trở về thì gặp mưa to, nước suối dâng cao, không thể vượt qua được. Không còn cách nào khác, tôi đành phải dựng lán tạm bằng lá cọ gần khu vực mốc ngủ qua đêm đến hôm sau mới về được nhà, khiến mọi người lo lắng”.

Năm nay, ông Hợi đã gần 80 tuổi. Dù tuổi cao, sức khỏe suy giảm, việc băng rừng, lội suối đến với cột mốc chủ quyền đã trở nên khó khăn hơn trước, nhưng ông vẫn đều đặn tham gia. “Nếu lâu lâu, tôi không được lên thăm cột mốc, cảm giác nhớ lắm! Ngày nào sức khỏe còn cho phép, tôi vẫn tham gia cùng con cháu, thanh niên trong bản và BĐBP bảo vệ biên giới, cột mốc chủ quyền” - Ông Hợi khẳng định. Còn trên cương vị già làng, người có uy tín, ông Vi Văn Hợi còn trở thành điểm tựa tinh thần của bà con dân bản. Ông luôn gương mẫu, đi đầu, trách nhiệm trong lối sống, tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Tiếp tục thực hiện Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia trong giai đoạn hội nhập và phát triển đất nước

 Gần 40 năm qua, sự phát triển tư duy, lý luận, nhận thức mới của Đảng ta về bảo vệ biên giới quốc gia trong bối cảnh hội nhập và phát triển đất nước được thể hiện sâu sắc trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới(1), đặc biệt là Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia. Qua đó, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững an ninh biên giới quốc gia; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đất nước ta sau gần 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục phát triển nhanh và khá toàn diện trên các lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, uy tín, vị thế được nâng cao trên trường quốc tế. Cùng với đó, nước ta đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; nhiều vấn đề đặt ra phải giải quyết. Nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm an ninh quốc gia còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Trên một số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm, lãnh thổ, biên giới quốc gia còn tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước tiếp tục thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Các thách thức an ninh phi truyền thống như thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, sự cố môi trường, xâm phạm biên giới quốc gia diễn biến hết sức phức tạp. Quân đội ta được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư về mọi mặt, được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, yêu mến. Tuy nhiên, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng-an ninh, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới đặt ra thời cơ và thách thức mới.

Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, lực lượng vũ trang; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tham gia quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 28/9/2018 về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia. Nghị quyết có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc khẳng định sự cần thiết phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển đất nước.

Để phát huy mạnh mẽ những kết quả, thành tựu đạt được sau hơn 6 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, cấp ủy, tổ chức đảng, chỉ huy các cấp cần quán triệt sâu sắc và tiếp tục triển khai nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ và hiệu quả Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, trong đó, nắm vững các nội dung cơ bản và các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia. Các cơ quan chức năng tham mưu, đề xuất quán triệt, cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị của Đảng; nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Chính phủ và sự phối hợp của các cấp, các ngành, địa phương, các lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới. Rà soát, nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện cơ chế, phương thức lãnh đạo, nội dung, phương pháp, chế độ kiểm tra, giám sát của cấp ủy đảng đối với nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia. Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện về cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự vùng biên. Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý, giám sát biên giới...

Hai là, các ban, bộ, ngành, địa phương tiếp tục phổ biến, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân các nội dung cơ bản của Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, biển, đảo của Tổ quốc. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của biên giới quốc gia; trách nhiệm và nghĩa vụ của lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, người lao động và mọi tầng lớp nhân dân trong việc quán triệt, chấp hành các quy định của pháp luật về xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia.

Ba là, tiếp tục xây dựng và củng cố vững chắc lực lượng bảo vệ biên giới quốc gia, các cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, tạo nền tảng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân ở khu vực biên giới. Xây dựng lực lượng bảo vệ biên giới toàn dân rộng khắp, nhân dân là chủ thể, lực lượng vũ trang là nòng cốt, BĐBP là lực lượng chuyên trách, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số thành phần tiến thẳng lên hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ BĐBP thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, duy trì an ninh, trật tự ở khu vực biên giới, cửa khẩu. Điều chỉnh quy hoạch, phân bố dân cư tại các địa bàn biên giới, hải đảo. Bố trí đầu tư phát triển theo quy hoạch, tạo công ăn, việc làm và thu nhập, ổn định cuộc sống cho nhân dân ở khu vực biên giới, vùng biển, đảo. Coi trọng công tác dân vận, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ở khu vực biên giới.

Bốn là, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thể chế, pháp luật về bảo vệ biên giới quốc gia; nghiên cứu, hoàn thiện phương thức, phương án tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới. Các cơ quan, đơn vị chức năng rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, các văn bản quản lý Nhà nước về bảo vệ biên giới quốc gia. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn việc thực thi pháp luật về bảo vệ biên giới quốc gia. Triển khai các hoạt động, biện pháp nghiệp vụ, dự báo các tình huống chiến lược có thể xảy ra. Kịp thời bổ sung, hoàn chỉnh phương án, kế hoạch xử lý. Giải quyết hiệu quả, kịp thời các tình huống nảy sinh trên biên giới, vùng biển, đảo, không để bị động, bất ngờ.

Năm là, tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và công trình bảo vệ biên giới phục vụ công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, nhất là các công trình phòng thủ, chiến đấu, các công trình bảo vệ biên giới, biển, đảo, đường tuần tra biên giới, các tuyến đường trọng điểm kết hợp phát triển kinh tế-xã hội gắn với quốc phòng-an ninh. Ưu tiên bố trí ngân sách Nhà nước để đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng, các công trình quốc phòng, công trình dân sinh ở khu vực biên giới; các công trình phòng thủ có tính lưỡng dụng trên biên giới, vùng biển, đảo.

Sáu là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, hữu nghị, phát triển. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch tổng thể, có trọng tâm, trọng điểm về bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ biên giới quốc gia gắn với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Đầu tư xây dựng các khu kinh tế-quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Triển khai thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; giảm nghèo bền vững, xây dựng cơ sở hạ tầng; giao đất, giao rừng, tạo điều kiện cho nhân nhân định canh, định cư, sinh sống ổn định lâu dài, bền vững ở khu vực biên giới.

Bảy là, tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng, đối ngoại biên phòng và đối ngoại nhân dân trong xây dựng mới đoàn kết, hữu nghị, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Triển khai có hiệu quả các đề án, chương trình đối ngoại, hợp tác quốc tế về xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia theo đường lối của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên biên giới, đối phó với các nguy cơ có thể xảy ra trên biên giới, biển, đảo. Đẩy mạnh giao lưu quốc phòng, giao lưu hữu nghị biên giới; nhân rộng mô hình kết nghĩa với lực lượng bảo vệ biên giới và nhân dân các nước láng giềng. Làm tốt công tác xuất, nhập cảnh, cải cách thủ tục hành chính tại các cửa khẩu đáp ứng yêu cầu hội nhập, hợp tác quốc tế; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.

Vươn mình bước vào kỷ nguyên mới dưới sự lãnh đạo của Đảng

 Nhìn lại lịch sử từ giữa thế kỷ 19 khi đất nước ta chưa có Đảng lãnh đạo, mặc dù nhân dân ta, dân tộc ta đã dũng cảm vùng lên chiến đấu, không chịu khuất phục trước sự áp bức, xâm lược của chủ nghĩa thực dân nhưng đều không thành công. Điển hình như cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Thủ Khoa Huân, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám… Giai đoạn này, cách mạng Việt Nam bị khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

Trong bối cảnh đó, ngày 6/5/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành, với tên Văn Ba đã rời bến Nhà Rồng (Sài Gòn) ra đi tìm đường cứu nước. Qua nhiều năm tháng bôn ba, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một chiến sỹ cách mạng giàu kinh nghiệm thực tiễn trong phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa những năm đầu thế kỷ 20. Từ chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Marx-Lenin và tìm được con đường cách mạng giải phóng cho dân tộc.

Ngày 3/2/1930, sau gần 20 năm đi tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; là bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ 20 và cũng là điểm mở đầu quyết định cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam và sự phát triển của dân tộc trong các giai đoạn sau này.

Với đường lối đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã truyền cảm hứng mạnh mẽ, làm sống dậy khát vọng giải phóng dân tộc trong nhân dân Việt Nam. Chỉ 15 năm đi theo đường lối cách mạng của Đảng, dân tộc ta đã làm nên kỳ tích vĩ đại - thực hiện thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân-phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do.

Với thắng lợi vĩ đại ấy, “chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền trong toàn quốc."

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đất nước ta bước vào thời đại mới, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc - Thời đại Hồ Chí Minh.

Chỉ hơn 4 tháng sau, cuộc Tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên ngày 6/1/1946 đã bầu ra Quốc hội và Chính phủ hợp hiến, hợp lòng dân.

Ngay tại Kỳ họp thứ hai (tháng 11/1946), Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trang trọng khẳng định quyền độc lập của dân tộc, quyền tự do dân chủ của nhân dân.

Lãnh đạo toàn quân, toàn dân ta đánh thắng các kẻ thù xâm lược

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc ta lại đối mặt với âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp. Trước những khó khăn chồng chất "nghìn cân treo sợi tóc," Đảng ta một lần nữa tỏ rõ bản lĩnh của một Đảng Marxist chân chính, chủ động đối phó với thù trong giặc ngoài với phương châm: “Tổ quốc trên hết, Dân tộc trên hết”; không thỏa hiệp để làm mất độc lập, chủ quyền đất nước nhưng sẵn sàng hòa hoãn, nhân nhượng về sách lược để dành thời gian xây dựng thực lực mọi mặt, chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Đảng ta đã sáng suốt định ra đường lối “Toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính.”

Theo chiến lược này, Đảng đã tổ chức toàn dân, tập hợp mọi lực lượng đưa vào các đoàn thể kháng chiến, xây dựng lực lượng chính trị hùng hậu và lực lượng vũ trang vững mạnh bao gồm 3 thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.

Và ngày 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến-Quyết thắng" đã tung bay trên hầm tướng De Castries. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quân và dân ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu," chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam. Ngày 20/7/1954, Hiệp định Geneva được ký, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Vừa ra khỏi cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, dân tộc ta lại phải bước vào cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ. Trước một đội quân xâm lược nhà nghề chưa từng thất bại, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng với những quyết sách chiến lược vô cùng sáng tạo, một lần nữa truyền đến nhân dân và toàn dân tộc niềm tin chiến thắng của chính nghĩa trước thế lực bạo tàn. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã chiến đấu anh dũng và chiến thắng hết sức vẻ vang.

Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội và nhân dân Việt Nam đã kết thúc cuộc trường chinh hơn một thế kỷ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thu non sông về một mối, mở ra kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chiến thắng 30/4/1975 là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam, là Ngày hội thống nhất non sông. Văn kiện Đại hội IV của Đảng năm 1976 khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc."

Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là thành quả tổng hợp của một loạt nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Nhưng nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam.

Đảng lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước

Sau ngày thống nhất, cả nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải đối diện với những thách thức, khó khăn gay gắt cả trong nước, khu vực và trên trường quốc tế. Trước tình hình đó, Đảng ta một lần nữa khẳng định trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử, khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (tại Đại hội VI của Đảng 1986).

Đảng ta quyết định thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; đồng thời đổi mới chính sách xã hội, hướng vào những giải pháp nhằm cải thiện đời sống mọi mặt của nhân dân.

Có thể khẳng định từ khi có Đảng lãnh đạo, dân tộc Việt Nam đã bước sang trang mới huy hoàng. Đất nước ta, từ một dân tộc thuộc địa, nô lệ trở thành một quốc gia độc lập; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao, có nhiều thành tựu về phát triển kinh tế-xã hội được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế không ngừng rộng mở, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư được tăng cường. Những thành tựu to lớn trên tạo tiền đề quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển, tự tin bước vào kỷ nguyên mới.

Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, sau gần 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích trong lịch sử, trải qua kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930-1975); kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới (1975-2025). Và giờ đây, chúng ta bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khởi đầu bằng sự kiện trọng đại - Đại hội XIV của Đảng.

Kỷ nguyên trước tạo tiền đề cho kỷ nguyên sau, kỷ nguyên sau kế thừa, phát triển thành tựu của kỷ nguyên trước, làm cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngày càng hòa quyện, phát triển không ngừng. Ý Đảng hòa quyện lòng dân, khát vọng đưa đất nước vươn mình tiến vào kỷ nguyên mới.

Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, khi chúng ta hoàn thành xuất sắc công cuộc đổi mới sau 40 năm lao động, sáng tạo bền bỉ và đạt được những thành tựu vĩ đại.

Từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ, cơ hội chiến lược, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập nước. Điều quan trọng là chúng ta phát huy được tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nỗ lực, quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại tổ chức phiên họp đầu tiên sau sắp xếp bộ máy

 Sáng 5-3, tại Hà Nội, Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội khai mạc Phiên họp Thường trực Ủy ban mở rộng, thẩm tra sơ bộ 3 dự án luật.

Thượng tướng Trần Quang Phương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội dự và phát biểu chỉ đạo. Trung tướng Lê Tấn Tới, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại chủ trì phiên họp.

Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại tổ chức phiên họp đầu tiên sau sắp xếp bộ máy

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội Lê Tấn Tới phát biểu khai mạc phiên họp. Ảnh: PHẠM THẮNG

Phát biểu khai mạc phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội Lê Tấn Tới cho biết, đây là phiên họp đầu tiên của Ủy ban sau khi sắp xếp lại tổ chức các cơ quan của Quốc hội; cũng là phiên họp đầu tiên để thẩm tra các dự án luật sau khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp bất thường lần thứ chín, đã có hiệu lực thi hành.

Trong đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) có quy định mới rất quan trọng là cơ quan trình văn bản quy phạm pháp luật sẽ theo đuổi dự án luật cho đến khi được Quốc hội bấm nút thông qua.

Tuy nhiên, Chủ nhiệm Lê Tấn Tới nêu rõ, với những dự án luật đã có trong Chương trình Xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, bổ sung năm 2025, thì các ủy ban của Quốc hội vẫn chủ trì sau khi xin ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo luật cũ.

Các dự án luật bổ sung theo chương trình mới thì thực hiện theo luật mới, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ theo đuổi dự án luật cho đến khi Quốc hội bấm nút thông qua.

Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại tổ chức phiên họp đầu tiên sau sắp xếp bộ máy
Quang cảnh phiên họp. Ảnh: PHẠM THẮNG

Nhấn mạnh rằng phiên họp được tiến hành trong 1,5 ngày, Chủ nhiệm Lê Tấn Tới đề nghị các đại biểu lưu ý những nội dung rất mới, như quy định mới của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; chủ trương đổi mới tư duy xây dựng pháp luật mà các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nhiều lần quán triệt; quyết tâm chính trị cao nhất của cả hệ thống chính trị trong việc vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, với mục tiêu đưa đất nước phát triển vượt bậc để đuổi kịp các nước. Công tác xây dựng pháp luật cũng cần được thực hiện theo hướng không cầu toàn, nhưng cũng không dễ dãi.

Với tinh thần đó, Chủ nhiệm Lê Tấn Tới yêu cầu các đại biểu tiến hành phiên họp với tinh thần nghiêm túc, hiệu quả, “không lê thê”.

Trong phiên làm việc buổi sáng, Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội sẽ tiến hành thẩm tra sơ bộ dự án Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.