Thứ Ba, 4 tháng 3, 2025

 

Chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trong Chiến dịch Tây Nguyên

Cách đây 50 năm (1975-2025), thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương (QUTƯ), quân và dân ta đã mở Chiến dịch Tây Nguyên (4-3 đến 3-4-1975), giành thắng lợi vẻ vang; từ đó tạo ra sự thay đổi căn bản về so sánh thế và lực, mở ra thời cơ chiến lược có lợi cho ta, là cơ sở để Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên là kết quả của sự vận dụng sáng tạo đường lối quân sự của Đảng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và nghệ thuật quân sự Việt Nam; là tổng hòa của nhiều nhân tố, trong đó chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị, QUTƯ có ý nghĩa quan trọng, quyết định, được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

1. Nắm vững thời cơ, chủ động chỉ đạo xây dựng kế hoạch chiến lược, chọn Tây Nguyên là hướng chiến lược mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27-1-1973), Mỹ buộc phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, tạo ra sự thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng. Thực hiện Nghị quyết 21 của Đảng (7-1973), cùng với chỉ đạo quân và dân ta đẩy mạnh các hoạt động phản công, tiến công địch tạo chuyển biến cục diện trên chiến trường, Bộ Chính trị, QUTƯ kịp thời chỉ đạo Cơ quan Tổng hành dinh bắt tay vào xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam.

Từ cuối năm 1973 đến đầu năm 1974, quân và dân ở miền Nam tiếp tục giành được những thắng lợi rất quan trọng trên mặt trận quân sự, chính trị và chống phá bình định của địch, qua đó tạo ra thế mới và lực mới cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Thời cơ và điều kiện thuận lợi để ta giải phóng miền Nam bắt đầu xuất hiện.

Tháng 2-1974, QUTƯ, Bộ Tổng Tư lệnh dự kiến phương hướng chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm (1975-1976), trong đó xác định: Đòn tiến công chính của chủ lực là ở Tây Nguyên. Tháng 9-1974, QUTƯ và Bộ Tổng Tư lệnh chính thức giao cho Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (B3) chuẩn bị mở Chiến dịch Nam Tây Nguyên (tên gọi ban đầu của Chiến dịch Tây Nguyên) với khu vực tác chiến được xác định chủ yếu là Thuần Mẫn và Đức Lập.

Chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trong Chiến dịch Tây Nguyên
Thông qua phương án tác chiến, quyết tâm chiến đấu của Chiến dịch Tây Nguyên, tháng 2-1975. Ảnh tư liệu 

Đến tháng 10-1974, Bộ Chính trị nhất trí kế hoạch giải phóng miền Nam, xác định quyết tâm chiến lược: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tiến công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh đến mức phát triển cao nhất... giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà”(1).

Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”(2). Về hướng tiến công chiến lược và nhiệm vụ cụ thể của từng chiến trường, Bộ Chính trị yêu cầu phải chủ động đón thời cơ chiến lược, chuẩn bị sẵn sàng tác chiến trên cả hai hướng chiến lược: Tây Nguyên (trọng tâm là Nam Tây Nguyên) là hướng chiến lược quan trọng, chủ yếu; miền Đông Nam Bộ là hướng quyết định cuối cùng. Đánh chiếm được Tây Nguyên sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền và điều kiện thuận lợi để ta tổ chức các chiến dịch tiếp theo, thực hiện chia cắt địch về chiến lược và phát triển nhanh về Sài Gòn.

Sau “đòn trinh sát chiến lược Phước Long”, ngày 8-1-1975, Bộ Chính trị kết luận: “Nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc...

Trên chiến trường Khu 5, Tây Nguyên, dùng ba sư đoàn quân chủ lực đánh Tây Nguyên, mở thông hành lang nối liền Nam Tây Nguyên với Đông Nam Bộ, phối hợp với quân chủ lực Miền tiến đánh Sài Gòn”(3). Nhạy bén và sáng suốt, Bộ Chính trị, QUTƯ quyết định chọn Tây Nguyên, địa bàn có vị trí vô cùng quan trọng về chiến lược làm hướng tiến công chiến lược, mở màn cho cuộc tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam. Đây là quyết định đúng đắn, một thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị và QUTƯ đã được thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh.

2. Xác định hướng tiến công và mục tiêu tiến công chiến dịch đúng đắn, sáng tạo

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với tiến công địch rộng khắp, liên tục ở mọi quy mô, vào những thời điểm quan trọng, trên cơ sở so sánh lực lượng và thế bố trí lực lượng giữa ta và địch, Bộ Chính trị, QUTƯ đã chỉ đạo quân và dân ta tổ chức các chiến dịch lớn đánh vào những nơi hiểm yếu nhưng địch lại sơ hở, để giành thắng lợi, làm rung chuyển thế trận chiến lược của địch, tạo thời cơ thuận lợi cho ta tiếp tục mở những đòn tiến công chiến lược tiếp theo.

Quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam, nhận thấy thế và lực của địch đã suy yếu, bị động nhưng Mỹ khó có khả năng can thiệp trở lại, Bộ Chính trị, QUTƯ đã phát hiện thời cơ giải phóng miền Nam. Sau nhiều lần chuẩn bị và thông qua, ngày 18-12-1974, Bộ Chính trị họp Hội nghị mở rộng thông qua kế hoạch và quyết tâm tổng tiến công chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam lần cuối cùng. Các ý kiến thảo luận tại hội nghị đều nhất trí với phương án của Thường trực QUTƯ chọn hướng chính là Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột là điểm đột phá chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975.

Xét về địa lý quân sự, Tây Nguyên là một địa bàn có nhiều thuận lợi cho đánh tiêu diệt lớn sinh lực địch, nhất là vùng xung quanh Buôn Ma Thuột. Đó là vùng tiếp giáp với đồng bằng Khu 5 và Nam Bộ, giành thắng lợi ở đó có thể dễ dàng phát triển xuống đồng bằng. Chọn Tây Nguyên là ta đã chọn đúng nơi hiểm yếu nhất của địch, bởi vì quân đội Sài Gòn lúc này đang tập trung lực lượng mạnh phòng thủ ở hai đầu (Trị - Thiên và Sài Gòn - Gia Định), yếu và sơ hở ở giữa (Quân khu 2).

Đánh vào chỗ địch sơ hở nhưng hiểm, ta có điều kiện mở cuộc tiến công tiếp theo giải phóng vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ, thực hiện chia cắt chiến lược, cô lập Quân khu 1 của địch, trực tiếp uy hiếp Quân khu 3, nhất là Sài Gòn - Gia Định. Thế trận phòng ngự của địch trên toàn miền Nam sẽ nhanh chóng bị phá vỡ. Bộ Chính trị, QUTƯ đã nắm chắc thời cơ và đưa ra quyết định chính xác mở Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên.

Chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trong Chiến dịch Tây Nguyên

Bộ đội ta tiến công Buôn Ma Thuột trong Chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh tư liệu

Trên địa bàn Tây Nguyên, địch bố trí phòng ngự mạnh ở phía Bắc (Kon Tum, Pleiku). Khu vực Buôn Ma Thuột (Nam Tây Nguyên) được xem như là hậu phương của chúng.

Trước ngày ta nổ súng mở màn chiến dịch, địch tập trung 8/10 trung đoàn ở Bắc Tây Nguyên. Tại Nam Tây Nguyên, lực lượng phòng ngự của địch tương đối mỏng, có nhiều sơ hở, dễ bị cô lập. Đây cũng là chiến trường ta có kinh nghiệm tác chiến và điều kiện làm công tác chuẩn bị bảo đảm đòn đánh mở đầu chắc thắng.

Đồng chí Lê Trọng Tấn nhận định: “Chọn Nam Tây Nguyên là đánh vào nơi hiểm yếu và nơi địch đề phòng chưa thật tốt lắm”(4). Trên cơ sở nhận định, đánh giá tình hình địch, tình hình ta, Bộ Chính trị đồng ý đề xuất của QUTƯ chọn Buôn Ma Thuột là mục tiêu then chốt chủ yếu của chiến dịch. Với trận tiến công Buôn Ma Thuột ở Nam Tây Nguyên, ta sẽ đánh vào chỗ yếu chí tử của địch, làm cho quân đội và chính quyền Sài Gòn hoàn toàn bị bất ngờ về hướng tiến công và quy mô lực lượng của ta. Cuộc tiến công chiến lược của ta có điều kiện phát triển lên thành tổng tiến công chiến lược.

Ngày 21-1-1975, QUTƯ và Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ bổ sung cho Chiến dịch Tây Nguyên, trong đó giải phóng Buôn Ma Thuột là nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch. Do tầm quan trọng về chiến lược, Bộ Chính trị, QUTƯ quyết định cử Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên.

Quyết định mở Chiến dịch tiến công Tây Nguyên thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bộ Chính trị, QUTƯ và Bộ Tổng Tư lệnh trong chỉ đạo, điều hành chiến tranh. Giải phóng được Tây Nguyên, tạo điều kiện phát triển thuận lợi xuống các tỉnh duyên hải miền Trung, tiến về hướng Nam uy hiếp Đông Nam Bộ, tiến lên hướng Bắc uy hiếp Kon Tum, Pleiku. Đó là điểm khởi đầu dẫn đến sự tan rã, sụp đổ về chiến lược của địch, tạo đà cho quân và dân ta tổ chức các chiến dịch tiếp theo, thực hiện mục tiêu cao nhất: Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

3. Chỉ đạo chuẩn bị lực lượng, tổ chức nghi binh và tạo lập thế trận cho Chiến dịch Tây Nguyên

Xác định Tây Nguyên là địa bàn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với chủ trương xây dựng lực lượng tại chỗ vững mạnh, rộng khắp, từ năm 1964, QUTƯ và Bộ Quốc phòng đã đưa một số đơn vị chủ lực vào chiến trường Tây Nguyên.

Đặc biệt, trước khi ta mở Chiến dịch Tây Nguyên, để tạo ưu thế về lực lượng, phương tiện cho đòn mở đầu tiến công chiến lược năm 1975, Bộ Chính trị, QUTƯ đã chỉ đạo điều động đến Tây Nguyên một lực lượng lớn gồm 4 sư đoàn bộ binh (10, 320A, 316 và 968), 4 trung đoàn bộ binh (95A, 95B, 25 và 271), 5 trung đoàn pháo mặt đất, cao xạ, 1 trung đoàn xe tăng, 1 trung đoàn đặc công, 1 trung đoàn thông tin và một số đơn vị vận tải, tạo ra ưu thế vượt trội lực lượng cả về số lượng và chất lượng so với quân địch.

So với lực lượng của đối phương, lực lượng của ta trên chiến trường Tây Nguyên gấp 3-4 lần, tạo nên thế và lực của ta mạnh hơn địch rất nhiều. Đây là một trong những yếu tố trực tiếp đưa Chiến dịch Tây Nguyên đến toàn thắng. Nhờ được tăng cường lực lượng, quân và dân Tây Nguyên đã triển khai lực lượng chính trị, quân sự, cả ba thứ quân vào một thế trận chiến lược và cơ động trên toàn chiến trường, tạo thế cài xen giữa ta và địch trên một không gian rộng, vừa thực hiện được chia cắt, vây hãm địch, vừa tạo ra thế chủ động tiến công địch.

Để tạo thế trận chiến lược cho Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị và QUTƯ đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị tiến hành một loạt các biện pháp nghi binh rất công phu, tích cực để thu hút và giam chân khối chủ lực cơ động của địch. Trên toàn chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị, QUTƯ đã xây dựng thế trận chiến lược tập trung lực lượng lớn ở Huế và Đông Bắc Sài Gòn, buộc đối phương phải căng ra ở hai đầu Nam, Bắc để giữ Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn, mở ra khu vực rộng lớn ở miền Trung, Tây Nguyên.

Từ đầu tháng 3-1975, phối hợp với Chiến dịch Tây Nguyên, quân và dân ta ở Mặt trận Trị - Thiên, Mặt trận đồng bằng Khu 5 đã đẩy mạnh hoạt động tiến công địch. Quân đoàn 2 mở chiến dịch tiến công phía Tây thành phố Huế. Sư đoàn 2 và lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu 5 mở đợt hoạt động ở phía Tây và Tây Nam thành phố Đà Nẵng, thị xã Tam Kỳ. Ở Nam Bộ, LLVT cách mạng cũng liên tiếp tổ chức các trận tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một vùng rộng thuộc tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông và 12 xã phía Nam Long An... Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chiến trường đã tạo đà cho Chiến dịch Tây Nguyên phát triển tiến công thuận lợi, giành thắng lợi nhanh chóng, thời cơ giải phóng dải đất Trung Trung Bộ xuất hiện.

Để chuẩn bị thế trận chiến dịch, Bộ Chính trị, QUTƯ chỉ đạo Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên tổ chức cho các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với LLVT, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên thực hiện các hoạt động tác chiến nghi binh, tập trung chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum; tổ chức tuyên truyền nghi binh ta sẽ đánh lớn ở Bắc Tây Nguyên. Địch tin chắc ta đánh lớn ở khu vực này, do đó đã tập trung phòng thủ, đối phó ở Bắc Tây Nguyên là chính. Trong khi đó, ta chỉ để lại Sư đoàn 968 ở Bắc Tây Nguyên, bí mật đưa 3 sư đoàn (10, 320A và 316), các đơn vị binh chủng tăng thiết giáp, pháo binh, thông tin, đặc công vào Nam Tây Nguyên.

Thực hiện sự chỉ đạo của QUTƯ “phải nghi binh rất nhiều để làm cho địch tập trung sự chú ý vào việc bảo vệ phía Bắc Tây Nguyên”(5), Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A không sử dụng vô tuyến điện để liên lạc. Toàn bộ mật danh vô tuyến liên lạc để lại cho Sư đoàn 968 giữ mối liên lạc thường xuyên như cũ, làm cho địch vẫn tưởng 2 sư đoàn chủ lực này vẫn ở sát Pleiku và Kon Tum. Trung đoàn Công binh 7 kết hợp với dân công triển khai rầm rộ mở các trục đường ở Bắc Tây Nguyên để thu hút sự chú ý của địch, làm cho chúng càng tin rằng ta đang chuẩn bị tiến công hướng này. Trong khí đó, công binh ta đã hoàn thành mạng đường cơ động chiến dịch hướng tới Đức Lập, Gia Nghĩa và Buôn Ma Thuột.

Mặt khác, để thực hiện nhiệm vụ nghi binh Bộ Tổng Tham mưu giao, cùng với việc sử dụng toàn bộ mật danh vô tuyến điện của Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A để liên lạc thường xuyên với Bộ, Sư đoàn 968 bất ngờ sử dụng lực lượng đánh chiếm một đoạn Đường 19, cắt đứt tuyến vận chuyển tiếp tế của quân đội Sài Gòn, hình thành thế bao vây chia cắt Pleiku, cô lập quận lỵ Thanh An, Lệ Ngọc, buộc địch huy động lực lượng lên giải tỏa và bảo vệ đường giao thông. Ngoài ra, Sư đoàn 968 còn tổ chức chuẩn bị trận địa ở Điểm cao 946, Bắc Ngọc Quận (Kon Tum) và Bắc Đường số 5A (Pleiku), sẵn sàng bắn vào thị xã Kon Tum, sân bay Cù Hanh và La Sơn để thu hút địch.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, QUTƯ, trực tiếp là Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã thực hiện thành công các hoạt động nghi binh, tạo thế, góp phần căng kéo, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận chủ lực địch, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ và thời cơ thuận lợi cho các lực lượng trên các hướng chủ yếu tạo nên sức mạnh áp đảo, đẩy mạnh tiến công.

Công tác nghi binh đạt hiệu quả cao, tạo đà cho Chiến dịch Tây Nguyên phát triển nhanh chóng, giành thắng lợi trong các trận then chốt quyết định, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch, mở ra thời cơ thuận lợi để quân và dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Có thể khẳng định, chỉ đạo chuẩn bị lực lượng, tổ chức nghi binh và tạo lập thế trận là một trong những thành công lớn của Bộ Chính trị và QUTƯ trong Chiến dịch Tây Nguyên.

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến mau lẹ, phức tạp; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh kiềm chế lẫn nhau và sẵn sàng can dự, chi phối vào nội bộ nước khác.

Các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, nhất là an ninh, an toàn không gian mạng, khủng bố, tội phạm, thiên tai, dịch bệnh... tiếp tục diễn biến ngày càng phức tạp. Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh các hoạt động thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, với những thủ đoạn chống phá ngày càng công khai, trực diện hơn. Trước tình hình đó, để tập trung xây dựng QĐND Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân cần tiếp tục thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tập trung xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị, giữ vững bản chất cách mạng, bảo đảm luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Để thực hiện tốt nội dung trên, cần tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, bảo đảm Quân đội luôn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc.

Đảng bộ Quân đội tiếp tục đi đầu trong thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng sinh hoạt, năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phê bình và tự phê bình, giữ nghiêm kỷ luật Đảng; đề cao tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy và chỉ huy cơ quan, đơn vị. Mặt khác, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Qua đó, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc về ý chí, niềm tin, trách nhiệm chính trị; xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị, tâm thế vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh, bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh luôn trung thành vô hạn, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, tiếp tục điều chỉnh tổ chức biên chế các cơ quan, đơn vị Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều chỉnh tổ chức biên chế là yêu cầu cấp thiết, đáp ứng đòi hỏi khách quan thực hiện mục tiêu tổ chức Quân đội có cơ cấu và quân số cân đối, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng, phù hợp với quyết tâm bảo vệ Tổ quốc và yêu cầu chiến đấu trong tình hình mới.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, cấp ủy đảng và người chỉ huy các cấp cần tiếp tục tăng cường quán triệt và thực hiện hiệu quả Kết luận 16 ngày 7-7-2017 của Bộ Chính trị về tổ chức QĐND Việt Nam đến năm 2021; Nghị quyết 05 ngày 17-1-2022 của Bộ Chính trị khóa XIII “Về tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo”. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 15, ngày 1-8-2017 của Bộ Chính trị về bảo đảm vũ khí, trang bị (VKTB) cho QĐND Việt Nam đến năm 2025; Nghị quyết 18 ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ‘‘Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ điều chỉnh tổ chức biên chế Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh” trong tình hình mới.

Điều chỉnh tổ chức từ cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng đến các cơ quan, đơn vị cấp chiến dịch, chiến thuật. Điều chỉnh thế bố trí để đáp ứng nhiệm vụ trên cả 5 môi trường tác chiến (không, bộ, biển, không gian mạng, không gian vũ trụ)(6). Giải thể, sáp nhập một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, thành lập một số đơn vị mới; bố trí đóng quân ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Rà soát hoàn chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của các đầu mối trực thuộc Bộ, phân định rõ, không để chồng chéo.

Điều chỉnh tổ chức, biên chế là vấn đề lớn, tác động trực tiếp đến tâm tư, tình cảm của một bộ phận cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp và người lao động. Các cơ quan, đơn vị cần đánh giá đúng tình hình, thấy rõ những thuận lợi, khó khăn, củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ đối với chủ trương của Đảng, Quân đội; từ đó, tạo sự đồng thuận, quyết tâm cao, tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng và Nhà nước; tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức biên chế Quân đội, có cơ cấu hợp lý, số lượng phù hợp, chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu nâng cao sức mạnh chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của LLVT nhân dân.

Ba là, tích cực đổi mới nội dung, phương pháp huấn luyện, diễn tập, nâng cao chất lượng tổng hợp, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) của Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Đổi mới nội dung, phương pháp huấn luyện, diễn tập, nâng cao chất lượng tổng hợp, SSCĐ của Quân đội là yêu cầu cấp thiết, vấn đề hết sức quan trọng, nhằm không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Các cấp ủy đảng, người chỉ huy phải thường xuyên coi trọng, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết của QUTƯ, Bộ Quốc phòng về công tác huấn luyện, nhất là Nghị quyết số 1659, ngày 20-12-2022 của QUTƯ về “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo”; tổ chức thực hiện tốt Chỉ lệnh công tác quân sự, quốc phòng của Tổng Tham mưu trưởng.

Đẩy mạnh đổi mới công tác huấn luyện theo tư duy mới về quân sự, quốc phòng của Đảng và phù hợp với yêu cầu Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược Biển Việt Nam, Luật Quốc phòng Việt Nam năm 2018.

Đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp huấn luyện, bám sát phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, địa bàn hoạt động, đối tượng tác chiến, phù hợp với tổ chức biên chế, sự phát triển của VKTB và nghệ thuật quân sự Việt Nam, yêu cầu tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; tăng cường huấn luyện thực hành, huấn luyện theo nhiệm vụ, tình huống, nâng cao khả năng cơ động tác chiến trong điều kiện địa hình, thời tiết phức tạp, địch sử dụng vũ khí công nghệ cao; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với luyện tập, diễn tập; xây dựng tinh thần quyết chiến, quyết thắng, tin tưởng vào thắng lợi của cách đánh, VKTB hiện có.

Đồng thời, tăng cường nghiên cứu, biên soạn, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống tài liệu huấn luyện cho các đối tượng, nhất là tài liệu huấn luyện cho các lực lượng mới thành lập; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, thực hành huấn luyện, diễn tập; tăng cường kết hợp giữa diễn tập chiến dịch, chiến lược với diễn tập chiến thuật, diễn tập vòng tổng hợp; kết hợp giữa diễn tập tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng với tác chiến của LLVT địa phương trong khu vực phòng thủ các cấp nhằm nâng cao năng lực tham mưu, chỉ huy tác chiến của cán bộ và trình độ, khả năng SSCĐ của các phân đội; đặc biệt chú ý công tác kiểm tra, rút kinh nghiệm luyện tập, diễn tập, nhất là rút kinh nghiệm phối hợp, hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng trong khu vực phòng thủ, nhằm nâng cao khả năng phòng tránh, đánh trả, bảo toàn lực lượng thời kỳ đầu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và khả năng tham gia ứng phó, khắc phục thảm họa thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, chống biến đổi khí hậu trong tình hình mới.

Bốn là, đầu tư nâng cao chất lượng và đồng bộ VKTB hiện có cho Quân đội phù hợp với tổ chức, biên chế và Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam.

Sức mạnh của Quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó, con người là yếu tố quyết định, VKTB là yếu tố rất quan trọng. Những năm gần đây, cùng với mua sắm và đẩy mạnh sản xuất, chế tạo, nhiều loại vũ khí, khí tài, nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại được đưa vào khai thác, sử dụng, góp phần nâng cao khả năng, sức mạnh SSCĐ của Quân đội.

Phát huy kết quả đạt được, Bộ Chính trị, QUTƯ chỉ đạo các cơ quan Bộ Quốc phòng cần bám sát chủ trương của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tổ chức thực hiện chặt chẽ công tác đầu tư, mua sắm, sản xuất, cải tiến, hiện đại hóa VKTB kỹ thuật; nâng cao năng lực làm chủ công nghệ sửa chữa, khai thác, sử dụng các loại VKTB kỹ thuật thế hệ mới, hiện đại. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án mua sắm, sản xuất, cải tiến, hiện đại hóa VKTB kỹ thuật, phù hợp với khả năng của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ của LLVT.

Trong đó, tập trung nghiên cứu, đầu tư trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật, khí tài hiện đại cho một số lực lượng, như: Hải quân, Phòng không-Không quân, Tác chiến điện tử, Thông tin liên lạc, Trinh sát kỹ thuật và Cảnh sát biển; đồng thời, đẩy nhanh lộ trình từng bước hiện đại hóa VKTB cho các lực lượng khác. Thực hiện chính sách mở rộng đa phương với nhiều nước trên thế giới để có nhiều lựa chọn trong mua sắm VKTB công nghệ cao, phù hợp với khả năng kinh tế và xu hướng phát triển khoa học-công nghệ. Hợp tác kỹ thuật quân sự phát triển tốt cả bề rộng lẫn chiều sâu, từng bước chuyển dần từ mua sắm sang hợp tác nghiên cứu khoa học-công nghệ, chuyển giao công nghệ sản xuất, sửa chữa, cải tiến, tăng hạn VKTB, đáp ứng với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Chiến thắng Tây Nguyên đã tròn 50 năm, nhưng những chỉ đạo chiến lược sắc bén, đúng đắn, sáng tạo, kịp thời của Bộ Chính trị, QUTƯ và những bài học quý được rút ra từ Chiến dịch Tây Nguyên vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Các cấp ủy đảng, cán bộ chỉ huy cơ quan, đơn vị các cấp trong toàn quân, nhất là cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo vào huấn luyện, SSCĐ và chiến đấu, xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Xóa nhà tạm trên vùng biên giới

 Từ những trợ lực của Nhà nước bằng các chương trình mục tiêu quốc gia, cùng với đó là nguồn xã hội hóa, nhiều ngôi nhà tạm đã được khởi công xây dựng mới ở vùng biên giới huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, giúp đồng bào an cư, ổn định cuộc sống.

Nỗ lực xóa nhà tạm

Thực hiện chủ trương xóa nhà tạm, nhà dột nát, đến nay, hàng nghìn ngôi nhà đã được khởi công xây dựng, bàn giao, góp phần an cư, ổn định cuộc sống người dân miền núi vùng biên giới Tây Giang.

Sau thời gian triển khai tu sửa, với sự giám sát chặt chẽ của chính quyền địa phương, ngôi nhà của hộ ông Bríu Ca Đói (trú tại thôn Ga’nil, xã Axan) đã hoàn thiện, bàn giao cho gia đình. Ông Bríu Ca Đói cho hay, ngôi nhà này được dựng cách đây hơn 3 năm. Do điều kiện lúc đó khó khăn nên gia đình chỉ làm tạm để che nắng mưa. Đến nay, ngôi nhà đã xuống cấp nghiêm trọng và ngày càng dột nát. Trước hoàn cảnh của gia đình, chính quyền xã Axan nhanh chóng khảo sát, lập hồ sơ đề nghị Ban Vận động xóa nhà tạm, nhà dột nát huyện kịp thời hỗ trợ sửa chữa. Ngay sau đó, địa phương chuyển kinh phí 30 triệu đồng giúp gia đình ông Ca Đói có thêm điều kiện mua tôn lợp mái, đóng phên, lát gạch hoa nền nhà.

Không chỉ hộ ông Bríu Ca Đói, từ nguồn lực xóa nhà tạm, thời gian qua, có rất nhiều hộ dân khó khăn, có nhu cầu bức thiết về nhà ở trên địa bàn huyện Tây Giang được chính quyền địa phương kịp thời hỗ trợ sửa chữa, xây mới. Trước đây, gia đình bà Pơloong Thị Uốt và hàng chục hộ dân của thôn Arooi, xã Gari sống rải rác ở sườn núi, theo kiểu nay đây, mai đó. Thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh Quảng Nam về xóa nhà tạm, Tây Giang đã sắp xếp lại dân cư, hỗ trợ đất đai, tiền bạc và vật liệu để bà con làm nhà. Hộ bà Pơloong Thị Uốt thuộc diện gia đình chính sách, nhiều năm sinh sống trong ngôi nhà đã xuống cấp nghiêm trọng. Từ nguồn hỗ trợ của địa phương, bà Uốt đã nâng cấp ngôi nhà kiên cố. “Ngoài kinh phí của Nhà nước, còn có sự hỗ trợ ngày công của lực lượng thanh niên và bà con trong thôn nên ngôi nhà sớm được hoàn thành” - bà Uốt chia sẻ.

Vào ngày 12/8/2024, hai hộ gia đình Abing Chính và Abing Ấn ở thôn K'xêêng, xã Dang xảy ra vụ cháy nhà làm thiêu rụi hoàn toàn. Kịp thời chia sẻ, động viên 2 hộ gia đình không may bị hỏa hoạn, Ban Cứu trợ tỉnh đã kịp thời điều chuyển 120 triệu đồng (mỗi nhà 60 triệu đồng) về Ban Cứu trợ huyện Tây Giang để triển khai hỗ trợ nhà ở. Sau gần 4 tháng thi công, đến nay, 2 ngôi nhà của 2 hộ gia đình Abing Chính và Abing Ấn đã được Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện nghiệm thu và bàn giao cho gia đình. Nhà cấp bốn xây tường gạch, mái lợp tôn, nền lát gạch hoa gồm 1 phòng khách, 2 phòng ngủ, tổng kinh phí mỗi nhà trên 200 triệu đồng.

Được biết, theo Quyết định số 2166/QĐ-UBND ngày 27/8/2024 của UBND huyện về phê duyệt danh sách hộ nghèo có nhu cầu làm mới nhà ở thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững Dự án 5, đợt I năm 2024, tổng số hộ nghèo được hỗ trợ nhà ở là 221 hộ (xây mới 124 nhà, sửa chữa 97 nhà), tương đương với kinh phí thực hiện là hơn 7,9 tỷ đồng. Để hoàn thành mục tiêu ổn định nhà ở cho đồng bào, thời gian qua, Ban Vận động xóa nhà tạm, nhà dột nát huyện Tây Giang thường xuyên đôn đốc, giám sát tiến độ triển khai công trình. Đồng thời hướng dẫn Ủy ban MTTQ Việt Nam các xã hoàn thành các thủ tục, sớm hỗ trợ kinh phí nhà ở cho các hộ gia đình được thụ hưởng. Giai đoạn 2023 - 2025, Tây Giang có 967 nhà cần được hỗ trợ xây mới và sửa chữa; trong đó, 775 hộ có nhu cầu hỗ trợ theo Quyết định số 90 của Thủ tướng Chính phủ và 192 hộ đủ điều kiện được hỗ trợ về nhà ở theo Nghị quyết số 13 của HĐND huyện. Tổng nhu cầu kinh phí cần hỗ trợ hơn 10,5 tỷ đồng (xây mới 60 triệu đồng/nhà, sửa chữa 30 triệu đồng/nhà). Trên cơ sở vận động kinh phí xóa nhà tạm, nhà dột nát, đến nay, địa phương tiếp nhận được hơn 706 triệu đồng kinh phí ủng hộ. Từ nguồn kinh phí này, Tây Giang phân bổ nguồn lực giúp các địa phương triển khai xóa 233 hộ đồng bào khó khăn ổn định cuộc sống.

Để hoàn thành mục tiêu đề ra là hỗ trợ nhà ở cho hơn 400 hộ dân trong năm 2024, huyện Tây Giang đã yêu cầu các địa phương rà soát, lập danh sách số nhà cần xây mới, nhà sửa chữa. Trên cơ sở đó, UBND huyện lập tổ công tác kiểm tra ở từng thôn để xác định đúng đối tượng trước khi phê duyệt hỗ trợ. Để xóa nhà tạm hiệu quả, huyện miền núi nghèo Tây Giang kêu gọi các ban, ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị kết nghĩa, nhà hảo tâm, cộng đồng xã hội hỗ trợ giúp người dân.

Trợ lực từ Nhà nước và nguồn xã hội hóa

Để nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, đặc biệt là ổn định nhà ở, nhiều năm qua, Tây Giang dành phần lớn nguồn lực triển khai hỗ trợ xóa nhà tạm, xem đó là nhiệm vụ trọng tâm gắn với phòng, chống thiên tai hiệu quả. Những năm qua, bằng việc lồng ghép các nguồn lực, huyện Tây Giang đã nỗ lực triển khai các chương trình hỗ trợ xóa nhà tạm. Chỉ riêng năm 2023, địa phương đã cải thiện, hỗ trợ xóa nhà tạm, làm nhà mới cho gần 760 hộ, với số tiền gần 45 tỷ đồng. Từ nay đến năm 2025, huyện miền núi này sẽ bố trí hơn 10,5 tỷ đồng để xóa nhà tạm cho 192 trường hợp là hộ nghèo, cận nghèo và gia đình chính sách. Nhiều địa phương linh hoạt lồng ghép các nguồn lực, xã hội hóa nguồn lực giúp “trợ lực” thêm cho mục tiêu an sinh xã hội, tạo sự lan tỏa phong trào hỗ trợ xóa nhà tạm trên địa bàn miền núi.

Ông Bríu Quân, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện Tây Giang kiêm Trưởng ban Vận động xóa nhà tạm, nhà dột nát huyện cho hay, từ nguồn kinh phí vận động hơn 700 triệu đồng, thời gian qua, đơn vị kịp thời phân bổ để các xã hỗ trợ xây dựng nhà ở cho 15 hộ được thụ hưởng theo Nghị quyết số 13 của HĐND tỉnh. Trong đó, hỗ trợ xây mới 9 ngôi nhà (60 triệu đồng/nhà) và sửa chữa 5 nhà (30 triệu đồng/nhà). Đồng thời, cấp bù bổ sung vào nguồn lực hỗ trợ của một cá nhân với kinh phí 10 triệu đồng giúp hộ khó khăn có thêm điều kiện xây dựng nhà mới. Cùng với đó, địa phương cũng đang tập trung đẩy nhanh tiến độ hỗ trợ 218 ngôi nhà ở Đại đoàn kết cho 218 hộ có nhà ở tạm bợ, dột nát, với tổng kinh phí hỗ trợ hơn 3,6 tỷ đồng từ nguồn của Ban Vận động xóa nhà tạm, nhà dột nát tỉnh. Đồng thời tập trung rà soát 45 hộ người có công, hộ nghèo, hộ đặc biệt khó khăn để hỗ trợ nhà ở từ nguồn hỗ trợ của Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Đà Nẵng.

“Hiện nay, người dân Tây Giang đa số có nhà cửa ổn định. Tây Giang phấn đấu đến năm 2025 sẽ hoàn thành xóa nhà tạm, dột nát trên địa bàn. Hy vọng, từ những chính sách của Nhà nước và các nguồn lực xã hội sẽ góp phần giúp người dân sớm ổn định cuộc sống từ những ngôi nhà ở kiên cố” - ông Bríu Quân cho biết.

Nền tảng để thoát nghèo bền vững

 Mỗi dịp Tết đến, Xuân về, niềm vui đoàn tụ và sự sum vầy bên mái ấm luôn là khát vọng của mọi gia đình. Thế nhưng, giữa những bản làng vùng miền núi, dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, nhiều gia đình vẫn sống trong những căn nhà tạm bợ, dột nát, mong mỏi một cuộc sống an yên dưới mái nhà kiên cố. Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát (NT, NDN) ra đời với ý nghĩa nhân văn sâu sắc, không chỉ là sự hỗ trợ vật chất mà còn là món quà tinh thần, mang đến hơi ấm của sự quan tâm, sẻ chia.

Chương trình xóa NT, NDN là minh chứng cho tinh thần “lá lành đùm lá rách” và sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Mục tiêu của chương trình không chỉ đơn thuần là xây dựng những căn nhà mới mà còn giúp người dân ổn định cuộc sống, yên tâm lao động sản xuất và xây dựng tương lai. Đối với các gia đình miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa - nơi điều kiện sinh hoạt khó khăn, việc có được căn nhà mới vào dịp năm mới càng trở thành niềm vui và nguồn động lực lớn lao. Thực tế, một mái ấm kiên cố không chỉ đảm bảo an toàn cho người nghèo trước thiên tai, thời tiết khắc nghiệt mà còn là nền tảng để họ thoát nghèo bền vững.

Năm 2024 đã chứng kiến sự nỗ lực của toàn hệ thống chính trị và sự chung tay của cộng đồng. Nhiều tỉnh thành trên cả nước đã thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh và triển khai các kế hoạch hành động cụ thể. Có 84.888 căn nhà kiên cố đã hoàn thành hoặc đang trong quá trình xây dựng. Đây là thành quả của sự kết hợp giữa các chính sách hỗ trợ từ Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và nguồn quỹ “Vì người nghèo” với số tiền hơn 72,4 tỷ đồng. Các địa phương cũng vận động được hơn 2,3 nghìn tỷ đồng từ nguồn xã hội hóa. Những bản làng như ở Lai Châu, Hà Giang hay Quảng Trị - nơi từng quen thuộc với hình ảnh những căn nhà tạm bợ xiêu vẹo trong nắng gió, nay dần thay đổi diện mạo. Nhiều hộ gia đình nghèo đã được đón Tết trong căn nhà mới, khang trang và vững chãi. Một số địa phương còn đặt mục tiêu hoàn thành chương trình sớm hơn kế hoạch đề ra, cho thấy tinh thần quyết liệt và sự chủ động của các cấp chính quyền.

Tuy nhiên, hành trình xóa NT, NDN vẫn đầy gian nan khi cả nước còn khoảng 230.000 căn nhà tạm bợ cần được thay thế. Để hoàn thành mục tiêu trong năm 2025, cần xây dựng khoảng 700 căn nhà mỗi ngày, tương đương trung bình 12 căn mỗi địa phương. Đây là con số không nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh nhiều địa phương miền núi gặp khó khăn về giao thông, vận chuyển vật liệu xây dựng và thiếu nguồn nhân lực. Một số Bộ, ngành và địa phương vẫn chưa thể hiện sự quyết liệt cần thiết trong việc triển khai chương trình. Việc ban hành văn bản hướng dẫn và thống kê số liệu còn chậm trễ. Bên cạnh đó, không ít nơi vẫn tồn tại tình trạng thờ ơ, thiếu trách nhiệm, khiến tiến độ triển khai bị ảnh hưởng.

Chương trình xóa NT, NDN không chỉ đơn thuần là một mục tiêu vật chất mà còn là biểu tượng của niềm tin và hy vọng. Mỗi ngôi nhà mới hoàn thành là một minh chứng cho sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị và sự sẻ chia của cộng đồng. Ở những vùng biên giới xa xôi, nơi những người lính biên phòng ngày đêm canh giữ sự bình yên của Tổ quốc, những mái nhà kiên cố còn là biểu tượng của sự vững chãi và lòng tin yêu dành cho đồng bào nơi địa đầu đất nước. Dẫu chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn, nhưng với quyết tâm cao độ và sự vào cuộc đồng bộ, mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn NT, NDN vào năm 2025 sẽ trở thành hiện thực. Bằng cả trái tim và khối óc, hành trình mang lại mùa Xuân ấm áp cho mọi gia đình Việt Nam sẽ được hoàn thành, khẳng định thêm một lần nữa giá trị nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt Nam.

Vạch trần âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực phản động, thù địch lợi dụng khiếu nại, tố cáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta

 

Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta ghi nhận. Tuy nhiên, những vụ việc khiếu nại, tố cáo cũng chính là “mảnh đất tốt” mà các thế lực thù địch, phản động thường xuyên khai thác để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Khiếu nại, tố cáo cũng là một kênh thông tin khách quan phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức. Đây được coi là kênh thông tin hữu ích, góp phần giúp cơ quan nhà nước phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật, từ đó có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng là hoạt động quan trọng trong quản lý nhà nước. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và hiệu quả quản lý Nhà nước.

Ngày 25/3/1960, tại Hội nghị thanh tra toàn miền Bắc, trong bài nói chuyện với cán bộ thanh tra, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đồng bào có oan ức mứi khiếu nại, tố cáo, hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại, tố cáo. Ta phải giải quyết nhanh chóng, tốt thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ, do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được củng cố tốt hơn”. Theo quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân chính là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân là hình thức biểu hiện trực tiếp mối quan hệ giữa nhân dân với Nhà nước.

Xuất phát từ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nêu trên, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các địa phương rất quan tâm đến công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Theo báo cáo tổng kết công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2023, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp nhận 453.097 đơn khiếu nại, tố cáo các loại; đã xử lý 428.955 đơn, có 348.181 đơn đủ điều kiện tiếp nhận và xử lý, trong đó có 52.637 đơn khiếu nại, 22.342 đơn tố cáo; có 29.040 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền. Qua giải quyết khiếu nại, tố cáo đã bảo vệ quyền lợi cho 1.319 cá nhân; 44 tập thể, tổ chức; kiến nghị xử lý 475 người, trong đó có 432 cán bộ, công chức; chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý 37 vụ, 32 đối tượng, trong đó có 16 cán bộ, công chức. Như vậy, nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo được giải quyết, xử lý kịp thời theo đúng quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân; đồng thời, góp phần giữ vững sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Kết quả trên, đã tạo lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được, trong quá trình thực thi pháp luật, có nhiều nguyên nhân dẫn đến một bộ phận nhân dân bức xúc, khiếu kiện kéo dài; cũng có một số vụ việc khiếu nại, tố cáo dù đã được các cấp, các ngành giải quyết, được Tòa án có thẩm quyền xét xử đúng pháp luật, nhiều quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng các đối tượng khiếu kiện vẫn cho rằng “chưa thỏa đáng”, tiếp tục chây ỳ, đeo bám khiếu kiện không đúng trình tự, thủ tục quy định gây mất trật tự an toàn xã hội.

Những vụ việc khiếu kiện, tố cáo của người dân là “mảnh đất tốt” để các thế lực thù địch, phản động khai thác chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chúng triệt để lợi dụng những bức xúc, bất bình trong nhân dân để lôi kéo, kích động người dân khiếu kiện; đồng thời, có những hành vi làm phức tạp tình hình an ninh trật tự như: Hô hào tập trung đông người, kéo đến cơ quan Đảng, Nhà nước gây áp lực hoặc kích động đồng bào gây rối trong những thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước…

Âm mưu của các đối tượng phản động, thù địch là lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để chỉ đạo, kích động, lôi kéo, tập hợp người dân tham gia thực hiện “cách mạng màu” đối với nước ta. Tham gia hậu thuẫn, chỉ đạo nhiều vụ việc, điểm nóng là các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong, như: Việt Tân, Triều đại Việt, Liên minh Việt Nam tự do... Chúng lợi dụng danh nghĩa “đấu tranh đòi quyền lợi”, vin vào các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, để gia tăng các hoạt động móc nối với các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị trong nước, lợi dụng tâm trạng bức xúc cùng sự thiếu hiểu biết về pháp luật của người dân để kích động, xúi giục, lôi kéo họ khiếu kiện, tập trung đông người nhằm gây rối an ninh trật tự; cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật ở địa phương; gây áp lực, nhằm can thiệp vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự”, các tổ chức chính trị đối lập, hợp pháp hóa những hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, biểu tình, bạo loạn chống Đảng và Nhà nước ta. 

Phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng thường sử dụng là:

- Lập ra các “phong trào", các "tổ chức” trá hình với danh nghĩa “dân oan” để vận động quyên góp tiền, vật chất; đồng thời, lôi kéo, kích động, tập hợp người dân ở các địa phương xảy ra tranh chấp, khiếu kiện hoặc người dân có quyền và lợi ích bị xâm phạm đi khiếu kiện; tham gia chống đối hoặc tuần hành, biểu tình; tán phát truyền đơn nhằm kêu gọi bên ngoài ủng hộ “đồng bào quốc nội”;

- Triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội thành lập các trang, hội nhóm như: Ban Vận động hiệp hội dân oan Việt Nam, Hội Dân oan Việt Nam, phong trào Chấn hưng nước Việt… để kích động, tập hợp, lôi kéo những người có chung quan điểm để khiếu nại, tố cáo sai sự thật, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chúng tiến hành trao đổi, tập huấn cho các kỹ năng về khiếu nại, tố cáo. Đặc biệt hơn các nhóm này còn “dạy” cho người dân kỹ năng để đối phó với chính quyền, hơn nữa là đối phó với cơ quan Công an khi được mời lên làm việc về các hành vi liên quan đến việc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo;

- Lợi dụng các quyền tự do dân chủ, quyền khiếu nại, tố cáo của người dân để tiếp tay, xúi giục, điều chỉnh, tác động, hướng lái nhân dân ta theo mưu đồ của chúng để tiến hành chống phá. Chúng mang danh nghĩa “dởm” các tổ chức, cá nhân, trợ lý, tư vấn pháp lý, luật sư… để “cố vấn” cho nhân dân ta tiến hành các thủ tục khiếu kiện trên mọi lĩnh vực một cách bài bản, có tổ chức; chỉ cần ở đâu đó xuất hiện các điểm nóng xung đột quyền lợi giữa người dân với chính quyền là các đối tượng đã có thể xuất hiện đặt vấn đề viết “hộ” đơn, thư khiếu kiện hoặc “lo” giúp giải quyết vụ việc. Cách làm thường thấy của các đối tượng này là đi đến tận nơi có người dân đang khiếu kiện, hứa hẹn giúp đỡ “đòi công bằng”, giúp gửi đơn ra các cơ quan Trung ương. Chúng cho rằng khiếu kiện một mình không được các cơ quan có thẩm quyền chú ý mà phải tập hợp, kích động, lôi kéo đông người khiếu kiện, tiến hành một số hoạt động gây chú ý (căng băng rôn, khẩu hiệu, gậy gộc, la hét, chây ỳ tại một số cơ quan…) để gây sức ép; hướng dẫn viết bài đăng trên internet, mạng xã hội để tạo tiếng vang; điển hình như vụ khiếu nại, tố cáo vượt cấp đối với dự án thu hồi đất, di dời chùa Liên Trì, số 153, đường Lương Định Của, phường An Khánh, quận 2, TP Hồ Chí Minh; vụ khiếu kiện tại Tu viện Bát Nhã, xã Đamb'ri, TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng...

- Lợi dụng bưu chính, viễn thông, mạng internet để tiến hành các hoạt động khiếu nại, tố cáo sai sự thật hoặc tung tin đồn thất thiệt, sai sự thật; chúng coi đây là phương tiện “hữu hiệu”, “đắc lực”, thực hiện chiêu trò “ném đá giấu tay” nhằm vu khống, bôi nhọ với mục đích hạ uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng;

- Tìm mọi cách xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật, vu cáo chính quyền vi phạm dân chủ, nhân quyền, bóp méo tình hình thực tế, thổi phồng vụ việc để tranh thủ sự ủng hộ từ bên ngoài và lôi kéo người dân khác tham gia biểu tình, gây rối an ninh trật tự, xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nước ta.

Nhiều người dân vì lợi ích kinh tế, vì sự thiếu hiểu biết đã tin theo, thậm chí tiếp tay cho các đối tượng thù địch để rồi chính họ cũng vướng vào vòng lao lý. Điển hình như vụ việc ở Tiên Lãng (Hải Phòng), Đồng Tâm (Hà Nội), sự cố ô nhiễm môi trường biển ở các tỉnh miền Trung… xảy ra trong thời gian vừa qua là những ví dụ minh chứng về việc có “bàn tay” dàn dựng của các thế lực thù địch.

Pháp luật cho phép người dân thực hiện các quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thông qua việc gửi các đơn, thư tới các cơ quan chức năng có thẩm quyền thụ lý giải quyết; nếu thấy chưa thỏa đáng thì có thể tiếp tục khiếu nại lên cấp trên hoặc khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tôn trọng và nỗ lực giải quyết các yêu cầu chính đáng của người khiếu nại, tố cáo, phù hợp với các quy định của pháp luật. Trong Thư gửi đồng bào Liên Khu V, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm… Khi ai có diều gì oan ức thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy… Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra công việc cán bộ cấp dưới. Nhân dân thì giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của cán bộ” . Tuy vậy, quyền khiếu nại, tố cáo của người dân cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật; do đó, mỗi người dân cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, phân biệt rõ giới hạn của quyền khiếu nại, tố cáo; bảo vệ quyền lợi của mình nhưng phải đúng quy định và với tinh thần thượng tôn pháp luật. Đối với các trường hợp lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để kích động, gây rối trật tự công cộng, xúc phạm uy tín, danh dự cơ quan, tổ chức, cá nhân, chống phá Đảng, Nhà nước sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng phải đảm bảo mọi hoạt động diễn ra trong khuôn khổ luật pháp, không ở đâu dung túng những kẻ mượn danh nghĩa đấu tranh vì tự do dân chủ, nhân quyền để phá hoại đất nước, xâm hại sự ổn định của xã hội. Do đó, mỗi người dân cần thực sự nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động nhận diện, phòng ngừa, đấu tranh với những đối tượng lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để phá hoại đất nước và vi phạm pháp luật, góp phần xây dựng đất nước ta thật sự nghiêm minh, kỷ cương, trật tự, an toàn./.

Vun đắp tình yêu và trách nhiệm bảo vệ biên cương Tổ quốc

 Những ngày tháng 3 này, các địa phương, đơn vị đang sôi nổi, tích cực chuẩn bị các hoạt động ý nghĩa trong Chương trình “Tháng Ba biên giới” dành cho cán bộ, chiến sĩ BĐBP và đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới, hải đảo. Đây là hoạt động thiết thực kỷ niệm 66 năm Ngày Truyền thống BĐBP (3/3/1959-3/3/2025), 36 năm Ngày Biên phòng toàn dân (3/3/1989-3/3/2025) và 94 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931-26/3/2025), với các hoạt động đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ, góp phần bảo vệ và phát triển biên cương của Tổ quốc.

“Tôi yêu Tổ quốc tôi”

Năm 2025, với chủ đề “Tôi yêu Tổ quốc tôi”, Chương trình “Tháng Ba biên giới” được Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tổ chức đồng loạt vào tháng 3. Chương trình nhằm nâng cao nhận thức, bồi đắp lý tưởng về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia cho đoàn viên, thanh niên; đồng thời, phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện của đoàn viên, thanh niên trong tham gia xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, chăm lo, đồng hành với cán bộ, chiến sĩ, nhân dân và thanh thiếu nhi tại các địa bàn biên giới. Những hoạt động trong chương trình tạo khí thế thi đua sôi nổi trong cán bộ, đoàn viên, thanh niên tham gia thực hiện các công trình, phần việc, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và tham gia phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, đơn vị.

Ở cấp Trung ương, chương trình được tổ chức tại 3 tỉnh: Hà Giang, Kon Tum và Long An vào ngày 1/3/2025. Trong khuôn khổ chương trình, Ban Thanh niên Quân đội phối hợp với Cục Chính trị BĐBP và các địa phương tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa, nổi bật là Chương trình “Tháng Ba biên giới” tổ chức tại huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Các đơn vị đã phối hợp chặt chẽ, làm tốt công tác chuẩn bị cho các hoạt động diễn ra tại chương trình, bao gồm: Lễ chào cờ “Tôi yêu Tổ quốc tôi” tại Đồn Biên phòng cửa khẩu Mỹ Quý Tây, BĐBP Long An; tuyên truyền về Luật Biên phòng Việt Nam; tặng quà cho hộ dân, học sinh có hoàn cảnh khó khăn; hỗ trợ chuyển giao mô hình nuôi gà cho các hộ dân; giao lưu văn nghệ với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân địa phương.

Bên cạnh đó, chương trình cũng khởi công, khánh thành các công trình thanh niên, nhằm phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh, quốc phòng tại các địa bàn biên giới như: Khởi công xây dựng “Cầu Hạnh phúc”, “Phòng tin học cho em” tại Trường Tiểu học xã Mỹ Quý Tây (huyện Đức Huệ), “Nhà vệ sinh cho em” tại Trường Mầm non Rạng Đông (xã Mỹ Quý Đông, huyện Đức Huệ); khánh thành bàn giao công trình “Tủ sách cho em”, “Thắp sáng đường biên” tại xã Mỹ Quý Tây...

Nhiều hoạt động sôi nổi, ý nghĩa

Tại tỉnh Điện Biên, thời tiết lạnh giá của mùa xuân miền núi không thể xua tan không khí sôi nổi, náo nức của những trái tim ấm nóng hướng về biên giới, về Tổ quốc. Tại Đồn Biên phòng Na Cô Sa (BĐBP Điện Biên), giữa màn sương mờ dày đặc, nơi vùng đất biên cương xa xôi, Đồn Biên phòng Na Cô Sa phối hợp với Huyện đoàn, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tổ chức Hành trình “Tôi yêu Tổ quốc tôi”, Chương trình “Tháng Ba biên giới” năm 2025. Mặc dù rét mướt, nhưng những ánh mắt rạng ngời của đoàn viên, thanh niên, của các chiến sĩ Biên phòng vẫn rực cháy bầu nhiệt huyết. Họ không chỉ mang theo tình yêu Tổ quốc, mà còn mang trong mình niềm tự hào, trách nhiệm gìn giữ biên giới, bảo vệ đất nước.

Chương trình gồm các hoạt động: Gặp mặt, nói chuyện truyền thống; trao tặng cờ Tổ quốc, bản đồ, ảnh Bác Hồ cho các điểm trường; thăm hỏi, trao tặng 160 suất quà cho 45 em học sinh khuyết tật, 32 em học sinh có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ theo Chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn biên phòng”, Dự án “Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nâng bước em tới trường”, mô hình “Mẹ đỡ đầu kết nối yêu thương” và 83 em học sinh mầm non, tiểu học tại điểm trường Na Cô Sa 1, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

Tại Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Vũng Rô, BĐBP Phú Yên (xã Hòa Xuân Nam, thị xã Đông Hòa), Tỉnh đoàn Phú Yên đã phát động Chương trình “Tháng Ba biên giới” với chủ đề “Tuổi trẻ tiên phong chuyển đổi số - Chung tay vì biên cương Tổ quốc”. Trong không khí ấm áp của vùng biển, chương trình đã thu hút sự tham gia nhiệt tình của đoàn viên, thanh niên và các chiến sĩ Biên phòng, tạo nên một không gian sôi nổi, đầy ý nghĩa. Chủ đề chuyển đổi số không chỉ thể hiện sức trẻ, mà còn khẳng định vai trò của công nghệ trong việc phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ biên cương vững mạnh. Tại chương trình, Tỉnh đoàn Phú Yên trao tặng các công trình an sinh xã hội tại địa phương, gồm: Công trình “Thắp sáng đường quê”, “Ngôi nhà hạnh phúc”, “Thanh niên tuyên truyền bảo vệ môi trường”. Tỉnh đoàn Phú Yên cũng đã tặng thiết bị y tế cho Trạm Y tế xã Hòa Hiệp Nam, tặng quà cho con em gia đình ngư dân, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, 300 lá cờ Tổ quốc cho ngư dân bám biển...

Bên cạnh đó, hơn 200 đoàn viên, thanh niên tỉnh Phú Yên triển khai trồng mới cây xanh tại Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Vũng Rô, dọn vệ sinh bãi biển khu vực vịnh Vũng Rô, tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo Việt Nam cho thanh thiếu niên và học sinh. Dịp này, Tỉnh đoàn Vĩnh Phúc đã tặng Tỉnh đoàn Phú Yên công trình thanh niên “Mốc chủ quyền Trường Sa”. Tiếp nhận công trình này, Tỉnh đoàn Phú Yên trao tặng đến Bộ Chỉ huy BĐBP Phú Yên để thực hiện thi công, lắp đặt và tổ chức các hoạt động tuyên truyền về chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc trong lực lượng thanh niên và ngư dân tại các khu vực biên giới biển trên địa bàn.

Tại tỉnh An Giang, hòa chung không khí sôi nổi của tuổi trẻ cả nước, Huyện đoàn Châu Thành, Hội Liên hiệp Thanh niên huyện Châu Thành, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Châu Thành và Đồn Biên phòng Vĩnh Nguơn, BĐBP An Giang phối hợp tổ chức Chương trình “Tháng Ba biên giới” và “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương” năm 2025. Chương trình đã thành công tốt đẹp với các hoạt động ý nghĩa như tặng sinh kế cho 5 phụ nữ khó khăn, trao 10 suất học bổng cho học sinh nghèo và quà tặng cho gia đình khó khăn. Bên cạnh đó, "Gian hàng yêu thương" đã giúp đỡ người dân địa phương với nhu yếu phẩm cần thiết. Những hoạt động này không chỉ hỗ trợ vật chất, mà còn mang đến niềm vui, động viên tinh thần, thắt chặt tình đoàn kết giữa các cộng đồng nơi biên giới.

Trong tháng 3, nhiều hoạt động ý nghĩa trong khuôn khổ Chương trình “Tháng Ba biên giới” tiếp tục được tổ chức hướng về biên giới. Đây sẽ là dịp quan trọng để thắt chặt mối quan hệ đoàn kết giữa các đoàn viên, hội viên, thanh niên với cán bộ, chiến sĩ BĐBP và nhân dân các địa phương biên giới, góp phần bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.

Vạch trần luận điệu xuyên tạc “Cách mạng màu – Cách mạng trắng” ở Việt Nam

 

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cùng với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1954 và đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam năm 1975 do Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta thực hiện là những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dân tộc, mang tầm vóc quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.

Sự nghiệp Đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng trong hơn 35 năm qua tiếp tục giành được những thành tựu quan trọng được đông đảo các quốc gia, bè bạn quốc tế ghi nhận và tôn vinh. Nhưng với thủ đoạn thâm độc đi ngược lại xu thế phát triển của đất nước, ước nguyện hòa bình, mưu cầu hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, các thế lực “Cách mạng Mầu - Cách mạng Trắng” thù địch, xét lại, cơ hội chính trị đã cố tình bôi đen, xuyên tạc, phủ nhân sự thật lịch sử, tuyên truyền sai lệch nhằm làm cho một bộ phận quần chúng thiếu hiểu biết về lịch sử dân tộc, nhất là giới trẻ hoài nghi, phai nhạt niềm tin đối với Đảng, chia rẽ Đảng với Nhân dân, làm suy yếu, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thời gian qua, một số các đài VOA, RFA, BBC, RFI cũng như một số trang mạng xã hội Youtobe, Twitter, Facebok của các tổ chức “Việt Tân”, “Nhân dân hành động”, “Triều đại Việt”, “Tiếng dân”, “KTV, “Tivi tuần san”, TV24, “Góc nhìn W.C”, N10TV các nhóm cờ vàng, “No U”, “dân chủ” cuội trong và ngoài nước… thông qua các hình thức bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận nhằm xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ dân tộc và vai trò lãnh đạo của Đảng hòng làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng và Nhà nước. Chúng thường sử dụng các thông tin các sự kiện có thật, nhưng được biên tập sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Những thủ đoạn kiểu này thường được thực hiện khá tinh vi, bài bản mà khi tiếp cận không chỉ những người có nhận thức hạn chế, phiến diện mà đôi khi cả những người có học vấn cao, nhận thức sâu rộng cũng có thể cũng bị mắc lừa.

Ngày 8/4/2019 tại thành phố San Jose, Hoa Kỳ có cuộc hội luận của các hội đoàn chống cộng cực đoan bàn về phương thức đấu tranh cho Việt Nam nhằm giải thể Đảng Cộng sản và thay đổi thể chế nước CHXHCN Việt Nam, một luật sư người Mỹ gốc Việt nổi tiếng là kẻ chống cộng cực đoan đã tuyên bố: “Ở Việt Nam bây giờ không còn là chế độ cộng sản nữa, chỉ còn cái vỏ Cộng sản thôi, còn cái ruột thực chất là Chủ nghĩa Dân tộc, các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đang thực hiện Chủ nghĩa Dân tộc” “Lãnh đạo Việt Nam bây giờ đổi mới nhanh lắm… tôi dự đoán chỉ vài năm nữa thôi họ sẽ đổi tên nước thành Cộng hoà Việt Nam (Việt Nam Cộng hoà)”. Những luận điểm này của Y cùng với các loại cách mạng màu trên thế giới mà Y tập hợp lại với tên gọi “Cách mạng Trắng cho Việt Nam”. Đó là:“Khuyến khích các nhà đấu tranh dân chủ trong nước, thay vì tẩy chay, hãy mạnh dạn nhập cuộc vào trong Quốc hội để từ đó, thay đổi cơ chế chính trị, như nước trong rót vào ao hồ nước dơ bẩn thì từ từ nước trong sẽ làm sạch ao hồ lại. Các nhà đấu tranh dân chủ cầm ngọn đuốc sáng trong lòng thì hãy mang ngọn đuốc rọi vào đêm tối của Quốc hội Cộng sản Việt Nam bây giờ. Đuốc lửa tới đâu thì ánh sáng đi tới đó, xua tan màn đêm. Tạo môi trường cho chính các đảng viên Cộng sản Việt Nam nhìn thấy vấn đề, để họ vững tâm “hạ cánh an toàn” hoặc can đảm đứng lên thay đổi cơ chế chính trị như Gorbachev và Boris Yeltsin ở Nga hoặc Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương ở Trung Quốc. Hiện nay có nhiều đảng viên Cộng sản Việt Nam bề ngoài là theo đảng nhưng thực chất ở trong thì họ cũng muốn thay đổi cơ chế chính trị và người ta gọi đó là thành phần “đỏ vỏ xanh lòng”. Nếu muốn cho Việt Nam có một Gorbachev thì phải tạo cơ hội và nuôi dưỡng môi trường cho một Gorbachev được nẩy sinh.” Những luận điểm này được bọn chúng tuyên truyền nhắc lại nhiều lần từ năm 2010 cho đến nay trên rất nhiều diễn đàn, trang mạng Youtobe, Twitter, Facebok, các đài VOA, RFA, BBC, RFI. Tại cuộc hội luận này Y đã giới thiệu, tuyên truyền và tặng cuốn “Cách Mạng Trắng” cho những người tham dự để tuyên truyền rộng rãi trong các hội, nhóm chống cộng cực đoan ở Mỹ và các nước cũng như các hội nhóm phản động, dân chủ cuội ở Việt Nam. Tại thời điểm này cuốn sách “Cách Mạng Trắng” vẫn đang được bán công khai trên mạng và nhiều cửa hang sách tại Hoa Kỳ.

Với dã tâm thâm độc, thù hận, các thế lực thù địch, xét lại, cơ hội chính trị đã cố tình bôi đen, xuyên tạc, phủ nhân sự thật lịch sử với nhiều thủ đoạn xảo trá, nhét chữ vào mồm người khác, lập lờ “đánh lận con đen”, mượn lời người khác để bịa đặt, bôi nhọ Đảng cộng sản Việt Nam và các đồng chí lãnh đạo Đảng. Chúng ta đều biết, Tết Mậu thân 1968 và câu chuyện “thảm sát ở Huế 1968” là chủ đề mà bộ máy tuyên truyền của quân đội Mỹ và nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn từ lâu đã bịa đặt, xuyên tạc, bóp méo lịch sử. Sự thực, khi quân Giải phóng tổng tiến công và nhân dân TP Huế nổi dậy giành và giữ chính quyền gần 1 tháng, quân đội Mỹ và tay sai đã nã pháo vào thành phố phá huỷ nhiều công trình lịch sử và gây thương vong cho nhiều thường dân cũng như quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhưng chúng đổ lỗi về những cái chết đó là “thảm sát ở Huế 1968” do Việt cộng thực hiện theo chỉ đạo của Đảng. Ngày nay, các thế lực thù địch, phản động, chống cộng cực đoan, dân chủ cuội tiếp tục bịa đặt, xuyên tạc với thủ đoạn tinh vi hơn để bôi nhọ nhằm hạ bệ uy tín của Đảng và Nhà nước. Thâm hiểm hơn, chúng lập lờ “đánh lận con đen” khi so sánh sự mất mát hy sinh của quân dân ta trong Tết Mậu Thân ở Huế mà chúng nói do Cộng sản gây ra với thảm sát ở Mỹ Lai do Mỹ gây ra thì tội ác nào lớn hơn. Đó cũng là cách mà chúng xoá nhoà ý nghĩa của chiến tranh vệ quốc chính nghĩa chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta với chiến tranh xâm lược phi nghĩa của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam tất cả là tội ác như nhau. Chúng gọi ngày 30.4.1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc là “Ngày quốc hận”, “Ngày mất nước” và tháng Tư lịch sử với chiến dịch Hồ Chí Minh tiêu diệt hoàn toàn chế độ nguỵ quân, nguỵ quyền tay sai do Đế quốc Mỹ dựng lên là “Tháng Tư đen”, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “miền Bắc xâm lược miền Nam”. Trong khi đó chúng không bao giờ nhắc đến tội ác của đế quốc Mỹ với gần 60 vạn quân Mỹ trực tiếp xâm lược Việt Nam cùng với hơn 1 triệu quân nguỵ càn quét, bắn giết nhân dân miền Nam, ném hàng triệu tấn bom đạn, rải hàng triệu lít chất độc da cam dioxin trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Bao nhiêu năm chúng hô hào “Bắc tiến”, “giải phóng miền Bắc”, tung biệt kích và đem bom phá hoại miền Bắc trong đó có cả pháo đài bay B52, lần thứ nhất từ 5/8/1964 đến 1/11/1968 và lần thứ hai từ 16/4/1972 đến 31/12/1972 hòng đưa miền Bắc Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá”. Cả thế giới công nhận cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược là cuộc chiến tranh sáng ngời chính nghĩa chứ đâu phải là cuộc chiến tranh “uỷ nhiệm”, là nội chiến Bắc Nam.

Để tiếp tục luận điệu xuyên tạc và chuyển tải “Cách mạng màu trắng” với âm mưu bịa đặt xuyên tạc lịch sử, xét lại lịch sử, ngày 26.8.2019 trên kênh Youtube luật sư tự xưng “người yêu nước” đã tuyên bố: “…Từ năm 1954 Việt Nam có hai quốc gia, một quốc gia là Bắc Việt là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và quốc gia phía Nam, Nam Việt là Việt Nam Cộng hoà. Hai quốc gia dầu cùng chung tiếng nói cùng chung lịch sử trong quá khứ, nhưng giai đoạn đó từ năm 1954 đến năm 1975, 21 năm trời là hai quốc gia khác nhau, hai thủ đô khác nhau, một thủ đô phía Nam là Sài Gòn, một thủ đô phía Bắc là Hà Nội giống y như nước Triều Tiên”. Từ đó đến nay trên các mạng xã hội các thế lực thù địch, chống cộng cực đoan, dân chủ cuội, mượn danh người yêu nước được dịp tung hô, ủng hộ. Nhất là trong những ngày tháng Tư lịch sử hằng năm, từ luận điểm “…Từ năm 1954 Việt Nam có hai quốc gia” chúng tiếp tục xuyên tạc rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “Quốc gia miền Bắc xâm lược quốc gia miền Nam”, là “Nội chiến huynh đệ tương tàn” ngày 30/4 là “Ngày quốc hận”, “Ngày mất nước”, “Tháng Tư đen”. Trong các tháng 5,6,7,8 năm 2022 suốt trong những ngày nhân dân ta kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, nhiều lần, trên nhiều diễn đàn, trang mạng xã hội “Luật sư người Mỹ gốc Việt” tiếp tục nhiều lần tuyên bố: “Trong giai đoạn 1954 đến 1975 Việt Nam có hai quốc gia. Những ai nói Việt Nam chỉ có một quốc gia là ngu dốt, là kẻ tội đồ của dân tộc, là kẻ phản quốc, là tiếp tay cho nước ngoài cướp Hoàng Sa, Trường Sa...

Việc xuyên tạc sự thật, bịa đặt lịch sử, bóp méo lịch sử, xét lại lịch sử chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu trong những năm 90 của thế kỷ trước. Để bảo vệ nước Nga hậu Xô Viết, ngày 19.5.2009, Tổng thống Nga Medvedev đã ký sắc lệnh thành lập một “Ủy ban đặc biệt” nhằm chống lại các âm mưu xét lại, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, phá hoại các lợi ích của nước Nga. Ủy ban này trực tiếp do Văn phòng Tổng thống phụ trách, bao gồm nhiều thành viên thuộc: Văn phòng Tổng thống, Cục An ninh liên bang, Cục Tình báo, Duma Quốc gia Nga, các cơ quan khoa học cũng như các bộ ngành Tư pháp,  Ngoại giao, Văn hóa, Giáo dục... Ở Việt Nam hôm nay, âm mưu của những kẻ truyền bá “Cách mạng Trắng” đã định rõ: “Nếu muốn cho Việt Nam có một Gorbachev thì phải tạo cơ hội và nuôi dưỡng môi trường cho một Gorbachev được nẩy sinh ở Việt Nam” đã và đang được các thế lực thù địch ráo riết thực hiện trong thời gian qua. Một số đối tượng muốn “xét lại chiến thắng”, lợi dụng chiêu bài “hoà giải, hòa hợp dân tộc” để đề nghị trong nước không kỷ niệm ngày 30/4 cho “các bác cờ vàng” vui lòng; lãnh đạo Đảng, Nhà nước phải có lời xin lỗi vì sau 30.4.1975 đã “tập trung cải tạo” những sỹ quan nguỵ Sài Gòn có nhiều nợ máu quá lâu. Đánh tráo khái niệm cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược thành “cuộc nội chiến Nam Bắc”, “miền Bắc xâm lược miền Nam” cho đến “quốc gia miền Bắc xâm lược quốc gia miền Nam” để bao biện cho những ngộ nhận, mơ hồ trong đánh giá về tầm vóc chiến thắng, về khát vọng thống nhất của toàn thể nhân dân ta. Một số đối tượng phản động ở trong, ngoài nước còn xuyên tạc cho rằng: “Cuộc chiến tranh Việt Nam mang tính chất ủy nhiệm” hay “cuộc chiến ý thức hệ”. Tư tưởng Cách mạng trắng trong những năm qua đã len lỏi, “mưa dầm thấm lâu” từng bước tiêm nhiễm trong một số trí thức, cán bộ đảng viên đã nghỉ hưu cũng như đương chức và giới trẻ, đã tiêm nhiễm trong tư duy và hành động, phát ngôn trên các trang mạng xã hội Youtobe, Twitter, Facebok. Gần đây, đúng ngày 30/4/2022 một cựu lãnh đạo nghỉ hưu đã công khai “tự diễn biến, tự chuyển hoá” rằng cuộc kháng chiến 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân ta là cuộc “chiến huynh đệ tương tàn”. Rằng: tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin và CNXH ngày nay hoàn toàn lỗi thời mà không một nước phát triển, văn minh, giàu có nào trên thế giới theo, vì vậy Đảng ta phải đổi mới chính trị, từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin; rằng: cần xây dựng tượng đài tưởng niệm và phong liệt sỹ cho 74 binh sỹ quân lực Việt Nam cộng hoà tử trận khi để mất Hoàng Sa vào ngày 19/1/1974… Nhiều luận điệu trong bài viết này rập theo đúng luận điệu “Cách mạng Trắng cho Việt Nam”, xuyên tạc, bịa đặt, xét lại lịch sử mà các thế lực thù địch trong những năm qua đã tìm mọi cách đưa vào Việt Nam nhằm dẫn đường và hỗ trợ cho “tự diễn biến, tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Sự dối trá, hèn hạ xuyên tạc lịch sử, khơi gợi hận thù, kích động mâu thuẫn… không chỉ là hành động vô liêm sỉ, vô ơn với hàng triệu đồng bào, chiến sỹ đã đổ xương máu hy sinh vì hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mà còn là sự phá hoại tương lai của của đất nước, hạnh phúc của nhân dân.

Sáng 26/4/2020 trên kênh Youtobe với chủ đề nói thêm về “Cách Mạng Trắng” luật sư tự xưng “người yêu nước” cũng là tác giả sách “Cách mạng Trắng cho Việt Nam” khẳng định:“Tôi hoan nghênh việc làm của Việt Nam, chính sách đốt lò của Việt Nam chính là thực hiện “Cách Mạng Trắng”. Ngày 31/10/2020 trong clip thú tội trên Youtobe, Y chính thức lần thứ hai công bố từ bỏ “Cách mạng Trắng cho Việt Nam” vì nó sai trái, phản động, không phù hợp như lời Y nói. Nhưng ngay câu sau Y lại lập lờ, xảo trá rằng: “…Việt Nam khi phát động phong trào không cho các quan chức hạ cánh an toàn, đấu tranh chống tham nhũng… đó chính là đang làm “Cách Mạng Trắng” rồi”. Nghe thoáng qua tưởng là Y ca ngợi Việt Nam chống tham nhũng. Nhưng thực ra, đây là hành vi đánh tráo khái niệm, tráo trở, lập lờ đổi trắng thay đen, lừa bịp quần chúng hết sức hèn hạ, nguy hiểm cần cảnh giác và lên án. Từ năm 2010 Y tập hợp, cóp nhặt các tư tưởng cách mạng màu ở các nước thành sách Cách mạng Trắng cho Việt Nam xuất bản ở Mỹ năm 2013, rồi tung hô, tuyên truyền, phát tán khắp trong ngoài nước, đến khi tư tưởng phản động nguy hiểm của Cách mạng Trắng mà Y là tác giả đã được phổ biến rộng khắp thì ngày 26/4/2020 và ngày 31/10/2020 tác giả của nó công khai tuyên bố từ bỏ Cách mạng Trắng vì nó sai trái, phản động, không còn phù hợp. Y không chịu trách nhiệm về những hậu quả của các tư tưởng sai trái trong Cách mạng Trắng gây ra tại Việt Nam..., rồi lại tiếp tục tuyên ngôn của Y rằng Cách mạng Trắng đang được thực hiện ở Việt Nam và lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam đang thực hiện Cách mạng Trắng. Sự lập lờ, đổi trắng thay đen, đánh tráo khái niệm, tráo trở, xuyên tạc bịa đặt lịch sử của Y cũng đã thực hiện khi Y xuyên tạc, bịa đặt về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần mà chúng tôi đã có dịp vạch trần và lên án trong bài viết “Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo và xét lại lịch sử của các thế lực thù địch” đăng Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Công an, số chuyên đề của Tạp chí Công an nhân dân số 4/2021.

Thời gian qua trên các trang báo chí chính thống có trách nhiệm, cũng như trên các trang mạng xã hội đã có nhiều học giả, nhà nghiên cứu cũng như người dân trong và ngoài nước thuộc mọi thành phần, giai cấp, tầng lớp, nghề nghiệp lứa tuổi từ các cụ già trên 80 tuổi đến các cháu thiếu nhi mới 13, 14 tuổi đã lên tiến trên các trang Facebok, Youtobe, Twitter, Zalo… và các phương tiện truyền thông khác để phản bác, chống lại các luận điệu phản động phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên tạc lịch sử, kích động hận thù, một cách tự phát và tự giác. Dù vậy, vẫn rất cần sự vào cuộc và định hướng dư luận một cách nhanh chóng, kịp thời của các cơ quan chức năng cũng như các cơ quan thông tấn báo chí từ Trung ương đến địa phương để phát huy tốt nhất hiệu quả đấu tranh của nhân dân chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Vì vậy, chúng ta phải hết sức cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc sự thật, bịa đặt lịch sử, bóp méo lịch sử, xét lại lịch sử của các thế lực thù địch đang muốn thực hiện cách mạng màu, “Cách Mạng Trắng” ở Việt Nam làm mất ổn định xã hội, gây nghi ngờ vào nền tảng tư tưởng của Đảng và mất lòng tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Hơn bao giờ hết, mỗi công dân Việt Nam yêu nước hãy tuyệt đối tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang kiên định mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại cuộc sống ấm no, dân chủ, công bằng, phồn vinh hạnh phúc cho Nhân dân./.

 

 

Việt Nam đồng bảo trợ nghị quyết Đại hội đồng Liên hợp quốc kỷ niệm 80 năm kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ hai

Ngày 4-3, Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) đã thông qua Nghị quyết kỷ niệm 80 năm kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ hai, do Việt Nam là một trong những quốc gia đồng bảo trợ.

Ngoài kỷ niệm dấu mốc kết thúc cuộc chiến tranh thế giới từng gây vô vàn đau thương, mất mát cho nhân loại, nghị quyết nhấn mạnh, sự kiện lịch sử này đã tạo tiền đề để thành lập tổ chức LHQ, với mục đích ngăn ngừa thảm họa chiến tranh cho các thế hệ mai sau và thiết lập các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, thúc đẩy quá trình phi thực dân hóa.

Việt Nam đồng bảo trợ nghị quyết Đại hội đồng Liên hợp quốc kỷ niệm 80 năm kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ hai
Quang cảnh phiên họp thông qua nghị quyết của Đại hội đồng LHQ.

Nghị quyết của LHQ cũng kêu gọi các quốc gia nỗ lực giải quyết các thách thức đối với hòa bình, an ninh quốc tế, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực xâm phạm độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào, giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với Hiến chương LHQ.

Việt Nam là một trong những nước đồng bảo trợ chính của Nghị quyết và ủng hộ mạnh mẽ các nội dung chính của văn kiện này.

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945 đánh dấu bước ngoặt quan trọng, mở ra cơ hội thuận lợi để nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, kết thúc gần một thế kỷ đô hộ của thực dân, phát xít, chuyển mình từ một đất nước phong kiến nửa thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập, là biểu tượng thành công và nguồn động viên, cổ vũ cho phong trào giải phóng dân tộc và quá trình phi thực dân hóa trên toàn thế giới, khẳng định tinh thần bất khuất, quật cường của dân tộc Việt Nam, vì độc lập, tự do và phát triển.

Xuyên tạc Chiến thắng 30/4/1975- Cách thức mà các thế lực thù địch xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử, chống phá công cuộc xây dựng đất nước

 

        Chiến thắng 30/4/1975 đánh dấu mốc son lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam, là chiến thắng của nội lực Việt Nam, của truyền thống anh hùng dân tộc, của sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là sự ủng hộ chí tình của bạn bè quốc tế, các nước XHCN anh em, của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Ý nghĩa, giá trị lịch sử to lớn vẫn còn trường tồn mãi với thời gian, đã khẳng định tinh thần yêu nước, khát vọng hoà bình và ý chí mãnh liệt của nhân dân Việt Nam như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi…” chân lý ấy là động lực, là niềm tin, là khát vọng để mỗi người Việt Nam yêu nước sẵn sàng chiến đấu hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước…Trang sử chói lọi ấy đã và đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta biến thành khát vọng xây dựng đất nước ta hùng cường, ngày càng phát triển.

Tuy vậy, mỗi năm, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (Ngày 30/4/1975), các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối lại đồng loạt đăng tải các bài viết, video, hình ảnh… nhằm xuyên tạc, bôi nhọ chiến thắng của nhân dân ta, đất nước ta hòng kích động tư tưởng chống phá, dấy lên thù hằn dân tộc, bới móc lại những vết thương của lịch sử với những luận điệu vu khống, bịa đặt trắng trợn…với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá công cuộc xây dựng đất nước.

Các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối, với tư tưởng hận thù luôn tìm cách chống phá Việt Nam bằng những luận điệu xuyên tạc trắng trợn về Chiến thắng 30/4, phi lý nhất là họ cào bằng giữa vai trò của kẻ đi xâm lược, đã từng gây vô vàn tội ác cho dân tộc Việt Nam với chính nghĩa là những người đã không tiếc máu xương hy sinh vì hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất cho Tổ quốc. Họ khuấy đảo mối thù hận bằng cách gây tâm lý hoài nghi, mập mờ về tính chính nghĩa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam. Sự can thiệp trắng trợn, vô nhân đạo, hành động tàn sát, giết người hàng loạt…của đế quốc Mỹ và đồng minh tại Việt Nam lại được coi là một “Sự lựa chọn chính trị khác”, hoặc miền Nam Việt Nam có một “Lý tưởng khác” hoặc “Miền Bắc xâm lược miền Nam hay cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1954 đến 1975 chỉ là nội chiến”; ngày 30/4 là Ngày quốc hận… đó thực sự là những luận điệu lố bịch và trơ trẽn khi là người Việt Nam lại đi cổ xuý cho ngoại bang xâm lược, đàn áp dân tộc, giết người và giày xéo lên từng tấc đất cha ông để lại...

Chiến tranh đã lùi xa, sự phân định giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa chiến thắng và thất bại đã rõ ràng. Việt Nam đã trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện của nhiều quốc gia; trong đó có các quốc gia từng trực tiếp hoặc tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam để cùng hợp tác, phát triển và giữ gìn hoà bình chung.

Trên thực tế, để có ngày toàn thắng, non sông thu về một mối, chúng ta đã phải trải qua 21 năm trường kỳ kháng chiến, hy sinh, gian khổ, hàng vạn thanh niên yêu nước đã dâng trọn tuổi thanh xuân cho đất nước, đã giữ trọn lời thề “Sinh Bắc, tử Nam”, Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “Tất cả cho tuyền tuyến, tất cả để chiến thắng”… Bởi, Nam - Bắc là một nhà, cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta là cuộc kháng chiến chính nghĩa, được cả thế giới và ngay cả người dân Mỹ tiến bộ ủng hộ. Từ việc kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sự ủng hộ của dư luận quốc tế, với đường lối kháng chiến tài ba, quân và dân ta đã tạo nên chiến thắng 30/4/1975 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Chiến thắng 30/4 là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức sống mãnh liệt của văn hóa và con người Việt Nam, không chỉ dân tộc Việt Nam mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đều thừa nhận, trân trọng, tự hào và ngưỡng mộ. Chiến thắng 30/4/1975 đã đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc như một trong những trang sử chói lọi nhất, khẳng định tầm vóc vĩ đại, thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và khát vọng hòa bình của cả dân tộc, đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước cùng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Điều đó càng khẳng định rằng: Chiến thắng 30/4/1975 là một chân lý; sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tinh thần yêu nước nồng nàn, khát vọng tự do, độc lập của của toàn dân tộc đã và đang là ngọn đuốc sáng soi đường cho đất nước ta, nhân dân ta vượt qua thử thách, vươn lên phát triển giàu mạnh, khẳng định vị thế với các cường quốc trên thế giới. Phát huy tinh thần chiến thắng 30/4, chúng ta cũng tích cực phát huy chủ trương kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, và đó là minh chứng sắc bén bẻ gãy mọi luận điệu xuyên tạc về Chiến thắng 30/4/1975./.

 

Ý nghĩa lịch sử của đại thắng mùa xuân năm 1975

 

Chiến thăng mùa xuân năm 1975 đã đập tan hơn 1 triệu quân Ngụy, lật đổ hoàn toàn chế độ Ngụy quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam, buộc Tổng thống Ngụy quyền Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Chiến thắng đó đã giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và tay sai. Đại thắng mùa xuân năm 1975 đánh dấu kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ, đồng thời kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị của đế quốc Pháp - Mỹ và chế độ phong kiến đồng thời chấm dứt việc các cường quốc thế giới can thiệp trực tiếp bằng quân sự vào Việt Nam trong suốt hơn 100 năm (từ 1858 tới 1975). Đại thắng mùa Xuân 1975 đã lật đổ chế độ đế quốc và tay sai, mở đường cho sự hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp cách mạng dân chủ nhân dân, xóa bỏ giai cấp phong kiến và tư sản ở miền Nam, đó là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước độc lập, thống nhất và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, một trong những chiến công hiển hách nhất của lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, cùng với trận Bạch Đằng (1288) chống quân Nguyên Mông, trận Chi Lăng (1427) chống quân Minh, trận Đống Đa (1789) chống quân Thanh, chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) chống quân Pháp đã cắm cột mốc vinh quang chói lọi trong quá trình đi lên của lịch sử nước ta, tô đậm truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung không chỉ là thắng lợi riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Nó góp phần tăng cường sức mạnh của chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào dân chủ tiến bộ trên thế giới tiếp tục phát triển.

Chiến thắng ngày 30/4/1975 là trang sử hào hùng, một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc. Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang sử chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.

Có được thắng lợi vĩ đại năm 1975 còn bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối cách mạng và phương pháp độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền nhằm một mục tiêu chung giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Đồng thời kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kết hợp sức mạnh của lực lượng chính trị quần chúng với sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân, đấu tranh chính trị, ngoại giao với đấu tranh quân sự. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1975 của nhân dân ta là sự toàn thắng của trí tuệ, bản lĩnh, tinh thần bất khuất, anh dũng của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là thể hiện đỉnh cao của khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đó là nghệ thuật lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu chống mạnh, lấy ít đánh nhiều, lấy trang bị kỹ thuật ít hơn và kém hiện đại đánh thắng kẻ thù có trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, biểu thị một tư duy quân sự sáng tạo, tiêu biểu cho đường lối chiến tranh nhân dân của dân tộc Việt Nam góp phần làm phong phú kho tàng lý luận quân sự chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là kết quả tổng hợp của thời cơ cách mạng, sự phát triển có tính chất bước ngoặt về thế và lực của cách mạng Việt Nam, sự hội tụ các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để làm nên một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của lịch sử dân tộc trong thế kỷ XX.