Thứ Hai, 28 tháng 7, 2025

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: VIỆT NAM HOAN NGHÊNH THỎA THUẬN NGỪNG BẮN GIỮA THÁI LAN VÀ CAMPUCHIA!

     Việt Nam hoan nghênh thỏa thuận chung vừa đạt được giữa Campuchia và Thái Lan về lệnh ngừng bắn ngay lập tức và vô điều kiện.

Trên những bước đường tiếp theo, Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam ủng hộ và đóng góp thiết thực vào thực hiện Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045, củng cố đoàn kết, vai trò trung tâm và tự chủ chiến lược của ASEAN.

Việt Nam sẽ tiếp tục dành ưu tiên cao cho các lĩnh vực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển bền vững và bao trùm. Diễn đàn Tương lai ASEAN do Việt Nam đăng cai tổ chức sẽ là không gian đối thoại bao trùm và cởi mở, góp phần vào các nỗ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH VIETTEL TÀO ĐỨC THẮNG LÊN QUÂN HÀM TRUNG TƯỚNG!

     Bộ Quốc phòng vừa trao quyết định thăng quân hàm Trung tướng cho ông Tào Đức Thắng - Chủ tịch Tập đoàn Viettel. Ông sinh ngày 15/7/1973 tại Thanh Hóa, có trình độ Thạc sĩ Điện tử Viễn thông.

Với quyết định này, ông trở thành lãnh đạo thứ hai của Viettel được phong Trung tướng, sau ông Hoàng Anh Xuân, đánh dấu dấu mốc quan trọng trong hành trình lãnh đạo của Tập đoàn viễn thông số 1 Việt Nam./.


Môi trường ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: VÀI ĐIỀU NHÌN NHẬN QUA CUỘC XUNG ĐỘT BIÊN GIỚI ĐẪM MÁU GIỮA HAI ĐẤT NƯỚC LÁNG GIỀNG GẦN GŨI CHÙA VÀNG VÀ CHÙA THÁP!

     Diễn trình tranh chấp quần thể ngôi đền Preah Vihear giữa Campuchia và Thái lan diễn ra suốt hơn nửa thế kỷ qua, cho thấy di sản của thực dân để lại luôn là một vấn đề nhức nhối.

Mặc dù việc tranh chấp đã được Tòa án công lý quốc tế (ICJ) phán quyết là quyền sở hữu thuộc về Campuchia, nhưng vấn đề vẫn còn tồn tại nhiều khuất mắc trong lịch sử.

 Năm 2008, Campuchia nộp đơn yêu cầu UNESCO đề nghị công nhận Preah Vihear là Di sản Thế giới. Việc Preah Vihear được UNESCO công nhận đã bùng lên căng thẳng mới.

 Thái Lan cho rằng Campuchia đã sử dụng việc công nhận này làm tính pháp lý để khẳng định chủ quyền, điều này tiếp tục gây căng thẳng dẫn đến các cuộc đụng độ quân sự, đáng lưu ý là đã xảy ra các cuộc đụng độ từ 2008 đến 2011.
 
Diễn biến xấu nhất là cuộc đụng độ quân sự ác liệt trong những ngày qua.

Cuộc xung đột đẫm máu ở biên giới giữa Thái Lan và Campuchia trong những ngày gần đây đã khiến cộng đồng quốc tế hết sức quan ngại và lo lắng. Các quốc gia ASEAN cảm thấy như rơi vào trạng thái đóng băng những chương trình nghị sự và các mối quan hệ, hợp tác chiến lược. 

Có thể nói là vậy, "chiến tranh không phải trò đùa", cuộc xung đột tàn khốc, ngay lập tức đã gây ra nhiều đau thương, mất mát không gì bù đắp nổi cho người dân của cả hai phía, hai đất nước là biểu tượng đặc sắc, mạnh mẽ của nền tảng văn hóa Phật giáo. 

Nhận thấy rằng "những năng lượng xung tỏa của cuộc chiến" đang bắt đầu ảnh hưởng dữ dội, trực tiếp vào đời sống kinh tế xã hội, thương mại dịch vụ v.v. của cả hai đất nước và đồng thời trên toàn bộ khu vực.

 Chiến tranh có nguy cơ sẽ tác động tiêu cực đến chính trường ngoại giao và nhiều thỏa thuận quốc tế của toàn khối ASEAN cũng như việc đảm bảo các nghĩa vụ của thành viên, tinh thần hữu nghị gắn kết với nhiều mục tiêu phát triển cùng có lợi trên mỗi quốc gia, dân tộc mà Hiến chương ASEAN đã giương cao những quy định v.v. 

Việt nam chúng ta là một quốc gia có mối quan hệ láng giềng rất đặc biệt với đất nước Chùa Tháp gần gũi láng giềng, đồng thời cũng vô cùng quan trọng, ưu tiên giữ vị trí chiến lược cho nền kinh tế và ưu thế địa chính trị khi là "đối tác hợp tác chiến lược toàn diện" với xứ sở Chùa Vàng của người Thái.

 Quan điểm của Việt Nam chúng ta là quan điểm "không chọn bên" hay "chọn chính nghĩa, không chọn bên", nghĩa là trong chính sách đối ngoại của Việt Nam luôn thể hiện sự độc lập, tự chủ và nguyên tắc bất di, bất dịch của một quốc gia.

 Thay vì đứng về một phe phái cụ thể, Việt Nam lựa chọn ủng hộ những giá trị phổ quát, những hành động vì hòa bình, công lý, hợp tác và phát triển chung. Bên cạnh một lập trường kiên định với "chính sách quốc phòng 4 không" (bạn đọc có thể tự tra cứu về chính sách QP 4 không của Việt Nam ta).

 Đây là một chính sách nhất quán, thể hiện quan điểm độc lập, tự chủ, hòa bình và hữu nghị của Việt Nam. 

Chính vì vậy trong mỗi người Việt Nam chúng ta cần phải sáng suốt, thật sự bình tĩnh, không nên để cảm tính yêu, ghét, thù hận chi phối bằng những cái nhìn thiếu cơ sở trước đây, mà từ đó bốc đồng đưa ra những nhận xét hay quan điểm cổ xúy cho các hành động tấn công trả đũa, tiêu diệt lẫn nhau, ủng hộ tính chất thắng thua của mỗi bên trong cuộc chiến.

 Bởi trước hết chính chúng ta đã sai với tinh thần và quan điểm, trách nhiệm và nghĩa vụ của một công dân Việt nam khi nhận thức và tư duy đã đi ngược lại những đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước.

 Khẳng định rằng, sai lầm có thể lớn hơn nếu chúng ta ủng hộ nhầm phe, tỏ ra thích chí, hả hê khi Thái Lan tiến công, hủy diệt người Campuchia, đất nước của đền Ăng Co Vát thiêng liêng, phản ánh sức tạo dựng huyền bí của bàn tay, khối óc người Khơ me cần mẫn và quen thương từng gian khó.

 Không có lý do gì quá nghiêm trọng để chúng ta mong muốn gây tổn hại nhiều hơn đến đất nước, con người của xứ sở Chùa Tháp vốn đã có một lịch sử lâu đời gắn bó, nhiều yêu mến, thân thiết với chúng ta. 

Một viễn cảnh chiến tranh khốc liệt toàn diện, sẽ dẫn đến làm suy yếu chính phủ Campuchia hiện tại do Hunmanet lãnh đạo, mà chúng ta chưa muốn nói đến một tình trạng bị lật đổ sẽ gây ra những nguy cơ tiềm tàng không thể đoán định được.

 Lúc này, khi các đảng phái đối lập khác lên cầm quyền. Mối quan hệ láng giềng giữa Việt Nam - Campuchia sẽ dẫn đến sự khơi mào những khía cạnh tiêu cực, thậm chí là nổ ra một diễn trình nguy hiểm cho tương lai.

 Điều này đồng nghĩa với vấn đề an ninh và hòa bình của Việt nam chúng ta sẽ luôn bị thách thức và bị đặt vào trạng thái căng thẳng, suy rộng ra những tiềm năng "địa chiến lược" của Việt nam ở Đông Nam Á sẽ bị lung lay, suy giảm. 

Ta có thể hình dung sự liên đới nhiều sức ảnh hưởng tiêu cực do một "Campuchia luôn chống Việt Nam" xuất hiện, gây ra một trường nhận định sai lệch tới mỗi quốc gia trên toàn khối, không những làm xấu đi những hợp tác song phương xoay quanh tâm điểm Việt Nam mà điều này như một vết khắc được lặp lại, tuy không phải như quá khứ đấu tranh xóa chế độ diệt chủng Pôn pốt, nhưng tất nhiên Việt nam sẽ chịu bất lợi nhiều nhất. 

 Các bạn phải nhận ra rằng. Các phe phái đối lập với Đảng nhân dân Campuchia (CPP) do nhà lãnh đạo Hunsen đứng đầu đều là những đảng mang hơi hướng "chủ nghĩa dân tộc cực hữu - tư tưởng bài trừ - phát xít hóa. 

Thực tế đảng từng được xem là mạnh thứ hai ở Campuchia, từng chiếm gần một nửa số ghế quốc hội là đảng "Cứu nguy dân tộc Campuchia" (CNRP) vốn là đảng của Sam Rainsy và Đảng Nhân quyền được liên minh thành lập vào giữa năm 2012 để cùng nhau chạy đua cuộc tổng tuyển cử 2013, mục tiêu chống lại các chính sách của Hunsen và đảng CPP của ông.

 Lý do hiện nay, Đảng CNRP này không có ghế ở quốc hội là do đã từng bị Hunsen yêu cầu Tòa án Tối cao tố tụng và giải thể trong vòng 5 năm, cuộc điều tra và chứng minh vi phạm diễn ra vào năm 2017 theo những điều quy định của hiến pháp và chỉ hoạt động trở lại vài năm gần đây.

 Nhìn chung, tư tưởng của các đảng phái liên minh này là "tập trung đa phương hóa và quốc tế hóa các mối quan hệ" để duy trì đường lối cực đoan, đề ra các chính sách phân biệt sâu sắc với Việt Nam hay nói đúng hơn là căn bản duy trì đường lối quyết chống lại sự ảnh hưởng của Việt nam, mưu đồ lật lại những vấn đề lịch sử một cách càn quấy, thiếu cơ sở khách quan để lên án, đề ra yêu sách, kiện tụng... chống Việt nam.

 Đảng liên minh CNRP này cũng phần lớn hoặc là bài trừ, chống Cộng cực đoan hoặc dung chứa tàn dư cực hữu, diệt chủng Khơ me đỏ..., nó là một tổ chức hỗn hợp, tiền thân của nó chủ yếu là các bên còn lại ở "Hiệp ước hòa bình" được ký kết vào ngày 23 tháng 10 năm 1991 tại Pari - Pháp, bao gồm tới 20 nước tham gia đàm phán, trong đó với sự có mặt của Trung quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô là thành viên thường trực HĐBA Liên hợp quốc. 

Nhìn lại các bên ở "Hiệp ước hòa bình Pari" để chúng ta thấy những khó khăn, thử thách trong công cuộc tranh đấu vì một Campuchia hòa bình, gắn bó tình hữu nghị với Việt Nam mà đảng nhân dân Campuchia và Hunsen đã miệt mài, gian khổ trong từng tranh đấu :

▪︎Đại diện Nhà nước Campuchia: Hun Sen, Dith Munty, Sin Sen, Tea Banh, Hor Namhong, Im Chhun Lim;
(Chính danh, là nhà nước được nhân dân bầu ra, có công thực hiện công cuộc giải phóng Campuchia, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng man rợ của Khơme đỏ, được Việt nam giúp đỡ)

▪︎Đại diện Khmer Đỏ: Khieu Samphan, Son Sen; (các lực lượng liên minh Khơ me đỏ được các nước chống Việt nam lúc bấy giờ tiếp tục viện trợ, hậu thuẫn và chứa chấp như Thái Lan, Trung quốc, Anh, Singapor...)

▪︎Đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng Nhân dân Khmer: Son Sann, Ieng Mouly; (phe cộng hòa được Mỹ và dân chủ phương Tây bảo trợ, dựng lên để chống lại vai trò và thành quả giúp đỡ của Việt nam cũng như của Nhà nước Campuchia do Đảng CPP và Thủ tướng Hunsen lãnh đạo.)

▪︎Đại diện FUNCINPEC: Hoàng thân Norodom Ranariddh và cựu quốc vương Norodom Sihanouk, cũng là chủ tịch Hội đồng Quốc gia Tối cao. (Một phe phái bảo hoàng đứng đầu là quốc vương lưu vong Sihanouk, được nhóm Mỹ và phương Tây dẫn đầu ở Liên hợp quốc hết sức ủng hộ dùng làm "át chủ bài chính trị" quay lại hòng xóa bỏ vai trò giúp đỡ lật đổ chế độ diệt chủng Pôn pốt của Việt nam và công lao to lớn của nhà nước Campuchia - Hunsen).

Điển hình của một sự kiện chống Việt Nam do đảng Sam Rainsy chủ xướng là chúng đề ra yêu sách đòi lại đảo Phú Quốc của Việt Nam, xúi giục người dân Campuchia ở gần biên giới phá dỡ 6 cột mốc phân định lãnh thổ giữa hai nước.v.v 

Kể cả hiện tại khi chúng ta muốn nói đến đảng hoàng gia FUNCIPEC là đảng luôn tỏ rõ chí hướng, nêu cao đường lối trung lập, thống nhất và dựng xây đất nước nhưng thực chất vẫn là tư tưởng dân tộc cực đoan, luôn luôn tìm cách liên minh với các thế lực Khơ me đỏ còn tồn tại, mục đích giành lấy sự cầm quyền lâu dài, lập lại các trật tự cũ nhằm củng cố quyền lực hoàng gia, địa vị quân chủ.

 Hiện tại FUNCIPEC đa số bị thất cử, không còn nhiều ghế ở quốc hội, chỉ còn 5 ghế sau cuộc bầu cử thủ tướng mới Humanet.

Do đó, một Campuchia rối ren và bất ổn trong bối cảnh Đảng CPP - Hun sen mất đi quyền lực sẽ là một bước ngoặt lịch sử dẫn đến tình trạng căng thẳng, tiềm tàng những nguy cơ làm suy giảm vị thế địa chính trị của Việt nam ta. An ninh biên giới giữa hai nước không còn là một không gian quốc phòng "bình lặng" được tối ưu hóa về mặt chính trị và hợp tác truyền thống lâu bền giữa hai nền văn hóa của hai dân tộc...

 Một chính phủ mới sẽ phá vỡ giềng mối hợp tác lâu dài, tạo ra những xung khắc trong nhiều chiều đối tác, hợp tác đang tăng cường lợi ích trên nhiều lĩnh vực quân sự, kinh tế, thương mại v.v. giữa ta và Campuchia.

 Có thể tồi tệ hơn khi tư tưởng dân tộc cực hữu trỗi lên mạnh mẽ, do các đảng phái này vận động khởi xướng, chuyển sâu vào "ý thức hệ" người dân, được các nước dân chủ phương Tây và Mỹ cổ xúy, hình thành sự chống lưng hậu thuẫn, giật dây, kích động của bè lũ đế quốc, một số thế lực tư bản hùng hậu, đen tối từ bên ngoài...

Điều hiển nhiên, khi đó một Campuchia sẽ không còn Đảng cầm quyền CPP của Hunsen hoặc chỉ nói đến một chính phủ suy yếu các quyền lực tập trung thì viễn cảnh một "Campuchia với lực lượng Khơ me đỏ mới" gây bất đồng liên miên, mở toang cánh cổng xung đột với Việt Nam là điều khó tránh khỏi.

Nhìn sơ lược lại về lịch sử của thời đại hậu Khơ me đỏ, để chúng ta thấy được con đường mà Campuchia có được ngày hôm nay và cả những khó khăn, thách thức, cản trở mà Việt Nam, "quân tình nguyện Việt Nam" và nhân dân Campuchia trong giai đoạn đầu, dưới sự lãnh đạo của Hunsen và Đảng nhân dân Campuchia (CPP) - Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia ( រណសិរ្សសាមគ្គីសង្គ្រោះជាតិកម្ពុជា). Giai đoạn đã phải trải qua nhiều thử thách và gian khó không gì tả nổi, để từ đó giúp Campuchia ổn định, hòa bình, đứng vững và phát triển của ngày hôm nay.

Chứng kiến nạn diệt chủng vô cùng đau đớn và bi thương của đất nước do Khmer Đỏ gây ra. Vào năm 1977, Samdech Techo Hun Sen, lúc này là chỉ huy trung đoàn thuộc hàng ngũ Khmer Đỏ, đã kiên định chống lại, sáng suốt rời bỏ quê hương, tìm đến Việt Nam để tìm kiếm sự hỗ trợ, một sự cầu cứu khẩn thiết trong tâm khảm cội nguồn Khơ me, để được giải phóng Campuchia cứu lấy người dân đang ở trong vòng địa ngục, phi nhân bản của chế độ diệt chủng.

21h00 ngày 20/6/1977, Hun Sen cùng 4 người đồng đội thân thiết là Nhek Huon, Nuch Than, San Sanh và Paor Ean đã hành trình " Đi về phía Mặt Trời"

Sau khi được "Đội quân nhà Phật" (như lời của lãnh đạo Hunsen), giúp đánh đuổi, lật đổ chế độ diệt chủng, man rợ và bệnh hoạn đường lối của Pôn pốt - Khơ me đỏ. 

Đất nước Campuchia bước vào giai đoạn hồi sinh và dần được gieo mầm cho một tương lai no ấm, phát triển thịnh vượng.

 Việt nam chúng ta, sau chiến tranh chống Mỹ cứu nước còn vô vàn những khó khăn, đất nước chưa kịp khắc phục những hậu quả tàn khốc do chiến tranh để lại, nền kinh tế thì bị Mỹ bao vây cấm vận. Thế nhưng với trách nhiệm cao cả và tinh thần nghĩa vụ quốc tế. Nhà nước và quân tình nguyện Việt nam đã không tiếc máu xương và của cải vật chất, kiên cường chiến đấu và lớp lớp những người con ưu tú của dân tộc Việt đã ngã xuống để bảo vệ sự yên bình, bảo vệ sự sống của người dân trên đất nước thân thương Chùa Tháp, giúp nhân dân Cam puchia nhanh chóng lật đổ chế độ man rợ và khát máu diệt chủng Pôn pốt. 

Kết thúc những ngày tháng thần tốc để giải phóng, Việt Nam với "Đội quân nhà Phật" đã từng bước giúp người dân Campuchia xoa dịu vết thương diệt chủng, hòa giải những chia rẽ dân tộc, khắc phục những khó khăn trong đời sống dân sự, kinh tế xã hội của đất nước. 

 Được quân tình nguyện Việt Nam với tinh thần và nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp đỡ về mọi mặt, viện trợ và hỗ trợ mọi thứ có thể để nâng dìu một đất nước Campuchia kiệt quệ về mọi nguồn lực trở nên hồi sinh một cách mạnh mẽ. 

Nhà nước và chính phủ Campuchia non trẻ mới thành lập đã có thể tự khơi dậy nội lực, quy tụ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tiếp tục chống tàn quân Khơ me đỏ và từng bước kiến thiết dựng xây đất nước.

 Các lĩnh vực an ninh quốc phòng, kinh tế xã hội trọng yếu như nông lâm ngư nghiệp, y tế, giáo dục, đào tạo nhân lực chuyên môn v.v. đều được Việt Nam hết lòng cố vấn, giúp đỡ tận tình để dựng xây vững chắc các nền tảng.

Từ năm 1979 đến 1985, Hun sen được chính phủ bổ nhiệm làm bộ trưởng Bộ ngoại giao, từ năm 1984 đến 1985 Hun sen được Quốc hội nhà nước bầu làm chức Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng. 

Trong giai đoạn mới mẻ này, đất nước vẫn chưa thực sự bình yên nhưng với tài lãnh đạo của ông, Campuchia đã có những chính sách và đường lối đối ngoại rất hài hòa mang đậm hình ảnh xã hội chủ nghĩa. Điều đáng chú ý là Campuchia mở rộng các hợp tác, giao lưu tiếp xúc trên toàn bộ các nước anh em xã hội chủ nghĩa như sau :

  Cộng hòa Nhân dân Campuchia - PRK, do Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia lãnh đạo ( được Việt Nam trực tiếp giúp đỡ) đã thiết lập quan hệ hợp tác chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, đặc biệt là các nước thuộc khối Hiệp ước Warszawa và Hội đồng Tương trợ Kinh tế (COMECON). Các nước đó bao gồm:

🔹 1. Liên Xô (Liên bang Xô viết - USSR)

Là đối tác lớn nhất và quan trọng nhất của Campuchia thời hậu Khmer Đỏ.

Viện trợ quân sự, kỹ thuật, giáo dục, y tế và tái thiết hạ tầng.

Gửi chuyên gia, cố vấn và cấp học bổng cho sinh viên Campuchia sang học tại các trường đại học Liên Xô.

🔹 2. Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức - GDR)

Hỗ trợ đào tạo cán bộ hành chính, công an và các ngành kỹ thuật.

Hợp tác về giáo dục, y tế và một số lĩnh vực công nghiệp nhẹ.

🔹 3. Cộng hòa Nhân dân Ba Lan (PRP)

Gửi chuyên gia y tế, nông nghiệp và kỹ thuật sang giúp tái thiết.

Đào tạo sinh viên và kỹ thuật viên Campuchia tại Ba Lan.

🔹 4. Cộng hòa Nhân dân Bulgaria

Góp phần trong các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và giáo dục.

Có các chương trình trao đổi văn hóa và đào tạo nghề.

🔹 5. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc (ČSSR)

Hỗ trợ ngành công nghiệp nhẹ, điện tử và đào tạo kỹ thuật viên.

Cử chuyên gia sang Campuchia giúp xây dựng cơ sở sản xuất.

🔹 6. Cộng hòa Nhân dân Hungary

Hợp tác trong giáo dục, y tế và văn hóa.

Một số sinh viên Campuchia cũng từng được đào tạo tại Hungary.

🟨 Ngoài ra:

Việt Nam giữ vai trò trung tâm trong việc bảo trợ chính quyền mới của Campuchia và điều phối sự hỗ trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa khác.

Cuba cũng hỗ trợ một phần về giáo dục và y tế.

 Kết luận:

Các quốc gia xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tái thiết đất nước Campuchia sau thời kỳ diệt chủng, thông qua viện trợ nhân đạo, kinh tế, kỹ thuật, và giáo dục. Tuy nhiên, mức độ hợp tác giữa Campuchia với từng nước còn tùy thuộc vào quan hệ song phương cụ thể và ảnh hưởng của Việt Nam lúc đó.

Cựu thủ tướng, chủ tịch đảng nhân dân Campuchia Hun sen, cả cuộc đời ông là những thăng trầm gian lao của ngày tháng, đấu tranh không khoan nhượng, đấu tranh không biết mệt mỏi vì một sự ổn định lâu dài, giữ lấy những giá trị vĩnh hằng và phẩm giá của người Campuchia, trong đó có những củng cố nền tảng cho mối quan hệ hữu nghị thắm tình và bền chặt vì một cấu trúc hòa bình và tương lai chung với Việt nam và cả thế giới.

Kiên định, mạnh mẽ và thông minh nhạy bén nhưng Hun sen là một con người của thời thế chứ không phải là "kim cương bất hoại". Con đường ông đi luôn mang trên vai mình cả một gánh nặng về một đất nước bị phân chia giai cấp một cách sâu sắc, sự can thiệp từ bên ngoài luôn sẵn sàng, thường trực để nắm lấy vị thế địa chính trị...Một nội bộ đất nước luôn sẵn sàng bán đứng từ bên trong, cầu cạnh các thế lực hậu thuẫn bên ngoài để mưu cầu quyền lực và nắm quyền cai trị.

Chúng ta có thể nhìn lại cái "Hiệp ước hòa bình Pari" năm 1991 để hiểu rằng, Cộng hòa nhân dân Campuchia - chính phủ Hun sen và cả Việt Nam chúng ta đã từng bị những sức ép và áp lực như thế nào đối với thế lực phương Tây và Mỹ. 

Khi cả một hệ thống vương hầu lưu vong chính trị vủa hoàng gia Xihanuc, cùng bè lũ phản động, diệt chủng đều được hậu thuẫn, tài trợ và dựng lên để chống lại một mình Hun sen và đảng CPP của ông. Thế nhưng cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn chỉ là những trang chiến thắng mang lại sắc màu thịnh vượng và diện mạo văn minh cho Campuchia và tiếng nói Khơ me vang vọng phẩm giá đời đời.

Năm 2013 Thủ tướng Campuchia, Hun Sen, đã nhiều lần kêu gọi đẩy nhanh tiến độ xét xử các cựu thủ lĩnh Khmer Đỏ tại Tòa án xét xử tội ác Khmer Đỏ (ECCC), sau cái chết Ieng Sary , một trong những cựu thủ lĩnh Khmer Đỏ bị đưa ra xét xử.v.v Kiên quyết bảo vệ lịch sử, tiêu diệt tàn dư Khơ me đỏ nhưng ông hoàn toàn bị những áp lực chính trị từ những phe phái chống Việt Nam và phôi thai Khơ me đỏ, tất cả những đảng phái còn lại như bài viết đã giải trình ở trên và có lúc ông đã yếu mềm làm theo các chính sách như một cách tranh thủ sự ủng hộ của toàn thể nhân dân, số đông quần chúng vốn mang trong mình những đan xen "ý thức hệ" phụ thuộc và chưa rõ ràng.

Nhìn rõ những gì diễn ra từ những năm 1993 đến 1997 mới thấy ông tài giỏi, mưu lược biết chừng nào trước đế chế FUNCIPEC. Điều này liên quan ở nội dung "Hiệp định hòa bình Pari" mà ông đã ký kết khi hoàng thân Xihanuc đã phải nhượng bộ và ông đã giành lấy sự ủng hộ của dân chúng. Một FUNCIPEC không thể vô nghĩa lợi dụng sự nhu mỳ của nhân dân mà ngang nhiên giành lấy công lao to lớn, cứu nhân dân thoát khỏi họa diệt chủng của ông trong quá khứ.

Người Việt nam chúng ta có một phẩm chất đạo đức và truyền thống tốt đẹp là luôn sống thủy chung trọn nghĩa, có trước có sau với bè bạn, vị tha nhân ái, cưu mang giúp người không tính toán... Bởi thế sẽ luôn dõi theo bước đường của Hun sen, luôn ủng hộ ông bằng cả tấm lòng người Việt thiết tha yêu chuộng hòa bình và công lý. Người Việt Nam chân chính của đất nước chúng tôi sẽ luôn kính trọng và luôn ủng hộ ông bằng cả "tiềm thức của dân tộc". 

Cầu chúc ông và người dân Campuchia nặng lòng non nước, vượt qua những thử thách, cam go này. 

Hòa bình sẽ luôn đến với một trái tim vĩ đại và son sắc, mang trong mình một chủ thể của non nước huyền minh, đậm nét nhân tình và nghìn năm cội tánh./.



Môi trường ST.

QUY ĐỊNH SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI MỚI ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN VÀ CƠ QUAN, ĐƠN VỊ!

     Cơ quan, đơn vị, tổ chức cá nhân chỉ chia sẻ các thông tin có nguồn gốc chính thống, tin cậy lên mạng xã hội; không được đặt tên tài khoản giống hoặc trùng tên cơ quan báo chí, cơ quan nhà nước, cơ quan khác trong Bộ Quốc phòng là một trong những quy định đáng chú ý tại Thông tư số 81/2025/TT-BQP ngày 26-7-2025 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, quy định quản lý, cung cấp, sử dụng ứng dụng, dịch vụ và thông tin trên internet trong Bộ Quốc phòng.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15-9-2025 và thay thế Thông tư số 110/2014/TT-BQP ngày 22-8-2014 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thông tư số 81/2025/TT-BQP áp dụng đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan đến quản lý, cung cấp, sử dụng ứng dụng, dịch vụ và thông tin trên internet trong Bộ Quốc phòng.

QUY ĐỊNH CUNG CẤP VÀ CHIA SẺ THÔNG TIN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Nội dung này được quy định tại Điều 6 Thông tư số 81/2025/TT-BQP. Cụ thể như sau:

1. Cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng khi tham gia cung cấp và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội có trách nhiệm:

a) Tìm hiểu và tuân thủ các điều khoản hướng dẫn sử dụng của nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội trước khi đăng ký tham gia. Người sử dụng mạng xã hội cho mục đích cá nhân không sử dụng các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị khi đăng ký thiết lập tài khoản mạng xã hội;

b) Chỉ chia sẻ các thông tin có nguồn gốc chính thống, tin cậy; không đăng tải, chia sẻ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, thông tin vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, uy tín, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài Quân đội;

c) Khi phát hiện bị mất, chiếm quyền tài khoản mạng xã hội hoặc phát hiện thông tin vi phạm pháp luật, thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, thông tin bịa đặt làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, Quân đội thì báo ngay cho lực lượng chuyên trách về công nghệ thông tin, lực lượng bảo vệ an ninh Quân đội để phối hợp xử lý theo quy định;

d) Ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật, thông tin không đúng sự thật ảnh hưởng xấu đến uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác đăng tải trên tài khoản mạng xã hội của mình chậm nhất là 1 giờ từ khi nhận được yêu cầu bằng điện thoại, văn bản hoặc qua phương thức liên lạc khác từ Bộ Tư lệnh 86, Cục Bảo vệ an ninh Quân đội hoặc cơ quan, người có thẩm quyền.

2. Chỉ huy cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm về việc thiết lập tài khoản mạng xã hội và nội dung cung cấp trên các mạng xã hội đối với hoạt động liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình; việc quản lý, cấp phép như đối với trang thông tin điện tử.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được đặt tên tài khoản giống hoặc trùng tên cơ quan báo chí, cơ quan nhà nước, cơ quan khác trong Bộ Quốc phòng hoặc có những từ ngữ có thể gây nhầm lẫn là cơ quan báo chí, cơ quan nhà nước, cơ quan khác trong Bộ Quốc phòng.

CUNG CẤP THÔNG TIN TRÊN MẠNG INTERNET

Việc cung cấp thông tin trên internet được quy định tại Điều 4 Thông tư số 81/2025/TT-BQP. Cụ thể như sau:

1. Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng là kênh cung cấp thông tin chính thống, tập trung, đầu mối kết nối thông tin, công khai thông tin của Bộ Quốc phòng trên mạng internet, có địa chỉ truy cập tại https://mod.gov.vn hoặc https://bqp.vn.

2. Trang thông tin điện tử, báo điện tử của cơ quan, đơn vị trong Bộ Quốc phòng phải là thành phần của Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng; kết nối, tích hợp, đặt banner, đường dẫn liên kết với Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng.

3. Thông tin cung cấp trên mạng internet thực hiện theo quy định tại điểm a, c, d khoản 1 Điều 4 Nghị định số 42/2022/NĐ-CP ngày 24-6-2022 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng, chấp hành nghiêm quy định về thực hiện cung cấp thông tin trong Bộ Quốc phòng; bảo đảm không lộ lọt bí mật./.

Yêu nước ST.

Trân trọng và lan tỏa giá trị đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc

 Suốt hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, với tinh thần yêu nước nồng nàn, khát vọng cháy bỏng độc lập, tự chủ, nhân dân ta đã đoàn kết một lòng, kiên cường đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do, sự thống nhất, toàn vẹn của Tổ quốc.

Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7) hằng năm là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân và kiều bào ta tưởng nhớ, tri ân công lao của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh... những người đã hy sinh xương máu để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đó là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc.

1. Đã không còn xuất hiện nhiều nhận thức sai lệch, cách hiểu không đúng về bản chất của Ngày Thương binh-Liệt sĩ, về những người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống, hy sinh xương máu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, vì hòa bình, hạnh phúc của nhân dân. Trên bất cứ phương diện nào, sự hy sinh vĩ đại của các anh hùng liệt sĩ, của các thương binh, bệnh binh là không thể phủ nhận, không thể đánh đồng với bất cứ luận điệu xuyên tạc nào về các cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta. Nhưng điều đó không có nghĩa là những nhận thức không đúng, lệch lạc không còn.

Biểu hiện rõ nhất là sự xuyên tạc bản chất, ý nghĩa của Ngày Thương binh-Liệt sĩ, xuyên tạc sự hy sinh, cống hiến của các anh hùng liệt sĩ; là luận điệu cho rằng do cảnh “nồi da nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn”; là suy nghĩ thiển cận, biểu hiện sự vô ơn, phủ nhận các hoạt động đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam; là so bì, tị nạnh, nhận thức không đúng về chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công; là “đánh tráo khái niệm”, đồng nhất nghĩa vụ thiêng liêng, sự hy sinh cao cả của lực lượng cách mạng với những kẻ phản cách mạng, theo thực dân, đế quốc; là cố tình xuyên tạc rằng “Đảng, Nhà nước ta không quan tâm đến người có công với cách mạng”. Thậm chí có những kẻ đã xúc phạm sự hy sinh xương máu của các anh hùng liệt sĩ...

Có nhiều lý do để giải thích cho những nhận thức không đúng ấy, nhưng tựu trung lại, những người đó đã không có đủ thông tin, không được tiếp cận những thông tin chính thống về các cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc ta và không loại trừ có những người cố tình không hiểu; cố tình xuyên tạc bản chất của các cuộc chiến đấu ấy vì những lợi ích cá nhân, mưu đồ vị kỷ.

2. Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, “sáng chắn bão dông, chiều ngăn nắng lửa”, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu và đã chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Tinh thần yêu nước, ý chí quật cường, đức hy sinh vì Tổ quốc luôn được hun đúc, nuôi dưỡng và phát huy, trở thành truyền thống văn hóa, nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc ta. Tiếp nối truyền thống quý báu đó, trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân; dưới sự lãnh đạo của Đảng, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã dũng cảm chiến đấu, anh dũng hy sinh, hiến dâng máu xương của mình cho đất nước.

Họ là những người đã để lại gia đình, người thân, từ bỏ ước mơ, hoài bão cá nhân để cầm súng bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Sự hy sinh cao cả ấy không thể đo đếm và chính nhờ những hy sinh ấy, thế hệ hôm nay được sống trong hòa bình, tự do. Trong "Thư gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc” (ngày 17-7-1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy...”(1). Đối với liệt sĩ, Bác nhắn nhủ: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ...”.(2)

Phát huy truyền thống, đạo lý tốt đẹp từ nghìn đời của dân tộc, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã và đang có nhiều hoạt động thiết thực tri ân các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng. Mỗi người dân nước Việt luôn cảm thấy tự hào và biết ơn những giá trị quý báu mà các anh hùng liệt sĩ, các thương binh, bệnh binh đã dâng hiến, hy sinh cho dân tộc.

Chúng ta luôn khắc ghi trong tim rằng, mỗi phút giây đang sống trong bình yên, hạnh phúc đều phải đánh đổi bằng sự hy sinh xương máu của các thế hệ cha anh. Chỉ riêng trong hai cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại, 1,2 triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống. Đến nay vẫn còn gần 200.000 liệt sĩ chưa tìm thấy hài cốt, để lại cho người thân, gia đình niềm tiếc thương và sự mong chờ được đón các anh chị trở về; gần 300.000 ngôi mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính; hàng triệu thương binh, bệnh binh đã mất đi một phần máu thịt, sức khỏe và tuổi thanh xuân. Ngay trong thời khắc không còn tiếng súng, vẫn có không ít người đã hy sinh thầm lặng nơi biên cương, đảo xa hay trên những nhà giàn, bãi đá giữa trùng khơi... để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, gìn giữ sự bình yên cho cuộc sống của nhân dân. Lịch sử và dân tộc Việt Nam mãi mãi ghi nhớ, tự hào về ý chí quật cường của thế hệ cha anh với những “thiên anh hùng ca” bất diệt để giành lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho non sông, đất nước.

3. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán trong tư tưởng chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách với người có công. Nhiều chương trình, hành động thiết thực như: Quỹ đền ơn đáp nghĩa, xây nhà tình nghĩa, Quỹ nghĩa tình đồng đội, nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng... đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, trở thành phong trào, hoạt động tự nguyện, tự tâm trong các tầng lớp nhân dân. Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống vật chất, tinh thần của các đối tượng chính sách, người có công ngày càng được nâng lên. Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn và Phong trào “Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng” ngày càng được lan tỏa sâu rộng, mạnh mẽ, được cộng đồng xã hội đồng tình hưởng ứng, trở thành nét đẹp văn hóa của dân tộc. Chỉ tính trong hơn 10 năm (từ 2013 đến 2024), cả nước đã vận động gần 7.900 tỷ đồng hỗ trợ gia đình người có công; xây mới 67.700 căn nhà và sửa chữa gần 45.900 nhà tình nghĩa với tổng kinh phí hỗ trợ hơn 12.700 tỷ đồng; trao hơn 110.000 sổ tiết kiệm tặng gia đình chính sách với số tiền hơn 403 tỷ đồng. Hiện nay, cả nước còn hơn 2.400 Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được các tổ chức nhận chăm sóc, phụng dưỡng. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực vươn lên của các gia đình, đến nay, trên 99% hộ người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng. Công tác xem xét, giải quyết những tồn đọng trong việc thực hiện chính sách ưu đãi với người có công với cách mạng được chú trọng và đạt nhiều kết quả.

Cùng với đó, thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, gia đình người có công với cách mạng còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế, trang bị dụng cụ chỉnh hình, hỗ trợ cải thiện nhà ở, miễn giảm tiền sử dụng đất ở, hỗ trợ đất ở và thực hiện chính sách ưu đãi về giáo dục-đào tạo đối với con em họ. Cùng với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và cộng đồng, bằng ý chí tự lực, tự cường, các thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách, gia đình người có công với cách mạng luôn nỗ lực, cố gắng vươn lên trong lao động sản xuất, kinh doanh, làm ăn có hiệu quả, trở thành những tấm gương sáng trong cộng đồng, góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển đất nước.

Mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ cần tiếp tục khẳng định ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội và giá trị nhân văn của đạo lý "Uống nước nhớ nguồn"; nhấn mạnh truyền thống tốt đẹp, lòng biết ơn của toàn xã hội đối với các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng; khẳng định và tôn vinh sự cống hiến, hy sinh của các thế hệ đi trước là vô giá; việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, người có công là vinh dự, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, của thế hệ hôm nay và mai sau. Đảng, Nhà nước ta luôn trân trọng những cống hiến, sự hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ đối với Tổ quốc; đồng thời luôn tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về ưu đãi người có công, huy động mọi nguồn lực xã hội để công tác này ngày càng được thực hiện tốt nhất.

Hậu phương vững chắc cho "tiền tuyến" vững vàng

 Ngày 1-7, hai tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên chính thức hợp nhất thành tỉnh Đắk Lắk. Theo sự phân công, điều động của tổ chức, gần 40 cán bộ, nhân viên Bộ CHQS tỉnh Phú Yên (cũ) đã chia tay người thân, hăng hái khoác ba lô, vượt đường xa từ “biển” lên “rừng” thực hiện nhiệm vụ tại Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk (mới).

Từ ngày Thiếu tá Nguyễn Duy Nhất, Trưởng ban Tuyên huấn (Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk) chuyển công tác xa nhà, vợ anh vừa phải quán xuyến việc cơ quan, đoàn thể, vừa phải chăm sóc, đưa đón con đến lớp nên hầu như chẳng có thời gian để nghỉ ngơi. Thương vợ bụng mang dạ chửa, lại một mình quán xuyến công việc gia đình nên mỗi khi rảnh rỗi, anh Nhất lại tranh thủ gọi điện về chuyện trò, tâm sự, động viên vợ.

Những ngày đầu về đơn vị mới, do áp lực công việc, lại nhớ vợ, thương con và chưa quen khí hậu, thời tiết vùng cao, anh Nhất thường xuyên bị mất ngủ. Cảm thông với công việc của chồng, mỗi lần nhắn tin, gọi điện, vợ con chỉ kể những chuyện vui để động viên anh. Anh Nhất chia sẻ: “Tuy xa mà gần, tình cảm gia đình, hậu phương luôn là điểm tựa vững vàng để tôi yên tâm công tác”.

Đối với Thượng úy Kiều Tấn Huy, Trợ lý Ban Quân y (Phòng Hậu cần-Kỹ thuật, Bộ CHQS tỉnh Phú Yên cũ) thì gia đình anh vừa có thêm thành viên mới được gần một tháng. Trước ngày lên đơn vị mới thực hiện nhiệm vụ, vợ chồng anh quyết định tổ chức đầy tháng sớm cho con để họ hàng nội, ngoại có dịp đoàn viên. Một mình với hai con nhỏ, chồng lại công tác xa nhà, nhưng vợ anh chưa một lần ca thán, trách giận. Trái lại, chị luôn đồng hành, hỗ trợ, động viên để anh yên tâm công tác. Mô hình gia đình lý tưởng “bộ đội-giáo viên”, “pháo đài vững chắc” của gia đình anh Huy được anh em, đồng đội thường xuyên nhắc đến với sự ngưỡng mộ.

Đêm muộn, bên chồng hồ sơ, tài liệu xếp chật mặt bàn, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Tuấn, Trợ lý Ban Dân quân (Phòng Tham mưu, Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk) vừa nghiên cứu, tổng hợp số liệu, vừa tranh thủ hướng dẫn cậu con trai cả giải những bài toán khó. Trong khu nhà tập thể của Văn phòng Tỉnh ủy Đắk Lắk cách đó vài cây số, vợ anh cũng gọi điện về trò chuyện với hai con nhỏ đang gửi ông bà ở quê trông giúp. Do đơn vị chưa bố trí được nhà công vụ cho gia đình nên hiện tại, anh chị vẫn phải ở hai nơi.

Anh Tuấn chia sẻ: “Cháu lớn năm nay lên lớp 11, từ tháng 9 này phải học nội trú, ăn nghỉ luôn ở trường. Hai cháu nhỏ sinh đôi thì vợ chồng tôi gửi về quê, nhờ ông bà nội, ngoại chăm sóc. Tuy 5 người ăn 4 bếp song ngày nào gia đình tôi cũng “giao ban” qua Facebook, Zalo. Thấy các con chăm ngoan, tự giác, tự lập, vợ chồng tôi cũng phấn khởi, yên tâm công tác”. Theo anh Tuấn, gia đình anh dự định khi công việc dần ổn định thì sẽ thu xếp, đón các con lên để cả nhà được ở gần nhau, thuận lợi sinh hoạt và công việc.

Đại tá Ksor Lành, Phó chính ủy Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk cho biết: “Thời gian qua, Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh thường xuyên quan tâm, động viên, nắm chắc tình hình tư tưởng đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ sau khi sáp nhập, giải thể các cơ quan, đơn vị, nhất là những đồng chí chuyển công tác từ Phú Yên (cũ) lên Đắk Lắk (mới). Ngoài việc bố trí xe tuyến đưa đón cán bộ công tác xa nhà về thăm gia đình, hậu phương những ngày nghỉ cuối tuần, đơn vị chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền địa phương ưu tiên, bảo đảm nhà công vụ, nhà ở xã hội và các chế độ đãi ngộ để anh em từng bước ổn định cuộc sống. Tuy còn nhiều khó khăn, vất vả song anh em luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ”.

Chăm lo người có công với cách mạng - Nền tảng vững chắc để Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vững bước trong kỷ nguyên mới

 Tri ân, chăm lo người có công với cách mạng không chỉ là đạo lý nghìn đời của dân tộc Việt Nam, mà còn là biểu hiện tập trung sinh động bản chất nhân văn, tiến bộ, vì nhân dân phục vụ của Đảng, Nhà nước ta. Trong kỷ nguyên phát triển mới, chính sách “Đền ơn đáp nghĩa” cần tiếp tục được cụ thể hóa bằng các giải pháp thiết thực, đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hiện thực hóa khát vọng phát triển quốc gia hùng cường, thịnh vượng.

Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng về chăm lo người có công với cách mạng

Ngay từ những ngày đầu sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọng công tác thương binh, liệt sĩ và chăm lo chu đáo gia đình có công với cách mạng. Trong “Thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”” năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào/ Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”. Lời căn dặn giàu giá trị nhân văn ấy đã trở thành tư tưởng xuyên suốt trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, thể hiện sâu sắc bản chất cách mạng vì nhân dân phục vụ của một Đảng cách mạng chân chính.

Trong mọi hoàn cảnh, thời kỳ, kể cả khi đất nước gặp khó khăn, thách thức, công tác người có công với cách mạng luôn được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ ưu tiên. Điều đó không chỉ thể hiện tình cảm cách mạng và tinh thần trách nhiệm sâu sắc, mà còn là biểu hiện rõ nét của tầm nhìn chiến lược về xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là nguồn lực nội sinh quan trọng bảo đảm sự ổn định chính trị và phát triển bền vững của đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và xã hội, bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên trong địa bàn cư trú”. Quan điểm nhất quán của Đảng ta về chăm lo người có công với cách mạng được xây dựng và phát triển trên nền tảng đạo lý truyền thống của dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, là trách nhiệm thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đồng thời là một trong những nội dung cốt lõi thể hiện bản chất ưu việt, nhân văn và tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một tiêu chí quan trọng phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ và tinh thần phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng không ngừng được bổ sung, hoàn thiện theo hướng ngày càng toàn diện, bền vững, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Những năm qua, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng không chỉ dừng lại ở biện pháp hỗ trợ mang tính an sinh xã hội thuần túy, mà được đặt đúng vị trí là một cấu phần thiết yếu trong chiến lược phát triển con người Việt Nam toàn diện, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh - nơi giá trị của con người và sự hy sinh vì cộng đồng, vì đất nước được trân trọng, ghi nhận và chăm lo xứng đáng. Tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII, yêu cầu “bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân... Chăm lo đời sống người có công với cách mạng” được nhấn mạnh. Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới” nhấn mạnh: Chú trọng thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần người có công, nhất là người ở vùng sâu, vùng xa, người gặp khó khăn trong cuộc sống. Tiếp tục nâng mức chuẩn trợ cấp, phụ cấp ưu đãi theo hướng phải là mức cao nhất trong các chính sách xã hội.

Quan điểm của Đảng về chăm lo người có công với cách mạng còn gắn liền với định hướng chiến lược về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - một Nhà nước lấy con người làm trung tâm, phục vụ nhân dân là tôn chỉ, nguyên lý xuyên suốt. Trong bối cảnh kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số, phát triển nhanh và bền vững, việc tri ân người có công với cách mạng không chỉ là biểu hiện đạo lý truyền thống, mà còn là thước đo, là chỉ dấu giá trị nhân văn của chế độ, đồng thời là nền tảng tinh thần vững chắc để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Kết quả nổi bật trong công tác chăm lo người có công với cách mạng

Những năm qua, công tác chăm lo người có công với cách mạng được triển khai bài bản, đồng bộ, ngày càng đi vào chiều sâu, đạt kết quả toàn diện, thiết thực. Hiện nay, cả nước có khoảng 9,2 triệu người có công với cách mạng, bao gồm 1,2 triệu liệt sĩ, gần 140.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 600.000 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, gần 185.000 bệnh binh, trên 312.000 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, cùng hàng triệu người có công với cách mạng khác, như thanh niên xung phong, người bị địch bắt tù đày, người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế và thân nhân của họ. Con số ấy phản ánh tầm vóc vĩ đại của sự nghiệp cách mạng, thể hiện quy mô sâu rộng và chiều sâu nhân văn của hệ thống chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Đây cũng là biểu hiện sinh động, cụ thể của bản chất Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tính đến năm 2024, đã có trên 98,5% hộ gia đình người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình tại khu dân cư nơi cư trú. Đây là kết quả quan trọng, thể hiện hiệu quả của việc lồng ghép chính sách ưu đãi người có công với cách mạng với chương trình phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, đồng thời khẳng định vai trò điều tiết, lan tỏa chính sách an sinh xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Song song với việc hoàn thiện thể chế, hệ thống cơ sở vật chất phục vụ công tác điều dưỡng, chăm sóc thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng được quan tâm đầu tư theo hướng hiện đại, đồng bộ và nhân văn. Nhiều trung tâm điều dưỡng, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng được mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng dịch vụ, từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu cả về thể chất lẫn tinh thần của đối tượng chính sách. Đây là sự cụ thể hóa nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về “xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả, hiện đại và hội nhập quốc tế” gắn với chăm sóc nhóm đối tượng chính sách đặc biệt.

Hoạt động tri ân người có công với cách mạng tiếp tục được tổ chức thường xuyên, với hình thức phong phú, nội dung thiết thực, tạo hiệu ứng lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội. Hàng chục nghìn căn nhà tình nghĩa được xây mới hoặc sửa chữa; hàng vạn sổ tiết kiệm tình nghĩa, học bổng, gói hỗ trợ khởi nghiệp, chương trình phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng được triển khai hiệu quả. Nhiều mô hình hỗ trợ sinh kế cho người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng tiếp tục được nhân rộng tại các địa phương, góp phần khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường và ý chí hòa nhập cộng đồng. Đây là biểu hiện cụ thể của quan điểm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam trong công cuộc đổi mới mà Đảng ta đã nhấn mạnh trong nhiều nhiệm kỳ.

Đặc biệt, Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng đã đánh dấu bước tiến lớn trong hoàn thiện chính sách, pháp luật về người có công với cách mạng. Pháp lệnh xác định rõ đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn hưởng ưu đãi; quy định cụ thể trách nhiệm của các cấp, các ngành; thiết lập cơ chế giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch. Đây là bước thể chế hóa quan trọng định hướng của Đảng về xây dựng chính sách “đồng bộ, khả thi, công bằng, minh bạch, hiệu quả” đối với người có công với cách mạng trong giai đoạn mới.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, công tác chăm lo người có công với cách mạng của nước ta còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập, như một số chính sách cụ thể còn thiếu linh hoạt, chưa thật sự phù hợp với đặc điểm, điều kiện và nhu cầu đa dạng của các nhóm đối tượng thụ hưởng, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc giải quyết hồ sơ tồn đọng, xác nhận người có công với cách mạng trong một số trường hợp đặc thù còn kéo dài, ảnh hưởng đến sự công bằng, tính nhân văn của chính sách...

Bất cập đó đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách ưu đãi người có công với cách mạng theo hướng bao trùm, công bằng, đúng đối tượng, đúng bản chất cách mạng, phù hợp với thực tiễn. Đây cũng là yêu cầu được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”. Công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện chính sách nhiều lúc chưa thật sự đồng bộ, thống nhất; nguồn lực đầu tư, nhất là ở cấp cơ sở, còn dàn trải, thiếu trọng tâm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế về năng lực chuyên môn, đạo đức công vụ, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện. Ngoài ra, việc triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng và tri ân người có công với cách mạng chưa thật sự sâu rộng, thường xuyên, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Điều này đòi hỏi “tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa” trong thế hệ trẻ như Đảng đã xác định trong các nghị quyết về công tác văn hóa, con người.

Yêu cầu cấp thiết đặt ra lúc này là tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đây là tiền đề quan trọng để chủ trương, chính sách “Đền ơn đáp nghĩa” của Đảng và Nhà nước thực sự đi vào chiều sâu, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng chính trị - xã hội vững chắc cho sự nghiệp phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Bước vào giai đoạn phát triển mới, nhất là trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, công tác chăm lo người có công với cách mạng cần tiếp tục được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan nhằm cụ thể hóa đường lối phát triển con người Việt Nam toàn diện theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, mà còn là nền tảng chính trị - xã hội quan trọng, góp phần bảo đảm an sinh bền vững, giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu và yêu cầu ngày càng cao về quản trị xã hội hiện đại, chính sách “Đền ơn đáp nghĩa” cần được tiếp tục hoàn thiện theo hướng toàn diện, linh hoạt, nhân văn, thích ứng, thể hiện rõ cam kết chính trị của Đảng và Nhà nước trong kế thừa và phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Trong bối cảnh tác động của các thách thức phi truyền thống, như già hóa dân số, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, chính sách đối với người có công với cách mạng cần được đặt trong tổng thể chính sách phát triển con người, bảo vệ nhóm yếu thế và nâng cao năng lực chống chịu của xã hội. Điều đó đòi hỏi sự chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy và phương thức thực hiện chính sách, từ hỗ trợ thụ động sang chủ động trao quyền, từ can thiệp đơn lẻ sang lồng ghép tổng thể, từ hành chính hóa sang xã hội hóa, phát huy vai trò toàn xã hội trong chăm lo người có công với cách mạng. Việc đặt công tác này trong tầm nhìn chiến lược, gắn với các chính sách lớn về con người, an sinh xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại, là yêu cầu tất yếu để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Một trong những nhiệm vụ then chốt hiện nay là thể chế hóa kịp thời, đồng bộ và hiệu quả chủ trương của Đảng về chính sách người có công với cách mạng thành quy định pháp luật khả thi, phù hợp thực tiễn, bảo đảm công bằng trong tiếp cận, linh hoạt trong triển khai và hiệu quả trong thực thi. Chính sách này cần được cụ thể hóa trong chiến lược phát triển con người toàn diện, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.

Một yêu cầu có tính đột phá hiện nay là đổi mới tư duy và phương thức tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng theo hướng phục vụ, hiện đại, hiệu quả và nhân văn. Giai đoạn hiện nay, ứng dụng chuyển đổi số và cải cách hành chính trong thực hiện chính sách là yêu cầu cấp thiết. Đây là công cụ quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, minh bạch hóa quy trình, rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí xã hội và tăng mức độ hài lòng của người dân. Đồng thời, góp phần chuyển đổi cách tiếp cận từ “quản lý hành chính” sang “quản trị xã hội”, thể hiện rõ tinh thần vì nhân dân phục vụ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Việc chuyển hóa chính sách ưu đãi người có công với cách mạng từ “trách nhiệm, nghĩa vụ” sang “động lực phát triển” không chỉ góp phần làm sâu sắc thêm giá trị nhân văn của chế độ, mà còn lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm xã hội, ý chí tự lực và khát vọng vươn lên của những người đã cống hiến cho cách mạng. Đây là nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng, bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau, nơi mọi người dân, đặc biệt là người có công với cách mạng đều có cơ hội phát triển công bằng, toàn diện trong môi trường chính trị ổn định, xã hội nhân văn và văn minh.

Phát huy đạo lý tri ân không chỉ giúp tăng cường niềm tin xã hội vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, mà còn là cơ sở tinh thần bền vững để bồi đắp khát vọng phát triển, khơi dậy nội lực, hun đúc bản lĩnh chính trị, đạo đức công dân và phẩm chất cách mạng trong mỗi con người Việt Nam thời đại mới. Vì thế, một yêu cầu mang tính chiến lược hiện nay là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị - tư tưởng về truyền thống yêu nước, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tinh thần tri ân và trách nhiệm công dân đối với người có công với cách mạng. Đây không chỉ là giải pháp bổ trợ cho chính sách “Đền ơn đáp nghĩa”, mà còn là phương thức quan trọng để bồi đắp giá trị văn hóa, tinh thần dân tộc trong quá trình phát triển và hội nhập. Đại hội XIII của Đảng xác định, phải “tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”(5). Thông qua hệ thống giáo dục quốc dân, hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, như Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ..., cùng vai trò dẫn dắt của báo chí, văn học - nghệ thuật, cần phát huy mạnh mẽ vai trò của giáo dục truyền thống và khơi dậy tinh thần yêu nước trong toàn xã hội, đặc biệt trong thanh thiếu niên. Công tác tuyên truyền, giáo dục cần được xây dựng bài bản, hiện đại, gắn với thực tiễn đất nước và nhu cầu tiếp nhận của thế hệ trẻ. Việc xây dựng chương trình giáo dục lịch sử, truyền thống yêu nước trong nhà trường, tổ chức diễn đàn tri ân, cuộc thi tìm hiểu tấm gương người có công với cách mạng, cũng như lồng ghép chủ đề “Đền ơn đáp nghĩa” vào sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, phim ảnh và nền tảng số sẽ góp phần lan tỏa giá trị nhân văn sâu rộng trong cộng đồng. Trong kỷ nguyên số, cần ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, như trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo, thư viện số..., để đổi mới phương pháp giáo dục truyền thống cách mạng. Điều này giúp tăng tính tương tác, trải nghiệm, khơi dậy cảm xúc và nâng cao hiệu quả tiếp nhận, nhất là đối với thế
hệ trẻ.

Trong bối cảnh yêu cầu nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng trở nên cấp thiết, việc phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với chính sách ưu đãi người có công với cách mạng cần được đặc biệt coi trọng, thể hiện rõ tính dân chủ, công khai, minh bạch của chế độ ta - yếu tố cốt lõi trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cần hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên với cơ quan nhà nước, báo chí, truyền thông và cộng đồng dân cư để hoạt động giám sát, phản biện xã hội thực chất, hiệu lực và hiệu quả hơn.

Bên cạnh đó, việc huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” cần được nâng lên tầm chiến lược. Đây là sự tiếp nối truyền thống “toàn dân chăm sóc người có công”, thể hiện sâu sắc đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và là biểu hiện sinh động của tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cộng đồng trong điều kiện mới với sự vào cuộc của tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội, nhóm thiện nguyện và toàn xã hội. Sự tham gia của toàn xã hội không chỉ tăng thêm nguồn lực, mà còn tạo sức lan tỏa, khơi dậy ý thức trách nhiệm và củng cố mối liên kết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, việc lan tỏa giá trị tri ân còn góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam, một quốc gia - dân tộc nhân văn, nghĩa tình, trách nhiệm trong mắt bạn bè quốc tế.  Xã hội hóa công tác chăm lo người có công trên nền tảng giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, điều hành của Nhà nước, không chỉ mở rộng không gian thực thi chính sách, mà còn tạo lập một hệ sinh thái tri ân đa chiều, bền vững. Qua đó, giá trị truyền thống cốt lõi tốt đẹp được tiếp nối và phát huy mạnh mẽ trong kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên độc lập, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, hội nhập toàn diện và phát triển bền vững. Tri ân người có công với cách mạng không chỉ mang ý nghĩa đạo lý, mà còn góp phần củng cố niềm tin chiến lược, xây dựng nền tảng tinh thần cho phát triển bền vững và giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tri ân không chỉ là nghĩa vụ lịch sử, mà còn là nguồn lực tinh thần quý giá, hun đúc niềm tin, bồi đắp khát vọng và khơi dậy nội lực dân tộc. Tinh thần ấy tiếp tục là nền tảng vững chắc để Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vững bước đi lên trên con đường độc lập, tự cường, hiện thực hóa mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vì hạnh phúc của nhân dân, vì tương lai phồn vinh của đất nước, vì sự trường tồn của dân tộc Việt Nam.

 

SỰ CẦN THIẾT PHẢI NHẬN DIỆN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
TRƯỚC NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA ĐẤT NƯỚC

Các vấn đề xã hội ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Việt Nam.  Đặc biệt, trước sự chuyển đổi về mô hình quản lý mới của đất nước và đại hội các cấp tổ chức Đảng cơ sở đang diễn ra và trươc thềm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.

Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng đều đề cập khá rõ nhiều vấn đề xã hội nổi cộm như: tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; suy giảm niềm tin, tệ nạn xã hội như ma túy và mại dâm; tai nạn giao thông và thương tích; chất lượng nền giáo dục và đào tạo; chất lượng hệ thống khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đặc biệt, từ năm 1986 đến nay, tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về giải quyết các vấn đề xã hội đã có những bước phát triển mới: Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ việc giải quyết vấn đề xã hội sang nhấn mạnh việc phát huy quá trình xã hội hóa trong giải quyết vấn đề xã hội. Từ chỗ không chấp nhận vấn đề xã hội trong quá trình xây dựng đất nước sang chấp nhận các vấn đề xã hội như là hệ quả không mong muốn, song hành với sự phát triển kinh tế - xã hội. Từ chỗ coi việc giải quyết vấn đề xã hội là vấn đề thuần túy có tính chất chi phí nguồn lực sang vấn đề đầu tư cho phát triển bền vững. Từ chỗ giải quyết vấn đề xã hội mang tính bị động đối phó sang phương châm: dự báo, chủ động, tích cực hơn. Đặc biệt, trong việc giải quyết vấn đề xã hội đã từng bước lấy con người làm trung tâm, mục tiêu và động lực trong hoạch định và thực thi hệ thống chính sách an sinh xã hội nhằm giải quyết tốt/hiệu quả vấn đề xã hội".

Vấn đề xã hội là những hiện tượng xã hội này sinh từ điều kiện và hệ quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của cộng đồng, giai tầng xã hội hoặc toàn bộ xã hội. Nó được công luận hay một số bộ phận của công luận đòi hỏi như là một tất yếu cần được thay đổi giải quyết thông qua hệ không chính sách kinh tế - xã hội . Như vậy, các vấn đề xuất hiện từ các quan hệ xã hội có tác động, ảnh hưởng hoặc đe dọa đến sự phát triển bình thường của xã hội, đòi hỏi xã hội phải có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc giải quyết kịp thời, hiệu quả.

Một xã hội lành mạnh sẽ có sức đề kháng tốt đối với các “vấn đề xã hội”. Kinh nghiệm thực tiễn và khoa học đã chứng minh, khi kinh tế đi xuống, có thể chỉ cần vài năm để hồi phục, song khi những vấn đề xã hội gia tăng đến mức không thể kiểm soát, hệ quả xã hội rất khôn lường và sẽ mất nhiều thập niên để khôi phục. Về mặt lý thuyết có thể đưa ra 8 tiêu chí/đặc điểm để nhận diện vấn đề xã hội (phân biệt với vấn đề cá nhân), bao gồm: 1) Có liên quan và tác động tới nhiều nhóm trong xã hội; 2) Có liên quan và ảnh hướng đến nhiều thiết chế, lĩnh vực xã hội khác nhau; 3) Mang tính chất quốc tế, quốc gia; 4) Trở thành một chủ đề bàn bạc nhiều trong các chương trình nghị sự; 5) Nhận được sự quan tâm của dư luận xã hội; 6) Khó tiên lượng và đạt kết quả giải quyết tận gốc, triệt để; 7) Song hành với quá trình phát triển kinh tế - xã hội; 8) Phụ thuộc vào bối cảnh không gian và thời gian….

Ngày nay, trong bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước có nhiều biến động, để nâng cao hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả lãnh đạo, quản lý đất nước, nhận diện được các vấn đề xã hội đang diễn ra là quan trọng và cần thiết./.