Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2025

Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một

Thời khắc lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một sự kiện trọng đại - ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Đó không chỉ là chiến thắng vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy khó khăn gian khổ, mà còn là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của ý chí độc lập, tự cường và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khát vọng về một Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do là ngọn lửa thiêng hun đúc tinh thần dân tộc suốt hàng nghìn năm lịch sử. Từ khi Vua Hùng dựng nước cho tới hôm nay, trải qua bao cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giữ gìn giang sơn, bờ cõi, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, khát vọng ấy luôn là sức mạnh tinh thần không gì sánh nổi, thôi thúc các tầng lớp nhân dân, muôn người như một, chung sức, đồng lòng, vượt mọi gian nan, thử thách để giành lại nền độc lập vào năm 1945, đánh đuổi thực dân vào năm 1954 và thống nhất đất nước vào năm 1975.

Thắng lợi của dân tộc anh hùng

Chiến thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975 không chỉ có ý nghĩa kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam, mà còn là mốc son chói lọi trong hành trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đó là chiến thắng của niềm tin, của ước nguyện độc lập, tự do và thống nhất đất nước; chiến thắng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam; chiến thắng của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và của tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí chiến đấu, bất khuất ngàn đời của nhân dân Việt Nam, của các lực lượng tiến bộ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Chiến thắng 30/4/1975 là thành quả quyết tâm sắt đá của dân tộc Việt Nam về một đất nước thống nhất, không thể bị chia cắt bởi bất kỳ thế lực nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc - đã khẳng định chân lý bất diệt: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.”

Lời của Bác không chỉ là tuyên ngôn thiêng liêng về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, mà còn là ngọn đuốc soi đường, là nguồn cảm hứng, truyền sức mạnh cho mọi thế hệ người Việt Nam trong suốt những năm tháng chiến tranh gian khổ và khốc liệt. Chiến thắng 30/4/1975 là minh chứng sống động cho triết lý của thời đại “Không có gì quí hơn độc lập tự do”.

Không chỉ là thắng lợi quân sự, Chiến thắng 30/4/1975 còn là sự kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh và khát khao mãnh liệt về một nền hòa bình bền vững, về quyền tự quyết của một dân tộc từng bị đô hộ, chia cắt và áp bức. Như lời của đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn “chiến thắng đó không phải của riêng ai, mà của cả dân tộc Việt Nam”. Và như nhà thơ Tố Hữu từng viết “Không nỗi đau nào của riêng ai/ Của chung nhân loại chiến công này”.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 cũng đã để lại dấu ấn mạnh mẽ trên trường quốc tế, cổ vũ sâu sắc phong trào giải phóng dân tộc tại nhiều khu vực Á, Phi, Mỹ Latin; khích lệ các dân tộc đứng lên chống lại chủ nghĩa thực dân mới và giành lại quyền tự do, độc lập. Đó là chiến thắng của công lý trước cường quyền, lời khẳng định trước cộng đồng quốc tế rằng: một dân tộc dù nhỏ bé nhưng nếu có chính nghĩa, đoàn kết và ý chí kiên cường, với sự ủng hộ, giúp đỡ trong sáng của bạn bè quốc tế, của các lực lượng tiến bộ và của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới thì chắc chắn sẽ chiến thắng những thế lực mạnh hơn gấp nhiều lần.

Ý chí, tâm nguyện thống nhất đất nước

Trong suốt 30 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân và đế quốc (1945 - 1975), dân tộc Việt Nam đã phải đối mặt với muôn vàn gian khổ, hy sinh, mất mát nhưng chưa bao giờ, ý chí về một nước Việt Nam độc lập, thống nhất bị lay chuyển.

Trong lời kêu gọi nhân ngày Quốc khánh 2/9/1955, Bác Hồ khẳng định: “Nước Việt Nam nhất định sẽ thống nhất, vì nước ta là một khối, không ai chia cắt được”. Trong thư gửi đồng bào cả nước năm 1956, Bác viết “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta”. Khi chiến tranh đang ở giai đoạn cam go, ác liệt nhất, ngày 17/7/1966, Người tuyên bố đanh thép rằng “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, Nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Và đúng như vậy, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, quân dân Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, từng bước đánh bại các chiến lược chiến tranh hiện đại, với lòng tin sắt đá vào sức mạnh của chính nghĩa và tinh thần độc lập dân tộc.

Tuyên ngôn “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một chân lý, một định hướng chiến lược, mà còn là mệnh lệnh từ trái tim của cả dân tộc. Trong khói lửa chiến tranh, câu nói ấy trở thành nguồn sức mạnh to lớn, truyền cảm hứng mạnh mẽ, tạo động lực cho hàng triệu người Việt Nam bước ra mặt trận với ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Lời của Bác là lời hiệu triệu thiêng liêng, là biểu tượng của lòng quyết tâm vượt qua mọi đau thương, gian khổ, để giành bằng được độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất cho đất nước và hạnh phúc ấm no cho nhân dân.

Trong suốt hơn 30 năm kháng chiến và kiến quốc, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã anh dũng chiến đấu, hy sinh, biết bao gia đình mất mát người thân, làng mạc, đô thị bị tàn phá, bao thế hệ thanh niên phải tạm gác ước mơ học tập, hoài bão tương lai để lên đường bảo vệ Tổ quốc với lời thề “chưa hết giặc là ta chưa về”. Những người mẹ tiễn con, vợ tiễn chồng ra trận mà không hẹn ngày trở lại. Những em nhỏ lớn lên trong mưa bom, bão đạn, học chữ dưới hầm, ăn ngô, khoai, sắn thay cơm. Biết bao bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến đã ngã xuống trên dải đất hình chữ S của Tổ quốc, những chiến sĩ biệt động thành chiến đấu giữa lòng địch, dân quân du kích ở bưng biền, làng bản, những chiến sĩ giải phóng quân vượt qua Bến Hải, vượt Trường Sơn... tất cả đều mang trong mình một niềm tin mãnh liệt: dân tộc Việt Nam sẽ giành lại quyền làm chủ đất nước mình, Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà.

Chiến thắng 30/4/1975 là thành quả kết tinh từ lý tưởng và ý chí thép của một dân tộc không bao giờ bị khuất phục, từ máu xương của hàng triệu người con đất Việt, từ tình yêu quê hương, đất nước, từ bản lĩnh, niềm tin chiến thắng và quyết tâm không bao giờ lùi bước.  

Tròn nửa thế kỷ đã đi qua kể từ ngày nước non liền một dải, nhưng những âm hưởng của khúc khải hoàn vẫn ngân nga trong tâm hồn dân tộc Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm sự kiện trọng đại này, chúng ta thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc ta, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế, người đã đặt nền móng tư tưởng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước; tri ân và tưởng nhớ các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng, các anh hùng liệt sĩ, nhân sĩ, trí thức, đồng bào và chiến sĩ trên khắp mọi miền Tổ quốc đã anh dũng chiến đấu, hy sinh cho lý tưởng cao đẹp đó. Các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ công ơn và sự hy sinh to lớn vì độc lập của Tổ quốc, vì hạnh phúc ấm no của nhân dân và vì sự trường tồn, phát triển của dân tộc.

Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với bạn bè quốc tế - các lực lượng tiến bộ, các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các tổ chức nhân đạo và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới - đã đồng hành, giúp đỡ và ủng hộ Việt Nam trong suốt những năm tháng đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp tái thiết và phát triển đất nước sau chiến tranh. Tình cảm và sự hỗ trợ chí nghĩa, chí tình, vô tư trong sáng đó sẽ mãi mãi được nhân dân Việt Nam trân trọng, yêu quý và khắc ghi trong trái tim mình.

Nửa thế kỷ khôi phục, hàn gắn và phát triển

Trong hơn một thế kỷ qua, dân tộc Việt Nam đã trải qua những trang sử bi tráng, phải gánh chịu biết bao đau thương, mất mát dưới ách đô hộ, áp bức của thực dân, phong kiến và đặc biệt là hai cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài hơn ba thập kỷ. Chiến tranh không chỉ lấy đi sinh mạng của hàng triệu người, mà còn để lại những di chứng sâu sắc về thể chất, tinh thần, kinh tế xã hội và môi trường, ảnh hưởng đến cả những thế hệ sinh ra khi tiếng súng đã ngưng. Không có vùng đất nào trên quê hương Việt Nam không có đau thương; không có gia đình nào mà không gánh chịu những mất mát, hy sinh và cho đến nay chúng ta vẫn còn phải khắc phục hậu quả chiến tranh và bom mìn, chất độc da cam…

Nhưng thời gian, lòng nhân ái, đức vị tha đã giúp dân tộc ta từng bước vượt qua nỗi đau, chữa lành vết thương, gác lại quá khứ, tôn trọng sự khác biệt hướng tới tương lai. Sau 50 năm đất nước thống nhất, chúng ta đã có đủ bản lĩnh, đủ niềm tin, sự tự hào và đủ bao dung để vượt qua đau thương cùng nhau nhìn về phía trước - để cuộc chiến tranh đã qua không còn là hố ngăn cách giữa những người con cùng một dòng máu Lạc Hồng.

Trên hành trình phát triển ấy, chính sách hòa hợp dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước xác định là lựa chọn chiến lược lâu dài, là trụ cột trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chúng ta hiểu rõ những nguyên nhân lịch sử dẫn đến chiến tranh - từ sự can thiệp, chia rẽ bên ngoài cho đến những âm mưu phá hoại tinh thần đoàn kết, gieo rắc thù hận vì mưu đồ chính trị. Nhưng chúng ta cũng hiểu rằng: mọi người Việt Nam, dù ở trong nước hay ngoài nước, dù từng đứng ở phía nào của lịch sử, đều cùng mang một cội nguồn, một ngôn ngữ, một tình yêu dành cho quê hương, đất nước.

Những năm qua, trong các chuyến công tác tới hầu khắp các châu lục, Tôi đã có nhiều dịp gặp gỡ hàng ngàn đồng bào Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài - từ những trí thức trẻ lập nghiệp tại châu Âu, châu Mỹ, châu Á, châu Đại Dương đến những doanh nhân thành đạt, nghệ sĩ nổi tiếng, người lao động bình dị ở các “miền đất mới”, kể cả nhiều người thuộc “phía bên kia” trước đây. Mỗi cuộc gặp đều để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc: dù có thể khác biệt về quan điểm chính trị, trải nghiệm lịch sử hay điều kiện sống, họ đều mang trong lòng niềm tự hào dân tộc, đều là “con dân đất Việt” và nỗi nhớ da diết với hai tiếng quê hương.

Tôi từng chứng kiến nhiều cuộc gặp gỡ đầy cảm động giữa các cựu chiến binh Việt Nam và cựu binh Hoa Kỳ - những người từng đứng ở hai bên chiến tuyến, từng cầm súng đối đầu, nay có thể bắt tay, trò chuyện, chia sẻ với nhau bằng sự thấu hiểu chân thành và không còn mặc cảm. Ngày hôm nay, Việt Nam và Hoa Kỳ - từ cựu thù - đã trở thành đối tác chiến lược toàn diện, cùng hợp tác vì hòa bình, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì an ninh và ổn định khu vực. Vậy thì không có lý do gì để những người Việt Nam - cùng chung huyết thống, cùng một mẹ Âu Cơ, luôn đau đáu về một đất nước thống nhất, phồn vinh - lại còn mang mãi trong lòng nỗi hận thù, chia rẽ và ngăn cách.

Hòa hợp dân tộc không có nghĩa là quên lãng lịch sử hay xóa nhòa sự khác biệt, mà là chấp nhận những góc nhìn khác nhau trong tinh thần bao dung và tôn trọng, để cùng hướng tới mục tiêu lớn hơn: xây dựng một nước Việt Nam  hòa bình, thống nhất, hùng mạnh, văn minh, thịnh vượng, để các thế hệ mai sau không bao giờ phải chứng kiến chiến tranh, chia ly và hận thù, mất mát như cha ông từng đối mặt.

Chúng ta tin tưởng rằng, mọi người con đất Việt - dù sinh sống ở đâu, dù quá khứ thế nào - đều có thể đồng hành, chung sức, góp phần xây dựng một tương lai tươi sáng cho dân tộc. Đảng và Nhà nước luôn nhất quán mở rộng vòng tay, trân trọng mọi đóng góp, lắng nghe mọi tiếng nói xây dựng, đoàn kết từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài - những người đang góp phần kết nối Việt Nam với thế giới.

Chúng ta không thể viết lại lịch sử, nhưng chúng ta có thể hoạch định lại tương lai. Quá khứ là để ghi nhớ, để tri ân và để rút ra bài học. Tương lai là để cùng nhau xây dựng kiến tạo và phát triển. Đó là lời hứa danh dự của thế hệ hôm nay với những người đã ngã xuống, là tâm nguyện chung của một dân tộc từng trải qua nhiều đau thương nhưng chưa bao giờ khuất phục.

Cách đây 50 năm, dân tộc Việt Nam đã viết nên một bản anh hùng ca chói lọi bằng ý chí sắt đá và bản lĩnh kiên cường - đó là bản hòa ca của ý chí, quyết tâm, thống nhất và hòa bình. Nửa thế kỷ sau, chính dân tộc ấy đang tiếp tục viết nên một bản hùng ca mới - bản hòa ca của đổi mới, hội nhập, phát triển và ý chí vươn lên mạnh mẽ trong thế kỷ XXI. Trước đây, không một người Việt Nam chân chính nào muốn đất nước mình bị chia cắt. Ngày nay, chắc chắn không một người Việt Nam chân chính nào lại không mong đất nước mình ngày càng hùng cường, thịnh vượng sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

Nhìn về phía trước - kế tục và kiến tạo, đổi mới và phát triển

Hơn ai hết, thế hệ hôm nay hiểu rõ rằng độc lập và thống nhất không phải là cái đích cuối cùng, mà là điểm khởi đầu cho một hành trình mới: hành trình xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, giàu mạnh, văn minh, phát triển và trường tồn. Nếu như thế hệ cha anh đã khắc ghi chân lý "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một" bằng những hy sinh mất mát, thì thế hệ hôm nay phải biến lý tưởng đó thành động lực phát triển, thành đôi cánh vươn lên trong thời đại mới.

Tinh thần thống nhất đất nước - từng là niềm tin và ý chí sắt đá để vượt qua khó khăn, thử thách, mưa bom, bão đạn - nay phải trở thành quyết tâm chính trị, ý chí đổi mới và hành động cụ thể để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Phải làm cho mỗi người Việt Nam, dù ở đâu, dù làm gì, đều tự hào về đất nước, tin tưởng vào tương lai, và có cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung.

Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, khó lường, Việt Nam cần  phải có bản lĩnh vững vàng, tỉnh táo, không để bị cuốn vào những vòng xoáy địa - chính trị hay rơi vào thế bị động trước các xung đột quốc tế. Mỗi khúc quanh của lịch sử thế giới đều có thể trở thành cơ hội hoặc thách thức lớn cho các quốc gia nhỏ nếu chuẩn bị tốt hoặc không tốt nội lực. Dân tộc Việt Nam hơn ai hết hiểu rất rõ hậu quả tàn khốc của chiến tranh, chúng ta là dân tộc yêu chuộng hòa bình, không bao giờ muốn chiến tranh xảy ra và sẽ làm mọi điều để chiến tranh không xảy ra. Nhưng, nếu “kẻ thù buộc chúng ta ôm cây súng” thì chúng ta sẽ vẫn là người chiến thắng. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần xây dựng một nền kinh tế tự lực, tự cường; một nền quốc phòng - an ninh toàn dân, toàn diện và hiện đại; một hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, một xã hội phát triển, đoàn kết, văn hóa và nhân văn.

Muốn như vậy, nhất thiết phải phát huy trí tuệ và sức mạnh của toàn dân tộc, trong đó có cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài - bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân. Trong kỷ nguyên số, kỷ nguyên của kết nối toàn cầu, mỗi người Việt Nam ở khắp năm châu đều có thể góp phần vào công cuộc dựng xây đất nước bằng chính tri thức, sự sáng tạo, lòng yêu nước và trách nhiệm công dân.

Kỷ nguyên mới mà chúng ta đang bước tới - với công nghệ trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và phát triển bền vững - đòi hỏi phải có tư duy mới, mô hình phát triển mới, con người mới. Trước mắt, chúng ta còn nhiều thách thức về thể chế, năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực, an ninh môi trường, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và cả những nguy cơ an ninh phi truyền thống. Nhưng lịch sử đã chứng minh: dân tộc Việt Nam chưa từng lùi bước trước gian nan, khó khăn, thách thức. Vấn đề là chúng ta có đủ dũng khí để thay đổi, đủ ý chí để vươn lên, và đủ đoàn kết để biến khó khăn thành động lực phát triển hay không.

Thế hệ hôm nay - từ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đến công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, học sinh, sinh viên, mọi tầng lớp nhân dân đều là con Rồng cháu Tiên - cần ý thức sâu sắc rằng: chúng ta đang thừa hưởng những giá trị di sản vĩ đại từ cha ông, và chúng ta có trách nhiệm làm rạng danh đất nước trong thời đại mới. Mỗi hành động hôm nay phải xứng đáng với máu xương đã đổ xuống, với những hy sinh mất mát mà cả dân tộc đã từng gánh chịu.

Chúng ta không thể để đất nước tụt hậu. Chúng ta không thể để dân tộc đánh mất cơ hội. Chúng ta không thể để lặp lại những vòng xoáy của lịch sử. Vì vậy, phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Chúng ta phải hành động vì tương lai lâu dài chứ không vì thành tích ngắn hạn. Phải kiên định giữ gìn độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định. Đồng thời phải đổi mới mạnh mẽ trong tư duy phát triển, cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa hiện đại.

Nhìn về phía trước, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào tin tưởng vào sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam - một dân tộc đã bao lần đánh thắng ngoại xâm và đứng dậy từ chiến tranh, khẳng định mình trước lịch sử và trước thế giới. Với truyền thống nghìn năm dựng nước và giữ nước, với khát vọng vươn lên không ngừng, với thế hệ trẻ tài năng, hoài bão, yêu nước, sáng tạo và đầy bản lĩnh - Việt Nam nhất định sẽ thành công.

Thế kỷ XXI là thế kỷ của những dân tộc biết làm chủ vận mệnh của mình. Và dân tộc Việt Nam - với tất cả những bài học từ quá khứ, với tất cả sự đoàn kết hôm nay - nhất định sẽ viết tiếp những chương mới rực rỡ trong hành trình phát triển của mình. Vì một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc, phồn vinh, văn minh, thịnh vượng, có vị thế và tiếng nói quan trọng trong cộng đồng quốc tế./.

GS, TS TÔ LÂM,

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Nguồn: tapchicongsan.org.vn



Mùa Xuân đại thắng và khát vọng vươn mình

Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng cứ mỗi dịp Tháng Tư về, hàng triệu trái tim người Việt Nam lại trào dâng niềm tự hào, kiêu hãnh và nhớ về thời khắc lịch sử Chiến thắng 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau những thắng lợi giòn giã trong chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, 17 giờ ngày 26/4/1975, quân ta đồng loạt tiến công vào Sài Gòn, mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Năm cánh quân mang theo sức mạnh của cả dân tộc, cùng với ý chí “quyết chiến, quyết thắng”, dũng mãnh băng qua các phòng tuyến của quân thù, hình thành các gọng kìm tiến vào trung tâm Sài Gòn, đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch. Đúng 10 giờ 45 phút ngày 30/4, xe tăng của ta húc tung cánh cổng sắt, dẫn bộ binh tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ nội các ngụy quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập - sào huyệt cuối cùng của chính quyền tay sai Sài Gòn, báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã toàn thắng, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm đầy hy sinh, gian khổ, song rất đỗi tự hào của dân tộc. Chiến thắng đó đi vào lịch sử như là một Bạch Đằng, Chi Lăng, hay một Đống Đa của thế kỷ XX; đánh dấu bước ngoặt quyết định trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi đó còn mang tầm vóc và ý nghĩa thời đại sâu sắc, giáng một đòn chí mạng vào chủ nghĩa thực dân mới và ý chí xâm lược của chúng; truyền cảm hứng mạnh mẽ, kịp thời cổ vũ, động viên, thúc giục các dân tộc và lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới đứng lên chống áp bức, cường quyền, tranh đấu cho tự do, hạnh phúc.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói riêng, là thành quả do nhiều yếu tố tạo nên, song bao trùm nhất, quyết định nhất vẫn là sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình, sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng, kế thừa và phát huy truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, Đảng ta đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, quy tụ và phát huy được sức mạnh to lớn của toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kiên trì và nhất quán thực hiện quyết tâm chiến lược “đánh cho Mỹ cút”, tiến tới “đánh cho ngụy nhào”; giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đó còn là thắng lợi của truyền thống yêu nước, đoàn kết, anh dũng kiên cường của toàn quân, toàn dân ta một lòng tin theo Đảng, với quyết tâm sắt đá: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” và khát vọng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đây cũng là thắng lợi chung của cách mạng thế giới, của tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả, trước hết là liên minh chiến đấu đặc biệt ba nước Đông Dương: Việt Nam - Lào - Campuchia; cùng sự giúp đỡ quý báu, chí tình, chí nghĩa của các nước xã hội chủ nghĩa anh em.

Để có chiến thắng vĩ đại đó, biết bao cán bộ, đảng viên, đồng bào, chiến sĩ ta đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong thời khắc lịch sử này, chúng ta thành kính tri ân các anh hùng liệt sĩ, mẹ Việt Nam anh hùng, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; các thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng; đặc biệt là thành kính, tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu - lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, nhân dân ta, dân tộc ta. Người đã đưa đất nước ta đến độc lập, tự do, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội; đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành công dân nước Việt Nam độc lập, tự do. Chúng ta cũng cảm ơn đồng chí, anh em và bầu bạn quốc tế đã ủng hộ, giúp đỡ nhân dân ta trong suốt cuộc trường chinh kháng chiến.

Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng bản hùng ca của Đại thắng mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vẫn vang mãi trong lòng dân tộc và mỗi người dân Việt Nam. Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, bản hùng ca ấy lại tiếp tục vang lên trên mặt trận lao động, sản xuất, chống đói nghèo, lạc hậu; bảo vệ vững chắc biên cương và chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; cũng như trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,... để đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã và đang tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử, tạo nền tảng vững chắc để bước vào kỷ nguyên vươn mình, đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, kỷ nguyên thịnh vượng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Trước những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, hơn bao giờ hết, chúng ta càng thêm trân trọng và khắc ghi giá trị, ý nghĩa lịch sử của Đại thắng mùa Xuân 1975, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, lấy phát triển kinh tế - xã hội là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh và thúc đẩy đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Với tinh thần nỗ lực vượt bậc “biến nguy thành cơ”, “thay đổi trạng thái, xoay chuyển tình thế”; cùng phương châm “kỷ cương trách nhiệm, chủ động kịp thời, tăng tốc sáng tạo, hiệu quả bền vững”, “chỉ bàn làm, không bàn lùi”; nhất là trong thực hiện cuộc cách mạng về sắp xếp lại tổ chức bộ máy theo hướng “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả” gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức theo Nghị quyết số 18-NQ/TW và thực hiện đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Quân đội ta là quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng, phát huy tinh thần Đại thắng mùa Xuân 1975, toàn quân ra sức phấn đấu, thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Chủ động nghiên cứu, dự báo đúng tình hình, tham mưu với Đảng, Nhà nước xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống. Giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” và khu vực phòng thủ vững chắc; hoàn thành tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa; góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Quân đội và đất nước trên trường quốc tế, mãi xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Tròn nửa thế kỷ đã trôi qua, dù thế giới có nhiều đổi thay, song hào khí của Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vẫn mãi trường tồn cùng dân tộc Việt Nam; là mạch nguồn khơi dậy khát vọng của triệu triệu con dân Đất Việt, cùng chung tay, góp sức thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước ta vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển, phồn vinh và thịnh vượng.

Vinh quang Tổ quốc tôi!

Sưu tầm

Phạt nặng có xứng đáng không?

Cuối chiều, ông Nam và mấy người bạn cùng xóm đang ngồi uống trà ở bàn đá ngoài sân thì con trai ông thất thểu đi bộ về.

- Thế xe máy của con đâu mà lại đi bộ?

- Con chào bố và các chú! Con vừa bị thu giữ xe rồi. Đang vội về thì điện thoại đổ chuông, con mở ra đọc tin nhắn nên không biết đèn tín hiệu giao thông đã chuyển từ xanh sang đỏ. Con bị phạt 5 “củ” và trừ điểm bằng lái xe. Lúc đó, con còn không cài dây mũ bảo hiểm nữa. Thế là mất toi nửa tháng lương. Công an phạt dã man quá!

Nghe cháu Tiến kể, cả 3 người bạn của ông Nam đều bảo rằng mức phạt vi phạm giao thông theo Nghị định số 168/2024/NĐ-CP là quá nặng. Đặc biệt, ông Hoàng làm nghề kinh doanh nông sản còn “phán”:

- Việc tăng mức phạt chẳng khác gì làm lợi cho lực lượng chức năng. Trên trang Facebook của Việt Tân có rất nhiều ý kiến như thế.

Thấy mọi người nhìn nhận vấn đề chưa đúng, thậm chí còn bị “sập bẫy” âm mưu chống phá của bọn phản động, ông Nam liền nghiêm giọng:

- Tôi đề nghị tất cả nghe tôi nói. Đầu tiên, bố hỏi Tiến: Bố đã nhắc con bao nhiêu lần về việc tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm luật để không gây tai nạn cho mình và mọi người, nhất là đã uống rượu, bia thì không lái xe, đi xe máy phải đội mũ bảo hiểm cẩn thận và tuyệt đối không sử dụng điện thoại?

- Dạ... bố nhắc nhiều lần quá, con... không nhớ hết ạ!

- Đấy, hầu như lần nào con dắt xe ra là bố cũng đi theo để nhắc và đóng cổng giúp con. Thế mà con vẫn không thực hiện đúng luật giao thông, vậy thì việc bị phạt nặng có xứng đáng không? Nếu con không vi phạm thì sợ gì phạt nặng? Con phải thấy, mức phạt vi phạm giao thông để hạn chế gây ra tai nạn, hạn chế làm chết người hoặc thương tật, đau khổ suốt đời, thì đó là biện pháp cần thiết để ngăn chặn cái dã man chứ?

Tiến đỏ mặt ấp úng:

- Vâng... con hiểu rồi.

Ông Nam hỏi tiếp:

- Nếu nhà mình có người thân bị tai nạn giao thông do những người không chấp hành nghiêm luật gây ra thì chúng ta có thông cảm, bỏ qua được không, hay chúng ta bất bình, bức xúc?

Chờ một lúc không thấy ai trả lời, ông Nam hạ giọng:

- Thực tế những năm qua, chúng ta đã thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm luật giao thông, nhưng rất nhiều người vẫn không tự giác chấp hành, dẫn đến tình trạng vi phạm và tai nạn giao thông vô cùng nhức nhối, gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản. Không có gì quý bằng sức khỏe và tính mạng con người, nhưng mỗi năm có hàng vạn người thiệt mạng và bị thương vì tai nạn giao thông. Đau xót lắm! Thế nhưng, từ khi tăng mức phạt thì vi phạm giao thông và tai nạn giao thông đã giảm mạnh. Cục Cảnh sát giao thông vừa thống kê: Từ đầu năm 2025 đến ngày 14-3, so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm giao thông bị xử phạt giảm gần 300.000 vụ (giảm 38,8%), đồng thời, tai nạn giao thông cũng giảm sâu. Cụ thể là cả nước xảy ra 3.535 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 1.933 người, bị thương 2.436 người; so với cùng kỳ năm 2024 giảm 1.635 vụ, giảm 290 người chết, giảm 1.621 người bị thương. Điều đó cho thấy sự đúng đắn của Nghị định 168. Ngay chúng ta cũng thấy rõ hiện nay, hiếm ai uống rượu, bia rồi lái xe và hầu như không còn tình trạng đua xe trái phép, lạng lách, đánh võng. "Thuốc đắng dã tật" phải không nào?

Nghe ông Nam phân tích và dẫn chứng thuyết phục, cả 3 người bạn của ông và con trai ông đều thực sự tâm phục, khẩu phục. 

Sưu tầm

Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2025

Bằng chứng sống động từ hiện thực đời sống

Để đất nước được thống nhất, non sông liền một dải vào ngày 30-4-1975, cả dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã thực hiện cuộc kháng chiến trường kỳ đầy gian khổ, hy sinh. Mục tiêu cách mạng “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào...” như lời chúc Tết Kỷ Dậu 1969 của Bác Hồ là khát vọng cháy bỏng của toàn dân tộc. Âm mưu xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, dù được ngụy trang dưới bất cứ hình thức nào, cũng cần phải lật tẩy, lên án...

Cảnh giác với thủ đoạn “dương Đông kích Tây”

Có một kiểu lập luận ngụy biện, ngụy hàn lâm dưới chiêu bài dân túy được các tổ chức phản động rêu rao trên không gian mạng, chúng ta phải hết sức cảnh giác và tỉnh táo nhận diện để đấu tranh. Đó là kiểu tư duy lập lờ, kiểu lập ngôn “cắt khúc”, “hớt ngọn”. Sự thật lịch sử là ngụy quyền Sài Gòn trước thời điểm 30-4-1975 là một chính quyền tay sai do Mỹ dựng lên để thực hiện âm mưu xâm lược, thôn tính Việt Nam. Việc ký kết Hiệp định Paris vào ngày 27-1-1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam buộc Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam là thành quả kháng chiến của cả dân tộc trên tất cả các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao... Sau khi “đánh cho Mỹ cút”, việc “đánh cho ngụy nhào” là bước phát triển tiếp theo của cuộc kháng chiến để đi đến mục tiêu “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.

Đó là sự thật lịch sử, không ai, không thế lực nào, không có bất cứ lý do gì có thể thay đổi, xuyên tạc, phủ nhận. Thế nhưng, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc, đất nước, các thế lực thù địch đã sử dụng chiêu bài dân túy, ngụy biện, ngụy hàn lâm... để tẩy sử, lật sử. Chúng đánh tráo khái niệm, coi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, là một cuộc “nội chiến” giữa hai miền Nam-Bắc. Thành quả cách mạng lật đổ ngụy quân, ngụy quyền tay sai bán nước bị chúng cố tình đánh tráo bản chất, thay bằng “nồi da xáo thịt”, “huynh đệ tương tàn”... Thậm chí, chúng đòi viết lại lịch sử, công nhận ngụy quyền Sài Gòn là một “chính thể” để hợp thức hóa âm mưu biến cuộc kháng chiến vĩ đại của toàn dân tộc thành cuộc “nội chiến”.

Khi những thứ ngụy hàn lâm này bị lật tẩy, bởi nó là những luận điệu đã lỗi thời, lạc lõng, các thế lực thù địch liền thay đổi phương thức tiếp cận bằng chiêu bài dân túy, lấy cớ thúc đẩy hòa hợp dân tộc, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai bằng kiểu lập ngôn “cắt khúc”, “hớt ngọn”, “lập lờ đánh lận con đen”... Theo đó, chúng cho rằng, chỉ cần nói “thống nhất đất nước” là đủ, bỏ cụm từ “giải phóng miền Nam” cho ngắn gọn, súc tích. Thoạt nghe, không ít người tưởng là có lý. Tuy nhiên, bằng tư duy biện chứng, chúng ta thấy rõ, nếu không có “giải phóng miền Nam” thì làm gì có “thống nhất đất nước”? Cách nói “cắt khúc”, “hớt ngọn” này chính là một kiểu thao túng tâm lý, đánh lừa nhận thức. Nếu nhận thức chính trị, lập trường tư tưởng thiếu vững vàng sẽ dễ sa vào cái bẫy ngôn từ trong chiến dịch truyền thông chống phá của các thế lực thù địch, dẫn đến nhận thức lệch lạc, sai lầm về Đại thắng mùa Xuân 1975 và ý nghĩa của Đại lễ 30-4.

Trên không gian mạng những ngày gần đây xuất hiện nhiều bài viết, dòng trạng thái của các tổ chức, cá nhân thù địch, phản động như: “Việt Tân”, Lê Trung Khoa... tuyên truyền xuyên tạc về ngoại giao Việt Nam trong khuôn khổ Đại lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chúng lộng ngôn, lớn tiếng quy chụp, chỉ trích, bỉ bai... mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng, lèo lái dư luận, kích động hận thù dân tộc, phá hoại đường lối đối ngoại của Đảng...

Nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện, chúng ta dễ dàng lật tẩy chiêu trò truyền thông “bẩn” này. Lại là những kiểu “cắt khúc”, “hớt ngọn” thông tin, thấy hiện tượng mà không thấy bản chất, “thầy bói mù xem voi”... Đường lối đối ngoại của Đảng ta nhất quán mục tiêu độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc... Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Những thông tin lèo lái dư luận, đòi Việt Nam phải dựa vào nước này để chống nước khác là kiểu lập luận ngụy biện, hoàn toàn không có giá trị “phản biện”, “hiến kế”, mà thực chất là mưu đồ phá hoại. Việc tuyên truyền, kích động hận thù kiểu “dương Đông kích Tây” trong bối cảnh hiện nay chính là âm mưu xuyên tạc, phá hoại, hòng làm mất đi ý nghĩa thiêng liêng của ngày đại lễ toàn dân tộc.

Hiện thực đời sống là bằng chứng thuyết phục nhất

Các thế lực thù địch đã và đang áp dụng đủ chiêu trò, mở chiến dịch truyền thông quy mô rầm rộ để kích động, xuyên tạc, chống phá ngày hội non sông của đất nước ta. Nhưng, hiện thực đời sống xã hội ở Việt Nam đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ chính là bằng chứng sống động, thuyết phục nhất, cuốn phăng luận điệu xuyên tạc, khẳng định giá trị trường tồn của thành quả cách mạng. Chỉ cần thông qua những góc nhìn cận cảnh đời sống xã hội ở TP Hồ Chí Minh những ngày này, ai ai cũng thấy rõ điều đó. Hàng vạn người từ khắp nơi đổ về thành phố đón chào những đoàn quân làm nhiệm vụ diễu binh, diễu hành. Trong các buổi hợp luyện, tổng hợp luyện, sơ duyệt, tổng duyệt diễu binh, diễu hành, dòng người chen kín các trục đường, các địa điểm công cộng. Tất cả đều rạng rỡ thần thái, cờ hoa, biểu ngữ rực rỡ đón chào các khối diễu binh, diễu hành, tự hào chiêm ngưỡng những cánh bay mang khát vọng hòa bình, hưng thịnh trên bầu trời rực rỡ nắng vàng. Từ những góc nhỏ trong các quán cà phê, không gian giải trí đến những khu vực sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đâu đâu cũng ngập tràn sắc âm mừng Đại lễ 30-4. Ngập trên các nền tảng mạng xã hội là hào khí, hình ảnh thể hiện tinh thần yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Đặc biệt, mặc dù lượng người đổ về khu vực trung tâm thành phố đông nghịt, nhưng tất cả đều diễn ra trong trật tự, hòa chung bầu không khí tự hào Việt Nam...

Nguồn năng lượng tích cực mang hào khí, khát vọng dân tộc như dòng nước mát lành giữa mùa khô nắng nóng, như những đợt sóng trào từ đại dương, lan tỏa, bừng lên, kết nối triệu cánh tay, triệu trái tim về một mối. Đó là bản sắc, là khí chất, là bản lĩnh, là ý chí, là khát vọng Việt Nam, thấm sâu vào nếp nghĩ, vào huyết quản, vào trái tim mỗi người dân đất Việt, trở thành nhu cầu tự thân. Tất cả tạo nên bầu không khí mừng đại lễ của dân tộc, trang trọng, ấm áp, nghĩa tình, hưng vận...

Chính hưng khí ấy, hào khí ấy, nhịp sống xã hội tươi đẹp và hào sảng ấy đã tạo thành dòng thác, xóa tan, cuốn phăng đi những thứ rác rưởi độc hại, dù nó đang cố tình đu bám, ký sinh trên các nền tảng mạng xã hội.

“Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Hào khí Đại thắng 30-4, nửa thế kỷ bừng lên, rực sáng, củng cố niềm tin, tạo thế và lực để đất nước vươn mình mạnh mẽ vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khát vọng hưng thịnh, phồn vinh. Đó là ý nguyện, là khát vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và kiều bào yêu nước. Và, khi lòng dân đã thuận, ý Đảng đã quyết, thì không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phá hoại được thành quả cách mạng, thành trì tư tưởng của chúng ta.

Được sống, được hòa mình trong bầu không khí ấy, nguồn hưng khí, hưng vận ấy, là hạnh phúc của mọi cán bộ, đảng viên, những "công bộc" của dân. Hưng khí giang sơn, hưng vận dân tộc được kết tinh từ linh khí của xương máu ông cha. Tổ chức Đại lễ 30-4 một cách trang trọng, thiêng liêng không chỉ là cách khẳng định vị thế, uy tín, niềm tự hào, tự tôn dân tộc mà còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tri ân sự hy sinh, công lao cống hiến của thế hệ cha anh và ông bà, tiên tổ. Hồn thiêng của các anh hùng liệt sĩ, các thế hệ hiền nhân sẽ hiển linh hội tụ trong sắc nắng, màu mây; trong màu cờ, sắc áo đại lễ. Biết như thế, hiểu như thế, ngẫm như thế để mỗi chúng ta biết cách mà nâng niu, trân quý giá trị của hòa bình, độc lập, tự do; tiếp thêm niềm tin và nhiệt huyết chiến đấu, góp phần đập tan, cuốn phăng những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng.

Sưu tầm

Quét “rác” bằng tư duy biện chứng

Đại lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025) thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; kiều bào yêu nước và bạn bè yêu chuộng hòa bình khắp thế giới. Tầm ảnh hưởng tích cực và sức lan tỏa mạnh mẽ của các hoạt động kỷ niệm khiến các thế lực thù địch và những đối tượng phản động cay cú, tăng cường thực hiện các chiến dịch truyền thông xuyên tạc, chống phá...

Những thứ rác rưởi của trò lố chính trị

Theo dõi những thông tin xuyên tạc trên các nền tảng mạng xã hội do các thế lực thù địch tung ra, lan truyền, nhắm vào xuyên tạc, phá hoại Đại lễ “Ngày hội non sông” 30-4, bằng tư duy logic, chúng ta thấy rõ, đó là một kiểu “nhai lại”, được ngụy trang, mị dân sau lớp vỏ công nghệ hiện đại. Thứ “nhai lại” ấy chính là nội dung, thông tin phản động. Sau 50 năm kể từ ngày non sông liền một dải, tư tưởng hận thù dân tộc vẫn được các đối tượng thù địch gặm nhấm, bấu víu nhằm đánh tráo khái niệm, đổi trắng thay đen về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Những cái gọi là “ngày quốc hận”, “tháng tư đen”, “khát vọng phục quốc”... chúng “nhai đi, nhai lại” một cách cay cú và ngày càng gia tăng tính chất, mức độ, phạm vi “phủ sóng”. Cứ mỗi dịp đất nước ta tổ chức các hoạt động kỷ niệm “Ngày hội non sông thống nhất đất nước” là truyền thông mang tư tưởng thù địch lại lập tức mang cái thứ tư tưởng, tư duy lỗi thời, lạc lõng này ra để rêu rao.

Trong dịp Đại lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, điệp khúc ỉ ôi này lại râm ran, rền rĩ trên các nền tảng mạng xã hội. Chúng cấu kết thành lập những thứ gọi là “ban”, “hội đồng” tại Hoa Kỳ và một số nước phương Tây, do số đối tượng “tàn dư” của  chế độ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn trước năm 1975 thực hiện, như: “Ban tổ chức đại lễ tưởng niệm 50 năm quốc hận 30-4”, “Hội đồng lãnh đạo điều hành sự kiện kỷ niệm 50 năm...” và các “Cộng đồng người Việt tị nạn”, “Hội đồng phục quốc”... Chúng tập hợp, mang theo cờ “ba sọc”, mặc trang phục ngụy quân, tổ chức những trò lố gọi là “biểu tình”, “tuần hành”, “diễu hành”, “hội luận tình hình Việt Nam sau 50 năm...” rồi quay video tung lên các nền tảng mạng xã hội để “khuếch trương thanh thế”, “phông bạt”, “làm màu”...

Gọi những thứ này là rác rưởi, trò lố bởi cái gọi là “lực lượng”, “đội quân” tham gia “tuần hành”, “diễu hành” ấy chỉ lèo tèo vài nhóm người, đa số đều là những đối tượng già cả, ốm yếu, thậm chí có nhiều đối tượng chân bước không vững, vừa đi vừa lết, thều thào hô khẩu hiệu. Phía dưới những video phản động, phản cảm này, rất nhiều người đã để lại những dòng bình luận phê phán, giễu cợt, kiểu như: “Để dành sức mà húp cháo”, “Răng rụng hết rồi, hô hào gì nữa”, “Bước không vững còn bày đặt “phục quốc”...

Một trong những tổ chức phản động lưu vong có tần suất thông tin xuyên tạc dày đặc trên các nền tảng mạng xã hội, chống phá Đại lễ 30-4-2025 của dân tộc, đó chính là tổ chức khủng bố “Việt Tân”. Tổ chức này do Lý Thái Hùng cầm đầu. Với chiêu bài chuyển hướng hoạt động từ khủng bố vũ trang sang “đấu tranh bất bạo động”, “Việt Tân” đã và đang đẩy mạnh tận dụng tiện ích không gian mạng, sử dụng AI để tuyên truyền, gieo rắc thông tin, tư tưởng phản động, dân túy. Từ Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025 đến nay, "Việt Tân" thực hiện dồn dập các chiến dịch tuyên truyền quy mô lớn, đa hướng, đa kênh, tận dụng các website, trang Facebook..., sử dụng AI nhằm gia tăng lượng tiếp cận, tương tác của người dân trong nước, lan truyền những thông tin mị dân, chống phá đất nước. Chúng biên soạn, tán phát những tài liệu như: “Thư chúc Tết”, “Văn kiện Việt Nam nửa thế kỷ tụt hậu và lối thoát cho tương lai”... có nội dung phủ nhận thành quả cách mạng ngày 30-4-1975, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, tự do dân chủ; quy chụp Việt Nam “tụt hậu” về kinh tế; từ đó kích động người dân tụ tập, biểu tình, gây bạo loạn, lật đổ chính quyền nhân dân; mở đường cho lực lượng phản động “phục quốc”...

Nhìn tổng thể để thấy rõ bản chất

Cần phải nói ngay và luôn, các hoạt động truyền thông mang tính chất lừa bịp, xuyên tạc, kích động, chống phá thành quả cách mạng ở Việt Nam do các thế lực thù địch thực hiện, không phải là đề tài mới mẻ gì. Ngay sau Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 50 năm trước, trong lúc chúng ta nỗ lực tái thiết cuộc sống, thực hiện các chính sách hòa hợp dân tộc, chung tay xây dựng đất nước thì những thành phần chống đối cũng rắp tâm thực hiện âm mưu chống phá. Chúng thể hiện ý đồ lật đổ chính quyền nhân dân, đạp đổ thành quả cách mạng, gây rối loạn an ninh chính trị trong nước. Một bộ phận người Việt Nam lưu vong ở nước ngoài đã cấu kết, hình thành những tổ chức phản động, được sự "hà hơi", "tiếp sức" của các lực lượng quốc tế mang tư tưởng thù địch với cách mạng Việt Nam, tiến hành các hoạt động có tính chất khủng bố, bạo loạn. Bên cạnh các hoạt động vũ trang “chuyển lửa về quê nhà”, chúng tăng cường mạng lưới truyền thông, sử dụng các kênh phát sóng bằng tiếng Việt, chĩa “mũi dùi” về đất nước để tuyên truyền xuyên tạc, kích động chống phá. Mục tiêu của chúng là làm lung lay trận địa tư tưởng, gây mất lòng tin của nhân dân, gây rối ren trật tự xã hội... để thừa cơ tiến hành bạo loạn, lật đổ chính quyền.

Đặc biệt, sau khi mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng, thoái trào, các chiến dịch truyền thông xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch càng gia tăng cấp độ, phạm vi, tính chất. Tuy nhiên, hiện thực lịch sử và đời sống xã hội; cơ đồ, vị thế của đất nước đã chứng minh, không một thế lực nào, không một âm mưu nào có thể phá vỡ bức tường thành vững chắc của thế trận lòng dân ở Việt Nam. Chúng ta đã giữ vững thành quả cách mạng, đẩy lùi và từng bước làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả, đưa đất nước phát triển bền vững.

Nhắc lại những vấn đề mang tính khái quát này để chúng ta có cái nhìn toàn diện về cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng hiện nay. Sở dĩ phải nhấn mạnh điều này bởi không ít người khi tiếp cận với những thông tin xuyên tạc, xấu độc trên không gian mạng đã “quên” mất phương pháp tư duy, suy luận vấn đề theo logic biện chứng. Thay vào đó là kiểu thấy hiện tượng mà không biết bản chất, thấy cây mà không thấy rừng; là kiểu “thầy bói mù xem voi”; tư duy “hớt váng”, “cắt khúc”, “cắt ngọn”... Tâm lý “hóng hớt”, “hội chứng đám đông”, lập trường tư tưởng chính trị thiếu vững vàng của một bộ phận nhỏ công chúng chính là kẽ hở trong trận địa tư tưởng khiến các thế lực thù địch lợi dụng khoét rộng, đào sâu nhằm “ký sinh”, “tầm gửi” quan điểm sai trái, phản động, chống phá đất nước.

Bằng thủ đoạn dân túy, được ngụy trang, che đậy dưới lớp vỏ ngôn ngữ bóng bẩy, sử dụng AI làm công cụ, những thông tin xuyên tạc, xấu độc của các thế lực thù địch đã dụ dỗ được một số người nhẹ dạ, cả tin, những thành phần cực đoan, cơ hội, non kém bản lĩnh và ý thức chính trị. Đáng tiếc là trong số đó có một số trường hợp cá biệt thuộc tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ. Trang cá nhân của họ trên các nền tảng mạng xã hội có lượng theo dõi, tương tác khá lớn. Trong quá khứ, những người này đã có đóng góp nhất định cho sự nghiệp văn hóa nghệ thuật. Tuy nhiên, vì non kém bản lĩnh và ý thức chính trị, họ đã suy thoái tư tưởng chính trị, được các thế lực thù địch tung hô như những “người hùng”, lên mạng xã hội phát ngôn đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và lợi ích dân tộc, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ông Nguyễn Cao Kỳ (1930-2011), cựu Thủ tướng, cựu Phó tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, khi còn sống, đã bức xúc lên tiếng: “Nước Việt Nam có mất cho Tây cho Tàu đâu mà phục quốc?... Và tôi từng hỏi, nếu họ thật sự yêu nước thì họ phải biết ngồi im và biết suy nghĩ chứ đừng đi theo một lũ côn đồ, hám danh hám lợi, lừa gạt mọi người. Cứ nhân danh chính nghĩa quốc gia, nhân danh tự do dân chủ, nhân danh chống cộng, dân chủ mà đi lừa gạt người ta”.

Thiết nghĩ, không cần bình luận gì thêm về những phát ngôn thẳng thắn, nhận thức rõ "đúng-sai" này, bởi nó đã góp phần lột trần sự thật và bản chất của những thành phần bất mãn, cơ hội, phản bội Tổ quốc. Nhắc lại điều này để một lần nữa giúp bạn đọc có những góc nhìn đa chiều, khách quan, có nhãn quan chính trị và phương pháp luận biện chứng khi tiếp cận, phân tích, đánh giá, bày tỏ thái độ trước những thông tin xấu độc đang xuất hiện tràn lan trên không gian mạng hiện nay...

Sưu tầm

Một số dấu hiệu nhận biết tin giả, tin sai sự thật trên Internet, mạng xã hội hiện nay

Thời gian gần đây, mỗi ngày, mỗi giờ, trên Internet, mạng xã hội có hàng trăm ngàn thông tin liên quan đến việc tinh gọn bộ máy nhà nước ta ở trung ương và địa phương; trong đó, không ít những tin giả, tin sai sự thật nhằm để tuyên truyền kêu gọi chống chính quyền, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, gây nhận thức lệch lạc, tác động tiêu cực tới tư tưởng, dư luận xã hội.

Tin giả, tin sai sự thật có thể hiểu là những tin không chính xác, chưa được kiểm chứng, kiểm duyệt, xuất hiện sai lệch về nội dung, được phát tán trên không gian mạng và các phương tiện truyền thông, bao gồm cả truyền thông xã hội. Các đối tượng phản động, phần tử xấu trong và ngoài nước đã tạo ra những tin giả, tin sai sự thật, phát tán tràn lan để tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, kích động chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội, chính quyền các cấp, gây rối loạn thông tin về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh... Đồng thời, những tin giả, tin sai sự thật được chúng lan truyền rất khó kiểm soát, nhất là những tin liên quan đến kinh tế, tài chính, tiền tệ, làm ảnh hưởng đến an ninh kinh tế, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tác động tiêu cực đến nhiều mặt trong đời sống xã hội. Đây là vấn đề tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất ổn định, tác động tiêu cực, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong dư luận quần chúng nhân dân, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tin giả, tin sai sự thật xuất hiện trên Internet, mạng xã hội ở mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Thực tế cho thấy, những thông tin giả, tin sai sự thật thường có xu hướng lan truyền nhanh hơn tin thật mà được cung cấp bởi các cơ quan truyền thông, báo chí chính thống; đồng thời, được các đối tượng sử dụng trong đăng tải với nhiều thủ đoạn, nguy hiểm nhất là việc sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng và làm mới thông tin cũ, bịa đặt thông tin mới. Tin giả, tin sai sự thật thường có các dấu hiệu nhận biết cơ bản, đó là:

Một là, về tiêu đề những tin giả, tin sai sự thật được thêu dệt với tiêu đề giật gân, câu khách, thu hút, nội dung thông tin mới lạ, thường đề cập đến một vấn đề nóng đang được nhiều người quan tâm.

Hai là, các đường dẫn, liên kết gần giống với nguồn tin gốc, với những lỗi chĩnh tả rất đơn giản, chỉ khác ở một số thay đổi nhỏ như thiếu, thừa hoặc thay thế một vài ký tự với ký tự gần giống nhằm giả dạng trang web có tin gốc.

Ba là, nguồn tin đưa ra thường từ tài khoản của tổ chức, cá nhân ít được công chúng biết đến hoặc không có thẩm quyền công bố thông tin chính thống, có tên miền nước ngoài (.com, .org), không có đuôi tên miền Việt Nam (.vn).

Bốn là, những trang web lan truyền tin giả, tin sai sự thật do thiếu kiểm duyệt nên thường mắc lỗi về định dạng như: phông chữ, chính tả, bố cục lộn xộn, hình ảnh, video bị chỉnh sửa, cắt ghép, thay đổi nội dung, ngày, tháng.

Năm là, hình ảnh hoặc video mà các tin giả, tin sai sự thật đăng tải thường bị các đối tượng cố tình chỉnh sửa cắt ghép, đưa ra khỏi bối cảnh gốc nhằm gây ra sự nhầm lẫn, lầm tưởng cho người xem.

Sáu là, các nội dung, sự kiện của tin giả, tin sai sự thật được các đối tượng phản động, phần tử xấu đăng tải thường chứa các mốc thời gian không có ý nghĩa hoặc đã bị thay đổi.

Bảy là, các vấn đề liên quan mà tin giả, tin sai sự thật khi đưa ra thường thiếu những bằng chứng xác thực hoặc dẫn nguồn từ các chuyên gia không rõ tên họ, đơn vị công tác.

Tám là, thông tin mà tin giả, tin sai sự thật được đưa ra bởi những trang nhóm thường có những câu nói đùa, hài ước, châm biến nhằm mục đích gây cười hoặc gây sự chú ý của dư luận.

Chín là, một số đối tượng tung tin giả, tin sai sự thật để bán hàng, gây hoang mang trong cộng đồng nhằm trục lợi, quảng cáo các sản phẩm không đúng sự thật, không đúng công dụng.

Mười là, thông tin của tin giả, tin sai sự thật thường không phổ biến trên Internet, mạng xã hội, không có nhiều nguồn dẫn tin, đặc biệt là các nguồn chính thống, tin cậy; hơn nữa không được nhiều người thảo luận.

Thực trạng tin giả, tin sai sự thật đang trở thành vấn nạn trên Internet và mạng xã hội hiện nay. Theo quy định của Pháp luật Việt Nam, những hành vi tạo ra, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật là hành vi bị nghiêm cấm. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ và hậu quả của việc tung tin thất thiệt, các đối tượng tung tin sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, hoặc bị xử lý trách nhiệm hình sự, trường hợp gây thiệt hại về danh dự, uy tín của cá nhân, tổ chức thì người vi phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành.

Để phòng ngừa thực trạng tin giả, tin sai sự thật, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện Lục quân đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị trong toàn Học viện thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng tránh; trong đó, đã chỉ đạo kịp thời cho Đảng ủy, chỉ huy các cấp tăng cường công tác quán triệt, tuyên truyền nhận biết các tin giả, tin sai sự thật trên Internet, mạng xã hội thông qua các dấu hiệu cơ bản, cũng như trách nhiệm của cá nhân bị xư lý khi vi phạm. Nhờ đó, mọi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, hạ sỹ quan, binh sỹ, đã nêu cao tinh thần cảnh giác, tỉnh táo, phòng tránh và đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch trên không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Sưu tầm

“Cái giá của hòa bình”



Hòa bình – thiêng liêng và vô giá – không đến từ may mắn mà là thành quả của bao hy sinh, máu xương. Trong kỷ nguyên mới, giáo dục về “cái giá của hòa bình” cần chú trọng, nhất là trong đào tạo tại các học viện, nhà trường quân đội để hun đúc bản lĩnh, trách nhiệm cho quân nhân.

​Hòa bình luôn là khát vọng của nhân loại, là điều kiện tiên quyết để phát triển đất nước bền vững. Tuy nhiên, để có được hòa bình không bao giờ là điều dễ dàng và giữ được hòa bình càng không thể xem nhẹ. Với Việt Nam – một quốc gia từng trải qua hàng chục năm chiến tranh, hòa bình hôm nay là thành quả của sự hy sinh to lớn của bao thế hệ. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc nhận thức đúng đắn và giáo dục sâu sắc “cái giá của hòa bình” cho đội ngũ cán bộ, sĩ quan, chiến sĩ trong toàn quân là yêu cầu mang tính cấp thiết, đặc biệt là học viên đào tạo tại các học viện, nhà trường quân đội, trong đó có Học viện Lục quân.

Hòa bình không chỉ được hiểu đơn thuần là sự “vắng mặt” của chiến tranh, mà còn là trạng thái ổn định chính trị - xã hội, chủ quyền quốc gia được bảo vệ, người dân được sống trong môi trường an toàn, phát triển bền vững. Để có được điều đó, Việt Nam đã phải trải qua những cuộc kháng chiến trường kỳ qua nhiều thế hệ với hàng triệu người ngã xuống. Chiến thắng ngày 30/4/1975, thống nhất đất nước, là mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc. Nhưng để đạt được thành tựu đó, hơn ba triệu liệt sĩ đã ngã xuống, hàng triệu người bị thương, hàng vạn làng mạc, thành phố đổ nát, và nhiều thế hệ phải chịu cảnh chia cắt, nghèo đói, hy sinh cả tuổi thanh xuân. Ngoài ra, trong thời bình, nhiều cán bộ, chiến sĩ vẫn tiếp tục hi sinh thầm lặng trên các mặt trận không khói súng như chống dịch bệnh Covid -19, tìm kiếm cứu nạn tại Rào Trăng, khắc phục hậu quả thiên tai… Những số liệu khô khan ấy chính là minh chứng không thể chối cãi cho một sự thật: hòa bình là cái giá phải trả bằng xương máu, bằng trí tuệ và bằng cả sự hy sinh, mất mát thầm lặng không thể đo đếm.

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, sự nghiệp bảo vệ hòa bình tiếp tục đòi hỏi cao hơn về quốc phòng, an ninh, nguồn lực con người và vật chất. Những thách thức an ninh phi truyền thống, các mối đe dọa về chính trị, văn hóa, kinh tế, đặc biệt là các hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, luôn rình rập phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là lực lượng vũ trang phải nâng cao cảnh giác, vững vàng, có năng lực để bảo vệ thành quả cách mạng của các thế hệ cha ông để lại. Vì vậy, việc giáo dục, nhấn mạnh giá trị “cái giá của hòa bình” càng trở nên cần thiết, nhằm hun đúc tinh thần cảnh giác cách mạng, lòng yêu nước và ý chí bảo vệ Tổ quốc cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong quân đội.

Sưu tầm