Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2025

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản lĩnh chính trị của đảng cách mạng và định hướng giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng hiện nay

Nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng ta là một bộ phận rất quan trọng của công tác xây dựng Đảng về chính trị; bao trùm, chi phối mạnh mẽ những nội dung khác của công tác xây dựng Đảng về chính trị, nhằm giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng. Để công việc này đạt hiệu quả, cần nhận thức sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản lĩnh chính trị của đảng cách mạng, vận dụng tốt quan điểm ấy trong xác định giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng hiện nay.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản lĩnh chính trị của đảng cách mạng

Bản lĩnh chính trị (BLCT) của đảng cách mạng được hiểu là khả năng và ý chí kiên định lý tưởng, mục tiêu của đảng, con đường cách mạng đã chọn, nhất là trước những khó khăn, phức tạp, đảng bình tĩnh, sáng suốt đề ra quyết sách đúng đắn để thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của đảng, song linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; dám thừa nhận sai lầm, khuyết điểm để sửa chữa; đấu tranh kiên quyết, loại trừ những suy thoái, tiêu cực trong đảng; làm thất bại hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch…

Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa đưa ra quan niệm tổng thể, khái quát về BLCT của đảng cách mạng, song qua các tác phẩm, bài báo, bài phát biểu, nói chuyện và qua hoạt động thực tiễn của Người đã thể hiện đầy đủ và rõ ràng quan niệm của Người về điều này. Những mặt, khía cạnh chủ yếu trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về BLCT của đảng cách mạng, gồm:

Một là, năng lực nhận ra xu thế phát triển của lịch sử loài người, và kiên định đi theo, đồng thời vận dụng vào hoàn cảnh đất nước. Bản lĩnh chính trị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là cơ sở hình thành, phát triển BLCT của Đảng ta trong quá trình Người xây dựng, giáo dục, rèn luyện Đảng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Trong những thập niên đầu của thế kỷ trước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành luôn trăn trở suy nghĩ tìm câu trả lời làm cách nào để cứu đất nước khỏi sự giày xéo của bọn thực dân, đế quốc và bọn áp bức, bóc lột, cứu nhân dân Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ, lầm than, bị áp bức, bóc lột nặng nề. Với ý chí, quyết tâm sắt đá, nghị lực phi thường, bản lĩnh của người thanh niên yêu nước, thương dân, năm 1911, Người đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Suốt hành trình hơn 30 năm bôn ba ở nước ngoài, vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, thử thách quyết liệt, Người đã tìm được con đường cứu nước, cứu dân và hiện thực hóa con đường đó, đưa đất nước Việt Nam đến độc lập, nhân dân ta thoát khỏi kiếp nô lệ, trở thành người làm chủ đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) và cuộc sống ấm no, hạnh phúc.          

Hai là, trước những khó khăn, phức tạp của cách mạng, đảng bình tĩnh, sáng suốt đưa ra quyết định đúng đắn, kịp thời, có quyết tâm chính trị cao để thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng đã xác định.    

Để chuẩn bị cho sự thành lập Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức lớp bồi dưỡng cán bộ - những “hạt giống đỏ” của Đảng. Người trực tiếp biên soạn và giảng bài, nội dung đó được tập hợp trong tác phẩm “Đường cách mệnh”. Trong bài “Cách mệnh”, Người đặt câu hỏi và khẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Như vậy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc coi đảng cách mạng như người cầm lái con thuyền; người cầm lái kiên định mục tiêu, con đường cách mạng, sáng suốt, có BLCT cao, ý chí quyết tâm đưa “con thuyền cách mạng” vượt qua thác ghềnh, phong ba, bão táp đến thắng lợi.

Ba là, không giấu giếm khuyết điểm, tự nhìn nhận và chỉ ra khuyết điểm của mình, động viên nhân dân chỉ rõ khuyết điểm đó, cầu thị tiếp nhận và quyết tâm sửa chữa.

Đây là biểu hiện đặc biệt quan trọng của một đảng cách mạng có BLCT cao. Để đảng tự nhìn nhận và chỉ ra khuyết điểm của mình, động viên nhân dân chỉ rõ khuyết điểm đó, cầu thị tiếp nhận và quyết tâm sửa chữa, là một việc không dễ dàng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn làm gương sáng; đồng thời, trong lãnh đạo, chỉ đạo, Người luôn nhấn mạnh và giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng về điều này.

Tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa I, Người đã thay mặt Đảng, Chính phủ nghiêm khắc nhận khuyết điểm về những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xin lỗi nhân dân và quyết tâm sửa sai. Người nhấn mạnh: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Bốn là, trong lãnh đạo cách mạng, đảng cách mạng phải nắm vững và thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của mình, kiên định mục tiêu, lợi ích chiến lược của cách mạng, kiên quyết giữ vững độc lập, lợi ích chiến lược của đất nước, dân tộc; song, phải linh hoạt, mềm dẻo về sách lược.

Những tư tưởng nêu trên của Người thể hiện tập trung ở phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, khẳng định BLCT, sự quyết đoán, kịp thời giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng. Sau khi Đảng tuyên bố tự giải tán (vào ngày 11-11-1945), nhưng về thực chất, Đảng bước vào thời kỳ hoạt động bí mật, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, để lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn, và để có thời giờ củng cố dần dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất. Lúc đó, Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết, Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những phương pháp - dù là những phương pháp đau đớn - để cứu vãn tình thế”. Đồng thời, Người nhấn mạnh: “Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”.

Năm là, gắn bó mật thiết, tôn trọng quần chúng, hỏi ý kiến quần chúng, nhưng không theo đuôi quần chúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng gắn bó mật thiết với quần chúng, hỏi ý kiến quần chúng, cùng quần chúng bàn bạc tìm giải pháp thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Song, Đảng phải định hướng đúng, có chính kiến trong việc này và không theo đuôi quần chúng. Người nhắc nhở: “việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc, và giải thích cho dân chúng” song “Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”.

Sáu là, dám đề ra những quyết định đúng về công tác cán bộ, quyết tâm thực hiện thắng lợi và chịu trách nhiệm về những quyết định ấy.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong công tác cán bộ, cấp ủy các cấp phải có bản lĩnh, chính kiến, dám chịu trách nhiệm về quyết định của mình, nhất là về sử dụng cán bộ, nhìn ra được thế mạnh của cán bộ, phát huy trí tuệ, tính sáng tạo của cán bộ; dám cất nhắc cán bộ. Người nhấn mạnh: “Khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc”; “Phải có gan cất nhắc cán bộ”.

Từ luận giải trên, có thể khái quát quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về BLCT của đảng cách mạng là: Trung thành tuyệt đối và lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm cốt, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin; khả năng và ý chí kiên định lý tưởng, mục tiêu, con đường cách mạng mà đảng và nhân dân lựa chọn; bình tĩnh, sáng suốt, quyết đoán đề ra các quyết định đúng đắn khi cách mạng gặp khó khăn; dám đề ra các quyết định đúng đắn về công tác cán bộ, quyết tâm thực hiện thắng lợi các quyết định đó; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của đảng, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; thẳng thắn nêu ra và thừa nhận sai lầm, khuyết điểm của mình, cổ vũ, động viên nhân dân chỉ ra sai lầm, khuyết điểm của mình, tiếp nhận một cách tôn trọng, cầu thị và quyết tâm sửa chữa; đấu tranh kiên quyết, loại trừ những suy thoái, tiêu cực trong đảng; đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng với hoạt động phá hoại đảng, phá hoại cách mạng của các thế lực thù địch.

Từ những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về BLCT của đảng cách mạng, có thể khẳng định những nội dung BLCT của đảng cách mạng, như sau:

1- Trung thành tuyệt đối và lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm cốt, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin; kiên định lý tưởng, mục tiêu của đảng và con đường cách mạng.

2- Bình tĩnh, sáng suốt, quyết đoán đề ra các quyết định đúng đắn khi cách mạng gặp khó khăn, nhất là các quyết định về công tác cán bộ; kiên trì và quyết tâm thực hiện thắng lợi các quyết định đó.

3- Nắm vững và thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của đảng; kiên định mục tiêu chiến lược của cách mạng, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược.

4- Gương mẫu tự phê bình, chỉ ra và thừa nhận sai lầm, khuyết điểm của mình, cổ vũ, động viên nhân dân phê bình, chỉ rõ sai lầm, khuyết điểm đó, tiếp nhận một cách tôn trọng, cầu thị và quyết tâm sửa chữa.

5- Kiên quyết ngăn chặn và loại trừ những suy thoái, tiêu cực trong đảng; đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng với hoạt động phá hoại đảng, phá hoại cách mạng của các thế lực thù địch.

Con đường rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của Đảng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với đặc điểm nước ta, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cán bộ, đảng viên phải tích cực học tập, nắm vững và nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, hành động theo chủ nghĩa ấy. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm cốt, không có nghĩa là dập khuôn máy móc những nội dung của chủ nghĩa ấy, mà trong mọi hoạt động của Đảng phải coi chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nền tảng, cơ sở để vận dụng, phát triển sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta trong từng thời kỳ cách mạng; đề ra đường lối cách mạng, quyết sách chính trị đúng đắn và kiên trì lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi. Qua đó, dần dần hình thành, phát triển và nâng cao BLCT của Đảng. Người nhấn mạnh, không nên “nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”.

Thứ hai, tích cực học tập nâng cao trình độ trí tuệ của đội ngũ cán bộ, đảng viên và của Đảng.

Trình độ trí tuệ của đội ngũ cán bộ, đảng viên và của Đảng là yếu tố đặc biệt quan trọng, có tính quyết định sự hình thành, phát triển, củng cố và nâng cao BLCT của cán bộ, đảng viên và của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Để có được hiểu biết, phải “Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, học tập văn hóa, kỹ thuật và nghiệp vụ”.

Thứ ba, gắn bó với thực tiễn, đối mặt với những khó khăn, gian khổ, thách thức quyết liệt, tích cực rèn luyện để nâng cao BLCT.

Bản lĩnh chính trị của Đảng chủ yếu được hình thành, phát triển, củng cố và nâng cao qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Đảng, nhất là khi đối mặt với khó khăn, gian khổ, thách thức quyết liệt phải đưa ra quyết sách chính trị đúng đắn, kịp thời và kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi quyết sách đó. Cũng như đạo đức cách mạng, để nâng cao BLCT, Đảng phải rèn luyện thường xuyên, liên tục. Hơn nữa, BLCT là một bộ phận rất trọng yếu của đạo đức cách mạng, vì vậy, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về rèn luyện, củng cố, nâng đạo đức cách mạng cũng là lời dạy của Người về rèn luyện, củng cố, nâng cao BLCT: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Đồng thời, Người nhấn mạnh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.  

Thứ tư, thường xuyên rèn luyện, củng cố, phát triển tình yêu thương vô hạn đối với nhân dân, chăm lo nâng cao đời sống của nhân dân; dựa vào nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân trong nâng cao BLCT của Đảng.

Tình yêu thương vô hạn đối với nhân dân, chăm lo nâng cao đời sống của nhân dân, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân sẽ tạo nên động lực to lớn hình thành, củng cố, phát triển, nâng cao BLCT của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng ngời, mẫu mực về điều này. Người đã chứng kiến và đau xót trước tình cảnh nhân dân Việt Nam chịu cảnh nô lệ, lầm than, bị áp bức, bóc lột nặng nề. Từ tình yêu thương vô hạn đó, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã có ý chí quyết tâm cao từ giã gia đình, quê hương, đất nước, bôn ba khắp bốn biển, năm châu tìm con đường cứu nước, cứu dân và Người đã thành công. Tấm gương sáng ngời của Người là phương châm, con đường đặc biệt quan trọng, hiệu quả để hình thành, phát triển, nâng cao BLCT của Đảng. Người còn chỉ rõ, để hình thành, phát triển, nâng cao BLCT của Đảng, ngoài tình yêu thương nhân dân, Đảng phải dựa vào nhân dân, phát huy mạnh mẽ, hiệu quả vai trò của nhân dân trong việc nâng cao BLCT của Đảng. Người dạy rằng: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được./ Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(13).

Thứ năm, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, tiêu cực trong Đảng, nhất là về tư tưởng chính trị, đấu tranh kiên quyết, làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại Đảng và cách mạng của các thế lực thù địch

Những suy thoái, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên và sự phá hoại của các thế lực thù địch cản trở rất lớn sự phát triển, nâng cao BLCT của Đảng, thậm chí thủ tiêu BLCT đã đạt được của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, tiêu cực trong Đảng, nhất là những biểu hiện về tư tưởng chính trị và loại trừ sự phá hoại Đảng và cách mạng của các thế lực thù địch. Trong hoạt động phá hoại, chúng thường tập trung hơn vào việc phá hoại Đảng về chính trị, nhất là BLCT của Đảng. Trước âm mưu của chúng, Người chỉ rõ: “Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài”; đồng thời, nhấn mạnh cần luôn coi trọng đấu tranh kiên quyết làm thất bại âm mưu và hành động phá hoại Đảng và cách mạng của các thế lực thù địch.

Thứ sáu, gắn bó mật thiết với thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phát triển lý luận về BLCT của Đảng, tạo cơ sở lý luận vững chắc để xây dựng, nâng cao BLCT của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề này, Người chỉ rõ “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lê-nin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”.    

Định hướng giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng hiện nay

Một là, quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về BLCT của đảng cách mạng, đó là một bộ phận rất quan trọng, bao trùm, xuyên suốt công tác xây dựng Đảng về chính trị trong các thời kỳ cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới; từ đó, đặc biệt coi trọng nâng cao BLCT của Đảng.

Trong thời kỳ đổi mới, các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên chịu tác động nhiều chiều, cả tích cực và tiêu cực của việc thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập quốc tế, nhất là những tác động tiêu cực, sự cám dỗ về kinh tế và những cám dỗ khác, vì thế đòi hỏi, yêu cầu rất cao về BLCT; cần tập trung cao độ thực hiện quyết liệt việc nâng cao BLCT của các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Hai là, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên định mục tiêu của cách mạng, đường lối đổi mới của Đảng.

Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đường lối đổi mới vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

Ba là, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao BLCT, trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên.

Đặc biệt coi trọng giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay; tiếp tục nâng cao BLCT, trình độ trí tuệ trong Đảng, nâng cao tính chiến đấu của toàn Đảng, các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược; đấu tranh, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ Đảng, chế độ; thực hiện nghiêm các nguyên tắc, quy định của Đảng, thực hành dân chủ gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

Bốn là, phát huy mạnh mẽ vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng.

Cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, nhận thức sâu sắc về vai trò, trách nhiệm của mình đối với việc phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên hiện nay; cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu thực hiện nghiêm Quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương; tăng cường phòng, chống, ngăn chặn và đẩy lùi những suy thoái, tiêu cực cản trở việc nâng cao BLCT của các tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Năm là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng công tác hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, với mục tiêu “xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu”.

Coi trọng nâng cao năng lực dự báo và ứng phó với các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình chính trị thế giới, khu vực; bám sát và xuất phát từ thực tiễn đất nước khi hoạch định đường lối, chủ trương, giải pháp, đánh giá tác động, cân đối, bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện có hiệu quả; nâng cao năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng; kiểm tra, giám sát chặt chẽ, xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng và của các cấp ủy, tổ chức đảng.

Sáu là, phát huy mạnh mẽ, hiệu quả vai trò của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp và nhân dân tham gia các hoạt động nâng cao BLCT của Đảng.

Nâng cao nhận thức của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và nhân dân tham gia các hoạt động nâng cao BLCT của Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng đẩy mạnh việc tuyên truyền, thuyết phục bằng các hình thức, phương pháp phù hợp với từng tổ chức và các tầng lớp nhân dân về việc tham gia vào các hoạt động nâng cao BLCT của Đảng, đem lại hiệu quả, làm cho các tổ chức đó và nhân dân nhận thức sâu sắc rằng đây là vinh dự, quyền lợi và trách nhiệm của mình; từ đó, tham gia tích cực, chủ động, thiết thực, hiệu quả hơn. Các cấp ủy tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, đủ năng lực tham gia có hiệu quả vào các hoạt động nâng cao BLCT của Đảng. Thực hiện nghiêm các quyết định của Đảng về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, giám sát, phản biện xã hội; tạo thuận lợi cho các tổ chức này tham gia hiệu quả vào việc nâng cao BLCT của Đảng, để Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh, năng lực, trí tuệ, đạo đức lãnh đạo đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.

Sưu tầm

Nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo là nội dung quan trọng mang giá trị di sản tinh thần to lớn nằm trong hệ thống lý luận của Người về con đường cách mạng Việt Nam. Di sản tinh thần ấy được phản ánh trong các bài viết, những lời di huấn, những cử chỉ, hành động và cách thức ứng xử của Người đối với các chức sắc, đồng bào tôn giáo. Cùng với sự phát triển của tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, vừa thể hiện tính nhất quán, lâu dài nhưng đồng thời cũng cho thấy tính linh hoạt, mềm dẻo và được vận dụng trở thành phương châm, nguyên tắc căn bản, quan điểm định hướng trong chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay.

Trong bối cảnh thời đại ngày nay, dân tộc, tôn giáo vẫn luôn là vấn đề nhạy cảm, phức tạp ở Việt Nam bởi nó liên quan đến tính liên tộc người và liên vùng xét ở bình diện trong nước cũng như tính liên biên giới và xuyên quốc gia xét ở bình diện quốc tế. Do những yếu tố lịch sử, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo với 54 dân tộc anh em sinh sống xen kẽ trên nhiều địa bàn trong cả nước và 16 tôn giáo, 41 tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, số lượng tín đồ khoảng hơn 26,5 triệu (chiếm khoảng 27% dân số). Các dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam luôn kề vai sát cánh, đoàn kết, hỗ trợ nhau cùng phát triển, đóng góp vai trò quan trọng trong tiến trình lịch sử cách mạng. Tuy nhiên, xuất phát từ mối quan hệ gắn kết dân tộc - tôn giáo ở Việt Nam và những tác động sâu sắc của mối quan hệ này đến vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh của các tộc người cũng như của quốc gia - dân tộc, những thập niên gần đây, các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, nhằm “chuyển hóa nội bộ”, gây mất ổn định an ninh - chính trị, phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Trong khi đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, tôn giáo là bộ phận quan trọng cấu thành nên tư tưởng cách mạng và giải phóng dân tộc của Người. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo là cơ sở lý luận và phương pháp luận để Đảng và Nhà nước Việt Nam vận dụng giải quyết tốt vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chính vì thế, việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm định hướng nhận thức và ứng xử là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với các cấp ủy, chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo, cán bộ, đảng viên và mọi người dân.

Để tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc hiện nay và thời gian tới, cần lưu ý một số vấn đề: 

Một là, nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo phải bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, quyền bình đẳng giữa các tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đồng thời kiên quyết đấu tranh với âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc cùng chung sống trên mảnh đất Việt Nam là tư tưởng lớn về quan hệ dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”. Người tuyên bố, “đồng bào các dân tộc đều là người chủ nước nhà”, nên “phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc”, đồng thời yêu cầu, “Tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta”. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt nhấn mạnh việc ứng xử bình đẳng với các tôn giáo. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do lựa chọn theo một tôn giáo hoặc không theo tôn giáo nào; các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo (nhà thờ, chùa, tịnh thất, trường giáo lý…); các tôn giáo không phân biệt lớn nhỏ đều có quyền bình đẳng như nhau, quyền ấy cần được tôn trọng với thái độ đúng mực, thật thà, không thiên kiến, không vì đề cao niềm tin tôn giáo của mình mà phủ nhận, bài xích hay xem thường, nhạo báng tôn giáo của người khác.

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện cam kết chính trị của mình trong quan niệm, tư tưởng, hành động thực tế và quan trọng hơn nữa là được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên soạn thảo và ban bố Sắc lệnh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, dưới sự chỉ đạo của Người, Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946 đã khẳng định quyền tự do tín ngưỡng là quyền hiến định của mọi công dân Việt Nam. Tiếp theo, Sắc lệnh số 234/SL, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 14-6-1955, “Sắc lệnh Số 223/SL ngày 14 tháng 6 năm 1955 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” cũng nhấn mạnh việc Chính phủ bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. 

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn lưu ý việc phân biệt nhu cầu tín ngưỡng chân chính của quần chúng với âm mưu lợi dụng tôn giáo, lợi dụng đức tin của các thế lực thù địch để phá hoại sự nghiệp cách mạng. Đối với những kẻ lợi dụng, giả danh tôn giáo, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đấu tranh không khoan nhượng, trừng trị theo pháp luật. 

Những quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị to lớn, cần được Đảng và Nhà nước Việt Nam kế thừa và phát huy trong bối cảnh mới nhằm bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, xây dựng và hoàn thiện chính sách đối với đồng bào các dân tộc và đồng bào tôn giáo, nhận diện và đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước. 

Hai là, nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo phải bảo đảm ổn định an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số, vùng đồng bào tôn giáo, bảo đảm quyền độc lập, tự chủ và an ninh quốc gia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định, vùng dân tộc thiểu số và miền núi có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh. Người từng khẳng định, “miền núi có một địa vị cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của cả nước ta”.

Thực tế ở Việt Nam cho thấy, thời gian qua, tại các vùng dân tộc thiểu số, nhất là tại các địa bàn trọng yếu về vấn đề dân tộc, tôn giáo, các thế lực thù địch luôn gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề tộc người, ra sức tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, kích động mặc cảm, tự ti và thù hằn dân tộc để tập hợp, lôi kéo tín đồ tham gia vào các hoạt động ly khai, tự trị trong các cộng đồng tộc người - tôn giáo. Tại khu vực miền núi phía Bắc, các thế lực phản động nhằm vào vấn đề lịch sử, tâm lý của người Mông để truyền miệng, tung tin thất thiệt về "thời kỳ hoàng kim" của “vương quốc Mông”, kích động những phần tử bất mãn, quá khích đấu tranh đòi ly khai, thành lập cái gọi là “vương quốc riêng” của người Mông. Tại khu vực Tây Nguyên, các thế lực phản động Fulro nhận được sự hỗ trợ từ nước ngoài đã kích động đồng bào dân tộc thiểu số gây ra các vụ bạo loạn chính trị cùng nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến dân tộc, tôn giáo hòng lật đổ chính quyền, thành lập Nhà nước Đề ga tự trị. Tại khu vực miền Trung, các thế lực thù địch lợi dụng Hồi giáo và Bà la môn giáo trong cộng đồng người Chăm để kích động tư tưởng ly khai, khôi phục cái gọi là "Vương quốc Chămpa tự trị". Tại khu vực Tây Nam Bộ, vấn đề lịch sử vùng đất Nam Bộ cùng với Phật giáo Nam Tông của người Khmer từ lâu đã trở thành trọng tâm chống phá của các thế lực cực đoan nhằm gây dựng cái gọi là "quốc gia Khmer Krom tự trị". 

Khi gắn kết vấn đề tôn giáo với vấn đề tộc người, các thế lực thù địch có thể dễ dàng hơn tập hợp được lực lượng đông đảo những người cùng tôn giáo trong nội bộ từng tộc người và giữa các tộc người để hình thành những cộng đồng liên kết theo tôn giáo nhằm tăng cường ý thức tôn giáo, tính ràng buộc của thần quyền, giáo lý và tính hiệu triệu của tôn giáo trong các hoạt động liên quan đến mục tiêu chính trị.

Đáng lưu ý, các thế lực phản động còn triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông và diễn đàn quốc tế để xuyên tạc, bịa đặt về quyền của các dân tộc thiểu số, về tự do tôn giáo ở Việt Nam thông qua các cách tiếp cận phiến diện, thiếu thiện chí, gây sức ép với Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền và tôn giáo.

Xuất phát từ tình hình thực tiễn đó, có thể thấy, tôn giáo và dân tộc luôn là hai vấn đề nhạy cảm, những vụ việc liên quan nếu không được giải quyết một cách thỏa đáng, cẩn trọng, phù hợp, kịp thời sẽ dẫn tới nguy cơ gây mất ổn định chính trị - xã hội, tạo cớ cho các thế lực chính trị bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước. Do đó, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo hiện nay cần phải bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đặc biệt là ở các khu vực tập trung đông đồng bào dân tộc, đồng bào theo tôn giáo sinh sống như khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo phải gắn với việc bảo đảm an ninh biên giới, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Ba là, nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo phải bảo đảm đoàn kết đồng bào các dân tộc, đồng bào tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, trong đó tồn tại đan xen các dân tộc, các loại hình tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập, do đó, thực hiện đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo theo tinh thần “đoàn kết lương giáo” nhằm thực hiện mục tiêu hòa hợp dân tộc được coi là chiến lược quan trọng trong tập hợp sức mạnh toàn dân tham gia vào tiến trình cách mạng. Giải quyết vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, “Giang sơn và Chính phủ ta là giang sơn và Chính phủ của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta”; “Tất cả các dân tộc miền núi và miền xuôi phải đoàn kết như anh em, chị em trong một nhà”.

Về cơ sở để thực hiện đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh mục tiêu đánh đổ đế quốc, thực dân để giành độc lập dân tộc và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội - một chế độ xã hội công bằng, dân chủ, tốt đẹp cho mọi người. Vì thế, cần đoàn kết tất cả các lực lượng, đoàn kết mọi thành phần dân tộc, đoàn kết giữa đồng bào có đạo và đồng bào không có đạo, đoàn kết trong nội bộ các tôn giáo và đoàn kết giữa đồng bào có tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc và xây dựng nước nhà. Người nói, “Đồng bào ta không chia lương giáo, ai cũng tương ái, tương thân, đoàn kết chặt chẽ thành một khối”. 

Quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết đồng bào các dân tộc thiểu số trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, đoàn kết đồng bào tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc tạo cơ sở và phương hướng cho Đảng và Nhà nước Việt Nam tập hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp của sự đoàn kết, khoan dung tôn giáo và đồng thuận xã hội. Trong thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện tốt chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, tạo nên nguồn lực cộng hưởng trong sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; chống kỳ thị, phân biệt đối xử, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc, tôn giáo.

Bốn là, nghiên cứu, vận dụng, phát triển, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo phải bảo đảm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, “miền núi có tài nguyên rất phong phú, có nhiều khả năng để mở mang nông nghiệp và công nghiệp”. Do đó, chúng ta cần làm cho miền núi trở thành nơi giàu có để nâng cao hơn nữa đời sống của nhân dân, để thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà. Người vui mừng, tự hào nói rằng: “Chính sách của Đảng ta là làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi. Ngày nay chính sách đó đã bước đầu thực hiện”. Do những điều kiện đặc thù về địa lý tự nhiên, kinh tế, xã hội và lịch sử cụ thể của vùng dân tộc thiểu số, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, phải ưu tiên, giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi để hỗ trợ các dân tộc thiểu số hòa nhập, cùng tiến bộ với đồng bào cả nước. 

Đối với đời sống của đồng bào tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự chăm lo sâu sắc đến cả “phần xác” và “phần hồn”. Theo Người, “phần xác no ấm” thì “phần hồn thong dong”. Do đó, Người thường nhắc lại câu thánh ca “Sáng danh Chúa trên các tầng trời, hòa bình cho mọi người dưới thế” để nhắc nhở mọi người luôn phải gắn đạo với đời, phải làm cho đồng bào ấm no, hạnh phúc thì mới hành đạo được. Người chỉ đạo Chính phủ cần tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống của đồng bào để “phần đời” được no đủ, yên vui; đồng bào bên cạnh niềm tin tôn giáo còn có niềm tin bền chặt vào chính sách của Đảng và Chính phủ. 

Lịch sử ghi nhận công lao to lớn của đồng bào các dân tộc, đồng bào các tôn giáo đối với sự nghiệp cách mạng. Sau khi đất nước giành được độc lập, thống nhất, đồng bào các dân tộc, đồng bào các tôn giáo vẫn tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tuy nhiên, do những điều kiện đặc thù về địa bàn cư trú, giao thông khó khăn lại sống phân tán, ít cơ hội tiếp xúc với các dịch vụ, phúc lợi xã hội và nền kinh tế thị trường cho nên đa phần đồng bào dân tộc, tôn giáo sinh sống trên địa bàn dân tộc thiểu số có đời sống kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, mặc dù đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển. 

Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh hướng đến sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ chính trị không thể nằm ngoài mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc, đồng bào các tôn giáo. Đảng và Nhà nước cần tiếp tục có sự quan tâm thích đáng, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc, tôn giáo xóa được đói, giảm được nghèo một cách bền vững, ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện sức khỏe thể chất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần. Nhờ đó, “miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc, đoàn kết giúp đỡ nhau tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Năm là, nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo phải chú trọng tính đặc thù của từng vùng, từng dân tộc, từng tôn giáo, bảo đảm phát huy nội lực của đồng bào dân tộc thiểu số, nội lực của đồng bào tôn giáo phục vụ cho sự phát triển đất nước.

Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức được vị trí, vai trò, tiềm năng to lớn của đồng bào dân tộc thiểu số đối với sự nghiệp cách mạng. Người nhận định, “Đồng bào miền núi có truyền thống cần cù và dũng cảm. Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến, đồng bào miền núi đã có nhiều công trạng vẻ vang và oanh liệt. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh để thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc, đồng bào miền núi đang cố gắng góp phần xứng đáng của mình”. Người từng khẳng định, đồng bào dân tộc thiểu số là những con người “rất trung thành, chịu khó”, “rất thật thà và rất tốt”. Những đức tính nổi trội đó của đồng bào “nhập với thế hiểm trở của núi sông, trở thành sức mạnh vô địch”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở, “Phải đoàn kết các dân tộc, phải đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt”, dân tộc nào đông hơn, nhiều người hơn, tiến bộ hơn thì phải giúp đỡ các dân tộc khác để đều tiến bộ như nhau.

Người đặc biệt quan tâm đến chính sách đối với miền núi, với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Người căn dặn, đồng bào miền núi phải đoàn kết, giúp đỡ đồng bào miền xuôi; đồng bào miền xuôi cũng phải đoàn kết, giúp đỡ đồng bào miền núi để cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đối với cán bộ công tác tại vùng dân tộc thiểu số, Người chỉ dạy, “áp dụng chủ trương và chính sách phải thật sát với tình hình thực tế của mỗi nơi. Tuyệt đối chớ rập khuôn, chớ máy móc, chớ nóng vội”.

Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn phải phát huy khả năng tự giải quyết, tự vươn lên của đồng bào thiểu số. Người nói, ở địa phương, việc gì khả năng điều kiện cho phép thì địa phương miền núi phải tự giải quyết, tự vươn lên, ví như các công trình thủy lợi nhỏ, các đường giao thông nhỏ. Trung ương có trách nhiệm xây dựng trang bị những công trình lớn.

Theo đó, vận dụng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, ngày nay, giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải chú trọng tính đặc thù của từng vùng, từng dân tộc, từng tôn giáo, dựa trên các tiêu chí phân chia vùng, miền (khu vực bước đầu phát triển, khu vực ổn định và khu vực khó khăn), mỗi nhóm dân tộc, mỗi nhóm tôn giáo thuộc các khu vực khác nhau sẽ được đầu tư phát triển một cách phù hợp, khu vực nào khó khăn sẽ được ưu đãi nhiều hơn để đuổi kịp trình độ phát triển chung của cả nước. Bên cạnh sự quan tâm hỗ trợ từ Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước, cần phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên, làm chủ cuộc sống của đồng bào các dân tộc, đồng bào các tôn giáo, hướng tới mục tiêu chung vì sự phồn vinh, thịnh vượng của đất nước.

Sáu là, nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo phải bảo đảm giữ gìn, phát huy giá trị, bản sắc văn hóa các dân tộc, phát huy giá trị văn hóa, đạo đức và nguồn lực tôn giáo.

Trong điều kiện một quốc gia đa dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao và trân trọng những nét độc đáo, đặc sắc riêng có, đặc trưng cho mỗi dân tộc, vùng miền. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Nước ta có nhiều dân tộc, đây là điểm tốt. Cần tôn trọng, giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hóa các dân tộc.

Trong điều kiện một quốc gia đa tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh - một vị lãnh tụ cộng sản theo quan điểm duy vật - đã không dùng nhãn quan đấu tranh ý thức hệ để đối lập vô thần với hữu thần, duy vật với duy tâm, tiến hành cuộc đấu tranh trực diện với giáo lý của tôn giáo mà chấp nhận, tôn trọng sự khác biệt, phát huy điểm tương đồng, ghi nhận và khích lệ những đóng góp của đồng bào tôn giáo. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tiếp cận vấn đề tôn giáo ở bình diện văn hóa, đạo đức, coi tôn giáo là một thành tố của văn hóa, do đó, Người nhấn mạnh tôn giáo mang những giá trị tốt đẹp, nhân văn, nhân ái, gắn với con người và vì con người. 

Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, trong quá trình sinh sống, lao động, sản xuất và giao lưu văn hóa giữa các dân tộc thiểu số, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số được lưu truyền, nuôi dưỡng và phát huy, góp phần làm đậm nét và làm phong phú thêm nền văn hóa đặc sắc của Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của xã hội hiện đại, những giá trị mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số đang đứng trước nhiều thách thức và có nguy cơ mai một, biến dạng. 

Riêng đối với vấn đề tôn giáo tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trải qua quá trình phát triển, các tôn giáo đã phát huy truyền thống tương thân tương ái, hình thành nên nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần phong phú, đóng góp cho quá trình phát triển tại địa bàn. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, một số hiện tượng tôn giáo mới, tôn giáo nước ngoài du nhập vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiến hành truyền đạo trái phép, không tuân thủ quy định của pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục và phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc, tạo ra những mâu thuẫn, xung đột và đứt gãy về phương diện lịch sử, văn hóa. Một số hoạt động viện trợ về kinh tế và hoạt động từ thiện nhân đạo của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại vùng dân tộc thiểu số bị lợi dụng vào mục đích chính trị để tác động xấu đến nhận thức của tín đồ về một số chính sách kinh tế, xã hội khu vực miền núi, kích động tư tưởng mặc cảm, thù hằn dân tộc, gây chia rẽ; tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

Do đó, giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải bảo đảm giữ gìn, phát huy giá trị, bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất; phát huy giá trị văn hóa, đạo đức và nguồn lực của tôn giáo trên mọi phương diện của đời sống xã hội, tạo điều kiện để đồng bào các tôn giáo phát huy năng lực, sở trường của mình cho sự phát triển của chính tôn giáo và phục vụ trực tiếp cho sự phát triển của địa phương; tạo niềm tin vững chắc của đồng bào các dân tộc, tôn giáo đối với Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị để tỉnh táo nhận diện và đấu tranh kịp thời với các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo./.

Sưu tầm

Dự báo hoạt động chống phá của thế lực thù địch về thực hành dân chủ và kỷ luật trong Quân đội ta khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới

Một trong những thách thức khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới là hoạt động chống phá của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, trong đó, lợi dụng vấn đề thực hành dân chủ và kỷ luật để xuyên tạc, kích động, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Trước sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, khoa học công nghệ trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, các thế lực thù địch lợi dụng không gian mạng, nhất là các trang mạng xã hội để phát tán nhiều loại thông tin giả, sai sự thật, độc hại nhằm chống phá cách mạng nước ta. Hoạt động chống phá quân đội của chúng sẽ ngày càng gia tăng, đặc biệt là lợi dụng những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hành dân chủ và kỷ luật để làm suy giảm niềm tin của nhân dân với quân đội, quân nhân với tổ chức, làm rạn nứt đoàn kết nội bộ và gây ảnh hưởng đến sức mạnh quốc phòng.

Trong kỷ nguyên mới với sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và chiến tranh thông tin, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch sẽ diễn ra với quy mô rộng hơn, mức độ tinh vi hơn kết hợp sử dụng nhiều công cụ công nghệ cao. Do đó, dự báo hoạt động chống phá của thế lực thù địch về thực hành dân chủ và kỷ luật trong Quân đội ta khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đó là:

Một là, tiếp tục lợi dụng vấn đề dân chủ để xuyên tạc, gây mất đoàn kết nội bộ Quân đội ta. Chúng xuyên tạc bản chất của thực hành dân chủ trong quân đội, cho rằng quân nhân bị kiểm soát chặt chẽ, không có quyền dân chủ hoặc dân chủ bị hạn chế, không được bày tỏ quan điểm cá nhân. Đồng thời, sử dụng mạng xã hội để lan truyền, thổi phồng, bóp méo các vụ việc tiêu cực cá biệt, từ đó xuyên tạc về công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ huy trong quân đội. Cũng như, chúng cổ súy chủ nghĩa cá nhân, kích động quân nhân vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tạo ra tư tưởng đối lập giữa cấp trên và cấp dưới, từ đó làm suy yếu tinh thần kỷ luật, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ quân đội.

Hai là, tận dụng không gian mạng, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để tuyên truyền chống phá, đối tượng hướng đến thường là quân nhân trẻ tuổi và gia đình quân nhân. Các thế lực thù địch sử dụng AI, deepfake để tạo các bài viết, video giả mạo, bịa đặt phát ngôn của lãnh đạo quân đội, làm nhiễu loạn thông tin hoặc sử dụng botnet, hacker để tấn công vào hệ thống thông tin quân sự, đánh cắp dữ liệu hoặc phát tán thông tin giả, tin sai sự thật trên Internet, mạng xã hội (Facebook, TikTok, Telegram, YouTube...) để tuyên truyền, kêu gọi cán bộ, đảng viên trong quân đội từ bỏ chế độ, từ bỏ Đảng, ủng hộ, tham gia phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền. Ngoài ra, chúng còn lợi dụng truyền thông nước ngoài để tuyên truyền những quan điểm sai lệch, không đúng sự thật về thực hành dân chủ và kỷ luật trong Quân đội ta.

Ba là, thúc đẩy chiến tranh tâm lý, chiến tranh thông tin nhằm phá hoại niềm tin của quân nhân. Các thế lực thù địch sử dụng thủ đoạn “tâm lý chiến”, thông qua các vụ việc tiêu cực cá biệt để bôi nhọ hình ảnh quân đội, kích động sự hoài nghi, bất mãn trong nội bộ. Theo đó, chúng tung tin đồn thất thiệt về chính sách đãi ngộ, chế độ lương thưởng, đời sống quân nhân để kích động tâm lý hoài nghi, bất mãn trong quân đội. Đồng thời, lợi dụng những vấn đề nhạy cảm để gây chia rẽ giữa quân đội và nhân dân, xuyên tạc quân đội đang “xa rời nhân dân”. Ngoài ra, chúng sẽ tạo dựng các nhân vật giả mạo hoặc cựu quân nhân có tư tưởng tiêu cực để tuyên truyền chống phá, gieo rắc hoài nghi trong nội bộ quân đội.

Bốn là, kích động chống đối, phá hoại kỷ luật quân đội. Các thế lực thù địch bằng các chiêu trò “tạo điểm nóng”, sẽ lợi dụng các sự kiện chính trị lớn như cuộc cách mạng tinh, gọn bộ máy nhà nước, Đại hội Đảng bộ các cấp hiện nay để kêu gọi quân nhân bày tỏ thái độ trái chiều, cổ súy hành vi vi phạm điều lệnh trong các đơn vị. Từ đó, chúng tiến hành tuyên truyền xuyên tạc quy định kỷ luật quân đội, vu cáo Quân đội Việt Nam không có dân chủ để gây chia rẽ, làm mất ổn định nội bộ. Thông qua mạng xã hội, chúng lôi kéo quân nhân vào các hội nhóm phản động, kích động chống đối, đòi thay đổi chính sách quân đội. Đồng thời, cổ súy quân nhân sống buông thả, thực dụng, xa rời phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, làm suy giảm tính kỷ luật và sức chiến đấu của quân đội.

Năm là, tăng cường tác động từ bên ngoài, can thiệp vào công tác quân sự - quốc phòng. Các thế lực thù địch lợi dụng các tổ chức quốc tế phi chính phủ (NGO) và truyền thông nước ngoài để gây sức ép về vấn đề “dân chủ, nhân quyền” trong quân đội. Đồng thời, chúng tổ chức cài cắm gián điệp vào hàng ngũ quân đội để thu thập thông tin, móc nối với các phần tử cơ hội chính trị, phản động lưu vong để kích động tư tưởng “công thần” và những phần tử bất mãn trong quân đội để tạo ra “nhân vật đối lập”, từ đó thực hiện các chiến dịch tuyên truyền chống phá, tổ chức phá hoại từ bên trong. Bên cạnh đó, chúng kích động tư tưởng “thân phương Tây”, nhằm tạo ra những đột biến trong “tự diễn biến”“tự chuyển hóa”, xa rời lập trường độc lập, tự chủ của Đảng, Nhà nước và dân tộc ta.

Khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, các thế lực thù địch sẽ tăng cường hoạt động chống phá với thủ đoạn tinh vi hơn. Đặc biệt lợi dụng vấn đề thực hành dân chủ và kỷ luật trong quân đội để làm suy yếu nội bộ, phá hoại sức mạnh quốc phòng. Tuy nhiên, với sự chủ động đấu tranh, nâng cao nhận thức, tăng cường kỷ luật và kiểm soát chặt chẽ thông tin, quân đội ta sẽ giữ vững bản lĩnh chính trị, nâng cao sức mạnh chiến đấu, tiếp tục là lực lượng chính trị nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng Đảng, Nhà nước và Nhân dân đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh trong kỷ nguyên mới.

Trong thời gian qua, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện Lục quân đã luôn lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chỉ huy cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị quán triệt và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; đồng thời thường xuyên đưa ra các dự báo kịp thời, để chỉ đạo các lực lượng đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, trong đó có vấn đề về thực hành dân chủ và kỷ luật trong quân đội. Nhờ đó, cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ trong toàn Học viện bản lĩnh chính trị được nâng cao, luôn đoàn kết, thống nhất, giúp đỡ lẫn nhau, trên dưới đồng lòng, phát huy trí tuệ tập thể, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nhất là nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học, góp phần xây dựng Học viện Lục quân vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”./.

Sưu tầm

Đấu tranh, vô hiệu hóa mọi thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch về thực hành dân chủ và kỷ luật trong Quân đội ta khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá quân đội, đặc biệt liên quan đến vấn đề thực hành dân chủ và kỷ luật. Vì vậy, cần phải có các giải pháp để đấu tranh, vô hiệu hóa mọi thủ đoạn, hoạt động chống phá của chúng.

Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhân dân giành độc lập và xây dựng đất nước, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, là biểu tượng của sức mạnh chính trị, quân sự và tinh thần yêu nước. Trong suốt các thời kỳ, quân đội không chỉ phải chiến đấu với kẻ thù bên ngoài mà còn phải đối diện với những âm mưu, thủ đoạn chống phá từ các thế lực thù địch. Đặc biệt, khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới, với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, khoa học công nghệ, các thế lực thù địch càng gia tăng các hoạt động chống phá với những thủ đoạn tinh vi, thâm độc hơn, nhằm “phi chính trị hóa” quân đội. Trong đó, chúng sẽ tập trung xuyên tạc về thực hành dân chủ và kỷ luật trong quân đội để kích động, phá hoại tinh thần đoàn kết, kỷ luật, làm suy yếu sự ổn định và sức mạnh của quân đội.

 Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để làm suy yếu nội bộ quân đội ta, phá hoại tinh thần đoàn kết, kỷ luật và niềm tin của quân nhân vào Đảng và Nhà nước. Với sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội, các thế lực thù địch đã lợi dụng các nền tảng này để phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc về tình hình quân đội và các vấn đề liên quan đến dân chủ và kỷ luật trong quân đội. Chúng sử dụng các công cụ như tin nhắn, video giả mạo, hoặc tổ chức các cuộc tấn công mạng vào hệ thống thông tin quân sự để đánh cắp dữ liệu, phát tán thông tin sai lệch, gây rối loạn thông tin với mục đích nhằm hạ uy tín của quân đội, kích động sự hoài nghi của quân nhân và trong Nhân dân. Đặc biệt, các thế lực thù địch còn lợi dụng mạng xã hội để lôi kéo, khuyến khích quân nhân vi phạm kỷ luật, làm suy yếu niềm tin vào tổ chức, tập thể trong quân đội. Mục đích để tạo ra sự bất mãn, chia rẽ giữa cấp trên và cấp dưới trong quân đội, làm suy yếu sức mạnh đoàn kết nội bộ.

Đấu tranh, vô hiệu hóa mọi thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch về thực hành dân chủ và kỷ luật trong Quân đội ta là hoạt động cần thiết, quan trọng, thiết thực khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Để tiến hành có hiệu quả, chúng ta cần thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau:

Một là, duy trì có nền nếp công tác giáo dục chính trị, tư tưởng

Giáo dục chính trị, tư tưởng luôn là giải pháp hiệu quả hàng đầu để phòng ngừa và đấu tranh với các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Cần thực hiện công tác giáo dục tư tưởng sâu rộng trong quân đội, giúp quân nhân nhận thức rõ về tình hình chính trị, sự phát triển của đất nước, vai trò của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong công cuộc xây dung và bảo vệ Tổ quốc. Cũng như, trang bị cho mọi quân nhân đầy đủ kiến thức về Đảng, Nhà nước và truyền thống vẻ vang của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Duy trì và phát huy bản chất cách mạng của quân đội, cùng với sự hiểu biết sâu sắc về các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, sẽ giúp quân nhân luôn kiên định với lý tưởng của Đảng và kiên quyết chống lại các tác động xấu từ bên ngoài.

Giáo dục chính trị không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền, mà cần phải kết hợp với việc bồi dưỡng lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và Nhà nước. Quân nhân cần hiểu rõ việc thực hành dân chủ trong quân đội phải luôn gắn với kỷ luật, tôn trọng sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo của cấp trên, qua đó tránh được những ảnh hưởng tiêu cực từ các thông tin sai lệch. Đặc biệt, trong kỷ nguyên mới, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục chính trị tư tưởng sẽ tạo ra những bước đột phá trong công tác tuyên truyền, giáo dục. Các bài giảng trực tuyến, các cuộc hội thảo trực tuyến có thể giúp lan tỏa nhanh chóng các thông tin đúng đắn về tình hình chính trị và an ninh quốc gia, đồng thời giúp quân nhân nâng cao nhận thức, nhận diện các chiêu trò của thế lực thù địch.

Hai là, luôn duy trì kỷ luật “tự giác, nghiêm minh”

Kỷ luật quân đội là yếu tố quyết định đến sức mạnh chiến đấu và tính tổ chức của lực lượng vũ trang. Để vô hiệu hóa các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, việc duy trì kỷ luật “tự giác, nghiêm minh” là điều cực kỳ quan trọng. Mỗi quân nhân cần nhận thức rõ tầm quan trọng của kỷ luật trong mọi hoạt động của quân đội. Kỷ luật không chỉ là việc tuân thủ các quy định hành chính, mà còn là sự tự giác trong công việc, đồng thời còn là sự thể hiện lòng trung thành, trách nhiệm cao trong công việc và nhiệm vụ được giao.

Mỗi quân nhân cần phải hiểu rằng kỷ luật là nền tảng của sức mạnh quân đội. Khi quân nhân tự giác chấp hành kỷ luật, họ sẽ không bị tác động bởi các âm mưu chia rẽ hay xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đồng thời, kỷ luật nghiêm minh trong quân đội cũng sẽ giúp khẳng định sự mạnh mẽ của tổ chức và giữ vững niềm tin của Nhân dân vào quân đội. Do đó, cần có biện pháp thiết thực để giám sát việc chấp hành kỷ luật của quân nhân; đồng thời, chỉ huy đơn vị phải là những tấm gương sáng về kỷ luật, thể hiện sự gương mẫu trong lời nói và việc làm, từ đó tạo ra niềm tin và sự tự giác trong tập thể đơn vị.

Ba là, tăng cường công tác tuyên truyền và bảo vệ thông tin, đấu tranh với các hoạt động tuyên truyền sai lệch

Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, việc tuyên truyền và bảo vệ thông tin là một biện pháp quan trọng để vô hiệu hóa các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Điều này không chỉ đơn thuần là phản bác các thông tin sai lệch, mà còn phải chủ động thông tin để Nhân dân và quân nhân nhận thức được những âm mưu của các thế lực thù địch. Vì vậy, các cơ quan, đơn vị cần thực hiện đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi, cung cấp thông tin chính thống về tình hình quân đội và những nỗ lực của quân đội, nhất là việc thực hành dân chủ và kỷ luật. Việc thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác sẽ giúp quân nhân và Nhân dân nhận thức rõ các âm mưu của thế lực thù địch và tạo ra một “lá chắn” bảo vệ quân đội khỏi các hoạt động tuyên truyền sai lệch.

Bên cạnh đó, các cơ quan đơn vị cũng cần phải nâng cao khả năng bảo vệ hệ thống thông tin quân sự, ngăn chặn các cuộc tấn công mạng và bảo vệ an toàn thông tin nội bộ. Đồng thời, phối hợp với cơ quan chức năng để quản lý chặt chẽ thông tin trên mạng xã hội cũng là một biện pháp quan trọng để ngăn chặn thông tin xấu, độc hại, đặc biệt là thông tin xuyên tạc về thực hành dân chủ và kỷ luật. Sử dụng các lực lượng chuyên trách thường xuyên theo dõi, phát hiện và đối phó với các âm mưu, thủ đoạn sử dụng công nghệ cao chống phá quân đội.

Bốn là, luôn thắt chặt mối quan hệ đoàn kết quân dân

Quan hệ giữa quân đội và Nhân dân luôn là yếu tố quyết định đến sức mạnh quốc phòng. Các thế lực thù địch luôn tìm cách chia rẽ mối quan hệ này, bằng cách tạo ra những bất ổn trong xã hội. Do đó, cần phải tập trung giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc Tư tưởng Hồ Chí Minh, “quân đội của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, đồng thời gắn liền với tăng cường giáo dục bản chất giai cấp công nhân, truyền thống tốt đẹp của quân đội và giá trị cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Từ đó, đẩy mạnh hoạt động thực tiễn xây dựng, củng cố, thắt chặt mối quan hệ đoàn kết quân dân.

Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện tốt 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật trong quan hệ với Nhân dân, thực hiện tốt lời dạy của Bác là “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”, phải ra sức giúp đỡ dân, bảo vệ dân, học hỏi nhân dân, làm cho nhân dân ngày càng tin, càng phục và càng yêu mến bộ đội. Đồng thời, quán triệt, thực hiện tốt quy chế công tác dân vận của Quân đội ta. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải hiểu và đồng thời là một người tuyên truyền viên để Nhân dân hiểu và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Từ đó, gây dựng sự tin tưởng vững chắc của Nhân dân vào quân đội, cũng như các thế lực thù địch sẽ không thể phá hoại sự đoàn kết quân dân.

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá nhằm vào quân đội ta, đặc biệt là về thực hành dân chủ và kỷ luật trong quân đội. Vì vậy, việc đấu tranh, vô hiệu hóa mọi thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch về thực hành dân chủ và kỷ luật trong Quân đội ta là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách để bảo vệ vững chắc sự ổn định chính trị trong quân đội, góp phần đánh bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều này, chúng ta cần hiểu rõ bản chất của các thế lực thù địch, đồng thời thực hiện nội dung, biện pháp trên phù hợp, đồng bộ thích hợp với từng tình huống cụ thể để đấu tranh, vô hiệu hóa mọi thủ đoạn, hoạt động chống phá của chúng có hiệu quả./.

Sưu tầm