Thứ Ba, 1 tháng 7, 2025

Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ nhằm phát huy vai trò của các chủ thể trong khối liên minh

 


Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối, là tiền đề quan trọng để thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô sẽ tạo điều kiện để phát huy vai trò, thế mạnh của các thành phần kinh tế, của các vùng, miền, góp phần làm cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, bền vững. Rõ ràng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân, qua đó góp phần củng cố và tăng cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Nghị quyết Ðại hội lần thứ XIII của Ðảng xác định, cần phải: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”1.

Đẩy mạnh nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng các thành tựu của khoa học- công nghệ hiện đại, những thành tựu mới của cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong tất cả các ngành, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ. Bởi vì, khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Do đó, phải đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ. Tích cực ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới vào sản xuất công nghiệp, nông nghiệp làm cho năng suất lao động ngày càng tăng, sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và hướng mạnh sang xuất khẩu… làm cơ sở vững chắc cho sự phát triển của nền kinh tế thống nhất.



1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 337.

Xây dựng và thực hiện có hiệu quả hệ thống các chính sách đối với các chủ thể trong khối liên minh


Đối với giai cấp công nhân, quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng phát triển cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động; bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc, nhà ở, các công trình phúc lợi phục vụ công nhân; sửa đổi bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,… để bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân. 

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân”1.

Đối với giai cấp nông dân, xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân; tạo điều kiện hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ để giai cấp nông dân thực sự là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông thôn. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn”1.

Đối với đội ngũ trí thức, “Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học”2. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo; trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ, tôn vinh xứng đáng những cống hiến của trí thức; gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với trí thức và ngược lại.



1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 167. 

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hình thức liên kết, hợp tác đặc biệt giữa ba lực lượng cơ bản trong xã hội nhằm đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là sự liên kết, hợp tác đặc biệt giữa ba lực lượng căn bản trong xã hội. Đây là liên minh tự nguyện của các giai cấp và tầng lớp cơ bản nhất trong xã hội, giữ vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển.

Đây là liên minh toàn diện, tự nguyện, lâu dài và bền vững, vì nội dung liên minh thể hiện cả về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quân sự, quốc phòng - an ninh. Sự liên minh toàn diện ấy có cơ sở từ mục đích của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn đấu tranh lật đổ sự thống trị của thực dân, phong kiến để giành chính quyền, liên minh về chính trị - quân sự có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, quyết định đến sự thắng lợi của cách mạng. Trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, liên minh về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp cách mạng phát triển vững chắc.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là cơ sở để củng cố tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội. Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp cách mạng lâu dài, gian khổ, phức tạp, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam mới giành được thắng lợi.

Trong giai đoạn hiện nay khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ở Việt Nam chính là cơ sở tạo ra động lực cơ bản thực hiện thắng lợi mục tiêu sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Từ sự thống nhất về lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa trong liên minh giai cấp.

 


Lợi ích chính là cơ sở khách quan cho sự hình thành, phát triển của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là động lực thúc đẩy giai cấp công nhân, giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức liên minh với nhau.

Về lợi ích trước mắt, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, ngoài giai cấp công nhân bị bóc lột hết sức nặng nề, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cũng bị giai cấp tư sản bóc lột thậm tệ. Trong xã hội ấy, công nhân, nông dân và trí thức chỉ là thân phận nô lệ, hoàn toàn không có tự do và dân chủ, vì vậy lợi ích trước mắt của họ là được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản để trở thành người tự do thực sự. Điều này phản ánh ý chí, nguyện vọng của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cuộc đấu tranh để giải phóng cho mình.

Lợi ích lâu dài của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là họ được cùng nhau xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Ở đó họ được làm chủ trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, cùng được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn tồn tại giai cấp và đấu tranh giai cấp. Các giai cấp, tầng lớp có lợi ích căn bản thống nhất với nhau, song cũng còn lợi ích riêng của mỗi giai tầng. Để để đạt được lợi ích lâu dài và bảo đảm sự thống nhất về lợi ích của mỗi giai cấp, tầng lớp, đòi hỏi phải không ngừng củng cố và phát triển liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Như vậy, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đều thống nhất với nhau. Bảo đảm tốt lợi ích trước mắt là tiền đề, điều kiện để thực hiện lợi ích lâu dài của cả khối liên minh. Để thực hiện được vấn đề đó, điều có ý nghĩa quyết định là phải đặt khối liên minh này dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong là Đảng cộng sản.  

Thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thế giới từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đến nay đã chứng minh rằng ở đâu và lúc nào, giai cấp công nhân liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác, thì cách mạng giành thắng lợi. Nếu không liên minh được với các lực lượng trên thì cách mạng sẽ gặp khó khăn thậm chí thất bại. Bài học từ Công xã Pari bị thất bại do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cơ bản là giai cấp công nhân Pháp không thực hiện được liên minh với giai cấp nông dân, người bạn đồng minh tự nhiên của mình. Vì vậy, đã không tập hợp được lực lượng cách mạng đông đảo và không tạo ra được sức mạnh để tiêu diệt kẻ thù, cách mạng đã bị dìm trong tuần lễ đẫm máu của giai cấp tư sản Pháp. Cách mạng Tháng Mười năm 1917 thành công là do Đảng Bônsêvích Nga đứng đầu là V.I.Lênin đã vận dụng nguyên lý về liên minh giai cấp của chủ nghĩa Mác vào điều kiện cách mạng nước Nga để tập hợp đông đảo giai cấp công nhân, các lực lượng quần chúng cách mạng khác nhất là những người nông dân mặc áo lính dưới chế độ Nga Hoàng nên đã tạo ra sức mạnh tổng hợp đưa các mạng đến thắng lợi. Chính nhờ dựa vào khối liên minh vững chắc này mà Đảng Bônsêvích đã lãnh đạo đưa Liên Xô trở thành cường quốc về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, trở thành một thành chì của chủ nghĩa xã hội thế giới.

Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô đầu những năm 90 của thế kỷ XX do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân là đã không chú trọng duy trì xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động trong đó đặc biệt là trí thức.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đã được xây dựng và đóng vai trò quyết định thắng lợi của cách mạng. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đặc biệt là thắng lợi của công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua, đã chứng minh cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nòng cốt.

 

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2025

Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa là hình thức hợp tác đặc biệt giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cuộc đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa khác về bản chất so với các liên minh giai cấp từng có trong lịch sử. Nếu như các hình thức liên minh khác là nhất thời, vụ lợi, không dựa trên sự thống nhất về lợi ích. Trái lại, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là hình thức liên minh tự nguyện. Bởi vì, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, họ đều bị bóc lột nặng nề và cùng có chung kẻ thù là giai cấp tư sản; họ đều có chung khát vọng được giải phóng để trở thành người làm chủ xã hội và được cống hiến, phát huy trí tuệ nhằm xây dựng một chế độ mới tự do, bình đẳng, không có áp bức, bóc lột. Điều đó đã thôi thúc và gắn kết họ với nhau, tự nguyện đứng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột và xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là liên minh có nội dung toàn diện, mang tính lâu dài, bền vững dựa trên sự thống nhất về lợi ích căn bản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng có nội dung toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, trong cuộc đấu tranh ấy, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng sát cánh bên nhau chiến đấu để giành thắng lợi cuối cùng. Mặt khác, do được xây dựng trên cơ sở sự thống nhất về lợi ích căn bản, nên liên minh của họ có nội dung toàn diện, mang tính tự giác, lâu dài, bền vững trong suốt tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, từ giai đoạn giành chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản đến giai đoạn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Quản lý sự phát triển về xã hội của tập thể quân nhân

 


Mục đích quản lý sự phát triển về xã hội của tập thể quân nhân là tạo ra những tập thể lao động quân sự thống nhất về ý chí và hành động, có quan hệ xã hội, đạo đức lành mạnh, có tính tổ chức kỷ luật, hiệp đồng lập công tập thể.

Nhiệm vụ quản lý sự phát triển về xã hội của tập thể quân nhân là sắp xếp, bố trí công việc từng người quân nhân phải đạt được các yêu cầu: một là, hiệu quả tối ưu; hai là, tạo điều kiện cho cá nhân phát triển toàn diện, đúng khả năng, sở trường của từng người theo phương châm “dụng nhân như dụng mộc”, “vì việc xếp người, chứ không phải vì người xếp việc”. Tổ chức và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong tập thể quân nhân và giữa các tập thể quân nhân theo hướng đoàn kết, thống nhất, tương trợ lẫn nhau, dân chủ, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, giải quyết hài hòa các lợi ích. Trong tập thể quân nhân có quan hệ chính thức và quan hệ không chính thức, đòi hỏi phải phát hiện kịp thời, giải quyết dứt điểm các quan hệ tiêu cực, thiếu lành mạnh. Xây dựng môi trường văn hóa chính trị - xã hội, xây dựng bầu không khí tâm lý lành mạnh trong tập thể quân nhân, tạo ra trạng thái tâm lý thoải mái, tin tưởng, đòi hỏi lẫn nhau, dân chủ, cởi mở, tự do tư tưởng trên tinh thần đoàn kết, nhân ái và xây dựng.

Yêu cầu quản lý sự phát triển về xã hội của tập thể quân nhân cần tạo được lòng tin giữa các thế hệ, các lứa tuổi, đồng chí, đồng đội với nhau. Mọi quân nhân được thông tin đầy đủ, chính xác, định hướng tư tưởng kịp thời, đúng hướng, hướng dẫn dư luận. Bảo đảm quyền lợi, chế độ công khai, công bằng theo tinh thần “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”[1], phê phán chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, cục bộ địa phương trong công tác sắp xếp, bố trí, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 224.

Nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý xã hội

 


Quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân và toàn xã hội. Sự tham gia của nhân dân vào quyền lực chính trị là một đặc trưng của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân trong quản lý nhà nước, đồng thời, xác định rõ những nhiệm vụ mà nhà nước thực hiện trong việc bảo đảm những điều kiện cơ bản để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Do vậy, việc mở rộng và thu hút nhân dân tích cực tham gia vào quản lý xã hội, qua đó, tăng cường sự kiểm soát của xã hội đối với những cơ quan quản lý của nhà nước là con đường đáng tin cậy nhất nhằm khắc phục bệnh quan liêu - một biểu hiện của sự xa cách giữa khách thể và chủ thể quản lý: “Cần xây dựng ngay chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước, không có “sự giám sát” từ trên, không có quan lại”[1].

Nội dung nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý xã hội thông qua hình thức tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện ở việc trực tiếp làm việc trong các cơ quan của bộ máy nhà nước; thảo luận các vấn đề chung của đất nước và địa phương; giám sát hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước; trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân trong quản lý nhà nước. Ngoài ra, nhân dân có thể tham gia gián tiếp vào hoạt động của các cơ quan nhà nước thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng, thay mặt nhân dân vào cơ quan quyền lực nhà nước. Đây là hình thức tham gia rộng rãi nhất của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước về xã hội.

Nhân dân tham gia vào quản lý xã hội thể hiện chủ yếu thông qua các tổ chức xã hội, biểu hiện ở việc nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia tích cực vào hoạt động của các tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội là công cụ đắc lực của nhân dân trong việc thực hiện quyền tham gia vào quản lý xã hội. Thông qua các hoạt động của các tổ chức xã hội, vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân trong quản lý xã hội được phát huy. Đây là một hình thức hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm dân chủ và mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý xã hội còn được thể hiện ở việc tham gia trực tiếp vào hoạt động tự quản ở cơ sở. Đây là hoạt động mang tính chất tự quản cao, do chính nhân dân tự thực hiện ở nơi cư trú, làm việc, sinh hoạt như hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường,... Thông qua những hoạt động mang tính chất tự quản cao, người dân là những chủ thể tham gia quản lý xã hội tích cực nhất, và quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội được nhà nước tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Các hình thức nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội tạo điều kiện phát huy sức lực, trí tuệ của nhân dân trong quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa.

 



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 31, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 337.

Không ngừng nâng cao quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa


Quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là tổng thể những hoạt động có mục đích của nhà nước xã hội chủ nghĩa, các cộng đồng, tổ chức xã hội và nhân dân dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản tác động đến toàn bộ hệ thống xã hội hoặc đến từng lĩnh vực, từng khâu của hệ thống đó nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, duy trì và phát triển xã hội theo mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Quản lý xã hội là vấn đề có tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ chính trị trung tâm, chủ yếu của đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa sau khi giành được chính quyền và trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực chất của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là những hoạt động tác động có ý thức, có mục đích của đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đến toàn bộ các quá trình xã hội, bảo đảm cho hệ thống xã hội hoạt động tối ưu, phát triển theo đúng quy luật khách quan và những tiêu chí phát triển đã xác định trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Mục đích quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực trong nước và ngoài nước phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ chủ yếu của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là làm cho hoạt động của nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các quan hệ giữa con người với con người trong xã hội,... phù hợp yêu cầu quy luật khách quan; sử dụng những điều kiện khách quan để điều chỉnh xã hội, kiểm soát xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển nhằm đạt hiệu quả tối ưu. Trong đó, thống kê và kiểm soát xã hội là nhiệm vụ cơ bản, mấu chốt nhất của nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin đã khẳng định: thống kê và kiểm soát xã hội, nó làm cho “hết thảy mọi công dân đều biến thành người làm công của nhà nước do công nhân vũ trang cấu thành. Hết thảy mọi công dân đều trở thành nhân viên và công nhân của một “Xanh-đi-ca” nhà nước duy nhất của toàn dân. Tất cả vấn đề là làm cho họ cùng có những cống hiến ngang nhau, giữ đúng mức độ lao động và lĩnh tiền ngang nhau”[1].

Chủ thể quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là hệ thống chính trị, trọng tâm là nhà nước và nhân dân dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Đảng cộng sản lãnh đạo, quản lý xã hội bằng đường lối, chính sách, thông qua nhà nước và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa do mình sáng lập. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là cơ quan quyền lực chính trị, có vai trò là chủ thể quan trọng nhất thực hiện quản lý nhà nước về mặt xã hội; thông qua những quy định, luật lệ làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội, nhằm duy trì, quản lý, xây dựng xã hội mới. Các tổ chức chính trị - xã hội với tư cách là những tổ chức do nhân dân lập nên và là một trong những bộ phận cấu thành hệ thống chính trị, có vai trò tổ chức và huy động mọi nguồn lực của nhân dân thực hiện chức năng quản lý xã hội theo quy định của pháp luật.

Đối tượng quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là con người, các hoạt động và các quan hệ của cộng đồng người trong xã hội trên tất cả các lĩnh vực, các quá trình xã hội cùng các nguồn tài nguyên khác của đất nước. Cơ chế quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ, bảo đảm mọi quyền lực xã hội thuộc về nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Phạm vi quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tư tưởng và các quan hệ giữa con người với con người trong xã hội. Loại hình quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa bao gồm quản lý nhà nước, quản lý hành chính công, quản lý kinh tế, quản lý ngành,... Phương tiện quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là đường lối, chủ trương, chính sách; hiến pháp, pháp luật; các đòn bẩy tín dụng, ngân hàng, khen thưởng; dư luận xã hội; đạo đức xã hội;…



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 124. 

Mở rộng và hoàn thiện các hình thức dân chủ trong tình hình hiện nay

 


Đảng ta khẳng định: Tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ nhà nước, nhất là việc giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan và cán bộ, công chức nhà nước.

Dân chủ đại diện là hình thức nhân dân tham gia quản lý nhà nước thông qua các đại diện được bầu cử; thay mặt cho cử tri trong việc thực hiện các chức năng hoạch định chính sách, quản lý nhà nước và xã hội. Dân chủ đại diện ở Việt Nam được thực hiện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Ngoài ra, nhân dân còn làm chủ thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp của nhân dân được lập nên theo nguyên tắc tự nguyện. Để nâng cao chất lượng hình thức dân chủ đại diện cần nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của các cơ quan đại diện như Quốc hội, Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp, các tổ chức chính trị xã hội và người đại biểu. Vì vậy, không ngừng đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động, chất lượng sinh hoạt của các tổ chức đó theo hướng mở rộng dân chủ; qui chế, điều kiện thuận lợi để các đại biểu phản ảnh ý kiến nhân dân. Đồng thời, các đại biểu và tổ chức đó phải thật sự có năng lực, tâm huyết, trách nhiệm, có phẩm chất đạo đức tác phong công tác gần dân, trọng dân, hiểu dân. Điều đó có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện ý chí, quyền lực nhân dân, phát huy quyền dân chủ của nhân dân.

Dân chủ trực tiếp là hình thức mà qua đó nhân dân bằng hành vi của mình trực tiếp thực hiện quyền làm chủ nhà nước và xã hội. Những hình thức dân chủ trực tiếp phổ biến nhất gồm: nhân dân tham gia thành lập bộ máy nhà nước thông qua bầu cử và ứng cử; biểu quyết khi nhà nước trưng cầu ý kiến; tham gia quản lý nhà nước; bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; giám sát hoạt động của nhà nước, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước. Việc thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp phụ thuộc rất lớn vào trình độ dân trí, ý thức và năng lực thực thi dân chủ của người dân như phải hiểu biết đường lối, chính sách, pháp luật, các quy chế, cơ chế, các chế độ quy định, điều lệ của các tổ chức. Đồng thời đòi hỏi phải tạo ra môi trường dân chủ rộng rãi, thuận lợi, không ngừng đổi mới hoàn thiện các quy chế dân chủ nhất là ở cơ sở để người dân có thể thực hiện có hiệu quả quyền dân chủ của họ.

LẦN NÀY, THỜI ĐIỂM ĐÃ KHÁC!

     Năm 2016, tại một phiên họp Quốc hội, chỉ bằng một nút bấm, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận chính thức bị dừng lại. Không tiếng phản đối, không tranh cãi lớn, chỉ là sự im lặng kéo dài đến cuối phiên và một giấc mơ âm thầm gấp lại. Một quyết định tưởng là kỹ thuật, nhưng thực chất đã khép lại cả một chương chiến lược. Lúc đó, đất nước chọn sự thận trọng như một người đứng trước dòng sông lớn, cảm thấy mình chưa đủ bơi để vượt qua.

Nhưng thế giới không đợi. Và sông cũng không chảy ngược.

Bảy năm qua là chuỗi những biến động liên tục làm lung lay nền tảng của mọi quốc gia: ch iến tranh, khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu, và những cú sốc về giá nhiên liệu từ những nơi mà chỉ vài năm trước còn được xem là đối tác ổn định. Từ cuộc chiến Nga – Ukraine đến xung đột Israel – Iran, từ giá dầu vượt 90 USD đến khí đốt châu Âu tăng gấp bốn, cả thế giới càng thấm đẫm hơn an ninh năng lượng không còn là một thuật ngữ, mà là một năng lực quốc gia sống còn.

Trong vòng xoáy đó, các nước đã từng đóng cửa lò hạt nhân bắt đầu mở lại. Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, thậm chí cả Đức đều quay lại với hạt nhân như một lựa chọn không thể tránh khỏi. Nhưng lần này không còn là những nhà máy khổng lồ, chi phí hàng tỷ USD và xây dựng hàng thập kỷ. Thay vào đó là mô hình lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR): gọn, linh hoạt, tiết kiệm, triển khai nhanh và dễ kiểm soát. Công nghệ thay đổi, tư duy thay đổi. Và sự chấp nhận xã hội cũng thay đổi.

Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc chuyển dịch đó. Mỗi năm, nhu cầu điện tăng đều đặn 8–10%. Thủy điện đã gần hết tiềm năng. Than và khí phải nhập khẩu ngày càng nhiều, và đi kèm với nó là rủi ro về giá, nguồn cung và cả áp lực ngoại giao. Trong khi đó, áp lực giảm phát thải và trung hòa carbon đang trở thành điều kiện bắt buộc để tiếp cận thị trường toàn cầu và thu hút đầu tư chất lượng cao.

Nói một cách đơn giản, nếu muốn tăng trưởng bền vững và không bị đặt cược vào địa chính trị, Việt Nam cần một nguồn năng lượng sạch, ổn định và có thể tự chủ thứ mà chỉ điện hạt nhân có thể cung cấp ở quy mô lớn. Và một bước ngoặt lịch sử ra đời, tháng 1 năm 2025, Bộ Chính trị ban hành Kết luận 53, chính thức cho phép nghiên cứu tái khởi động điện hạt nhân tại Bình Thuận, theo mô hình SMR. Không còn là bước nhảy vọt, mà là sự trở lại có tính toán, từng bước, theo một lộ trình khả thi. Quyết định ấy không phải là sự phủ định quá khứ, mà là sự xác nhận rằng: lần này, thời điểm đã khác.

Và rồi đến tháng 6 năm 2025, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV, Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi) chính thức được thông qua. Không quá ồn ào, nhưng sự kiện này chính là phần tiếp nối của quyết định chính trị mang tính bước ngoặt. Khi định hướng chiến lược đã được xác lập từ cấp cao nhất, thì việc thiết lập khung pháp lý không chỉ là thủ tục đồng bộ hóa. Đó là hành động thể chế hóa cho một tầm nhìn dài hạn, một tuyên bố rằng Việt Nam đã sẵn sàng quay lại cuộc chơi năng lượng toàn cầu với tư thế mới.

Luật mới không dừng lại ở kỹ thuật. Lần đầu tiên, các khái niệm như “văn hóa an toàn” và “văn hóa an ninh” được đưa vào luật. Đây không chỉ là ngôn ngữ lập pháp, mà là dấu hiệu của một cách tiếp cận hiện đại: quản lý năng lượng hạt nhân không thể chỉ dựa vào máy móc và quy trình, mà phải dựa vào hệ giá trị và hành vi tổ chức. Đó cũng là cách mà Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc giám sát các chương trình hạt nhân dân sự toàn cầu và các nước OECD nhóm các nền kinh tế phát triển đã khuyến nghị suốt nhiều năm qua.

Điểm mới nữa của luật là việc dành riêng một điều về công khai thông tin, truyền thông và giám sát xã hội trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Đằng sau mỗi lò phản ứng không chỉ có kỹ sư, mà còn cần có lòng tin. Dự án hạt nhân không thể được vận hành nếu người dân không biết mình đang sống cạnh điều gì, và không được tham gia vào quá trình đánh giá rủi ro. Luật lần này chính là nỗ lực đầu tiên để đặt cộng đồng vào trung tâm của chuỗi giá trị hạt nhân.

Điều quan trọng nhất là: luật lần này không lặp lại giấc mơ cũ. Nó mở ra một chương mới. Một chương mà Việt Nam bước vào với pháp lý đầy đủ, công nghệ mới, nguồn nhân lực được đào tạo lại, và một bối cảnh mà cả thế giới đều đang cần thêm những quốc gia có khả năng sản xuất năng lượng ổn định, sạch và tự chủ./.



Môi trường ST.

Nhận diện một số âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch phản động trên lĩnh vực văn hóa

 Trong thời gian qua, các thế lực thù địch ra sức mở rộng, đẩy mạnh việc công kích, xuyên tạc gây ra sự mâu thuẫn về nhận thức của nhân dân đối với đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng văn hoá, xây dựng con người Việt Nam. Đồng thời, tăng cường truyền bá các sản phẩm văn hoá ngoại lai, phản nhân văn tiến bộ, không phù hợp với truyền thống văn hoá của dân tộc nhằm làm băng hoại đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Những thủ đoạn trên nhằm mục tiêu làm xói mòn văn hoá truyền thống của dân tộc, thâm độc hơn là chúng dùng “đòn văn hoá” để từng bước chuyển sang tiến công về lĩnh vực chính trị nhằm từng bước hình thành tư tưởng chống đối về mặt chính trị, chuyển hoá chế độ xã hội chủ nghĩa. Có thể khái quát một số phương thức, thủ đoạn hiện nay như sau:

Một là, chúng xuyên tạc, bôi đen những giá trị văn hoá truyền thống, các chuẩn mực đạo đức, lối sống tốt đẹp trong đời sống xã hội đồng thời lợi dụng những chính sách hội nhập, giao lưu văn hoá và sự quản lý thiếu chặt chẽ của các cơ quan chức năng để truyền bá, du nhập văn hoá, lối sống phương Tây vào Việt Nam. Đó là lối sống thực dụng, vô cảm, chạy theo đồng tiền, vì lợi ích cá nhân mà sẵn sàng đạp lên những giá trị đạo đức xã hội tốt đẹp; đó là bị tiêm nhiễm bởi những văn hoá phẩm đồi truỵ, trái thuần phong mỹ tục làm xói mòn bản sắc dân tộc, tác động vào tâm lý, đạo đức lối sống của người dân, nhất là thế hệ trẻ. Chúng cổ xuý cho lối sống vị kỷ, bản năng, suy đồi làm cho con người Việt Nam bị mất gốc, chạy theo lối sống tiêu cực, tệ nạn, có thể biến thành đồng loã, tay sai cho bọn phản động. Mặt khác, chúng còn chỉ đạo bọn cơ hội trong nước sản xuất những sản phẩm có nội dung tư tưởng độc hại, bôi nhọ nền văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Về lâu dài, những thủ đoạn trên gây ra tâm lý bất mãn, coi thường giá trị văn hoá dân tộc, phủ nhận những thành quả cách mạng của dân tộc. Thậm chí, những thủ đoạn trên còn tác động lớn đến một bộ phận cán bộ đảng viên, làm suy thoái về tư tưởng, đạo đức, ham quyền lực, danh lợi, tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, hách dịch. Đây là thực trạng khá phổ biến hiện nay làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, là thứ “giặc nội xâm”, là một trong bốn nguy cơ cao đe doạ sự tồn vong của Đảng, của chế độ mà Đảng ta đã xác định.
Hai là, chúng đưa ra những luận điệu nhằm chống phá cơ sở nền tảng tư tưởng văn hoá xã hội chủ nghĩa ở nước ta là Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng trắng trợn xuyên tạc lịch sử, tung ra luận điệu Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam du nhập Chủ nghĩa Mác – Lênin vào là sai lầm, là gieo tai hoạ, nỗi bất hạnh cho nhân dân Việt Nam. Những thủ đoạn trên là nhằm mục đích thực hiện ý đồ chính trị nham hiểm là hạ bệ uy tín Hồ Chí Minh và những giá trị văn hoá Hồ Chí Minh, nhằm làm thay đổi chủ trương, đường lối về xây dựng nền văn hoá mà Đảng ta đã xác định. Từ đó, tiến tới xoá bỏ vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên lĩnh vực văn hoá, coi văn hóa là tự do sáng tạo, không cần tính định hướng và xa rời chính trị; từ lĩnh vực văn hóa chuyển hóa dần sang lĩnh vực chính trị, hình thành ý thức chống đối về chính trị, chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.
Ba là, chúng tìm cách mua chuộc, lôi kéo những phần tử cơ hội, thoái hoá, biến chất trong bộ máy của hệ thống chính trị, sử dụng các phần tử này như là những công cụ đắc lực xuyên tạc và chống đối đường lối xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Chúng thổi phồng những thiếu sót, khuyết điểm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng đời sống văn hóa, con người, đồng thời phủ nhận những thành quả đạt được nhằm làm suy giảm uy tín của Đảng và Nhà nước, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa và chuẩn mực con người mới.
Bốn là, trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật cũng là một mũi dùi để các thế lực thù địch lợi dụng để phá hoại nền văn hoá của dân tộc ta. Chúng lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc một số văn nghệ sỹ, trí thức, biên tập viên làm “tay sai” để viết các tác phẩm không có lợi cho cách mạng, nói xấu, bôi nhọ các nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc. Hầu hết các tác phẩm này được in ấn, xuất bản ở nước ngoài với sự tài trợ của các nhóm, thế lực công khai chống đối Đảng, Nhà nước ta. Bằng những chiêu thức quảng bá mang tính giật gân, câu khách, những tác phẩm này đã kích thích sự tò mò, chú ý của nhiều bạn đọc, tạo những nhận thức sai lệch về cuộc chiến tranh chính nghĩa giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Không chỉ trong phạm vi văn chương mà trong các loại hình nghệ thuật khác, như âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, một số ca sĩ, nghệ sĩ cũng bị chi phối bởi cái nhìn lệch lạc, bị giật dây bởi các thế lực thù địch trong và ngoài nước, từ đó viết những ca khúc đi ngược lại giá trị chân - thiện - mỹ, trái thuần phong mỹ tục của dân tộc, thậm chí mang tư tưởng phản động. Trong bối cảnh công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển như hiện nay, trên không gian mạng xuất hiện không ít sản phẩm mang tính đồi trụy, phản động.
Phương thức, thủ đoạn dùng văn học, nghệ thuật để cổ súy cho những tư tưởng phản động, sai trái không chỉ diễn ra ở trong nước mà bằng sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông hiện đại, truyền thông đa phương tiện ở nước ngoài, các thế lực thù địch đã mở nhiều chuyên trang về văn học, nghệ thuật gieo rắc những tư tưởng, quan điểm lầm lạc, gây những hệ lụy xấu trong nhận thức của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về lịch sử, truyền thống dân tộc, về lãnh tụ của đất nước. Theo thống kê của Bộ Công an, hiện ở nước ngoài có 52 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, mạng internet, 429 báo, tạp chí, trên 40 nhà xuất bản tập trung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước ta. Hằng năm, có hơn 3.000 tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng, 28.000 thư ân xá quốc tế xâm nhập, tán phát qua con đường bưu điện quốc tế dưới dạng quà cáp, khoảng 11.000 ấn phẩm được đưa vào bằng nhiều con đường khác nhau.
Tình trạng các ấn phẩm, thông tin độc hại xâm nhập vào xã hội, gia đình ngày càng nhiều, gây hậu quả xấu đến đạo đức, lối sống, gây ảnh hưởng phức tạp đến đời sống tinh thần của nhân dân. Mục đích của chúng là làm thay đổi quan niệm, nhận thức của mọi người Việt Nam về các giá trị chân - thiện - mỹ, về quan niệm và quan điểm sáng tác, phục vụ của văn học nghệ thuật. Từ nội dung đến hình thức thể hiện, chúng lái theo quan điểm tư sản phương Tây, làm phai mờ dòng văn học nghệ thuật cách mạng, kháng chiến, xoá hình tượng người chiến sĩ cách mạng, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; tạo dựng lớp người cực đoan theo quan điểm “phi giai cấp”, đứng ngoài chính trị, xa lạ với chính trị của Đảng, của dân tộc.

Nhận diện những âm mưu, thủ đoạn, các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

 Hiện nay, đất nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước có nhiều thời cơ, thuận lợi mới, song cũng đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội vẫn ráo riết không từ bỏ ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; lợi dụng sự phát triển của internet và các trang mạng xã hội để có những hoạt động tinh vi, xảo quyệt hơn nhằm xóa bỏ con đường đi lên CNXH ở nước ta. Vì vậy, để tăng cường, nâng cao hiệu quả của công tác này, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và cả hệ thống chính trị cần nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động; xác định đâu sẽ là vấn đề cơ bản và cấp bách cần giải quyết hiện nay.

Một là, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ rêu rao, Việt Nam muốn giàu có, thịnh vượng thì phải dũng cảm từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ con đường XHCN. Trong tư duy, nhận thức của các thế lực thù địch, phản động thì CNXH là nghèo nàn, lạc hậu; còn tư bản là văn minh, giàu có. Thực tiễn đã chứng minh rằng, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện Việt Nam chính là thực hiện chủ trương xóa áp bức, bóc lột, lạc hậu, bất công, nghèo khổ để đưa đất nước trở nên giàu có, thịnh vượng.

Sau hơn 35 năm đổi mới, với sự nỗ lực của các thành phần kinh tế, sự đồng sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Công tác xoá đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật được Liên Hợp Quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”[2].     

Hai là, các thế lực thù địch, phản động tập trung phê phán, đả kích, chống phá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; mưu toan đầu độc tinh thần của các thế hệ trẻ để cuối cùng lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Thủ đoạn của chúng là lợi dụng vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Nhà nước ta, trước thềm Đại hội XIII của Đảng tấn công, đưa ra các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng internet, mạng xã hội đăng tin, bài, video ở nước ngoài để tuyên truyền, bôi nhọ, thổi phồng những biểu hiện cá biệt, những khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cá nhân cán bộ đảng viên thành bản chất của Đảng cầm quyền. Chúng gieo rắc ngờ vực, nghi kỵ, gây chia rẽ, lục đục nội bộ, hòng gây bất ổn chính trị - xã hội, làm mất lòng tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ.  

Ba là, các thế lực thù địch, phản động rêu rao quan điểm kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là đường đi không có đích đến. Kinh tế thị trường là thực hiện cơ chế tự điều tiết, mà không cần ai chủ đạo. Đây là những quan điểm hoặc là phủ nhận sạch trơn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc thừa nhận đúng một phần, đúng trong quá khứ, không đúng trong hiện tại. Họ phủ nhận kinh tế thị trường định hướng XHCN, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Ở Việt Nam, mục tiêu hàng đầu trong hệ thống mục tiêu xây dựng xã hội XHCN được xác định là “dân giàu”, “nước mạnh”. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới (1986), Đảng, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn và hệ thống pháp luật phù hợp để từng bước thực hiện “dân giàu”, “nước mạnh”. Đó chính là phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp, quan tâm bảo vệ lợi ích của người lao động, coi trọng xói đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển kinh tế của đất nước.

Bốn là, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước rêu rao quan điểm phê phán chế độ sở hữu đất đai toàn dân ở Việt Nam hiện nay, nhằm mục đích thu hẹp dần và tiến tới loại bỏ vai trò của Nhà nước Việt Nam trong quản lý đất đai. Họ xuyên tạc cho rằng, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai thì đó là “mù mờ về pháp lý”, không tìm thấy các chủ thể trong các quan hệ pháp lý về đất đai. Khi có những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn về đất đai xảy ra thì nhà nước thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết đúng đắn, công bằng. Điều đó có nghĩa là phải chuyển từ sở hữu toàn dân sang đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì mới giải quyết được tình trạng này. Trên thực tế ở các nước trên thế giới, khi thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì những tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột vẫn xảy ra khá phổ biến vì nhiều lý do mà một trong số đó là bởi nhà nước vẫn có quyền thu hồi, trưng dụng đất tư trong những trường hợp cần thiết. Như vậy, với việc sở hữu toàn dân không phải là căn nguyên của tình trạng tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột hay những điểm nóng về đất đai ở nước ta hiện nay.

Năm là, các thế lực thù địch, phản động phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Họ lập luận rằng, thời đại ngày nay là toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các quốc gia, dân tộc có mối quan hệ đan xen, phụ thuộc lẫn nhau, nên Việt Nam duy trì chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ là “bảo thủ”, “tự mình cô lập mình”, là “tự tách ra khỏi dòng chảy của thế giới bên ngoài”. Chính sách đối ngoại đó đã thực sự “lỗi thời, lạc hậu” đang trở thành lực cản đối với sự phát triển đất nước. Hơn nữa, thể chế chính trị của Việt Nam là khác biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế; với một Đảng duy nhất cầm quyền càng không thể hội nhập quốc tế. Từ đó, họ kêu gọi Việt Nam cần phải thực hiện đa đảng cho phù hợp với xu thế hội nhập.

Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề chủ quyền, biển đảo để thông tin thất thiệt, xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam và quan hệ hợp tác Việt Nam với các đối tác quan trọng trong khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương. Chúng đưa ra một số luận điệu vu cáo lãnh đạo Việt Nam thỏa hiệp nhượng bộ vô nguyên tắc, bán đất, bán biển cho nước ngoài; kích động, lôi kéo đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép đối với Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền. Đặc biệt, cổ súy lôi kéo Việt Nam liên minh với nước lớn này để chống nước lớn kia.

Từ rất sớm, tư tưởng độc lập, tự chủ đã trở thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, là nguyên tắc cốt lõi của đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam cho đến hiện nay. Độc lập có nghĩa là chúng ta tự “giải quyết mọi công việc” của mình, “không để bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ” của đất nước ta. Độc lập, tự chủ phải dựa trên cơ sở nội lực, thực lực của đất nước, đồng thời cũng dựa vào hợp tác và hội nhập quốc tế.

Tỉnh táo nhận diện và kiên quyết vạch trần những quan điểm sai trái thù địch trên linh vực tư tưởng chống phá Đại hội XIV của Đảng

 

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, nhân loại cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức cần phải hợp tác giải quyết.

Trong nước, kinh tế có nhiều khởi sắc song còn khó khăn về nhiều mặt, chưa thể kịp thời tháo gỡ. Hạn chế, yếu kém cũ chưa được khắc phục triệt để. Khó khăn mới nảy sinh; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhóm lợi ích, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” vẫn còn diễn biến rất phức tạp, ngày càng tinh vi, khó nhận diện hơn; nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đứng trước nhiều thách thức mới… Các thế lực phản động, cơ hội chính trị đã lợi dụng những khó khăn, yếu kém còn tồn tại để đẩy mạnh thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta trên tất cả các lĩnh vực, nhất là thời điểm từ nay cho đến đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. 

Trong lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng tập trung vào xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những nguyên lý, lý luận nền tảng, như: Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, thời đại ngày nay và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, đấu tranh giai cấp, dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...

Lật sử, bôi xấu lãnh tụ, xuyên tạc thân thế, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; xuyên tạc, vu cáo lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và các lực lượng vũ trang. Tạo dựng, bịa đặt, xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, nhất là lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ biên giới, chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Việt Nam. Xuyên tạc, bóp méo chủ trương,  của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục đích phủ nhận hoàn toàn nền tảng tư tưởng và cương lĩnh, đường lối, vai trò lãnh đạo của Đảng, luật pháp và vai trò quản lý của Nhà nước Việt Nam, phủ nhận, hướng lái, làm chệch hướng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, môi trường; các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại lớn mà Đảng, Nhà nước, Quốc hội, dư luận xã hội và nhân dân đang quan tâm nghiên cứu, tháo gỡ và giải quyết để xuyên tạc tình hình, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, gây mâu thuẫn, bất hòa, xung đột, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Tuyên truyền, hướng lái, thẩm thấu các tư tưởng dân chủ tư sản, nhất là tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, pháp quyền tư sản, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa; truyền bá, áp đặt các giá trị “dân sinh”, “dân chủ”, “dân quyền”, “nhân quyền” tư sản; kích  động chủ nghĩa dân túy, xã hội dân sự, phong trào “bất tuân dân sự” ở Việt Nam.

Xuyên tạc tình hình đấu tranh bảo vệ nền độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển đảo của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang; phủ nhận đấu tranh bằng phương pháp hòa bình... 

Xuyên tạc, phủ nhận vai trò, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội và Công an; vai trò quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh. Bôi nhọ truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội; chuyển hóa, lôi kéo cán bộ, chiến sĩ và Quân đội từ bỏ nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, kích động “Quân đội chỉ phục tùng Hiến pháp, pháp luật, không phục tùng sự lãnh đạo của Đảng”. 

Đặc biệt, chúng sẽ tập trung chống phá công tác chuẩn bị và tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng như xuyên tạc các quan điểm, mục tiêu, chủ trương, định hướng lớn nêu tại dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng và Đại hội Đảng các cấp; xuyên tạc quan điểm, phương hướng và tình hình thực hiện chủ trương về công tác nhân sự. Tập trung tung tin sai sự thật, bôi nhọ, xuyên tạc phẩm chất, đạo đức, năng lực của các nhân sự bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ.

Trong công tác thông tin, tuyên truyền, chúng lợi dụng các sơ hở trong phát ngôn, báo chí, truyền thông của cá nhân, tổ chức trong nước… hòng phủ nhận, xuyên tạc, phát tán, thẩm thấu các tư tưởng, quan điểm sai trái, gây bất an, phân tâm về tư tưởng, gieo rắc sự hoài nghi, giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng thêm sự bất mãn và tinh thần chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Sử dụng các hình thức, thể loại văn học, bài chính luận, nghị luận, bình luận, phóng sự kết hợp với các loại công bố, tuyên bố, tuyên ngôn, thư ngỏ, thư kiến nghị, thơ văn, cắt xén hình ảnh, sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), video clip, nhạc chế; lấy Internet làm nền tảng, sử dụng các blog, website, dịch vụ điện tử (e-mail), các trang mạng xã hội Facebook, Zalo, các dịch vụ chat, nhắn tin, hội thoại, truyền thoại (VoIP), Twitter, Youtube, MySpace... để đăng tải, phát tán thông tin xấu độc, phản động. Chúng mở các chuyên trang, chuyên mục của tổ chức, cá nhân lập diễn đàn (forum) lôi kéo, tập hợp lực lượng; lấy các báo đài phát thanh, truyền hình ở nước ngoài làm phương tiện tiến công nhằm tạo ra các các luồng tư tưởng tiêu cực trên không gian mạng và trong xã hội, kích động các hành động biểu tình, gây rối, chống đối Đảng, Nhà nước, “bất tuân dân sự” , gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. 


TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH “LỄ CÔNG BỐ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 2 CẤP LÀ SỰ KIỆN LỊCH SỬ - NGÀY HỘI CỦA NON SÔNG”!

     Sáng 30-6, trong không khí cả nước đồng loạt tổ chức Lễ công bố các nghị quyết, quyết định về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Lễ công bố Nghị quyết, Quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã; kết thúc hoạt động đơn vị hành chính cấp huyện, thành lập tổ chức đảng, chỉ định cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố, xã, phường, đặc khu TP Hải Phòng.

Sự kiện được TP Hải Phòng tổ chức trực tiếp tại Trung tâm Hội nghị thành phố; trực tuyến với điểm cầu 114 xã, phường, đặc khu của thành phố.

Dự lễ công bố có lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; lãnh đạo, nguyên lãnh đạo TP Hải Phòng và tỉnh Hải Dương.
 
Tại buổi lễ, các đại biểu nghe công bố Nghị quyết của Quốc hội và các Nghị quyết, Quyết định của Trung ương, Thủ tướng Chính phủ về tổ chức bộ máy, nhân sự của TP Hải Phòng (mới); chứng kiến trao các quyết định và ra mắt Đảng bộ TP Hải Phòng (mới); công bố và trao các Nghị quyết, Quyết định của thành phố đối với sáp nhập xã, phường, đặc khu; cùng với đó nghe công bố và trao quyết định của Thủ tướng Chính phủ về công nhận TP Hải Phòng hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2024.

Trước khi sắp xếp đơn vị hành chính địa phương, TP Hải Phòng có 15 đơn vị hành chính cấp huyện và 167 đơn vị hành chính cấp xã; tỉnh Hải Dương có 12 đơn vị hành chính cấp huyện và 207 đơn vị hành chính cấp xã.

Thực hiện các nghị quyết, quyết định của Trung ương, Quốc hội, TP Hải Phòng và tỉnh Hải Dương hợp nhất thành TP Hải Phòng và có 114 đơn vị hành chính cấp xã, không còn đơn vị hành chính cấp huyện. Hải Phòng (mới) có diện tích tự nhiên hơn 3.194km2, dân số trên 4,66 triệu người.

Việc sắp xếp, tổ chức đơn vị hành chính địa phương, mở ra cơ hội lớn để phát huy tiềm năng, thế mạnh của cực tăng trưởng phía Bắc Tổ quốc, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và khẳng định vị thế quan trọng của thành phố Hải Phòng (mới) trong tiến trình phát triển đất nước.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã trao các Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các Quyết định của Trung ương, Thủ tướng Chính phủ đến các tập thể, cá nhân có liên quan, trong đó trao Quyết định đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Hải Phòng (cũ) giữ chức Bí thư Thành ủy Hải Phòng (mới); đồng chí Lê Văn Hiệu, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hải Dương giữ chức Chủ tịch HĐND TP Hải Phòng (mới); đồng chí Lê Ngọc Châu, Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương giữ chức Chủ tịch UBND TP Hải Phòng (mới).

Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ trao Huân Chương Lao động các hạng tặng 6 đồng chí lãnh đạo TP Hải Phòng và tỉnh Hải Dương có thành tích xuất sắc, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước phát biểu tại sự kiện, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh: Lễ công bố các nghị quyết, quyết định về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp là sự kiện quan trọng, mang tính lịch sử, ngày hội của non sông, đất nước.

Việc hợp nhất tỉnh Hải Dương và TP Hải Phòng mang dấu ấn và tầm vóc chiến lược, dấu mốc lịch sử trọng đại, mở ra một chương mới cho sự phát triển của địa phương và vùng Đồng bằng sông Hồng, góp phần thúc đẩy sự thịnh vượng của đất nước.

Theo Thủ tướng, việc sắp xếp các đơn vị hành chính, hợp nhất cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện và sáp nhập cấp xã là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước và Tổng Bí thư Tô Lâm nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước tinh gọn, nâng cao hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả, gần dân hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn; tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và yêu cầu hội nhập sâu rộng; đồng thời, tập trung nguồn lực đất đai, dân số, mở rộng không gian phát triển, phát huy hiệu quả hơn nữa tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của Hải Phòng, Hải Dương để phát triển.

Thủ tướng Chính phủ cho biết, Hải Phòng là vùng đất lịch sử chứng kiến những chiến công hiển hách chống quân lược, đặc biệt là ba chiến thắng trên sông Bạch Đằng; thành phố anh hùng có những đóng góp to lớn trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; khẳng định vị thế là một trung tâm kinh tế, công nghiệp, thương mại, dịch quan trọng của đất nước.

Hải Dương là vùng đất có vai trò quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước, là “phên giậu” phía Đông của Kinh thành Thăng Long; có bề dày lịch sử văn hóa, nơi sinh dưỡng nhiều bậc tiên hiền, danh nhân kiệt xuất, nổi danh là “Lò tiến sĩ xứ Đông”; ngày nay đang vươn mình để trở thành một trung tâm công nghiệp, nông nghiệp.

Việc hợp nhất tỉnh Hải Dương và TP Hải Phòng thành một đơn vị hành chính mới mang tên TP Hải Phòng thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược, dài hạn của Đảng, Nhà nước, mở ra không gian phát triển, tối ưu hóa nguồn lực, cộng hưởng các tiềm năng, lợi thế, tạo thành một cực tăng trưởng mới, thúc đẩy và góp phần dẫn dắt, thúc đẩy sự phát triển của vùng, của đất nước; hướng tới là đô thị lớn, hiện đại, thông minh, đa chức năng, nâng tầm phát triển công nghiệp, logistics, cảng biển, thương mại, dịch vụ, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ.

Thủ tướng đánh giá, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, quyết định của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, TP Hải Phòng và tỉnh Hải Dương đã thể hiện tinh thần chủ động, sáng tạo, quyết liệt, chuyên nghiệp, bài bản, khoa học; đoàn kết, đồng thuận, khẩn trương triển khai các nhiệm vụ, công việc chuẩn bị, thực hiện lộ trình hợp nhất, thành lập các tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị, xã hội các cấp; kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Cùng với đó, vẫn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm mục tiêu, chỉ tiêu đề ra, nhất là tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế của 2 địa phương trong 6 tháng đều đạt trên 11%, đóng góp rất tích cực vào kết quả chung của cả nước.

Đánh giá cao nỗ lực, quyết tâm và những kết quả đạt được của TP Hải Phòng và tỉnh Hải Dương trong thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính, kiện toàn bộ máy và phát triển kinh tế - xã hội, Thủ tướng Chính phủ cho rằng, lễ công bố các nghị quyết, quyết định về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp TP Hải Phòng (mới) là sự kiện quan trọng, nhưng mới là bước khởi đầu cho một chặng đường phát triển mới đầy khó khăn, thách thức.

Thủ tướng yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và cả hệ thống chính trị, quân và dân địa phương cần bắt tay vào công việc ngay, nhanh chóng kiện toàn, ổn định tổ chức bộ máy; sắp xếp, lựa chọn đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, xứng tầm với nhiệm vụ, trọng trách mới; tiếp tục làm tốt công tác giải quyết chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, với tinh thần “đã có quyết định phải giải quyết ngay”.

Bảo đảm các điều kiện thiết yếu để các cơ quan, đơn vị hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thông suốt, không gián đoạn trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, xóa bỏ rào cản về địa giới hành chính trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp và đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và giáo dục, đào tạo.

Đặc biệt, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu TP Hải Phòng phải tập trung cao độ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Trong đó, thành phố phải rà soát, bổ sung, hoàn thiện xây dựng các chiến lược, quy hoạch phát triển với tầm nhìn mới, thể hiện giá trị tinh thần của đất Cảng và xứ Đông, với các định hướng chính là: Xây dựng mô hình xã hội chủ nghĩa, phát triển nhanh, bền vững, hiện đại, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, giàu bản sắc văn hóa; xây dựng các trụ cột kinh tế đa ngành, hiện đại, cạnh tranh toàn cầu, hình mẫu của công nghiệp công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, dịch vụ logistics tầm quốc tế; hạ tầng chiến lược, đồng bộ, hiện đại và thông minh, tạo động lực kết nối liên vùng, khẳng định vị thế cửa ngõ hàng hải, hàng không quốc gia; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao mang tinh thần đột phá của đất Cảng và truyền thống hiếu học của xứ Đông; truyền thống lịch sử văn hóa của Hải Phòng, Hải Dương.

Đề nghị TP Hải Phòng phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, sáng tạo trong toàn hệ thống chính trị và nhân dân, Thủ tướng nhấn mạnh, sự hợp nhất là quá trình của sự hòa nhập và đồng điệu, phát huy tinh thần “tất cả vì sự phát triển chung”. Sự gắn bó giữa Hải Dương và Hải Phòng không chỉ là những câu chuyện của quá khứ, mà phát huy, kết nối với hiện tại, để xây dựng một tương lai tươi sáng hơn, góp phần xây dựng một Việt Nam xã hội chủ nghĩa độc lập, hòa bình, thống nhất, cuộc sống nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Thủ tướng yêu cầu Hải Phòng chuẩn bị thật tốt cho Đại hội Đảng bộ TP Hải Phòng, nhiệm kỳ 2025 - 2030, bảo đảm tinh thần đổi mới, đoàn kết, phát triển và hội nhập, xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, làm hình mẫu để nhân rộng trong cả nước như chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thủ tướng gửi lời cảm ơn, tri ân các thế hệ lãnh đạo, quân và dân TP Hải Phòng và tỉnh Hải Dương qua các thời kỳ đã đóng góp công sức, trí tuệ làm nên TP Hải Phòng và tỉnh Hải Dương phát triển như ngày nay. Thủ tướng bày tỏ biết ơn, đánh giá cao sứ mệnh lịch sử cao cả của chính quyền cấp huyện trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tặng Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Hải Phòng “mới” 12 chữ: “Đoàn kết, giàu mạnh, hiện đại, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc”. Thủ tướng tin tưởng, trên nền tảng vững chắc của TP Hải Phòng và tỉnh Hải Dương đã xây đắp qua các giai đoạn, thời kỳ, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị, xã hội và nhân dân TP Hải Phòng (mới) tiếp tục phát huy mạnh mẽ truyền thống cách mạng, tinh thần trung dũng, quyết thắng, sáng tạo và khát vọng vươn lên, trong xây dựng đô thị kiểu mẫu, phát triển xanh, thông minh, hiện đại và bền vững; gương mẫu, đi đầu góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.

Ngay sau Lễ công bố, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã thăm và kiểm tra hoạt động của bộ máy chính quyền, đặc biệt là việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp tại phường Hồng An. Thủ tướng Chính phủ biểu dương TP Hải Phòng nói chung và phường Hồng An đã chủ động, khẩn trương triển khai các nhiệm vụ đảm bảo điều kiện thiết yếu để hoạt động của cơ quan, bộ phận đều thông suốt, không gián đoạn, nhất là cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. 

Thủ tướng yêu cầu tiếp tục phát huy để các cơ quan, đơn vị hoạt động hiệu lực, hiệu quả, nhất là đẩy mạnh chuyển đổi số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, xóa bỏ rào cản về địa giới hành chính trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp./.




Yêu nước ST.