Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2025

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHO RẰNG CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐÃ LỖI THỜI, KHÔNG CÒN PHÙ HỢP!

         Hiện nay, có quan điểm cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, hoặc cùng lắm là đầu thế kỷ XX, nó chỉ thích hợp với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai, chỉ thích hợp với văn minh cơ khí, còn bây giờ nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI - là thời đại của cách mạng khoa học - công nghệ, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, văn minh tin học, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên không còn phù hợp, chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị lỗi thời (!).

Quan điểm trên đây là sai lầm vì đã cố tình xuyên tạc bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận giá trị trường tồn, ý nghĩa phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thời đại ngày nay. Đúng là thời đại ngày nay khi xem xét về điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ thì có khác rất nhiều so với thời đại của C.Mác và Ph.Ăngghen ở thế kỷ XIX. Khi đó chủ nghĩa tư bản đang trong quá trình hình thành, nằm ở giai đoạn tự do cạnh tranh, thích ứng với Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai, với văn minh hơi nước và cơ khí. Còn ngày nay, nhân loại đã bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, được đánh dấu bằng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ hiện đại. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, với những thành tựu nổi bật, như sự ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ in 3D, internet kết nối vạn vật; hình thành, phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra nhanh chóng, sâu rộng; biến đổi khí hậu… tác động to lớn đến xã hội, môi trường cũng như cuộc sống con người. Nếu không nhận thức được những biến đổi to lớn của thời đại thì sẽ không thể hiểu đúng bản chất của thời đại. 

Tuy nhiên, những biến đổi đó không vượt ra ngoài các quy luật, các nguyên lý chung nhất mà C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã khám phá trong các học thuyết của ông về triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học. Cần nhất quán khẳng định rằng, các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong bản chất khoa học và cách mạng của nó vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay. Hoàn cảnh lịch sử cụ thể luôn thay đổi, nhưng các quy luật phát triển cơ bản, phổ biến của xã hội loài người mà chủ nghĩa Mác - Lênin phát hiện, đề cập có giá trị trường tồn, phổ biến cả về không gian và thời gian. Thực tiễn và khoa học cho thấy, chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại, soi sáng con đường đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Sự thay đổi của thời đại, sự biến đổi của hoàn cảnh kinh tế - xã hội đòi hỏi chúng ta vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tránh tư duy rập khuôn, máy móc, giáo điều; 

Ngày nay, bối cảnh tình hình thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường; sự gia tăng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế, đặt ra cả thời cơ và thách thức đan xen nhau trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Trong tình hình đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa./.

Yêu nước ST.

TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM KÝ QUYẾT ĐỊNH THÀNH LẬP 23 ĐẢNG BỘ TỈNH, THÀNH SAU SÁP NHẬP!

     Các quyết định thành lập 23 đảng bộ tỉnh, thành sau sáp nhập có hiệu lực kể từ ngày 1/7.

Cụ thể, thành lập Đảng bộ TP Hồ Chí Minh trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 3 đảng bộ: TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương.

Thành lập Đảng bộ TP Đà Nẵng trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: TP Đà Nẵng và Quảng Nam.

Thành lập Đảng bộ TP Cần Thơ trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 3 đảng bộ: TP Cần Thơ, Sóc Trăng và Hậu Giang.

Thành lập Đảng bộ TP Hải Phòng trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: TP Hải Phòng và Hải Dương.

Thành lập Đảng bộ tỉnh An Giang trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ tỉnh: An Giang và Kiên Giang.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Cà Mau trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ tỉnh: Cà Mau và Bạc Liêu.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ tỉnh: Đồng Tháp và Tiền Giang.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 3 đảng bộ: Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Tây Ninh trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: Tây Ninh và Long An.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Đồng Nai trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: Đồng Nai và Bình Phước.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: Đắk Lắk và Phú Yên.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 3 đảng bộ: Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Thuận.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 3 đảng bộ: Khánh Hòa và Ninh Thuận.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Gia Lai trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: Gia Lai và Bình Định.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: Quảng Ngãi và Kon Tum.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Quảng Trị trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: Quảng Trị và Quảng Bình.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 3 đảng bộ: Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: Hưng Yên và Thái Bình.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: Bắc Ninh và Bắc Giang.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 3 đảng bộ: Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: Thái Nguyên và Bắc Kạn.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Lào Cai trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: Lào Cai và Yên Bái.

Thành lập Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 2 đảng bộ: Tuyên Quang và Hà Giang.

Theo các quyết định, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các tỉnh ủy, thành ủy do Bộ Chính trị quy định.

Bộ Chính trị giao các Tỉnh ủy, Thành ủy chủ trì, phối hợp với các cấp uỷ, cơ quan, tổ chức có liên quan lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện việc sắp xếp, chuyển giao, tiếp nhận tổ chức đảng, đảng viên; bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; bố trí trụ sở làm việc, quản lý tài chính, tài sản, hồ sơ, tài liệu, thu nộp con dấu và các vấn đề khác liên quan sau khi hợp nhất theo quy định./.
Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG MƯU ĐỒ SAI TRÁI, PHẢN ĐỘNG!

     Vừa qua, các thế lực thù địch, phản động đã dụ dỗ, kích động người Việt ở nước ngoài tham gia hoạt động sai trái. Lợi dụng môi trường tự do ngôn luận, tự do hội họp ở nước sở tại và tâm lý dễ dao động khi sống xa quê hương, một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động đã tìm mọi cách để tiếp cận, tuyên truyền xuyên tạc, kích động người Việt ở nước ngoài nhẹ dạ cả tin tham gia tụ tập, biểu tình. Bằng những thủ đoạn dụ dỗ, kích động, núp dưới chiêu bài “bảo vệ nhân quyền”, “hội đoàn xã hội”, “ủng hộ dân chủ”,… các thế lực thù địch, phản động đã sử dụng những thủ đoạn đen tối hòng dụ dỗ, kích động người Việt ở nước ngoài tham gia hoạt động sai trái, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. 

Với những thủ đoạn tinh vi, thâm độc, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng mạng xã hội, kênh truyền thông tiếng Việt ở nước ngoài để tung ra các luận điệu xuyên tạc sự thật, bóp méo tình hình chính trị - xã hội trong nước, khoét sâu vào những khó khăn thực tế hoặc những kỳ vọng chưa được đáp ứng của người dân; đồng thời, chúng tập trung khai thác tâm lý bất mãn, lo lắng, hoặc tâm lý tự ti, mặc cảm của một số người Việt xa quê để kích động sự hoài nghi, mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước. Mặt khác, chúng thường chọn thời điểm có sự kiện nhạy cảm, những vấn đề xã hội phức tạp trong nước để đẩy mạnh tuyên truyền sai sự thật, dụ dỗ, kích động cộng đồng người Việt tham gia biểu tình, tụ tập dưới danh nghĩa “thể hiện chính kiến”. Thực chất đây là những việc làm sai trái, phản động, xuyên tạc sự thật, đi ngược lại tiến bộ xã hội, hòng thực hiện mưu đồ đen tối mà các thế lực thù địch, phản động vẫn sử dụng.

Trước những mưu đồ đen tối, thủ đoạn lôi kéo của các thế lực thù địch, phản động lưu vong, mỗi công dân Việt Nam đang sinh sống, học tập, công tác, làm việc tại nước ngoài cần thường xuyên đề cao cảnh giác, luôn tỉnh táo, không mắc mưu trước những chiêu trò dụ dỗ, kích động, kiên quyết không trở thành công cụ cho những kẻ phản quốc, hại dân sử dụng làm quân cờ chống để phá quê hương, đất nước. Thường xuyên đề cao trách nhiệm với bản thân, gia đình, quê hương, đất nước; chủ động tự bảo vệ mình, kiên quyết bảo vệ uy tín của quê hương, đất nước. Không nhẹ dạ, cả tin, tuyệt đối không tham gia vào các hoạt động biểu tình gây rối mà các thế lực thù địch, phản động lôi kéo. Đồng thời, cần tích cực tham gia đấu tranh lật tẩy bộ mặt thật của các thế lực thù địch, phản động, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn sai trái của chúng./.
Yêu nước ST.

NGƯỜI NGA VẪN THÍCH ĐƯỢC GỌI NHAU LÀ “ĐỒNG CHÍ”!

     Theo báo “Độc lập” của Nga, gần đây, ngày càng có nhiều người Nga lên tiếng kêu gọi chính phủ hãy khôi phục lại việc sử dụng danh xưng “đồng chí”.
Thậm chí yêu cầu Duma quốc gia ban hành luật để thể chế hóa việc xưng hô này trong phạm vi toàn quốc, coi đây là biện pháp để giúp hòa dịu mối quan hệ giao lưu giữa người với người đang rất căng thẳng trong xã hội Nga hiện nay.
“Đồng chí” là kiểu xưng hô thường dùng nhất và mang cảm giác thân thiết phổ biến nhất dưới thời Liên Xô cũ.
Trong thời chiến tranh, nhiều nhà cách mạng thà hy sinh tính mạng bản thân chứ quyết không bán rẻ đồng chí của mình, qua đó có thể thấy vị trí thiêng liêng của “đồng chí” trong tim mọi người.
Thế nhưng, sau khi Liên Xô tan rã và nước Nga dần dần phát triển nền kinh tế thị trường, thì từ “đồng chí” dần dần được thay thế bằng các từ “quý ngài”, “quý bà”, “tiểu thư”…
Danh xưng “đồng chí” hiện chỉ còn được giữ trong quân đội, cảnh sát Nga và một số ít cơ quan hành chính.
Đại đa số người Nga cho rằng, danh xưng “đồng chí” mang đậm sắc thái tình cảm với ý nghĩa là “những người có chung chí hướng, lý tưởng”. Những người xa lạ gặp nhau lần đầu, gọi nhau là “đồng chí” lập tức thấy khoảng cách hai bên gần lại, cảm giác rất gần gũi, thân thiết với nhau.
Từ “đồng chí” khi gọi lên ấm áp hơn chả khác nào gọi nhau là bạn, là anh em. Còn từ “ngài” trong tiếng Nga thì có nghĩa là “người ở trên mọi người khác”, nên nhiều người cho rằng cách gọi này không thể hiện được sự bình đẳng trong quan hệ giao tế.
Ngày nay, tuy từ “ngài” không còn tượng trưng cho địa vị xã hội, nhưng khi dùng để xưng hô người ta vẫn không cảm thấy thân thiết như từ “đồng chí”.
Ngoài ra, ở một số vùng nước Nga, người ta không gọi nhau là “quý ngài”, “quý bà”… mà gọi là “công dân”, “cô”, “cậu”…nhưng hàm nghĩa vẫn không thân thiện và quen thuộc như từ “đồng chí”./.
Yêu nước!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÀN GIAO 30 BAN CHỈ HUY BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG VỀ BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ CẤP TỈNH!

         Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng phối hợp với Bộ Tư lệnh các Quân khu tổ chức bàn giao 30 Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng về trực thuộc 30 Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh nơi có biên giới.

Sáng 28/6, tại Hà Nội, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) phối hợp với Bộ Tư lệnh các Quân khu tổ chức Hội nghị bàn giao 30 Ban Chỉ huy BĐBP về trực thuộc 30 Bộ Chỉ huy quân sự (CHQS) cấp tỉnh nơi có biên giới. Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa - Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, dự và chỉ đạo hội nghị.

Lần thứ hai về trực thuộc Bộ CHQS cấp tỉnh

Phát biểu tại hội nghị, Trung tướng Lê Đức Thái - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh BĐBP cho biết, trong suốt chặng đường hơn 66 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành, BĐBP đã có 3 lần chuyển giao lực lượng từ Bộ Công an sang Bộ Quốc phòng và ngược lại.

Sau đợt chuyển giao sáp nhập lần thứ nhất năm 1979, đây là lần thứ hai Ban Chỉ huy BĐBP tỉnh được bàn giao về trực thuộc Bộ CHQS cấp tỉnh. Mỗi lần chuyển giao lực lượng BĐBP; sáp nhập, bàn giao Ban Chỉ huy BĐBP về Bộ CHQS cấp tỉnh có hoàn cảnh lịch sử, yêu cầu chính trị khác nhau, nhưng đều có tác động ảnh hưởng đến hệ thống tổ chức, công tác lãnh đạo, chỉ huy, quản lý của BĐBP.

“Trong lần chuyển giao này, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xem xét, đánh giá kỹ lưỡng cả về mặt lý luận và thực tiễn để xác định mô hình tổ chức Ban Chỉ huy BĐBP, vị trí đóng quân, xác lập cơ chế lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với Ban Chỉ huy BĐBP”, Trung tướng Lê Đức Thái nhấn mạnh.

Tư lệnh BĐBP cũng nêu rõ, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP đề nghị Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng quan tâm nghiên cứu sớm ban hành các quy chế, quy định thể chế hóa nghị quyết, kết luận của Quân ủy Trung ương về xác lập cơ chế lãnh đạo, chỉ huy quản lý đối với Ban Chỉ huy BĐBP.

Các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mối quan hệ công tác của Bộ CHQS cấp tỉnh, Ban Chỉ huy BĐBP, Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực và Ban CHQS cấp xã cũng cần được ban hành để triển khai đồng bộ, thống nhất...

Không để gián đoạn nhiệm vụ từng giây, từng phút

Theo Trung tướng Lê Đức Thái, Ban Chỉ huy BĐBP là đơn vị trực thuộc Bộ CHQS cấp tỉnh nhưng có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn (chủ yếu, cơ bản) khác với các đơn vị Quân đội thuộc Quân khu.

Đơn vị này có biện pháp nghiệp vụ riêng, có cách thức tổ chức và quy trình chỉ huy gắn với yêu cầu chính trị, nghiệp vụ, pháp luật, đối ngoại, điều ước quốc tế, quan hệ quốc tế; địa bàn hoạt động rộng cả nội biên và ngoại biên. Hằng ngày cán bộ, chiến sĩ thực thi nhiệm vụ trên biên giới, ở địa bàn ngoài doanh trại...

“Vì vậy, đề nghị Bộ CHQS các tỉnh, Bộ Tư lệnh TPHCM hết sức quan tâm trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý đảm bảo cho các đơn vị BĐBP thuộc quyền thực hiện tốt việc duy trì nề nếp chính quy, chấp hành kỷ luật đồng thời thực hiện tốt tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao”, Tư lệnh BĐBP nói.

Theo Trung tướng Lê Đức Thái, do đặc thù chủ yếu đóng quân ở vùng sâu, vùng xa, khí hậu, thổ nhưỡng, môi trường khắc nghiệt, điều kiện chăm sóc sức khỏe cán bộ, chiến sĩ BĐBP còn nhiều khó khăn; số lượng cán bộ, chiến sĩ BĐBP mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh chữa trị dài ngày chiếm tỉ lệ cao so với toàn quân.

Do đó, Bộ Tư lệnh BĐBP đề nghị các Quân khu, Bộ CHQS cấp tỉnh hết sức quan tâm, chỉ đạo, tạo điều kiện để các Ban Chỉ huy BĐBP được chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ ngày càng tốt hơn, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa nhấn mạnh, sau khi tiến hành sáp nhập, không được để gián đoạn từng giây, từng phút việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị.

Bộ Tư lệnh BĐBP phải xây dựng lại tổ chức biên chế của Bộ Tư lệnh và các đơn vị cấp cục, chịu trách nhiệm toàn diện trước Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng về lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy các Ban Chỉ huy BĐBP về chuyên môn, nghiệp vụ và tác chiến BĐBP với Quân khu.

“Ở đâu chúng ta cũng là người quân nhân. Đã là người đảng viên thì phải chấp hành thật tốt, đã là người lãnh đạo đảng viên trong Quân đội thì phải thực hiện rất nghiêm. Bởi vì chúng ta là Quân đội, là kỷ luật, là tự giác nhưng rất nghiêm minh. Và chúng ta có tình cảm đồng chí, đồng đội gắn bó trên địa bàn, đoàn kết với nhau”, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam nói./.
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2025

Giá trị và sức sống trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh

 Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng. Thấy rõ giá trị, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không ngừng tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng của Người.

Nhận diện luận điệu sai trái, xuyên tạc

Một trong những luận điệu nguy hiểm mà các thế lực thù địch xuyên tạc là cho rằng Hồ Chí Minh không phải nhà tư tưởng, không có tư tưởng hoặc nếu có thì đó chỉ là những quan điểm rời rạc, thiếu hệ thống, không đủ tầm vóc để gọi là một hệ tư tưởng.

Các đối tượng thù địch thường nguỵ biện rằng, Hồ Chí Minh là người hoạt động thực tiễn, không viết lý luận theo nghĩa hàn lâm, không có hệ thống học thuyết riêng như C.Mác, Ph.Ăngghen hay Lênin. Họ lý sự rằng, ở Hồ Chí Minh không có các tác phẩm lý luận tầm cỡ và vì bản thân Hồ Chí Minh cũng tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng nên quy kết “không có khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Bên cạnh đó, một số kẻ đội lốt “nhà phản biện”, “nhà nghiên cứu”, “nhà khoa học” còn cố tình ngụy biện rằng Hồ Chí Minh chỉ là người “sao chép” chủ nghĩa Mác - Lênin, không có sự sáng tạo gì mới nên không thể gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Ở đây không đơn thuần là sự hoài nghi học thuật mà là các thế lực thù địch, phản động âm mưu nhằm hạ bệ biểu tượng tư tưởng cách mạng, tạo ra khoảng trống lý luận để tung quan điểm lệch lạc, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là trong thế hệ trẻ. Họ muốn phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh để từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận chế độ XHCN, thúc đẩy mô hình “đa nguyên, đa đảng”. Đây là chiêu bài chính trị quen thuộc nhưng rất nguy hiểm. Những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học được lặp đi, lặp lại, nhất là trong dịp kỷ niệm 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đối tượng lại tìm cách “khuấy” lên dưới nhiều chiêu trò như toạ đàm, hội luận, phỏng vấn, phân tích...

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và CNXH với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trong quá trình vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã phát triển nhiều luận điểm mới, phù hợp và sáng tạo. Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin tập trung vào đấu tranh giai cấp ở phương Tây thì Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến vấn đề dân tộc và giải phóng thuộc địa. Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập nhiều về vai trò của giai cấp vô sản thì Hồ Chí Minh nhận thấy vai trò to lớn của nông dân và các tầng lớp bị áp bức trong xã hội thuộc địa, nửa phong kiến.

Tư tưởng không nhất thiết phải được thể hiện bằng những bộ sách đồ sộ hay khái niệm trừu tượng, hàn lâm mà có thể hiện diện qua các tác phẩm chính luận, bài viết, bài nói, hành động và trên hết là qua sự chỉ đạo đúng đắn và hiệu quả đối với thực tiễn cách mạng. Các nhà khoa học chỉ rõ rằng, Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng theo đúng nghĩa của một nhà cách mạng hành động, nơi mà lý luận luôn được kiểm chứng và phát triển qua thực tiễn sôi động của Người. Do đó, không thể nguỵ biện rằng, ở Hồ Chí Minh không có các tác phẩm lý luận tầm cỡ và vì bản thân Hồ Chí Minh cũng tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, từ đó đưa ra quan điểm sai trái, phủ nhận tư tưởng của Người.

Thế giới đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi

Các nhà khoa học trong nước và quốc tế đã khẳng định, Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng lớn, bởi Người có sự chuẩn bị kỹ càng về lý luận, có khả năng dự báo, xác định đúng hướng đi cho phong trào của quần chúng khi đang còn tự phát. Có tầm nhìn chính trị bao quát, rộng mở để giải quyết những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng. Có khả năng tổ chức thành lập một chính đảng cách mạng để quy tụ, tập hợp quần chúng để đấu tranh. Có khả năng vượt qua những khó khăn, thử thách để thực hiện tư tưởng của mình trong thực tiễn cách mạng.

Người đã có rất nhiều tác phẩm lý luận thể hiện tư duy sâu sắc, nhất quán và mang tính hệ thống về cách mạng Việt Nam. Trong di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh có rất nhiều tác phẩm tiêu biểu, đánh dấu những sự kiện quan trọng gắn liền với những bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Năm 2021, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản bộ sách “Hồ Chí Minh toàn tập” (15 tập).

Bộ sách tập hợp khoảng 3.300 tác phẩm, bài nói, bài viết, điện, thư... của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1912 đến năm 1969 đã được xác minh và thẩm định, cung cấp nhiều tư liệu làm sáng tỏ sự nghiệp, những giá trị lớn lao của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó phải kể đến năm tác phẩm lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh - năm di sản đã được công nhận là bảo vật quốc gia: “Đường Kách mệnh” (1927), “Nhật ký trong tù” (1942-1943), “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946), “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (17/7/1966) và “Di chúc” (10/5/1965-19/5/1969).

Năm tác phẩm tiêu biểu được xếp hạng bảo vật quốc gia cũng như toàn bộ di sản của Người có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đều có những chỉ dẫn cụ thể, là kim chỉ nam, mang giá trị định hướng trường tồn. Đó không phải là những mảnh ghép rời rạc như luận điệu các thế lực xấu mà là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế. Đồng thời, minh chứng cho những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng thế giới, sự cống hiến của Người vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã chứng minh tính đúng đắn và sức sống mạnh mẽ của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ và thống nhất đất nước, xây dựng XHCN, đưa đất nước tiến lên hiện đại. Không chỉ có giá trị trong lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh còn mang tính thời đại sâu sắc, tiếp tục soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là minh chứng sinh động cho giá trị khoa học, giá trị cách mạng và giá trị nhân văn cao cả của một tư tưởng vĩ đại.

Đại hội XI (2011), Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”. Định nghĩa này không chỉ mang tính lý luận sâu sắc mà còn thể hiện sự đúc kết từ thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Điều này đủ sức bác bỏ quan điểm cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn không có hệ thống lý luận độc lập.

Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”.

Ghi nhận những đóng góp, cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh cho tư tưởng, văn hóa của dân tộc Việt Nam, cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới, UNESCO đã ban hành Nghị quyết khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh và tư cách nhà tư tưởng của Người. Nghị quyết ghi nhận Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.

Chính các học giả, nhà nghiên cứu quốc tế đã thừa nhận và ca ngợi tư tưởng Hồ Chí Minh như một hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn trên bình diện thế giới. Tại nhiều hội thảo quốc tế, các học giả đã nhấn mạnh tính nhân văn, tính thực tiễn và tính định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là sự đóng góp quan trọng vào kho tàng tư tưởng cách mạng thế giới. Hiện nay, đã có 35 công trình tượng, tượng đài Hồ Chí Minh được xây dựng tại 22 quốc gia trên thế giới.

Đây chính là sự bác bỏ đầy thuyết phục của cộng đồng quốc tế đối với các luận điệu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh hiện nay, khi sự nghiệp cách mạng bước vào giai đoạn mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen thì việc nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa quan trọng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Điều này cũng chứng tỏ rằng, những luận điệu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh không những phi khoa học mà còn đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại.

Cảnh giác trước những thủ đoạn lợi dụng danh nghĩa tự do báo chí để chống phá Việt Nam

 Những luận điệu xuyên tạc, đánh tráo bản chất

Với cái gọi là báo cáo “Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2024” mà tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) tung ra hồi đầu tháng 5 vừa qua, họ đưa ra những thông tin, số liệu sai lệch để quy kết Việt Nam vi phạm tự do báo chí. Trong đó, RSF xếp Việt Nam thứ 174 trong số 180 quốc gia về tự do báo chí và cho rằng, nguyên nhân khiến Việt Nam nằm trong “nhóm các quốc gia có nền báo chí tồi tệ nhất thế giới” là do “cầm tù nhà báo có hệ thống”! Bên cạnh đó, họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam quản báo chí theo chế độ “đăng ký”, “bị kiểm duyệt”, “hà khắc”, “trói buộc”... Họ rêu rao Việt Nam không có nhân quyền vì không có báo chí tư nhân, không có tự do báo chí; cho rằng tự do báo chí là không bị quản lý, kiểm soát bởi bất kỳ lực lượng nào, thích viết gì thì viết, như thế mới là một xã hội có nhân quyền, mới có tự do báo chí! Từ việc xuyên tạc sự nghiệp lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về báo chí, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội phản động kêu gọi muốn có tự do báo chí, muốn dân chủ, nhân quyền thì phải thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Thậm chí, trong số những “nhà báo độc lập” theo cách gọi của RSF có cả những người chưa từng làm báo, chưa qua trường lớp báo chí, họ mới chỉ cần viết bài chống đối chính quyền trên mạng xã hội là được RFS tung hô, ca tụng. Rõ ràng, bằng việc mượn danh “tự do báo chí”, họ lấy cớ dựng chuyện, xuyên tạc, chống phá Việt Nam.

Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, RFI, RFA... và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên Youtube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ súy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng, ra sức tung hô, cổ súy, ca ngợi những kẻ được gán cho những mỹ từ như “nhà báo tự do”, “nhà đấu tranh dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến” mà thực ra đó là những người vi phạm pháp luật, đã bị pháp luật Việt Nam xử lý. Với những thông tin sai lệch, xuyên tạc về tự do báo chí tại Việt Nam còn tạo ra cái nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm của quốc tế về Việt Nam; có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các quốc gia về vấn đề nhân quyền và trình độ phát triển xã hội Việt Nam.

Tự do ngôn luận là quyền cơ bản của con người nhưng quyền này luôn có giới hạn và phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quy định như vậy. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948) khẳng định: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung”.

Như vậy, tự do báo chí theo cách mà các thế lực thù địch, phản động liên tục tuyên truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó đi ngược lại với cả chính những nước mà các thế lực thù địch, phản động dẫn chứng và khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính là phải có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân loại. 

Tự do báo chí, tự do ngôn luận không phải bất chấp giới hạn

Tự do báo chí được coi như một trong những nền tảng để các cá nhân, tổ chức nói lên ý kiến, chia sẻ quan điểm và ý tưởng, cũng như tham gia các cuộc thảo luận, tranh luận và thực hiện chức năng phản biện nhằm giúp xã hội phát triển. Nhưng báo chí và hoạt động báo chí phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia để không trở thành “báo chí vô chính phủ”. Trên thế giới, ở hầu hết các quốc gia luôn có những hệ thống tư tưởng chính trị chi phối báo chí ở các cách thức khác nhau. Thực tế cho thấy, báo chí của một quốc gia đều thể hiện hình thức và đặc thù của cấu trúc xã hội cũng như thể chế chính trị của quốc gia đó.

Nói cách khác, tự do báo chí, ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải gắn với chế độ chính trị, điều kiện xã hội, nền tảng đạo đức, pháp lý trong mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện và bối cảnh cụ thể mà đưa ra những giới hạn nhất định đối với việc thực hiện tự do ngôn luận của công dân. Ở Mỹ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa án, đặc biệt là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm, gây hấn... Tại Anh, Chính phủ ban hành một đạo luật đóng thành tập dày đến 960 trang, gồm 67 điều và dẫn ra 3.980 trường hợp áp dụng cụ thể hạn chế quyền tự do báo chí trong phạm vi nhất định. Theo đó, những bài báo làm tổn hại thanh danh về nghề nghiệp cá nhân thuộc loại thứ nhất bị hạn chế. Khi làm tổn hại đến các chính sách và các cơ quan nhà nước, đến luật pháp, tôn giáo, đạo đức bị coi thuộc loại thứ hai bị hạn chế. Đối với Singapore, Bộ Truyền thông và Thông tin là đơn vị quản lý nội dung đối với cơ quan báo chí và các nhà cung cấp thông tin trên internet. Theo đó, Singapore quản lý chặt chẽ báo chí, trong đó quy định các thông tin gây ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh quốc gia, sự ổn định và thông tin gây ảnh hưởng không tốt tới chỉnh phủ và xã hội sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật…

Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và trên thực tế, Việt Nam đã đạt được thành tựu to lớn trong việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của người dân. Khi giành được chính quyền, Hiến pháp năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự do khác của công dân tại Điều 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Những quyền cơ bản này đã được hiến định xuyên suốt trong các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và nay là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân.

Luật Báo chí năm 2016 đã quy định về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Điều 13 nêu: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình”. Đồng thời, khoản 2, Điều 13 luật này quy định rõ: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”.

Trên cơ sở hành lang pháp lý được quy định rõ ràng, cụ thể, thực tiễn hoạt động của báo chí Việt Nam rất sôi động với nhiều thành tựu nổi bật. Báo chí đã thể hiện vai trò xung kích trên nhiều lĩnh vực, góp phần định hướng dư luận, giữ ổn định chính trị, biểu dương kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, đẩy lùi nạn tham nhũng, tiêu cực... Báo chí thật sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội. Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí của nhân dân được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Các cơ quan báo chí ở Việt Nam ngày càng thể hiện rõ vai trò, chức năng phản biện xã hội của mình.

Bên cạnh đó Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện cho các cơ quan báo chí, hãng thông tấn nước ngoài đến tác nghiệp tại Việt Nam với gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)... Các cơ quan truyền thông quốc tế như CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều dễ dàng đến được với công chúng Việt Nam thông qua nhiều nền tảng chính thức, chính quy. Dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025) vừa qua đã có 169 phóng viên quốc tế của 58 hãng thông tấn báo chí từ 17 quốc gia; hơn 700 phóng viên của 106 cơ quan báo chí trong nước đăng ký tác nghiệp. Qua đó, đã chuyển tải những hình ảnh, thước phim chân thật, sống động nhất ra thế giới về các hoạt động của Lễ Kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc của hàng triệu người dân Việt Nam từ mọi miền Tổ quốc.

Ngoài ra, sự hiện diện của nhiều hãng thông tấn, truyền thông quốc tế lớn của thế giới khiến hoạt động báo chí tại Việt Nam ngày càng trở nên sôi động và quan trọng hơn là giúp công chúng dễ dàng tiếp cận thông tin nhiều chiều liên quan tới mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội. Với người dân, các trang mạng xã hội như Facebook, Youtube, Zalo, Instagram... hiện trở thành phương tiện hữu ích để họ chia sẻ, tiếp nhận thông tin, bày tỏ quan điểm cá nhân về mọi vấn đề. Nhờ mạng 4G đã bao phủ xấp xỉ 99,8% dân số nên người dân Việt Nam giờ đây có thể kết nối với các cơ quan, tổ chức hành chính từ Trung ương tới địa phương thông qua mạng xã hội để giải quyết các thủ tục hành chính, bày tỏ tâm tư, nguyện vọng; thậm chí là thông báo các vấn đề, sự việc mà họ cho là tiêu cực trong cuộc sống.

Từ sự ra đời của tờ Thanh Niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập (21/6/1925) tới nay, với 100 năm tuổi, báo chí cách mạng Việt Nam là một chứng nhân hàng đầu của lịch sử cách mạng Việt Nam với bao biến cố, thăng trầm. Ngày nay, những người làm báo đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, buộc phải thay đổi nhanh để thích ứng với những yêu cầu mới đang đặt ra, nhất là yêu cầu về công nghệ và nhu cầu của độc giả. Thế nhưng những sự thay đổi ấy không thể làm thay đổi bản chất của báo chí cách mạng Việt Nam. Thời gian tới, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện, đồng bộ hệ thống quy định pháp luật trong lĩnh vực báo chí ngày càng chặt chẽ, tiến bộ, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và xu thế phát triển của thời đại, tạo cơ sở pháp lý, chỗ dựa vững chắc cho hoạt động và phát triển của báo chí. Nâng cao vai trò của các cơ quan báo chí của Đảng và Nhà nước trong định hướng dư luận, đẩy lùi những thông tin sai trái, đi ngược lại đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và nguyện vọng chính đáng của đông đảo quần chúng nhân dân…

Nhận diện và đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về phát triển kinh tế tư nhân của Đảng

 Những luận điệu xuyên tạc, đánh tráo bản chất

Với cái gọi là báo cáo “Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2024” mà tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) tung ra hồi đầu tháng 5 vừa qua, họ đưa ra những thông tin, số liệu sai lệch để quy kết Việt Nam vi phạm tự do báo chí. Trong đó, RSF xếp Việt Nam thứ 174 trong số 180 quốc gia về tự do báo chí và cho rằng, nguyên nhân khiến Việt Nam nằm trong “nhóm các quốc gia có nền báo chí tồi tệ nhất thế giới” là do “cầm tù nhà báo có hệ thống”! Bên cạnh đó, họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam quản báo chí theo chế độ “đăng ký”, “bị kiểm duyệt”, “hà khắc”, “trói buộc”... Họ rêu rao Việt Nam không có nhân quyền vì không có báo chí tư nhân, không có tự do báo chí; cho rằng tự do báo chí là không bị quản lý, kiểm soát bởi bất kỳ lực lượng nào, thích viết gì thì viết, như thế mới là một xã hội có nhân quyền, mới có tự do báo chí! Từ việc xuyên tạc sự nghiệp lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về báo chí, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội phản động kêu gọi muốn có tự do báo chí, muốn dân chủ, nhân quyền thì phải thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Thậm chí, trong số những “nhà báo độc lập” theo cách gọi của RSF có cả những người chưa từng làm báo, chưa qua trường lớp báo chí, họ mới chỉ cần viết bài chống đối chính quyền trên mạng xã hội là được RFS tung hô, ca tụng. Rõ ràng, bằng việc mượn danh “tự do báo chí”, họ lấy cớ dựng chuyện, xuyên tạc, chống phá Việt Nam.

Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, RFI, RFA... và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên Youtube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ súy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng, ra sức tung hô, cổ súy, ca ngợi những kẻ được gán cho những mỹ từ như “nhà báo tự do”, “nhà đấu tranh dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến” mà thực ra đó là những người vi phạm pháp luật, đã bị pháp luật Việt Nam xử lý. Với những thông tin sai lệch, xuyên tạc về tự do báo chí tại Việt Nam còn tạo ra cái nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm của quốc tế về Việt Nam; có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các quốc gia về vấn đề nhân quyền và trình độ phát triển xã hội Việt Nam.

Tự do ngôn luận là quyền cơ bản của con người nhưng quyền này luôn có giới hạn và phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quy định như vậy. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948) khẳng định: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung”.

Như vậy, tự do báo chí theo cách mà các thế lực thù địch, phản động liên tục tuyên truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó đi ngược lại với cả chính những nước mà các thế lực thù địch, phản động dẫn chứng và khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính là phải có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân loại. 

Tự do báo chí, tự do ngôn luận không phải bất chấp giới hạn

Tự do báo chí được coi như một trong những nền tảng để các cá nhân, tổ chức nói lên ý kiến, chia sẻ quan điểm và ý tưởng, cũng như tham gia các cuộc thảo luận, tranh luận và thực hiện chức năng phản biện nhằm giúp xã hội phát triển. Nhưng báo chí và hoạt động báo chí phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia để không trở thành “báo chí vô chính phủ”. Trên thế giới, ở hầu hết các quốc gia luôn có những hệ thống tư tưởng chính trị chi phối báo chí ở các cách thức khác nhau. Thực tế cho thấy, báo chí của một quốc gia đều thể hiện hình thức và đặc thù của cấu trúc xã hội cũng như thể chế chính trị của quốc gia đó.

Nói cách khác, tự do báo chí, ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải gắn với chế độ chính trị, điều kiện xã hội, nền tảng đạo đức, pháp lý trong mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện và bối cảnh cụ thể mà đưa ra những giới hạn nhất định đối với việc thực hiện tự do ngôn luận của công dân. Ở Mỹ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa án, đặc biệt là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm, gây hấn... Tại Anh, Chính phủ ban hành một đạo luật đóng thành tập dày đến 960 trang, gồm 67 điều và dẫn ra 3.980 trường hợp áp dụng cụ thể hạn chế quyền tự do báo chí trong phạm vi nhất định. Theo đó, những bài báo làm tổn hại thanh danh về nghề nghiệp cá nhân thuộc loại thứ nhất bị hạn chế. Khi làm tổn hại đến các chính sách và các cơ quan nhà nước, đến luật pháp, tôn giáo, đạo đức bị coi thuộc loại thứ hai bị hạn chế. Đối với Singapore, Bộ Truyền thông và Thông tin là đơn vị quản lý nội dung đối với cơ quan báo chí và các nhà cung cấp thông tin trên internet. Theo đó, Singapore quản lý chặt chẽ báo chí, trong đó quy định các thông tin gây ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh quốc gia, sự ổn định và thông tin gây ảnh hưởng không tốt tới chỉnh phủ và xã hội sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật…

Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và trên thực tế, Việt Nam đã đạt được thành tựu to lớn trong việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của người dân. Khi giành được chính quyền, Hiến pháp năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự do khác của công dân tại Điều 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Những quyền cơ bản này đã được hiến định xuyên suốt trong các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và nay là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân.

Luật Báo chí năm 2016 đã quy định về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Điều 13 nêu: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình”. Đồng thời, khoản 2, Điều 13 luật này quy định rõ: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”.

Trên cơ sở hành lang pháp lý được quy định rõ ràng, cụ thể, thực tiễn hoạt động của báo chí Việt Nam rất sôi động với nhiều thành tựu nổi bật. Báo chí đã thể hiện vai trò xung kích trên nhiều lĩnh vực, góp phần định hướng dư luận, giữ ổn định chính trị, biểu dương kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, đẩy lùi nạn tham nhũng, tiêu cực... Báo chí thật sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội. Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí của nhân dân được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Các cơ quan báo chí ở Việt Nam ngày càng thể hiện rõ vai trò, chức năng phản biện xã hội của mình.

Bên cạnh đó Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện cho các cơ quan báo chí, hãng thông tấn nước ngoài đến tác nghiệp tại Việt Nam với gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)... Các cơ quan truyền thông quốc tế như CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều dễ dàng đến được với công chúng Việt Nam thông qua nhiều nền tảng chính thức, chính quy. Dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025) vừa qua đã có 169 phóng viên quốc tế của 58 hãng thông tấn báo chí từ 17 quốc gia; hơn 700 phóng viên của 106 cơ quan báo chí trong nước đăng ký tác nghiệp. Qua đó, đã chuyển tải những hình ảnh, thước phim chân thật, sống động nhất ra thế giới về các hoạt động của Lễ Kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc của hàng triệu người dân Việt Nam từ mọi miền Tổ quốc.

Ngoài ra, sự hiện diện của nhiều hãng thông tấn, truyền thông quốc tế lớn của thế giới khiến hoạt động báo chí tại Việt Nam ngày càng trở nên sôi động và quan trọng hơn là giúp công chúng dễ dàng tiếp cận thông tin nhiều chiều liên quan tới mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội. Với người dân, các trang mạng xã hội như Facebook, Youtube, Zalo, Instagram... hiện trở thành phương tiện hữu ích để họ chia sẻ, tiếp nhận thông tin, bày tỏ quan điểm cá nhân về mọi vấn đề. Nhờ mạng 4G đã bao phủ xấp xỉ 99,8% dân số nên người dân Việt Nam giờ đây có thể kết nối với các cơ quan, tổ chức hành chính từ Trung ương tới địa phương thông qua mạng xã hội để giải quyết các thủ tục hành chính, bày tỏ tâm tư, nguyện vọng; thậm chí là thông báo các vấn đề, sự việc mà họ cho là tiêu cực trong cuộc sống.

Từ sự ra đời của tờ Thanh Niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập (21/6/1925) tới nay, với 100 năm tuổi, báo chí cách mạng Việt Nam là một chứng nhân hàng đầu của lịch sử cách mạng Việt Nam với bao biến cố, thăng trầm. Ngày nay, những người làm báo đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, buộc phải thay đổi nhanh để thích ứng với những yêu cầu mới đang đặt ra, nhất là yêu cầu về công nghệ và nhu cầu của độc giả. Thế nhưng những sự thay đổi ấy không thể làm thay đổi bản chất của báo chí cách mạng Việt Nam. Thời gian tới, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện, đồng bộ hệ thống quy định pháp luật trong lĩnh vực báo chí ngày càng chặt chẽ, tiến bộ, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và xu thế phát triển của thời đại, tạo cơ sở pháp lý, chỗ dựa vững chắc cho hoạt động và phát triển của báo chí. Nâng cao vai trò của các cơ quan báo chí của Đảng và Nhà nước trong định hướng dư luận, đẩy lùi những thông tin sai trái, đi ngược lại đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và nguyện vọng chính đáng của đông đảo quần chúng nhân dân…

Nhận diện và đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về phát triển kinh tế tư nhân của Đảng

 Nhận diện những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch

Những ngày qua, khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định vai trò "động lực quan trọng nhất" của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trên nhiều diễn đàn mạng, các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối đã rêu rao rằng, Đảng ta đưa ra quan điểm về phát triển kinh tế tư nhân lần này là bất nhất, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế có nghĩa “thừa nhận sự bóc lột, thừa nhận mối quan hệ sản xuất TBCN”, gây mâu thuẫn với quan điểm của Đảng trong các thời kỳ trước. Từ đó, các thế lực thù địch xuyên tạc kinh tế thị trường và định hướng XHCN khác nhau như nước với lửa cho nên “không có nền kinh tế thị trường nào lại có thể kết hợp cùng XHCN”. Họ suy diễn đây là một sự gán ghép khiên cưỡng, kìm hãm thể chế thị trường và kìm hãm cải cách, phát triển của kinh tế - xã hội đất nước.

Thông qua các luận điệu trên, các đối tượng hướng đến đả kích vai trò, phương thức quản lý, điều hành nền kinh tế của Nhà nước. Những người này cho rằng, các cơ quan quản lý không đủ năng lực, trình độ, đang sử dụng quyền lực nhà nước để can thiệp vào các hoạt động kinh tế một cách trái quy luật, làm cản trở phát triển kinh tế hoặc bóp méo thị trường nhằm trục lợi. Lợi dụng vấn đề trên, các đối tượng tiếp tục khoét sâu, thổi phồng những hạn chế, bất cập của nền kinh tế và những sai phạm, thiếu sót của các cá nhân, tổ chức trong các vụ án về kinh tế xảy ra ở một số bộ, ngành, địa phương để quy kết nguyên nhân là do lỗi hệ thống, muốn khắc phục phải thay đổi thể chế kinh tế. Thậm chí, họ còn cố tình xuyên tạc cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế, chống tham nhũng đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, đình trệ, ảnh hưởng xấu đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm xuất khẩu. Các đối tượng rêu rao rằng, tham nhũng là bản chất chế độ cộng sản, có chống cũng chỉ là hình thức…

Bên cạnh đó, các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối ở nước ngoài câu kết với một số đối tượng ở trong nước tổ chức các buổi livestream dưới dạng “hội luận” với thành phần tham gia được gắn mác “chuyên gia”, “luật sư”, “tiến sĩ”… Mục đích không gì khác là bôi đen, đả phá nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, cho rằng vì yếu kém nên dẫn đến việc Hoa Kỳ chưa công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam cũng như áp đặt các mức thuế quan cao. Thậm chí, một số đối tượng chống đối còn ảo tưởng rằng việc Việt Nam thừa nhận kinh tế tư nhân là dấu hiệu chuẩn bị cho sự “đổi màu” trong chính sách phát triển theo hướng TBCN, lu loa Việt Nam sắp “tư nhân hóa nền kinh tế quốc dân”…

Đây là những quan điểm sai trái, xuyên tạc nhằm thực hiện mưu đồ xấu, gây tâm lý hoài nghi, dao động, mất niềm tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội. Đồng thời, làm ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình đầu tư, phát triển kinh tế của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Từ đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên… Những luận điệu trên lại được núp bóng những “kiến nghị”, “góp ý”, “ý kiến tâm huyết” và được đăng tải, chia sẻ rộng rãi trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Youtube, Snapchat, TikTok... đã gây ảnh hưởng xấu đến nhận thức, tâm lý của người dân.

Chủ trương lớn khẳng định vai trò của Đảng trong phát triển kinh tế tư nhân

Lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người chứng minh kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của CNTB, đó là thành tựu phát triển cao của nền văn minh nhân loại, không thể và cũng chưa bao giờ là độc quyền của CNTB. Điều đó đồng nghĩa với việc, các nước XHCN, trong đó có Việt Nam sử dụng mô hình kinh tế này để thúc đẩy kinh tế - xã hội theo những nguyên tắc, mục đích riêng phù hợp với điều kiện của quốc gia. Vì vậy, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta đang xây dựng là “một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường”, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta được xác định dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất chủ yếu, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, song kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo.

Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng, trung bình 6,37%/năm. So với các nước ASEAN, Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất, Philippines đạt 4,17%, Malaysia đạt 5,34%, Thái Lan đạt 4,48%, và Singapore  đạt 4,51%. Thành tựu này thể hiện sự ổn định và khả năng duy trì tăng trưởng của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á phải đối mặt với nhiều biến động kinh tế và khủng hoảng. Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất khu vực Đông Nam Á, đồng thời từng bước khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế... Bên cạnh đó, kinh tế tư nhân nước ta đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướngXHCN. Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lạo động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới.

Thực tiễn cho thấy, những kết quả mà kinh tế tư nhân đạt được đã chứng minh vai trò, vị trí “đòn bẩy” quan trọng của nền kinh tế. Chính trên cơ sở sự thay đổi, phát triển nhận thức đúng đắn, kịp thời về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân với những cơ chế, chính sách kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường định hướng XHCN đã tạo những điều kiện, tiền đề để kinh tế tư nhân phát triển, không ngừng lớn mạnh và trở thành một trong những nhân tố quan trọng cho sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển của khu vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, chưa thực sự bứt phá về quy mô và năng lực cạnh tranh để trở thành lực lượng nòng cốt của nền kinh tế. Đa số doanh nghiệp tư nhân vẫn ở quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa với tiềm lực tài chính và trình độ quản trị còn hạn chế. Năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo thấp, dẫn đến năng suất lao động, hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh chưa cao. Bên cạnh đó, tư duy kinh doanh còn thiếu tầm nhìn chiến lược, sự kết nối với doanh nghiệp nhà nước cũng như doanh nghiệp FDI còn lỏng lẻo. Nguyên nhân của những hạn chế này được chỉ ra là do tư duy, nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân chưa đầy đủ và chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Thể chế, pháp luật còn nhiều vướng mắc, bất cập, công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, phát triển kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ, Đảng, Nhà nước ta chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế phù hợp trình độ không đồng đều của lực lượng sản xuất, nhằm huy động tối đa sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, mọi giai tầng xã hội vào phát triển kinh tế, bảo đảm kinh tế phát triển nhanh, bền vững. Cùng với phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, Đảng, Nhà nước ta xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Do đó, sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm để tạo đà cho sự phát triển chung của nền kinh tế.

Vì vậy, Nghị quyết 68-NQ/TW khẳng vai trò của Đảng, Nhà nước cũng như quan điểm chỉ đạo cốt lõi, thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy và nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân. Cần xác định rằng, Đảng, Nhà nước ta thừa nhận vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân cùng với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò nòng cốt xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập quốc tế hiệu quả với phương diện là con đường hiệu quả để huy động vốn, phát triển khoa học - công nghệ, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân chứ không phải là mục tiêu của nhiệm vụ xây dựng quan hệ sản xuất mới. Để đảm bảo yếu tố định hướng XHCN, nền kinh tế thị trường ở nước ta không phải là hoàn toàn tự do mà đặt trong “khuôn khổ”, đó là đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước Việt Nam. Phấn đấu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, đạt tỷ lệ 20 doanh nghiệp/1.000 dân; ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 10-12%/năm; đóng góp 55-58% GDP, 35-40% tổng thu ngân sách nhà nước; giải quyết 84-85% tổng số việc làm… Đến năm 2045, phấn đấu có ít nhất 3 triệu doanh nghiệp hoạt động, đóng góp trên 60% GDP, và có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế.

Với các thành tựu đạt được, Việt Nam đang khẳng định vị thế là một trong những nền kinh tế năng động và có triển vọng của khu vực, thế giới. Cơ hội đang mở ra cho Việt Nam để phát triển kinh tế tư nhân là rất to lớn, cũng là minh chứng phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc về kinh tế tư nhân, làm chệch định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường, chệch quỹ đạo xây dựng CNXH ở nước ta. Do đó, cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch này, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN Việt Nam nói chung và với đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước nói riêng.

Nhận diện và phản bác luận điệu xuyên tạc cải cách bộ máy hành chính của Đảng và nhà nước ta hiện nay

 Mượn gió bẻ măng

Lợi dụng vào việc nhà nước lấy ý kiến Nhân dân sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 2013 để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ sắp xếp tổ chức bộ máy và nhiều chủ trương quan trọng của Đảng, trong những ngày qua, một số tổ chức phản động như Việt Tân, các trung tâm truyền thông VOA tiếng Việt, RFA và một số cá nhân có tư tưởng chống đối, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm chỉ đạo, định hướng của Đảng, Nhà nước ta về việc nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp năm 2013.

Chúng lợi dụng lấy ý kiến về sửa đổi Hiến pháp để đưa ra đòi hỏi phi lý từ rất nhiều năm nay, đó là “đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013”. Chúng rêu rao tuyên truyền xuyên tạc theo kiểu dân túy là: “Để đảm bảo quyền làm chủ của người dân thì Hiến pháp mới cần bỏ Điều 4”, “Sửa Hiến pháp: Yêu cầu bỏ Điều 4 để Nhân dân được tự do chính trị”… Những luận điệu này đã thể hiện rõ âm mưu chống phá của chúng và thực chất là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi đa nguyên, đa đảng, hướng lái Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Chúng xuyên tạc rằng “Chuyện sửa đổi Hiến pháp chẳng qua là trò mị dân” và việc lấy ý kiến Nhân dân về sửa đổi Hiến pháp chỉ là “Trò làm màu tốn thời gian, tiền của”, “Hiến pháp không thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân”…

Trái với những điều này, theo Điều 120 Hiến pháp 2013 quy định về việc sửa đổi Hiến pháp: “Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp”. Rõ ràng, việc sửa Hiến pháp sẽ phải tiến hành lấy ý kiến Nhân dân. Người dân ngoài việc được lấy ý kiến với quy trình tiến hành rất chặt chẽ, dân chủ, khách quan, còn được theo dõi phiên thảo luận tại Hội trường của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 qua truyền hình, phát thanh trực tiếp. Không có chuyện “mị dân” trong việc sửa Hiến pháp và lấy ý kiến Nhân dân như những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch suy diễn trong những ngày qua. Chỉ tính trong 3 tuần qua, qua phần mềm VNeID do Bộ Công an quản lý đã có hơn 14 triệu lượt ý kiến Nhân dân góp ý trực tiếp, đóng góp vào sửa đổi, bổ sung Hiến pháp thể hiện tinh thần trách nhiệm công dân, dân chủ của công dân trong việc tham gia hoàn thiện Hiến pháp.

Đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới

Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 là một sự kiện chính trị pháp lý trọng đại, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý và toàn xã hội. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 không chỉ là điều chỉnh về kỹ thuật pháp lý, mà còn thể hiện sự đổi mới tư duy của cả hệ thống chính trị, với một số nội dung rất quan trọng như: Vị thế, vai trò của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị; đổi mới, tái cấu trúc mô hình tổ chức chính quyền địa phương... Các ý kiến góp ý của các tầng lớp Nhân dân đều hướng tới mục tiêu cao nhất là phục vụ người dân tốt hơn, giải phóng mọi nguồn lực cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Trước hết có thể thấy, việc lấy ý kiến Nhân dân, các ngành, các cấp về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động trí tuệ, tâm huyết và tạo sự đồng thuận, thống nhất cao của toàn dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013, bảo đảm Hiến pháp phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.

Về mục đích, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; tạo cơ sở hiến định cho việc sắp xếp cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp theo hướng gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn. Mặt khác, sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng; nội dung sửa đổi, bổ sung Hiến pháp trên cơ sở căn cứ vào chủ trương, định hướng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Về cơ sở lý luận, đối với nước ta, Hiến pháp là một hệ thống cao nhất của pháp luật quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập thủ tục, quyền hạn, trách nhiệm của nhà nước, chính quyền, bảo đảm các quyền của nhân dân. Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của một nhà nước, thể hiện ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân, là đạo luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Quốc hội ban hành và có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quy định những vấn đề cơ bản nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, xã hội; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước…

Ở đây có thể thấy, khi điều kiện lịch sử cụ thể, đất nước bước sang giai đoạn, xã hội có bước pháp triển mới, có nội dung, điều luật quy định không phù hợp với thực tiễn thì việc sửa đổi để đảm bảo đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới là hết sức cần thiết, hệ trọng thể hiện ý chí, nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân.

Về thực tiễn, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 là dựa trên kết quả rà soát, đánh giá thực tiễn việc thi hành quy định cụ thể của Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật có liên quan, nhất là các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước, chính quyền địa phương. Trước yêu cầu đưa đất nước vào kỷ nguyên mới, phát triển đất nước nhanh và bền vững, Hiến pháp hiện hành cần được điều chỉnh để tạo động lực mạnh mẽ hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới.

Trong đó, thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy, sắp xếp các đơn vị hành chính, tinh giản biên chế đòi hỏi phải có sự điều chỉnh ở cấp độ hiến pháp để đảm bảo tính pháp lý cao nhất. Sau hơn 10 năm thi hành, Hiến pháp năm 2013 đã bộc lộ một số vấn đề cần được sửa đổi, bổ sung, khắc phục những bất cập trong thực tiễn để phù hợp hơn. Đảm bảo đồng bộ, sửa đổi Hiến pháp là cơ sở chính trị, pháp lý để sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật. Sửa đổi một số điều của hiến pháp để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, tạo điều kiện thuận lợi hơn đối với nước ta trong quá trình hội nhập.

Việc sửa đổi Hiến pháp năm 2013 là một nhiệm vụ quan trọng cần thiết và chiến lược nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, hoàn thiện hệ thống chính trị và pháp luật, đồng thời thể hiện ý chí và nguyện vọng của Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới. Với quá trình triển khai khẩn trương, khoa học, dân chủ, minh bạch như hiện nay, việc hoàn thiện sửa đổi Hiến pháp năm 2013 đảm bảo về mặt tiến độ theo yêu cầu của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ sắp xếp, tinh gọn bộ máy đang diễn ra quyết liệt, mạnh mẽ.

Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc hệ trọng, được tiến hành thận trọng, khách quan, dân chủ, khoa học, hiệu quả; có cơ chế bảo đảm sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và lấy ý kiến nhân dân, qua đó huy động trí tuệ, tâm huyết và tạo sự đồng thuận, thống nhất cao của toàn dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 và hiện thực hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước cũng như thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, trước luận điệu mà các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá như trên, cần cảnh giác, nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2025

GIÁ CỦA HÒA BÌNH

 Em có biết hòa bình giá bao nhiêu?

Là đánh đổi vô vàn giọt nước mắt
Máu cha ông nhuộm đỏ từng tấc đất
Tiễn chồng con tóc mẹ bạc trắng đầu
Em có biết hòa bình có từ đâu
Đếm sao hết biết bao nhiêu thế hệ
Họ mãi mãi nằm vào lòng đất mẹ
Tuổi xuân xanh gửi lại ở chiến trường
Để hòa bình nhận lấy lắm đau thương
Khắp đất nước ngàn nghĩa trang còn đó
Hãy lắng nghe tiếng non sông than thở
Như lời ru yên giấc ngủ ngàn đời
Đất nước mình đây đó khắp nơi nơi
Em sẽ gặp vết chân tròn trên cát
Gió lặng rồi tay áo còn lất phất
Vì hòa bình họ không tiếc máu xương
Cho hôm nay một dãy núi liền sông
Những vết thương lùi xa vào quá khứ
Nhưng một điều em ơi xin hãy nhớ
Uống nước rồi,nhớ nguồn cội cha ông
Biết ghi ơn bao thế hệ anh hùng
Họ ngã xuống cho yên bình đất nước
Hãy trân trọng công lao người đi trước
Hòa bình này vô giá em biết không!

TRUYỆN TRANH HÀN QUỐC XUYÊN TẠC VỀ CUỘC ĐỜI BÁC HỒ

Ở Hàn Quốc vừa xuất hiện cuốn truyện tranh có tên gọi “Chiến tranh Việt Nam và Hồ Chí Minh”, trong đó có nội dung xuyên tạc lịch sử Việt Nam, xuyên tạc cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cụ thể, cuốn truyện tranh này xuyên tạc rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng kết hôn với một người Trung Quốc và có con gái.

Đây là một sự xuyên tạc không thể nào tha thứ, chấp nhận được, bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dâng hiến trọn vẹn cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho dân tộc Việt Nam. Cuộc đời của Người gắn với những hy sinh thầm lặng và những năm tháng bôn ba ở nước ngoài đi tìm được cứu nước, không hôn nhân, không gia đình riêng.
Lịch sử là dòng chảy thiêng liêng và cần được tôn trọng. Việc xuyên tạc lịch sử dưới cái mác “tác phẩm văn học” nhưng lại mượn lịch sử để bóp méo, xuyên tạc có thể tạo nên những hiểu nhầm rất nguy hiểm đối với những người thiếu hiểu biết, đặc biệt là giới trẻ và bạn bè trên thế giới. Đồng thời, các thế lực xấu, các đối tượng chống đối cũng lợi dụng vấn đề trên để xuyên tạc, bóp méo lịch sử của dân tộc.
Thật lạ lùng khi thế hệ giới trẻ ở Hàn Quốc còn tự hào vì những chiến công của cha ông họ trong các cu_ộc ch_iế_n tr_an_h trong khi thế hệ trẻ đâu biết chính các thế hệ đi trước của họ đã nhẫn tâm, d_ã m_an tà_n sá_t những người mẹ, người vợ, những đứa trẻ con, những người không có sức chống trả... Mà đến nay các vụ kiện đòi lại công bằng cho người dân Việt Nam vẫn diễn ra là bằng chứng không thể chối cãi.
Vì vậy, chúng ta không thể im lặng khi sự thật bị làm cho méo mó, dù điều đó xảy ra ở bất cứ đâu. Mong rằng những cơ quan có thẩm quyền, cộng đồng người Việt Nam tại Hàn và tất cả Nhân dân hãy cùng nhau lên tiếng phản đối mạnh mẽ vấn đề này. Không phải để làm ồn ào, mà là để bảo vệ danh dự của một con người, và rộng hơn, là bảo vệ hình ảnh một dân tộc đã đánh đổi máu xương để có được sự thật lịch sử như hôm nay.

ĐỪNG VÌ TIỀN MÀ LÀM MẤT MẶT QUÊ HƯƠNG

Những bạn trẻ đã tham gia b.iểu tì.nh ch.ống phá đất nước, xuyên tạc lịch sử, x.úc phạm các lãnh đạo Việt Nam tại Đại sứ quán Việt Nam tại Anh mấy ngày trước.

Đa số là những bạn trẻ, là du học sinh với mong muốn ở lại nước bạn làm việc nhưng bất tài vô dụng. Thậm chí trong số này còn có những người vượt biên trái phép, x.é hộ chiếu Việt Nam để trốn ở lại làm việc phi pháp. Và cũng có một nhóm người đi làm việc nhưng hết hạn hợp đồng và giấy tờ.
Nếu như ở Úc, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, hầu hết đám ch.ống phá đều rất già, lứa hậu duệ gần như chẳng có động thái gì c.ực đ.oan. Thì ở Anh lại khác, nhóm này rất trẻ, c.ực đoạn, chúng vẫn coi chiêu bài “đấu tranh dân chủ” như một thủ đoạn tị nạn để ở lại bên đó.
Nhưng các bạn hãy nhớ, tự do ngôn luận không phải là cái cớ để v.u cáo Tổ quốc mình. Nhân quyền không phải là chi.êu bài để xin tị nạn bất hợp pháp. Và “dân chủ” không đồng nghĩa với “c.ắn vào tay người đã nuôi mình trưởng thành”. Nếu không có Tổ quốc, sẽ không có “du học sinh” và càng không có cái gọi là “quyền đứng ở xứ người để nói x.ấu quê hương”.
Mong rằng những ai còn đang mơ hồ giữa hai chữ “tự do” và “vô ơn” sẽ sớm tỉnh lại.

QUAY LƯNG VỚI QUÊ HƯƠNG CHỈ VÌ MIẾNG ĂN

 Nay thấy tay luật sư zân chủ Võ An Đôn đăng bài lên trang cá nhân ca ngợi “bơ sữa” bên Mỹ ngon và bổ, khiến người to, cao và trắng lên không thua kém gì người dân bản địa. Đồng thời, Võ An Đôn còn chê bai, cà khịa quê hương như sau “Qua đấy mới thấy người Việt Nam trong nước thua thiệt rất nhiều”.

Không hiểu 7 tháng sang bển Võ An Đôn có dùng mạng internet không mà chả cập nhật gì tình hình trong nước gì cả. Tôi thấy ở Việt Nam chả thiếu thứ gì cả, ngay cả những đồ ăn hay thức uống đắt đỏ ở nước ngoài thì Việt Nam cũng chẳng phải khan hiếm. Còn bơ sữa của Mỹ thì vào siêu thị tha hồ mà chọn lựa, chỉ sợ không có sức ăn và không có tiền thôi.
Mà kể cũng lạ, mấy tay đối tượng zận chủ tìm mọi cách để sang “xứ thiên đường” kể cả việc quay lưng lại với Tổ quốc, ph/ản b/ội lại Nhân dân nhưng sang đó chỉ thấy khoe được ăn bơ, ăn gà tây, được uống sữa... mà chả thấy khoe khung cảnh sống xa hoa, hưởng thụ gì cả.
Thật đáng thương khi đi nửa vòng Trái Đất chỉ vì miếng ăn; cứ tưởng rằng mình trắng ra là đẹp nhưng người dân ở châu Âu lại thích làn da rám nắng của người dân nhiệt đới. Nghĩ mà nhục thay Võ An Đôn.
Võ An Đôn hãy nhìn những tấm gương đã sang “xứ thiên đường” của làng zân chủ để cảm nhận rõ hơn về cuộc sống xứ người như nào, điển hình như tấm gương của Bạch Hồng Quyền. Bạch Hồng Quyền sang Canada phải làm sấp mặt, áp lực, đủ thứ phải lo lắng và cũng chẳng có tiền như “người ta nói”. Bạch Hồng Quyền còn ước được đi tò ở Việt Nam còn hơn vất vả, lang thang nơi xứ người.
Đôn mới mới “nếm tí đồ biển mà đã chê cá ao nhà” là hỏng rồi. Chẳng đâu bằng quê hương mình, cứ chờ xem mấy năm nữa ra sao nhé. Bài học Bạch Hồng Quyền còn nguyên đó.