Thứ Hai, 6 tháng 10, 2025

HÃY ĐẬP TAN THỨ DÂN CHỦ GIẢ HIỆU NÀY!

     Mấy hôm nay, tai nước Gruzia nhỏ bé, sát nách Nga, P Tây kích động một số người dân nước này làm CM lật đổ chính phủ dân bầu vì dám chống lại ý đồ của P Tây, thành lập mặt trận mới chống Nga, những kẻ bạo loạn, xông vào Dinh Tổng thống Gruzia, ngay lập tức vị Thủ tướng trẻ đã ra tối hậu thư cứng rắn, cảnh báo "những kẻ vô luật pháp sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng", các lực lượng an ninh của Georgia đã được chuẩn bị rất kỹ tình mọi tình huống, họ đã sử dụng hơi cay vòi rồng và các công cụ chống bạo loạn, dập tắt cuộc bạo loạn nhằm lật đổ chính quyền hợp pháp. Hàng chục kẻ tổ chức đã bị bắt giữ ngay sau đó. 

Thủ tướng Irakli Kobakhidze tuyên bố, đồng thời thề rằng bất kỳ ai cố gắng lật đổ giới lãnh đạo dân cử của Gruzia đều sẽ thất bại. Ông thẳng thắn nêu tên họ "một số điệp viên nước ngoài", mà người ta biết thừa chúng là những kẻ ngoại quốc, những kiến trúc sư nổi tiếng CM màu thường thấy ẩn náu dưới danh nghĩa dân chủ và cái vỏ bọc "xã hội dân sự".

Đừng hiểu lầm, đây không phải là một cuộc biểu tình tự phát. Đây là một chiến dịch chiến tranh lai tạp thứ dân chủ giả cầy nhằm mục đích làm chệch hướng một chính phủ không chịu khuất phục. Đó chính xác là lý do tại sao giới tinh hoa phương Tây không thể chịu đựng được điều này. Bởi vì khi một quốc gia nhỏ bé đứng vững và đó sự thách thức, nó sẽ luôn tạo ra sự bất đồng chính kiến. Ở Ireland, chúng ta nhớ đến Hiệp ước Lisbon và việc chúng ta được yêu cầu bỏ phiếu hết lần này đến lần khác, cho đến khi chúng ta đưa ra được câu trả lời đúng cho Brussels. Họ nói rằng dân chủ là thiêng liêng, nhưng kiểu dân chủ kép cần được hiểu dân chủ theo cách của họ... nếu không bạn sẽ trở thành bất đồng chính kiến khi trái quan điểm với họ.

Câu chuyện của Gruzia giờ đây phơi bày thứ dân chủ giả hiệu và sự đạo đức giả của P Tây. Khi ý chí của người dân nước này không phục vụ lợi ích của EU hay NATO, ngay và luôn thứ "dân chủ" đột nhiên trở thành các vụ bạo loạn hay nói một cách đó là thứ cách mạng màu Hãy nhắc đến các tổ chức phi chính phủ, sự phẫn nộ của truyền thông, mô hình cách mạng màu. Và cũng hãy nhắc đến cái lối nói "đây là lỗi của Nga". Nhưng lần này, kịch bản đang sụp đổ. 

Người dân Gruzia đã chán ngấy việc bị các nhà kỹ trị không được bầu ở châu Âu thuyết giảng. lên lớp về dân chủ và họ nhớ đến Nam Tư, Maidan, Rumani, Moldova, những kẻ đã biến dân chủ thành thứ "tự do" làm loạn, thành thứ vũ khí để nô dịch các quốc gia khác khi trở thành những quốc gia bất đồng chính kiến. TT Kobakhidze không chỉ bảo vệ chính phủ của mình, mà còn bảo vệ nguyên tắc rằng, một dân tộc có chủ quyền có quyền tự quyết, quyết định hướng đi, con đường của mình đã chọn, không bị thao túng, ràng buộc, bởi các tổ chức phi chính phủ phương Tây. 

Cứ để giới tinh hoa nổi giận. Cứ để báo chí thứ lá cải của truyền thông P Tây gào thét. Sự thức tỉnh của Gruzia hòa vào tiếng nói chung ngày càng lớn mạnh từ Serbia, Hungary đến Slovakia, những quốc gia đã quá mệt mỏi vì bị những kẻ hiếu chiến, phản dân chủ đã biến ý nghĩa tốt đẹp của dân chủ, thành vũ khí dạy bảo về tự do.

Khi một dân tộc giành lại tiếng nói của mình, đế chế rung chuyển. Và đêm nay, từ Tbilisi đến Belgrade, bạn có thể cảm nhận được sự rung chuyển đó./.
Khuyết danh ST.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TRONG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC!

     Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết là nền tảng chiến lược, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đoàn kết là sức mạnh, là “điều kiện tiên quyết để thành công”. Vận dụng tư tưởng đó trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi Đảng, Nhà nước và toàn hệ thống chính trị, các giai tầng xã hội kiên trì củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở tôn trọng sự đa dạng, đề cao lợi ích chung, bảo đảm công bằng, dân chủ và phát triển bền vững. Bài viết làm rõ những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn hiện nay và đề xuất định hướng vận dụng phù hợp trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay.

Đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những tư tưởng lớn, xuyên suốt và nhất quán trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” - một lời hiệu triệu mang giá trị trường tồn, khái quát vai trò sống còn của tinh thần đoàn kết đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Trong tư tưởng của Người, đại đoàn kết không chỉ là mục tiêu, mà còn là phương thức, là động lực để tập hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, bất kể thành phần, tôn giáo, dân tộc hay tầng lớp xã hội, cùng hướng tới lợi ích chung vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và hạnh phúc của Nhân dân. Tư tưởng đó đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo qua các thời kỳ lịch sử, trở thành sợi chỉ đỏ trong đường lối lãnh đạo cách mạng, góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về hội nhập quốc tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và bảo đảm công bằng xã hội, thì vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc càng trở nên cấp thiết.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết - nội dung cốt lõi và giá trị nền tảng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết (ĐĐK) được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa truyền thống yêu nước, nhân văn và khoan dung của dân tộc Việt Nam, kết hợp với thế giới quan cách mạng và chủ nghĩa nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ĐĐK là sự nghiệp của toàn dân, là sức mạnh tổng hợp từ sự liên kết, thống nhất giữa các giai tầng, các dân tộc, các tôn giáo, mọi thành phần trong xã hội trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân.

Người nhấn mạnh, đoàn kết không phải là khẩu hiệu hình thức, mà phải trở thành nguyên tắc hành động, được thể chế hóa bằng chính sách cụ thể, được thực hiện thông qua thực tiễn vận động quần chúng. Đại đoàn kết phải dựa trên nền tảng lợi ích dân tộc, đặt quyền lợi Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, kết hợp hài hòa lợi ích các giai tầng trong xã hội. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao vai trò của Mặt trận Dân tộc Thống nhất như một hình thức tổ chức chủ đạo để thực hiện ĐĐK toàn dân.

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐK là hệ thống những luận điểm, mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp giáo dục, tổ chức hướng dẫn hành động của Người với các lực lượng cách mạng, nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc, sức mạnh quốc tế trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đó chính là chiến lược xây dựng, củng cố, mở rộng, tăng cường lực lượng cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Tư tưởng ĐĐK Hồ Chí Minh được thể hiện trước hết ở chỗ: Đại đoàn kết là sức mạnh, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định sự thành công của cách mạng. Người cho rằng đoàn kết sẽ tạo nên sức mạnh bởi đoàn kết, ĐĐK là sự tập hợp và phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Nhưng đây không phải là sự tập hợp rời rạc của các phép cộng giản đơn mà luôn có sự tuyên truyền vận động, giáo dục, giác ngộ, hướng dẫn, tổ chức quần chúng thành lực lượng thống nhất để tạo nên sức mạnh vô địch chống mọi kẻ thù. Người nói: ĐĐK là “sức mạnh”(1), là “lực lượng”(2), “là then chốt của sự thành công”(3), đoàn kết là “điểm mẹ”, “Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”(4).

Đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là nội dung tư tưởng lớn, cơ bản xuyên suốt, nhất quán trong suốt cuộc đời hoạt động lý luận và thực tiễn của Người. Đồng thời, đó cũng là đường lối chiến lược của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhờ đó Đảng ta đã xây dựng được khối ĐĐK toàn dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một chủ trương, một chiến lược xuất phát từ sự cần thiết, từ ý muốn chủ quan của lực lượng lãnh đạo cách mạng, mà là sự đúc kết từ những nhu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng do quần chúng tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những nhu cầu đòi hỏi khách quan của quần chúng từ sự tự phát thành tự giác, thành hiện thực, có tổ chức, có sức mạnh. Người nhấn mạnh: đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng “dân” và lấy “dân” là trung tâm, là gốc rễ, là nền tảng, là chủ thể, là nguồn sức mạnh vô tận của khối ĐĐK, quyết định thành bại của cách mạng. Theo Người, ĐĐK toàn dân là tập hợp mọi người dân không phân biệt giới tính, lứa tuổi, ngành nghề, giai cấp, không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo… kể cả người Việt Nam ở nước ngoài hay những người lầm đường lạc lối đã biết hối cải trở về với chính nghĩa, miễn là người Việt Nam yêu nước vào thành một khối thống nhất của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trong khối ĐĐK đông đảo, rộng rãi ấy, Người sắp xếp vị trí, vai trò của từng giai cấp một cách đúng đắn, khoa học, trong đó, giai cấp công nhân, nông dân, trí thức là nòng cốt của khối ĐĐK, để tập hợp các lực lượng tiến bộ khác. Liên minh này được coi là xương sống, là sức mạnh của khối ĐĐK. Người ví “Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây”, “Nền có vững nhà mới chắc chắn, gốc có tốt thì cây mới tốt tươi”(5). Tổ chức thể hiện khối ĐĐK toàn dân tộc chính là Mặt trận Dân tộc thống nhất (nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Cho dù tên gọi của Mặt trận qua các thời kỳ có khác nhau, nhưng thực chất là một tổ chức chính trị rộng rãi, có vai trò vận động quần chúng đoàn kết xung quanh Đảng Cộng sản Việt Nam vì mục tiêu hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh. Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, cùng nhau bàn bạc đi đến nhất trí, loại trừ mọi sự áp đặt hoặc dân chủ hình thức. Trong đại đoàn kết phải có vai trò lãnh đạo của Đảng. Muốn tập hợp đoàn kết, quy tụ được cả dân tộc thì trước hết đảng đó phải là đảng cách mạng và trí tuệ. Đảng lãnh đạo Mặt trận bằng việc xác định chính sách mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ của cách mạng và phải theo nguyên tắc của Mặt trận. Đảng dùng phương pháp vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, lấy lòng chân thành của mình để đối xử, cảm hóa, không lấy quyền uy của mình buộc các thành viên khác tuân theo. Muốn lãnh đạo được Mặt trận, lãnh đạo được khối ĐĐK, trước hết Đảng phải thật sự đoàn kết, nhất trí. Sự đoàn kết của Đảng, của đội ngũ cán bộ là cơ sở cho đại đoàn kết toàn dân tộc.

Người xác định cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi phải đoàn kết, liên minh với các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên toàn thế giới. Do đó, ĐĐK toàn dân tộc phải gắn liền với ĐĐK quốc tế; chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. Đây là mối quan hệ biện chứng. Người khẳng định phải có sự liên hệ chặt chẽ, đoàn kết, ủng hộ giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa trong cách mạng vô sản thế giới và chính Người xây đắp mối quan hệ đoàn kết giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Trong đoàn kết quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức lưu ý phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, hữu nghị giữa các quốc gia; phải chống tư tưởng nước lớn, chống kỳ thị dân tộc, tránh sự tự ti, hẹp hòi, vị kỷ. ĐĐK dân tộc phải đi tới ĐĐK quốc tế, đoàn kết dân tộc là cơ sở cho thực hiện đoàn kết quốc tế. Phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tạo ra sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam. 

Đại đoàn kết dựa trên các nguyên tắc bất biến: đặt lợi ích tối cao của dân tộc, quyền lợi cơ bản của toàn dân lên trên hết và trước hết. Người đã chỉ ra mẫu số chung, điểm quy tụ của khối ĐĐK, đó là độc lập, tự do, thống nhất, hạnh phúc, dân chủ và giàu mạnh; với phương châm dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết, tất cả đều do con người và vì con người. Trong đoàn kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân. Người khái quát ngắn gọn mà sâu sắc “Gốc có vững, cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(6). Khối ĐĐK phải đứng vững trên lợi ích chung của dân tộc, lợi ích cơ bản của giai cấp công nông, không rơi vào khuynh hướng thoả hiệp vô nguyên tắc. Đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đoàn kết rộng rãi nhưng chặt chẽ, không phải là đoàn kết tràn lan, không có sự lầm lẫn giữa bạn và thù. Người đã luôn nhắc nhở các đồng chí cán bộ Mặt trận: “Chủ nghĩa Mác - Lênin dạy chúng ta rằng: muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn ai là thù, phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù”(7). Người nêu rõ: Đoàn kết phải gắn với đấu tranh, đấu tranh để tăng cường đoàn kết “Đoàn kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân”(8).      

Thấm nhuần tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, qua các kỳ Đại hội, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao: ĐĐK là để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, ĐĐK trước hết phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, là nhiệm vụ của cả dân tộc phải thực hiện. Đại đoàn kết chính là đồng tâm hiệp lực phát huy sức mạnh toàn dân tộc và sức mạnh thời đại nhằm thực hiện mục tiêu của cách mạng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng cốt lõi của ĐĐK là lấy dân làm gốc và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước. Trong các văn kiện, nghị quyết, Đảng đều nhấn mạnh quan điểm chủ đạo, xuyên suốt là coi đại đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng. Đại đoàn kết trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đoàn kết là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu có ý nghĩa quyết định và bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng. Đại đoàn kết toàn dân trong điều kiện thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa một mặt phát huy được tính năng động của mỗi người, từ những người dân bình thường trực tiếp lao động, sản xuất và học tập đến đội ngũ lãnh đạo, quản lý, đều hăng say hoạt động với năng suất, chất lượng hiệu quả ngày càng cao; mặt khác, phải khắc phục được những tiêu cực của kinh tế thị trường, đặc biệt là tâm lý chạy theo đồng tiền, cạnh tranh không lành mạnh, làm phai nhạt truyền thống đoàn kết, tình nghĩa tương thân, tương ái của dân tộc.

Trong đường lối, chiến lược, sách lược, Đảng luôn coi: Đại đoàn kết là phải đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu, lấy đó làm cơ sở xây dựng các chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội, xuất phát từ lợi ích dân tộc để mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi khả năng để xây dựng, phát triển đất nước. Trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước cần đoàn kết để xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu cũng như sự tụt hậu xa hơn về kinh tế, khoa học công nghệ so với các nước trong khu vực và thế giới, để thực hiện cho được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện được ĐĐK phải bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích; thực hiện dân chủ gắn liền với kỷ cương, chống quan liêu tham nhũng. Bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tinh thần tự lực tự cường xây dựng và bảo vệ đất nước. Phát triển kinh tế đồng thời giải quyết thỏa đáng các chính sách xã hội và mối quan hệ giữa ba lợi ích: xã hội, tập thể, cá nhân; bảo đảm đời sống của người lao động không ngừng được cải thiện và nâng cao.

Trải qua 13 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, bài học lớn mà chúng ta rút ra trong sự nghiệp cách mạng là dù khó khăn đến mấy, nếu biết đoàn kết đồng lòng, hiệp lực thì sẽ vượt qua. Do vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐK sẽ mãi mãi là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh vô địch đưa cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi bởi“Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(9).

Quan điểm, chủ trương của Đảng về ĐĐK, về xây dựng khối ĐĐK toàn dân trong thời kỳ hội nhập quốc tế và xây dựng đất nước được tổng kết và khái quát rất rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), được thể chế hóa bằng các bản Hiến pháp (đặc biệt là Hiến pháp sửa đổi năm 2013) và nhiều văn bản pháp luật khác. Quan điểm ĐĐK toàn dân tộc, đi vào cuộc sống đã khơi dậy quyền làm chủ, sự năng động, sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân trên mọi lĩnh vực. Kết quả của các cuộc vận động “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”… đã khẳng định đường lối ĐĐK toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là vô cùng đúng đắn.

Thành tựu 95 năm xây dựng Đảng, 80 năm xây dựng Nhà nước Việt Nam XHCN đã minh chứng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, các giai cấp, các tầng lớp nhân dân đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có những đóng góp to lớn vào thành quả chung của đất nước, vào việc củng cố, tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những thành quả đạt được trong công tác xây dựng Đảng, về xây dựng khối liên minh công - nông - trí đã góp phần củng cố niềm tin của đông đảo quần chúng nhân dân với Đảng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh “với hơn 10 triệu người, chiếm gần 30% lực lượng lao động xã hội, có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, giữ vai trò nòng cốt tiếp thu và làm chủ khoa học, công nghệ tiên tiến, góp phần quan trọng vào việc hình thành các ngành công nghiệp hiện đại và sự tăng trưởng của nền kinh tế”(10). Giai cấp nông dân Việt Nam với truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, vượt khó với “gần 20 triệu người, chiếm hơn 47% lực lượng lao động xã hội”(11), góp phần vô cùng quan trọng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới. Đội ngũ trí thức phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng “với 4,9 triệu người, chiếm hơn 11,5% lực lượng lao động xã hội, đi đầu trong các hoạt động khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế tri thức”(12) đã tạo ra nhiều giá trị khoa học, giá trị tinh thần, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đội ngũ thanh niên, phụ nữ, người cao tuổi, doanh nhân Việt Nam, các lực lượng vũ trang… phát huy truyền thống, phẩm chất để ngày đêm hăng say lao động, sáng tạo đóng góp khả năng và trí tuệ cho công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước, đảm bảo an sinh xã hội và đẩy nhanh tiến trình thực hiện CNH, HĐH đất nước

Quan tâm, chăm lo, tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, Đảng ta đặc biệt quan tâm giải quyết tốt vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo trong xã hội. Với quan điểm dựng xây đất nước “Dân giàu, nước mạnh”, giảm dần khoảng cách phát triển giữa các dân tộc với nhau, giữa vùng thuận lợi phát triển với vùng đặc biệt khó khăn, giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân tộc thiểu số (DTTS) với dân tộc đa số, giữa các DTTS với nhau trên nguyên tắc “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”, vùng DTTS và miền núi được ưu tiên hỗ trợ, đầu tư và phát triển. Đồng bào các DTTS trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc đã một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng và ngày nay trong công cuộc dựng xây quê hương đất nước ngày càng có nhiều đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo. “Với hơn 13 triệu người, chiếm 14,4% dân số cả nước, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào ngày càng được cải thiện trên cơ sở thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước và nỗ lực, sáng tạo của đồng bào các DTTS”(13). Đồng bào tín đồ các tôn giáo “khoảng 24 triệu người, chiếm gần 27% dân số cả nước”(14), đã tiếp tục phát huy truyền thống gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, “sống tốt đời, đẹp đạo”, tham gia các phong trào thi đua yêu nước, nỗ lực trong sản xuất, kinh doanh, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước. Bên cạnh đó, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng đã nêu cao tinh thần đoàn kết gắn bó với quê hương, đất nước, làm cầu nối góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Những đóng góp to lớn của các giai cấp, tầng lớp xã hội là những yếu tố cực kỳ quan trọng, là động lực chủ yếu đảm bảo ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy đất nước phát triển.

Trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã triển khai nhiều cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước có ý nghĩa thiết thực, được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, tham gia với tinh thần hăng hái và sáng tạo, đóng góp có hiệu quả vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân, cán bộ, đảng viên đã tích cực hưởng ứng học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với nội dung ngày càng thiết thực, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” ở từng cơ quan, địa bàn dân cư, góp phần đề cao giá trị đạo đức trong xã hội, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, tăng cường gắn bó, đoàn kết giữa Đảng, chính quyền, nhân dân. Đặc biệt, công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an sinh xã hội... đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc và đã đạt được những thành quả rất quan trọng, cho thấy ĐĐK toàn dân tộc được phát huy cao độ trong giai đoạn hiện nay, luôn là căn nguyên cơ bản tạo sự chuyển biến mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Hiện nay, dưới sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ, các bộ, ngành triển khai đánh giá hiệu quả của hệ thống chính sách dân tộc, nhất là các chính sách giảm nghèo đã triển khai trong thời gian qua, để đề xuất định hướng chính sách từ năm 2021 đến năm 2025 và năm 2030. Với quan điểm là tạo điều kiện để đồng bào DTTS bình đẳng hơn trong tiếp cận các cơ hội việc làm, an sinh xã hội, thông tin, thị trường, giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực… Tăng cường thực hiện các mục tiêu thiên nhiên kỷ, không để ai bị bỏ lại phía sau. Để thực hiện mô hình tăng trưởng gắn với giảm nghèo nhanh và bền vững ở vùng dân tộc, thời gian tới cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, có những giải pháp mang tính đột phá, tăng cường quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0…

2. Ý nghĩa của tư tưởng đại đoàn kết đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam

Trong suốt sự nghiệp cách mạng, tư tưởng đại đoàn kết đã chứng minh là một trong những yếu tố quyết định mọi thắng lợi. Từ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đến sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, đoàn kết toàn dân luôn là điều kiện tiên quyết để biến ý chí của dân tộc thành hiện thực. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Không có đoàn kết thì việc nhỏ mấy cũng không làm xong. Có đoàn kết thì việc khó khăn mấy cũng làm được”.

Tư tưởng đại đoàn kết không chỉ có ý nghĩa trong đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn giữ vai trò chiến lược trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, khi các mâu thuẫn xã hội, sự khác biệt về lợi ích, văn hóa và tôn giáo có nguy cơ bị lợi dụng để gây chia rẽ, tư tưởng đại đoàn kết càng cần được vận dụng để định hướng dư luận, ổn định xã hội và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trước hết, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc khẳng định sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng, cách mạng không thể thành công nếu thiếu sự đồng thuận, gắn bó của mọi tầng lớp nhân dân, mọi dân tộc anh em trong một khối thống nhất. Đại đoàn kết không chỉ là sự liên kết về mặt chính trị mà còn là sự hòa hợp về văn hóa, xã hội, kinh tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam. Đây là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp đất nước thoát khỏi ách thống trị của thực dân, đế quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc, đề cao sự tôn trọng và phát huy vai trò của mọi thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo, và các tầng lớp nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng đoàn kết phải dựa trên nền tảng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đồng thời biết dung hòa các lợi ích khác biệt để hướng tới mục tiêu chung vì sự nghiệp cách mạng và hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng này đã góp phần xóa bỏ những định kiến, hận thù giai cấp và dân tộc, tạo ra môi trường xã hội hòa bình, ổn định để phát triển.

Thứ ba, ý nghĩa của tư tưởng đại đoàn kết còn nằm ở chỗ nó tạo ra nguyên tắc tổ chức và phương thức vận động quần chúng đặc thù cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng linh hoạt, không chỉ trong giai đoạn kháng chiến mà còn trong xây dựng chính quyền mới, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Đây là chiến lược then chốt để huy động sức mạnh toàn dân, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong việc xây dựng khối đại đoàn kết vững chắc.

Tư tưởng đại đoàn kết còn có ý nghĩa về mặt giáo dục và đạo đức cách mạng, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa với tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng và lòng yêu nước sâu sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đại đoàn kết là biểu hiện cụ thể của đạo đức cách mạng và là nhân tố quyết định sự bền vững của cách mạng.

Tóm lại, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận và thực tiễn quan trọng nhất, góp phần làm nên bản sắc riêng có của cách mạng Việt Nam. Ý nghĩa sâu sắc và giá trị trường tồn của tư tưởng này tiếp tục là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh mới, đặc biệt trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nguồn lực chiến lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền và phát triển bền vững đất nước.

Vì vậy, để vận dụng hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trong điều kiện mới, cần nhìn nhận một cách khách quan các thách thức lớn đang đặt ra, bao gồm: (1) Đa dạng xã hội ngày càng cao, thể hiện ở sự phân hóa giàu nghèo, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, trình độ dân trí, và cơ hội tiếp cận dịch vụ công không đồng đều đang tạo ra những rào cản trong gắn kết xã hội. (2) Tác động của toàn cầu hóa và mạng xã hội dẫn đến những luồng tư tưởng đối lập, thông tin sai lệch, kích động dân tộc, tôn giáo, và chia rẽ xã hội có thể xâm nhập nhanh chóng nếu không có định hướng đúng đắn. (3) Xu thế cá nhân hóa, thực dụng trong xã hội thị trường đã và đang tiếp tục làm suy giảm tinh thần cộng đồng, trách nhiệm xã hội, gây ra sự thờ ơ chính trị và giảm sút niềm tin vào hệ thống chính trị - xã hội. (4) Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái đạo đức, quan liêu, tham nhũng làm xói mòn niềm tin của Nhân dân, gây tác động tiêu cực tới tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước.

Những thực tế này đòi hỏi tư tưởng đại đoàn kết không chỉ dừng lại ở nhận thức hay khẩu hiệu, mà phải được thể hiện bằng hành động cụ thể, chính sách hiệu quả, tổ chức chặt chẽ và phương pháp linh hoạt.

3. Định hướng vận dụng tư tưởng đại đoàn kết trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay
Thứ nhất, xác lập rõ ràng mục tiêu đại đoàn kết trong chiến lược phát triển quốc gia, coi đó là động lực nội sinh thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế bền vững.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng và cơ hội phát triển cho các dân tộc, vùng miền, tôn giáo, giai tầng trong xã hội. Điều này bao gồm nâng cao hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS, thúc đẩy giáo dục và y tế công bằng.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội: tăng cường phản biện xã hội, giám sát việc thực hiện quyền lực, làm cầu nối ý chí của Đảng với nguyện vọng của Nhân dân.

Thứ tư, nâng cao vai trò người có uy tín trong cộng đồng theo hướng đội ngũ trí thức, chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, nhà khoa học, doanh nhân... cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động xã hội, đối thoại chính sách và định hướng dư luận.

Thứ năm, phát triển văn hóa đoàn kết và tinh thần cộng đồng thông qua giáo dục, truyền thông, giao lưu văn hóa; đồng thời sử dụng hiệu quả công nghệ số để lan tỏa thông điệp đoàn kết trong giới trẻ và cộng đồng mạng.

Thứ sáu, tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với Nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, biết lắng nghe và hành động vì lợi ích chung, qua đó khơi dậy niềm tin, tạo dựng sự đồng thuận và gắn bó của toàn thể Nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết là một di sản lý luận và thực tiễn có giá trị trường tồn trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đó không chỉ là chiến lược hành động trong các giai đoạn lịch sử trước đây mà còn là kim chỉ nam định hướng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hiện nay và tương lai. Với quan niệm “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập đại đoàn kết toàn dân tộc như một nguyên lý phát triển, một phương châm tổ chức và một công cụ thực tiễn để huy động, kết nối mọi lực lượng xã hội vào mục tiêu chung của dân tộc. Bài học sâu sắc rút ra từ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết là: để giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết phải kiên trì xây dựng một Đảng trong sạch, vững mạnh, gắn bó máu thịt với Nhân dân; một Nhà nước của dân, do dân, vì dân; một xã hội thượng tôn pháp luật, công bằng và nhân văn. Chỉ khi niềm tin được củng cố, dân chủ được thực thi thực chất và lợi ích chính đáng của mọi người dân được bảo đảm, thì tinh thần đại đoàn kết mới thực sự trở thành nội lực to lớn, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững./.
----------------------------------------
(1), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG-ST, H.1996, tr.22, tr.154.

(2), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, sđd, tr.276, tr.392.

(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, sđd, tr.438.

(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, sđd, tr.410.

(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, sđd, tr.605.

(8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, sđd, tr.137.

(9) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.24.

(10), (11), (12), (13), (14) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo cáo tại Đại hội ĐBTQ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2014 - 2019.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHIÊN HỌP XEM XÉT, ĐỀ NGHỊ PHONG TẶNG, TRUY TẶNG DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN!

     Chiều 6-10, tại Hà Nội, Cơ quan Thường trực Hội đồng Thi đua-Khen thưởng (TĐ-KT) Bộ Quốc phòng tổ chức phiên họp xem xét, đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và thời kỳ đổi mới. Thượng tướng Trương Thiên Tô, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng TĐ-KT Bộ Quốc phòng chủ trì phiên họp.

Tại phiên họp, đại diện Cơ quan Thường trực Hội đồng TĐ-KT Bộ Quốc phòng báo cáo kết quả thẩm định hồ sơ, thành tích của các tập thể, cá nhân được đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Theo đó, việc xét đề nghị khen thưởng được các cơ quan, đơn vị thực hiện đúng quy trình, thủ tục; hồ sơ đầy đủ, bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định. Thông tin về các trường hợp được đề nghị phong tặng, truy tặng đã được đăng công khai trên Báo QĐND và Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng. Kết thúc thời gian đăng tải, cơ quan thường trực tổng hợp, tiếp thu các ý kiến đóng góp của tổ chức, cá nhân để hoàn thiện hồ sơ theo quy định.

Các đại biểu tại phiên họp đã thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến về quá trình thẩm định, xác minh hồ sơ, đánh giá thành tích của các tập thể, cá nhân; đồng thời phân tích, làm rõ thêm những căn cứ, cơ sở để bảo đảm việc đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu được thực hiện chặt chẽ, khách quan, đúng quy định của pháp luật. Nhiều ý kiến nhấn mạnh việc cần tiếp tục nghiên cứu, xem xét toàn diện thành tích trong kháng chiến cũng như trong giai đoạn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của từng tập thể, cá nhân được đề nghị.

Kết luận phiên họp, Thượng tướng Trương Thiên Tô ghi nhận và đánh giá cao công tác chuẩn bị của Cơ quan Thường trực Hội đồng TĐ-KT Bộ Quốc phòng; biểu dương tinh thần làm việc trách nhiệm, nghiêm túc của các thành viên hội đồng. Thượng tướng Trương Thiên Tô yêu cầu Cơ quan Thường trực tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại phiên họp, tiếp tục rà soát, bổ sung hồ sơ, hoàn thiện báo cáo để trình cấp có thẩm quyền xem xét theo đúng quy định.

Việc xem xét, đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thể hiện sự quan tâm, ghi nhận, tri ân của Đảng, Nhà nước và Quân đội đối với những tập thể, cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc, góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của QĐND Việt Nam anh hùng./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TÌNH CẢM THIÊNG LIÊNG CỦA BÁC HỒ GỬI TRỌN CHO THIẾU NHI MỖI MÙA TRĂNG RẰM!

     Khi những cơn gió mùa thu nhẹ nhàng len lỏi qua từng ngọn cây, khi ánh trăng rằm tháng Tám tròn vành vạnh tỏa sáng khắp mọi nẻo đường làng quê, thành phố, đó cũng là lúc Tết Trung thu - ngày hội cổ truyền của thiếu nhi Việt Nam về trong niềm hân hoan, mong chờ của biết bao em nhỏ.

Trung thu không chỉ là dịp để các em vui chơi, phá cỗ, rước đèn mà còn là thời khắc thiêng liêng để thế hệ trẻ nhớ về tình cảm sâu nặng, bao la mà Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ muồn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam đã dành trọn cho thiếu nhi. Trong tâm hồn của Người, trẻ em là niềm vui, là sự trong sáng, là thế hệ măng non tương lai của đất nước, là lớp người sẽ kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc.

Vì vậy, sinh thời, Bác Hồ luôn dành cho thiếu nhi sự quan tâm đặc biệt. Mỗi dịp Tết Trung thu đến, mặc dù bận trăm công nghìn việc nước, Bác vẫn không quên gửi thư hoặc sáng tác thơ để chúc Tết các cháu. Những lời thơ, lời chúc ấy không chỉ thể hiện sự yêu thương sâu sắc mà còn ẩn chứa bao thông điệp, bài học đạo đức, lối sống mà Bác gửi gắm cho thế hệ tương lai của đất nước. Một trong những câu thơ nổi tiếng nhất, giản dị mà xúc động vô cùng, đó là:“Trung thu trăng sáng như gương/ Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng…”

Câu thơ ấy chính là nỗi nhớ, tình cảm của Bác đối với thiếu nhi, ẩn chứa sâu xa trong đó là tâm hồn cao đẹp, tinh tế và chan chứa tình thương yêu của Người. Trăng Trung thu trong thơ Bác vừa là hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, vừa là biểu tượng cho sự tròn đầy, tinh khôi giống như tâm hồn của trẻ thơ vậy. Trong không gian yên bình của đêm rằm, điều mà Bác nghĩ đến không phải là vinh hoa, quyền lực, mà là những ánh mắt trong veo, những nụ cười hồn nhiên của thiếu nhi khắp mọi miền đất nước. Điều đó cho thấy tình yêu thương của Bác dành cho các em nhỏ không phải là điều ngẫu nhiên hay mang tính hình thức, mà xuất phát từ trái tim đầy nhân ái của một con người hết lòng vì dân, vì nước.

Từ những ngày đầu lập quốc, khi đất nước còn trong cảnh đói nghèo, chiến tranh, thiếu thốn trăm bề, Bác Hồ đã sớm nhấn mạnh vai trò, vị trí đặc biệt của trẻ em trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bác từng căn dặn: “Trẻ em như búp trên cành, biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”. Câu thơ ấy hàm chứa sự ví von đầy yêu thương, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Người về thế hệ măng non kế cận, là nền móng cho tương lai, cần được chăm sóc, dạy dỗ, bảo vệ chu đáo.

Bác không chỉ nói suông mà còn luôn quan tâm bằng những hành động cụ thể. Bất cứ khi nào có điều kiện, Bác đều dành thời gian đến thăm các trường học, trại hè, nhà thiếu nhi, hỏi han tình hình học tập, sinh hoạt của các em. Có lần, Bác đến thăm một lớp học, thấy học sinh không thuộc bài, Bác không trách mà nhẹ nhàng động viên, nhắc nhở các em cố gắng hơn. Cũng có lần, khi đang trong một cuộc họp quan trọng, nghe tin có đoàn thiếu nhi đến thăm, Bác đã dừng cuộc họp lại để ra tiếp, ôm hôn từng em nhỏ và trò chuyện thân mật, như một người ông hiền từ trong gia đình.

Một kỷ niệm đầy xúc động được kể lại là vào dịp Trung thu năm 1945 - Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Dù đất nước còn rất nghèo, chính quyền non trẻ mới thành lập, muôn vàn khó khăn bủa vây, Bác vẫn không quên viết thư chúc Tết Trung thu đầu tiên cho thiếu nhi cả nước. Trong thư, Bác viết: “Các cháu yêu quý! Trung thu là Tết của các cháu. Tết Trung thu năm nay là Tết Trung thu đầu tiên của nước ta độc lập. Bác mong các cháu vui vẻ, mạnh khỏe, chăm học, ngoan ngoãn…”. Những lời chúc tưởng chừng giản đơn ấy đã trở thành động lực lớn lao, là minh chứng cho tấm lòng yêu thương, bao dung của Bác dành cho thế hệ mầm non của đất nước.

Không chỉ yêu thương thiếu nhi thành thị hay con em cán bộ, Bác còn đặc biệt quan tâm đến các em nhỏ vùng sâu, vùng xa, con em đồng bào dân tộc thiểu số, các em có hoàn cảnh khó khăn, mồ côi, bệnh tật. Có lần, một cháu bé mồ côi đứng ngoài hàng rào nhìn vào nơi Bác đang thăm thiếu nhi. Biết chuyện, Bác đã gọi cháu vào, ôm vào lòng và nói: “Bác là Bác của tất cả các cháu”. Câu nói ấy như một lời khẳng định về tình yêu thương vô hạn, không phân biệt giàu nghèo, dân tộc hay hoàn cảnh, với Bác, mọi trẻ em đều xứng đáng được yêu thương và bảo vệ.

Trung thu ngày nay đã khác xưa rất nhiều. Đất nước hòa bình, đời sống nhân dân không ngừng nâng cao. Những chiếc lồng đèn giấy nay được thay bằng đèn điện nhấp nháy, mâm cỗ Trung thu được bày biện đầy đủ hơn với bánh, kẹo, hoa quả. Thế nhưng, hình ảnh Bác Hồ vẫn luôn hiện diện trong lòng thiếu nhi Việt Nam mỗi độ trăng rằm. Những vần thơ của Bác, những câu chuyện về Bác đã trở thành bài học đầu đời cho các em, nuôi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước, lòng biết ơn và ý thức vươn lên trong học tập, rèn luyện.

Tình cảm thiêng liêng mà Bác dành cho thiếu nhi cũng là kim chỉ nam cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam hiện nay. Đảng, Nhà nước và toàn xã hội luôn xác định: chăm lo cho thiếu nhi là trách nhiệm của cả cộng đồng. Nhiều chương trình, chính sách, mô hình chăm sóc trẻ em đã được triển khai rộng khắp: từ các lớp học miễn phí cho trẻ em nghèo, học bổng vượt khó, đến các chương trình “Trung thu cho em”, “Vầng trăng yêu thương” mang niềm vui đến với các em ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít thách thức mà trẻ em phải đối mặt: áp lực học tập, tai nạn thương tích, bạo lực học đường, sự xâm hại trong môi trường số… Những điều ấy càng thôi thúc xã hội phải hành động nhiều hơn nữa để trẻ em thực sự được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, được yêu thương và phát triển toàn diện.

Mỗi mùa Trung thu về, ánh trăng lại nhắc chúng ta nhớ đến Bác Hồ với bao tình yêu thương Người đã dành cho thiếu nhi. Câu thơ “Trung thu trăng sáng như gương, Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng” mãi mãi là biểu tượng của một tình cảm thiêng liêng, trong sáng, cao đẹp. Tình cảm ấy không chỉ để chúng ta tưởng nhớ, mà còn là ngọn đuốc soi đường cho hành trình chăm lo, bảo vệ thế hệ tương lai của đất nước, những chủ nhân của ngày mai sẽ tiếp bước hiện thực khát vọng Việt Nam hùng cường trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
Yêu nước ST.

COI TỘI PHẠM LÀ “TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM”, SỰ ĐÁNH TRÁO NGUY HIỂM!

     Trong bối cảnh quốc tế quan tâm sâu rộng đến vấn đề nhân quyền, một thủ đoạn không mới nhưng rất tinh vi tiếp tục được các thế lực thù địch tận dụng triệt để nhằm thực hiện mưu đồ chống phá đất nước ta. Chúng cố tình đánh tráo khái niệm, quy chụp bản chất, coi những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, bị cơ quan chức năng xử lý theo trình tự tố tụng là “tù nhân lương tâm”...

Đánh tráo khái niệm, quy chụp bản chất

Cần phải nói rõ ngay và luôn, thủ đoạn đánh tráo khái niệm, quy chụp bản chất, coi tội phạm đang bị giam giữ là “tù nhân lương tâm” nhằm vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền”-một trong những chiêu bài “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Vấn đề này không mới, nếu không muốn nói là rất cũ. Chúng ta đã rất nhiều lần lên tiếng bác bỏ bằng đầy đủ các luận điểm, luận cứ, luận chứng thuyết phục trên cơ sở luật pháp quốc tế, pháp luật Việt Nam và thực tiễn đời sống xã hội. Tuy nhiên, mỗi khi các cơ quan thực thi pháp luật trong nước thực hiện các trình tự tố tụng đối với một đối tượng về các tội danh được quy định rõ trong Bộ luật Hình sự, thì các thế lực thù địch và đối tượng chống phá lại “dựa hơi” cái gọi là “tù nhân lương tâm” để quy chụp vô căn cứ “Việt Nam vi phạm nhân quyền”.

Thời gian gần đây, khi một số đối tượng phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ”... bị xử lý theo các quy định của Bộ Luật Hình sự, hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, quy chụp, kích động... tiếp tục được các thế lực thù địch và phần tử phản động đẩy mạnh. Chúng gọi một số đối tượng phạm pháp bằng những danh xưng hết sức vô lý và nực cười, như: “Nhà đấu tranh”, “nhà hoạt động vì quyền đất đai”, “nhà đấu tranh ôn hòa”... Thậm chí, ngay cả những đối tượng phạm tội khủng bố, giết người trong vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra vào tháng 6-2023 tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, bị xử lý tội “khủng bố” và “khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”, đang bị giam giữ theo quy định của pháp luật Việt Nam, cũng được chúng xếp vào danh sách “tù nhân lương tâm”, lên tiếng đòi trả tự do với giọng điệu rất thống thiết...

Vì sao trong giai đoạn này, vấn đề của cái gọi là “tù nhân lương tâm” lại tiếp tục được các thế lực thù địch khai thác, đào bới, trở thành đề tài tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam? Không khó để tìm ra câu trả lời, đó là các thế lực thù địch cố tình tạo ra những “drama” để thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế về nhân quyền, tự do dân chủ, tự do ngôn luận... ở Việt Nam. Chúng tạo “drama” trên các nền tảng mạng xã hội để gây nhiễu loạn thông tin, kích động hận thù, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, nhằm làm giảm, tiến tới làm mất uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, gây cản trở hoạt động hợp tác, xúc tiến đầu tư, phát triển kinh tế.

Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta đang tổ chức đại hội đảng các cấp, nhiệm kỳ 2025-2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng; thủ đoạn mở chiến dịch truyền thông “kêu gọi thống thiết” trả tự do cho “tù nhân lương tâm” là một chiêu bài rất nguy hiểm. Chúng tạo cớ để đánh vào lòng tin của nhân dân, kích động mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, xuyên tạc khối đại đoàn kết toàn dân, nhằm phá hoại Đại hội XIV của Đảng. Trong khi Đảng, Nhà nước ta đang đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân, hợp tác quốc tế..., thủ đoạn đánh tráo khái niệm, quy chụp bản chất, gọi tội phạm là “tù nhân lương tâm” còn là chiêu bài để chúng hạ bệ uy tín lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, bóp méo, bôi đen tình hình đất nước.

Ở một phương diện khác, bên cạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng, Nhà nước ta đẩy mạnh với tinh thần quyết liệt, không có vùng cấm, bất kể người đó là ai, sức mạnh công lý cũng được thực thi nhanh chóng, nghiêm minh đối với các hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận để chống phá Đảng, chống phá chính quyền nhân dân. Với sự tương tác nhanh chóng và rộng rãi của không gian mạng, việc xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật làm phương hại đến an ninh chính trị, an ninh quốc gia được dư luận tiến bộ đồng tình, ủng hộ. Ở chiều ngược lại, khi chúng ta càng đạt được những thành tựu tích cực thì các thế lực thù địch lại càng cay cú. Chúng càng ra sức tuyên truyền xuyên tạc, phá hoại...

Tỉnh táo nhận diện, quyết liệt đấu tranh phản bác

Sự đánh tráo khái niệm, coi tội phạm là “tù nhân lương tâm” là kiểu tư duy võ đoán, nhằm quy chụp bản chất, chuyển vị thế từ người có hành vi nguy hại cho xã hội thành “nạn nhân cần bảo vệ”.

Bằng phương pháp luận khách quan, chúng ta cần thấy rõ vấn đề dưới những góc nhìn đa chiều. Cái gọi là “tù nhân lương tâm” dễ gây cảm tính, đánh lừa cảm xúc dư luận về hình ảnh người bị bắt, bị giam giữ vì đức tin, vì bày tỏ chính kiến ôn hòa, cần được bảo vệ. Khi các thế lực thù địch rêu rao, “thương vay khóc mướn”, biến những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật thành “tù nhân lương tâm”, chúng muốn tận dụng, khoét sâu vào cảm xúc thương xót, trắc ẩn trong tâm lý xã hội. Hiệu ứng tâm lý này khiến công chúng, nhất là công chúng quốc tế ít am hiểu bối cảnh pháp lý và thiếu chứng cứ thực tiễn ở Việt Nam bị “đánh lừa”, từ đó hình thành những đánh giá sai lệch. Bằng việc khai thác triệt để môi trường không gian mạng và các kênh truyền thông dễ dãi với thông tin cảm tính, thiếu kiểm chứng, có tư tưởng thù địch với Việt Nam, chúng muốn lôi kéo các tổ chức, cá nhân bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Trong các chiến dịch truyền thông, chúng thường sử dụng các tiêu đề giật gân: “Vi phạm nhân quyền”, “bắt bớ chính trị”, “đàn áp quyền tự do biểu đạt”... nhưng lại cố tình bỏ quên bối cảnh pháp lý và thực tiễn, bản chất vụ việc. Thủ đoạn quy chụp này làm nhiễu loạn thông tin, tạo bình phong che chắn cho các đối tượng phạm pháp tiếp tục các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước dưới danh nghĩa “đấu tranh ôn hòa”, “tự do ngôn luận”...

Nhìn lại một cách có hệ thống, chúng ta thấy rõ, vấn đề “nhân quyền”, “dân chủ”... luôn là đề tài nhạy cảm trên các diễn đàn quốc tế. Sự nhạy cảm ấy đến từ đặc điểm, thể chế chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc và mức độ thiện chí của dư luận quốc tế đa chiều. Chúng ta đã rất nhiều lần khẳng định với đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”. Pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân. Các hành vi vi phạm pháp luật, bất kể là ai, đều phải chịu chế tài nghiêm minh. Những đối tượng mà các thế lực thù địch vô cớ gọi là “tù nhân lương tâm” thực chất là những đối tượng vi phạm pháp luật, bị xử lý bằng những quy định của pháp luật. Họ là công dân Việt Nam, phải chịu chế tài và hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật Việt Nam.

Tính nhân văn của pháp luật Việt Nam không chỉ ở sự bình đẳng, nghiêm minh, mà luôn mở đường cho những ai biết hối cải. Chính sách khoan hồng, đặc xá... được thực hiện công khai, minh bạch đã thể hiện rõ điều này. Đây cũng chính là cơ hội, là cửa mở sáng cho những ai biết ăn năn, hối cải. Thay vì ảo tưởng sức mạnh, để cho các thế lực phản động biến thành con rối giật dây, phản dân, hại nước..., hãy thành thật, thành tâm cải tà quy chính, quay đầu là bờ, học tập, cải tạo thật tốt để sớm được trở về với gia đình, cộng đồng. Sự nghiêm minh và nhân văn của pháp luật cũng chính là lời cảnh tỉnh cho những ai đang mắc hội chứng “ngáo chính trị” biết dừng lại đúng lúc. Thay vì lên mạng nói xấu chế độ, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, hãy làm những gì có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Trên mặt trận truyền thông, đấu tranh để vạch trần thủ đoạn đánh tráo khái niệm, quy chụp bản chất, làm thất bại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, đòi hỏi phải có sự chủ động, trách nhiệm và đồng bộ của toàn bộ hệ thống, từ các cơ quan pháp luật, báo chí truyền thông đến từng cán bộ, đảng viên và công dân. Chúng ta cần làm tốt hơn nữa sự minh bạch về pháp lý, kịp thời và chủ động hơn nữa về thông tin, làm cơ sở nâng cao tính thuyết phục và hiệu quả trong nhận diện, hoạt động tuyên truyền, đấu tranh phản bác, bảo vệ pháp luật và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGHỊ QUYẾT SỐ 303/NQ-CP "CHỈ ĐẠO MỚI NHẤT CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 2 CẤP"!

     Nghị quyết số 303/NQ-CP, ngày 3/10/2025 của Chính phủ về giải pháp thực hiện hiệu quả chính quyền địa phương 2 cấp theo Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Tạo điều kiện tối đa cho chính quyền địa phương hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả

Ngày 3/10/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 303/NQ-CP về giải pháp thực hiện hiệu quả chính quyền địa phương 2 cấp theo Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Nghị quyết nêu rõ, Chính phủ thống nhất đánh giá: Sau 3 tháng triển khai vận hành chính quyền địa phương 2 cấp đã cơ bản đáp ứng các mục tiêu đề ra và đạt được kết quả tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, tạo thuận lợi cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn. 

Chính phủ ghi nhận và đánh giá cao các bộ, ngành, địa phương đã nỗ lực, tích cực trong việc triển khai các nhiệm vụ để phục vụ hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp.

Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề cần phải nhận diện đầy đủ, cụ thể và có các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho địa phương; tinh thần là không cầu toàn, không nóng vội nhất là trong điều kiện chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, phục vụ Nhân dân đòi hỏi phải có thời gian, nhưng việc triển khai cần quyết liệt và hiệu quả, kết quả đạt được phải cụ thể, chuyển biến tích cực, rõ nét sau từng tuần, tháng, quý, năm. 

Các bộ, cơ quan ngang bộ nâng cao trách nhiệm tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc của địa phương, tạo điều kiện tối đa cho chính quyền địa phương hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và phải tăng cường kiểm tra, giám sát trực tiếp tại các địa phương.

Để tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã giao, bảo đảm tổ chức bộ máy của địa phương hoạt động hiệu quả, phục vụ người dân, tổ chức, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn; đồng thời, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ, cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sau:

Rà soát, sửa đổi ngay các quy định chưa phù hợp với chính quyền địa phương 2 cấp

1. Các bộ, cơ quan ngang bộ căn cứ Kết luận số 195-KL/TW ngày 26 tháng 9 năm 2025 và các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, rà soát các nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý được giao tập trung triển khai ngay các công việc đang thực hiện nhưng chưa hoàn thành, các công việc chưa thực hiện để khắc phục ngay tình trạng tồn đọng, bỏ sót nhiệm vụ, tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền những nhiệm vụ, công việc đã hoàn thành.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan khẩn trương rà soát toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật để ban hành, sửa đổi, bổ sung ngay, bảo đảm khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, chưa phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, nhất là trong các lĩnh vực: tài chính, khoa học công nghệ, nội vụ, tư pháp, nông nghiệp và môi trường, xây dựng, giáo dục và đào tạo, đặc biệt là hạ tầng số và nâng cao năng lực cán bộ, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ.

Trên cơ sở kết quả rà soát của các địa phương về tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, giao các bộ, cơ quan ngang bộ kịp thời sửa đổi, bổ sung bảo đảm thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. 

Các đồng chí Bộ trưởng cần trực tiếp chỉ đạo kiểm tra, giám sát, nắm tình hình và tổ chức thực hiện kịp thời, hiệu quả.

Trước 10/10 hoàn thành chi trả chế độ, chính sách cho người nghỉ việc, nghỉ hưu trước tuổi

Hoàn thành việc chi trả chế độ, chính sách theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, Nghị định số 67/2025/NĐ-CP chậm nhất trước ngày 10 tháng 10 năm 2025; 

Bảo đảm nguồn lực tài chính, nhân lực và cơ sở vật chất cho việc sắp xếp bộ máy, chi trả chế độ, chính sách cho đối tượng nghỉ việc, nghỉ hưu trước tuổi theo đúng quy định; 

Báo cáo kết quả chi trả chế độ, chính sách về Ban Chỉ đạo sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp (qua Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính) chậm nhất trước ngày 10 tháng 10 năm 2025 để tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền. 

Nếu có vướng mắc về pháp lý, chính sách thì báo cáo ngay cho Chính phủ (qua Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính) trước ngày 05 tháng 10 năm 2025.

Tăng cường cán bộ, công chức cấp tỉnh về cấp xã

2. Bộ Nội vụ trực tiếp đôn đốc kiểm tra các địa phương trong việc thực hiện tăng cường cán bộ, công chức cấp tỉnh về cấp xã; 

Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan trung ương chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tổng rà soát, đánh giá, phân loại gắn với cơ cấu lại đội ngũ và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã sau sắp xếp để cho nghỉ theo chế độ những cán bộ, công chức không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, làm cơ sở cho việc tuyển dụng, bố trí, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, giải quyết tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực; tổng hợp, xem xét kết quả thực hiện trước ngày 15 tháng 10 năm 2025; 

Xây dựng Đề cương báo cáo hướng dẫn để các bộ, cơ quan ngang bộ báo cáo định kỳ và gửi Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ vào 15 giờ Thứ hai hàng tuần để Bộ Nội vụ tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước 15 giờ Thứ ba hàng tuần; 

Phối hợp với Bộ Tài chính đôn đốc các bộ, ban, ngành, địa phương hoàn thành việc chi trả chế độ, chính sách theo Nghị định sửa đổi Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, Nghị định số 67/2025/NĐ-CP trước ngày 10 tháng 10 năm 2025.

Thực hiện ngay việc bố trí kế toán trưởng của các cơ quan, tổ chức

3. Bộ Tài chính khẩn trương hướng dẫn địa phương thực hiện ngay việc bố trí kế toán trưởng của các cơ quan, tổ chức, không để kéo dài tình trạng thiếu kế toán trưởng; 

Đăng ký mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước của cơ quan, đơn vị để thực hiện chi trả lương, chi thực hiện nhiệm vụ, giải quyết chế độ, chính sách theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, Nghị định số 67/2025/NĐ-CP của Chính phủ, hoàn thành trước ngày 10 tháng 10 năm 2025; 

Kiểm tra, hướng dẫn việc sắp xếp trụ sở làm việc, tài sản công, tránh thất thoát, lãng phí, báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền các giải pháp để xử lý tài sản công hiệu quả; trang bị xe ô tô cho các xã, phường, đặc khu còn thiếu (điều chuyển hoặc mua mới theo quy định); hoàn thành các phương án sắp xếp theo thẩm quyền trước ngày 30 tháng 10 năm 2025, trường hợp vượt thẩm quyền, báo cáo Chính phủ (qua Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ) trước ngày 30 tháng 10 năm 2025.

Thành lập Tổ công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp

4. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ xây dựng dự thảo Quyết định thành lập Tổ công tác do Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ theo lĩnh vực phụ trách và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ đứng đầu để kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ về đầu tư công và việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 05 tháng 10 năm 2025.

5. Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành trong công tác hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.

6. Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm hoàn thiện hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước và giải quyết thủ tục hành chính; khắc phục tình trạng thiếu thống nhất về thông tin báo cáo, thực hiện báo cáo theo thời gian thực về tình hình hoạt động chính quyền địa phương 2 cấp; hoàn thành trước ngày 05 tháng 10 năm 2025.

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương quản lý hoạt động xây dựng

7. Bộ Xây dựng rà soát, sửa đổi các quy định quy phạm pháp luật theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương quản lý hoạt động xây dựng, thực hiện cấp phép xây dựng; tăng cường công tác xây dựng thể chế, chính sách, ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định pháp luật trong ngành, lĩnh vực.

8. Văn phòng Chính phủ xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ Công điện về kiểm soát chặt chẽ việc cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính, tạo điều kiện thuận lợi, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, hoàn thành trước ngày 05 tháng 10 năm 2025./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH NƯỚC LƯƠNG CƯỜNG GỬI THƯ CHÚC TẾT TRUNG THU 2025 TỚI CÁC CHÁU THIẾU NIÊN, NHI ĐỒNG!

     Nhân dịp Tết Trung thu 2025, ngày 3/10, Chủ tịch nước Lương Cường đã gửi Thư cho các cháu thiếu niên, nhi đồng Việt Nam ở trong và ngoài nước!

Xin trân trọng giới thiệu toàn văn Thư của Chủ tịch nước:

Hà Nội, ngày 3 tháng 10 năm 2025

Thư gửi các cháu thiếu niên, nhi đồng Tết Trung thu 2025

Các cháu thiếu niên, nhi đồng yêu quý!

Một Tết Trung thu lại tới, mang theo những sắc màu ấm áp và những cảm xúc ngọt ngào được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Bác thân ái gửi đến các cháu thiếu niên, nhi đồng ở khắp mọi miền Tổ quốc, các cháu người Việt Nam ở nước ngoài những tình cảm yêu thương, lời thăm hỏi ân cần và lời chúc tốt đẹp nhất.

Tết Trung thu từ bao đời nay đã trở thành nét đẹp không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Việt Nam. Đây là dịp để các cháu vui chơi, sum họp, quây quần bên gia đình và bạn bè. Tuy nhiên Bác biết rằng, năm nay nhiều địa phương trên đất nước ta đang phải gồng mình chống chọi với bão lũ, mưa lớn kéo dài, gây thiệt hại to lớn về người và tài sản, ảnh hưởng nặng nề tới đời sống, sinh hoạt và học tập của các cháu. Bác xin chia sẻ và gửi lời thăm hỏi sâu sắc nhất đến các cháu và các gia đình đang chịu ảnh hưởng của thiên tai.

Bác tin rằng với sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước và tinh thần đoàn kết, yêu thương, sự đùm bọc của cả dân tộc, các cháu cùng gia đình sẽ vượt qua khó khăn, sớm ổn định cuộc sống, tiếp tục học tập, vui chơi và nuôi dưỡng ước mơ của mình.

Đảng, Nhà nước và toàn xã hội luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho các cháu, luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất để các cháu được học tập, rèn luyện, vui chơi an toàn và phát triển toàn diện. Bác mong các cháu luôn giữ vững tinh thần hiếu học, luôn chăm ngoan, đoàn kết, yêu thương và chia sẻ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau trưởng thành, để đóng góp công sức xây dựng đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Nhân dịp Tết Trung thu năm 2025, Bác gửi đến tất cả các cháu niềm tin yêu, hy vọng. Chúc các cháu đón một mùa Trung thu thật ý nghĩa, an toàn, ấm áp bên gia đình, thầy cô và bạn bè. Bác mong các cháu không được may mắn, các cháu ở vùng lũ sẽ luôn cố gắng, không lùi bước trước khó khăn; các cháu hãy giữ mãi nụ cười hồn nhiên, trong sáng, thắp lên những ước mơ thật tươi đẹp, để sau cơn mưa bão cuộc sống lại tràn ngập ánh sáng và niềm vu.
Thân ái,

LƯƠNG CƯỜNG
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU KHAI MẠC CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 13, KHÓA XIII

     Sáng 6/10/2025, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ 13, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (Hội nghị Trung ương 13). Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu khai mạc của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng,

Thưa các đồng chí Đại biểu dự Hội nghị.

Hôm nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII khai mạc Hội nghị lần thứ 13 trong khí thế cách mạng đang dâng cao, lòng tin của Nhân dân ngày càng được củng cố khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vừa kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội trong 9 tháng tốt hơn cùng kỳ năm 2024 trên hầu hết các lĩnh vực; mô hình chính quyền địa phương hai cấp nhìn chung vận hành thông suốt; dịch vụ công tiếp tục được cải thiện theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Không gian phát triển sau quy hoạch tổng thể quốc gia đang hỗ trợ, cộng hưởng lẫn nhau; kinh tế vùng hình thành rõ hơn, chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh mới. Bảy nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị ban hành trong 1 năm qua đã và đang mở đường cho những bước đi thiết thực, vững chắc, phục vụ mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn định, phát triển nhanh, bền vững, nâng cao đời sống thực của Nhân dân và hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm mà Đảng ta đã đề ra, Nhân dân đang mong đợi.

Với bản lĩnh, trí tuệ và sự chủ động, sáng tạo, chúng ta cơ bản đã kìm chế, hóa giải sức ép cạnh tranh chính trị phức tạp, ứng phó kịp thời với chính sách thương mại mới của một số đối tác lớn, với đứt gãy chuỗi cung ứng, xung đột thương mại, thiên tai, dịch bệnh và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch... Đảng ta đã "vững lái con thuyền giữa sóng to gió lớn", kiên định tiến về phía trước, phấn đấu đạt và vượt những mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII và các mục tiêu chiến lược khác mà Đảng đã đề ra.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Ủy viên Trung ương, các đại biểu khách mời, ghi nhận, đánh giá cao những nỗ lực và kết quả công tác của các đồng chí trong thời gian vừa qua; xin gửi tới các đồng chí lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công.

Thưa các đồng chí,

Theo Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Ban Tổ chức Hội nghị đã gửi tới các đồng chí toàn bộ nội dung, chương trình làm việc để các đồng chí nghiên cứu và các đồng chí cũng vừa nhất trí thông qua chương trình, nội dung Hội nghị Trung ương 13.

Tôi tin tưởng rằng, với trách nhiệm và ý thức của người Đảng viên, các Ủy viên Trung ương sẽ tập trung tinh thần, trí tuệ để có những đóng góp thiết thực vào sự thành công của Hội nghị.

Tôi xin nhấn mạnh một số điểm trọng tâm trong số các nội dung Hội nghị làm định hướng cho các đồng chí nghiên cứu, xem xét, đóng góp ý kiến và thực hiện quyền của Đảng viên, trách nhiệm của Ủy viên Trung ương tại Hội nghị lần này.

I- Nhóm vấn đề về Công tác chuẩn bị Đại hội lần thứ XIV của Đảng
1- Về Công tác nhân sự Đại hội:
Thực hiện kết luận số 180 ngày 25/7/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, Thông báo của Bộ Chính trị và Tiểu ban Nhân sự về định hướng giới thiệu nhân sự tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV (chính thức và dự khuyết; tái cử và tham gia lần đầu). Đến ngày 20/8/2025, đã có 100% các cấp ủy, tổ chức Đảng giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV và gửi kết quả về Tiểu Ban Nhân sự. Căn cứ kết quả giới thiệu nhân sự của các cấp ủy, tổ chức Đảng và ý kiến thẩm định, thẩm tra, rà soát, kết luận bổ sung của các cơ quan chức năng, Bộ Chính trị đã thảo luận, đánh giá toàn diện, thống nhất danh sách và tiến hành lấy phiếu giới thiệu nhân sự theo quy định. Đồng thời Bộ Chính trị cũng đã tiến hành lấy phiếu giới thiệu nhân sự Ủy ban kiểm tra Trung ương khóa XIV (tái cử và tham gia lần đầu).

Tại Hội nghị này, Bộ Chính trị báo cáo Trung ương cho ý kiến đối với tờ trình về kết quả và phương án giới thiệu nhân sự tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, tham gia Ủy ban kiểm tra Trung ương khóa XIV và tiến hành lấy phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, Ủy Ban kiểm tra Trung ương khóa XIV theo quy định.

Đây là công việc "đặc biệt hệ trọng", "then chốt của then chốt", là yếu tố quyết định thành công của Đại hội XIV của Đảng và sự phát triển của đất nước trong giai đoạn tới. Đề nghị các đồng chí khi lựa chọn giới thiệu nhân sự phải căn cứ vào tiêu chuẩn, điều kiện, cơ cấu, số lượng theo Phương hướng công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng và các quy định liên quan. Phải đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết; cân đối, hài hòa giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; giữa kế thừa, ổn định và phát triển; giữa tính phổ biến và tính đặc thù; giữa chuyên môn đào tạo và sở trường, năng lực thực tiễn; giữa uy tín, kinh nghiệm công tác và chiều hướng phát triển; trong đó đặc biệt đề cao chất lượng, hiệu quả, sản phẩm công tác, sự cống hiến của cán bộ để làm cơ sở, thước đo trong lựa chọn. Yêu cầu căn cốt trong lựa chọn nhân sự là: phẩm chất - năng lực - uy tín - liêm chính - hiệu quả; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích quốc gia - dân tộc; gần dân, trọng dân, vì dân; Trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay rất chú trọng yếu tố "Đức - Sức - Tài". Tuyệt đối không để lọt người chạy chức, chạy quyền, cơ hội, bè phái vào Ban Chấp hành Trung ương. Đối với nhân sự Ủy ban Kiểm tra Trung ương cần lựa chọn giới thiệu những đồng chí bản lĩnh, công tâm, am hiểu pháp luật, tinh thông nghiệp vụ, "trong sáng như gương, sắc bén như gươm", thực sự là thanh bảo kiếm giữ gìn kỷ cương của Đảng.

2- Về Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV: Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đã được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, cập nhật, chỉnh lý, bổ sung nhiều lần, nhất là những nội dung đã được nhất trí thông qua tại Hội nghị Trung ương 11 và Hội nghị Trung ương 12. Nội dung các Văn kiện cơ bản đã đáp ứng yêu cầu để trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Phấn đấu xây dựng văn kiện trình Đại hội XIV không chỉ tổng kết chặng đường phát triển 5 năm qua, xác định mục tiêu, nhiệm vụ trong 5 năm tới mà còn định hình tư duy chiến lược, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI.

Tiểu ban Văn kiện đã chắt lọc, bổ sung những nội dung cốt lõi của 7 Nghị quyết Bộ chính trị mới ban hành vào Báo cáo chính trị và xác định, đến nay có 17 điểm mới trong dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV. Tại hội nghị này, đề nghị các đồng chí Trung ương, các đồng chí đại biểu khách mời tiếp tục cho ý kiến hoàn thiện thêm một bước dự thảo các văn kiện vì mỗi lần góp ý là một lần chúng ta trưởng thành, là một lần Văn kiện được hoàn chỉnh. Các đồng chí tập trung vào 5 nội dung: (i) Khẳng định vai trò then chốt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng "là đạo đức, là văn minh" như lời Bác dạy; công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, chống chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống. (ii) Những vấn đề như lý luận về đường lối đổi mới; tinh gọn tổ chức bộ máy nhà nước; nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp; phân cấp phân quyền; bảo vệ môi trường; tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên; giải quyết vấn đề Nhà nước - Thị trường - Xã hội; Văn hóa - con người; giáo dục, đào tạo; y tế... cũng được thiết kế phù hợp trong nội dung các Văn kiện. (iii) Xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính, xác định đây là nội dung trung tâm của mô hình phát triển đất nước; tiếp tục hoàn thiện mô hình nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự quản lý của Nhà nước; xác định rõ hơn vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước; coi phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. (iv) Những bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ 40 năm đổi mới. (v) Đặc biệt, các đồng chí bổ sung nội dung cho định hướng Tự chủ chiến lược, Đổi mới mô hình phát triển, Tư duy hạch toán hiệu quả trong phát triển đất nước.

Nội dung Chương trình hành động của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã được Tiểu ban văn kiện thiết kế theo phương châm bám sát, cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu, quan điểm chỉ đạo, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược, đồng thời đảm bảo phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế. Những nội dung đó được cụ thể hóa thành nhiệm vụ, đề án, công trình, dự án có phân công trách nhiệm cụ thể, rõ nguồn lực, tiến độ và các điều kiện cần thiết để thực hiện... và phải "cân-đo-đong-đếm" được trong quá trình thực hiện. Tuy nhiên đây là nội dung rất mới, rất cần sát thực tế do vậy rất cần các đồng chí đóng góp ý kiến.

II-Về nhóm vấn đề Kinh tế - Xã hội
Nhìn tổng thể, bức tranh kinh tế- xã hội đất nước năm 2025 với gam màu sáng là chủ đạo. Mặc dù chịu nhiều tác động từ những biến số không thuận của tình hình thế giới cùng thiên tai, bão lũ gây hậu quả nghiêm trọng song chúng ta vẫn giữ vững sự ổn định và phát triển. GDP quí III/2025 tăng 8,22%, tính chung trong 9 tháng tăng 7,84%. Thu ngân sách 9 tháng đạt gần 2 triệu tỷ đồng, bằng 97,9% dự toán, xuất siêu đạt gần 17 tỷ USD. Dự kiến 15/15 chỉ tiêu chủ yếu của năm 2025 đều đạt và vượt. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2025 dự báo đạt mức 8,1% đến 8,5%. Đây là sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, các cơ quan trong hệ thống chính trị, chính quyền các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể Nhân dân. Song cũng còn nhiều vấn đề trong nội tại nền kinh tế chúng ta phải quan tâm, giải quyết để tăng trưởng và phát triển bền vững hơn.

Năm 2026 là năm đầu của nhiệm kỳ mới, có ý nghĩa rất quan trọng để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Mục tiêu phải thực hiện rất cao, nhất là tăng trưởng kinh tế phải đạt trên 10%, GDP bình quân đầu người đạt 5.400-5.500 USD, tốc độ tăng CPI khoảng 4,5%. Đây là yêu cầu bắt buộc, nhưng cũng là vấn đề hết sức khó khăn. Đề nghị Trung ương thảo luận, cho ý kiến định hướng lớn để Đảng ủy Quốc hội và Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo hoàn thiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 và giai đoạn tới theo tinh thần: Nâng cao tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường phát triển đất nước với phương châm "ổn định, kỷ cương, tăng tốc, bứt phá, bền vững".

Đề nghị các đồng chí tập trung thảo luận vào 6 trọng tâm: (1) Giữ ổn định vĩ mô: điều hành tài khóa - tiền tệ linh hoạt, phối hợp nhịp nhàng, củng cố niềm tin thị trường. (2) Thúc đẩy ba động lực tăng trưởng: đầu tư - tiêu dùng - xuất khẩu, tạo không gian mới từ liên kết vùng và đô thị hóa chất lượng cao. (3) Chuyển đổi số - chuyển đổi xanh: đưa dữ liệu thành tài nguyên, kinh tế số thành động cơ; năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn thành chân kiềng bền vững. (4) Nâng năng suất - chất lượng - tiêu chuẩn: thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; nâng chuỗi giá trị và nội địa hóa. (5) Phát triển thị trường vốn, lao động, khoa học - công nghệ, bất động sản theo hướng an toàn - minh bạch - hiệu quả. (6) Triển khai mạnh mẽ, quyết liệt chương trình phát triển 11 công nghệ chiến lược đã được nêu ra trong Nghị quyết 57 để tăng cường tính tự chủ về khoa học, công nghệ.

Những nội dung còn lại trong chương trình Hội nghị cũng cần được các đồng chí tập trung trí tuệ, thảo luận kỹ để có những đóng góp trên tinh thần khách quan, toàn diện, khoa học, thực tiễn, cụ thể, tổng thể.

Thưa các đồng chí,

Khí thế cách mạng dâng cao không đến từ lời nói, từ cảm nhận mà phải đến từ kết quả cụ thể, đến từ "mâm cơm của mỗi gia đình", đến từ hành động "sữa để em thơ, lụa tặng già". Nhân dân đang nhìn chúng ta bằng niềm tin và kỳ vọng mới. Trách nhiệm của Trung ương là biến kỳ vọng thành hiện thực, "biến chủ trương thành dòng chảy trong cuộc sống".

Với trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân, tôi đề nghị mỗi đồng chí Ủy viên Trung ương nêu cao tinh thần gương mẫu, làm việc thực chất, hiệu quả, giữ vững kỷ cương - kỷ luật, "việc hôm nay chớ để ngày mai", "nói đi đôi với làm", "đã nói là làm" quyết tâm để Hội nghị Trung ương 13 thành công thực chất, tạo đà cho sự thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Với niềm tin vững chắc và khí thế mới, tôi tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ mười ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Chúc Hội nghị đoàn kết, trí tuệ, đổi mới, hiệu quả; chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc, thành công.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!

Theo ĐTCP.
Yêu nước ST.

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2025

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: THỨ GÌ KHÓ GIỮ NHẤT?

     Người này bảo giữ khí tiết là khó nhất; ngưới khác lại bảo giữ của là khó nhất. Theo lão thì tùy từng giai đoạn lịch sử mà những người cách mạng thấy cần giữ thứ gì nhất.

Vào giai đoạn tiền khởi nghĩa và giai đoạn chiến đấu một mất một còn với quân thù bằng xương bằng thịt thì việc giữ khí tiết chẳng có gì là khó, bởi những người này luôn đề cao lý tưởng Cộng sản, vì thế việc giữ khí tiết nó tự nhiên như giữ hơi thở của mình. Có rất nhiều vị tiên liệt, chẳng màng đến sự sống và cái chết của bản thân; thời tiền cách mạng có những tấm gương như Võ Thị Sáu; trước họng súng quân thù vẫn hiên ngang như anh Nguyễn Văn Trỗi thời chống Mỹ.

Sau khi một nửa nước được giải phóng khỏi quân xâm lược, miền bắc bắt tay vào xây dựng kinh tế. Trong điều kiện ấy tuy còn có nhiều khó khăn, nhưng không phải không có cơ hội để bớt xén chỗ này một chút, chỗ kia một chút. Trong hoàn cảnh như vậy, đại đa số cán bộ đảng viên, tuy phải đấu tranh với bản thân, song vẫn giữ được khí tiết. Một số khác thì giữ khí tiết là một chuyện hơi bị khó, vậy là sa ngã.

Đến giai đoạn nước nhà được thống nhất, đặc biệt là khi nước ta đề ra đường lối “xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa” thì cơ hội “kiếm chác” không thiếu. Đến lúc này, nhiều kẻ sẵn sàng vứt bỏ khí tiết, “chả đất nước thì đừng, chả đảng viên thì đừng, khí tiết không thể mài ra mà ăn được”, do suy nghĩ như thế, nên những kẻ cơ hội sa đà vào chủ nghĩa thực dụng đến nỗi khí tiết rơi mất lúc nào không hay. Những kẻ này, dễ dàng vứt bỏ khí tiết để giữ lấy của cải vật chất.

Những kẻ đã vứt bỏ khí tiết, chuyên kiếm cơ hội để làm giàu cho bản thân và gia đình; đường lối xây dựng và phát triển kinh tế của nước ta có hai vế, nhưng trong đầu chúng hắn chỉ nhớ mỗi vế “kinh tế thị trường” mà quên đứt đi cái vế “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Lúc này chúng chỉ chăm chăm giữ của chứ quên phắt mất khí tiết của người Cộng sản. Thế là chúng lao đầu vào kiếm chác, để rồi vào một ngày xấu trời nào đó, chúng phải lao đầu vào nhà lao. Chả thế mà, chưa có giai đoạn lịch sử cách mạng nào mà lại có nhiều kẻ quyền cao chức trọng phải đứng trước vành móng ngựa của tòa án nhiều như trong giai đoạn này. 

Như lão đây, những danh hiệu này nọ cũng chỉ vui được lúc đó, sau thì phải lo cho cuộc sống của bản thân, của gia đình được đủ đầy; trong suốt mấy chục năm qua, lão chẳng nhớ người ta đã khen thưởng gì cho lão. Hôm rồi đi tìm cái thẻ ngân hàng mới thấy cái “giấy chứng nhận tặng thưởng Huân chương kháng chiến” mà nhà nước này cấp cho lão, chứ thực tình lão cũng quên rồi, vì chuyện cơm áo hàng ngày hiện nay không bắt lão phải dùng đến những kỷ niệm xưa. Lão nói thế, để thấy rằng, lão chẳng bám vào quá khứ, sống bằng quá khứ, ấy thế mà lão yêu chế độ này còn hơn khối người. 

Như vậy đấy. Giữ khí tiết tuy dễ mà khó. Dễ đối với những người còn đậm chất Cộng sản, ngược lại rất khó với những kẻ đề cao chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội./.
Hình trong bài: Nguyễn Văn Trỗi: “Đừng bịt mắt để tôi được nhìn quê hương một lần cuối”.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG YÊU CẦU LÀM RÕ NHỮNG GÌ CÒN BẤT CẬP CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 2 CẤP!

     Thủ tướng yêu cầu các đại biểu phân tích, làm rõ chính quyền địa phương 2 cấp có gì còn bất cập, cần giải pháp gì để tháo gỡ.

Ngày 5.10, tại trụ sở Chính phủ, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương tháng 9.2025, thảo luận về nhiều nội dung quan trọng.

Phát biểu khai mạc, Thủ tướng Chính phủ nêu rõ, chúng ta đã đi qua 3/4 thời gian năm 2025 trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, rủi ro gia tăng, với tình trạng xung đột, bất ổn kéo dài tại một số khu vực, trong đó có ASEAN; giá vàng thế giới tăng mạnh, đạt kỷ lục mới.

Ở trong nước, chúng ta tập trung thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm: Tổ chức vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt 8% trở lên trong năm 2025. Quán triệt và tổ chức triển khai các nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị. Chuẩn bị phục vụ Hội nghị Trung ương 13 và Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV (Chính phủ sẽ trình Quốc hội thông qua 50 dự án luật, nghị quyết, nhiều nhất trong một kỳ họp đến nay).

Tổ chức Đại hội Đảng các cấp, tiến đến Đại hội XIV của Đảng. Tập trung phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, trong đó có 4 cơn bão lớn trong tháng 9 gây thiệt hại nặng nề tại nhiều địa phương ở miền Bắc và miền Trung.

Người đứng đầu Chính phủ cũng nêu rõ, tình hình kinh tế - xã hội nhìn chung tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau tốt hơn quý trước, tính chung 9 tháng năm 2025 tốt hơn cùng kỳ năm 2024.

Nổi bật là: Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm, tăng trưởng được thúc đẩy mạnh mẽ; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được chú trọng, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân được nâng lên.

Tuy nhiên, Thủ tướng Chính phủ nêu rõ, các động lực tăng trưởng truyền thống chưa đạt kỳ vọng, các động lực mới cần thời gian phát huy hiệu quả.

Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp còn một số khó khăn, vướng mắc (nhất là về bố trí cán bộ, kết nối, liên thông thủ tục hành chính, dữ liệu); xảy ra liên tiếp các cơn bão lớn, mưa lớn kéo dài, gây thiệt hại nặng nề.

Gợi ý nội dung thảo luận tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, quý III và 9 tháng, Thủ tướng Chính phủ đề nghị các đại biểu tập trung phân tích bối cảnh, tình hình có gì mới, có gì đặc biệt cần lưu ý và tác động đến nước ta; đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các bộ, ngành, địa phương.

Đồng thời làm rõ tình hình kinh tế - xã hội có điểm gì tốt, điểm gì chưa tốt, nguyên nhân khách quan, chủ quan, bài học kinh nghiệm; triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp có gì còn bất cập, cần có giải pháp gì.

Thủ tướng Chính phủ cũng đề nghị các đại biểu thảo luận, xác định rõ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 9 và quý IV/2025, trong đó lưu ý các giải pháp đạt tăng trưởng cao, từ 8,3-8,5% trong bối cảnh rất khó khăn, gắn với ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, phát triển nhà ở xã hội, bảo đảm an sinh xã hội./.
Môi trường ST.