Thứ Hai, 6 tháng 10, 2025

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM Thứ tư - 09/04/2025 16:04 Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, coi đó là một yếu tố quyết định cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược; đồng thời, là mục tiêu, nhiệm vụ, động lực quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”[1]. Khẩu hiệu đó trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam vận dụng trong mọi giai đoạn lịch sử. Người nhấn mạnh, sức mạnh của dân tộc là sức mạnh của toàn thể nhân dân, mọi tầng lớp, mọi dân tộc, mọi tôn giáo trên nền tảng liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Cùng với việc xác định lực lượng khối đại đoàn kết, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra nguyên tắc, phương pháp cơ bản thực hiện đại đoàn kết dân tộc là phải lấy mục tiêu chung của cách mạng cùng những điểm tương đồng để quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân. Bởi theo Người, ở mỗi người dân Việt Nam, dù ở giai cấp, tầng lớp, vùng, miền nào ít nhiều đều có lòng yêu nước, đều mưu cầu độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, tìm cái chung, lấy cái chung làm điểm tựa để hóa giải những khác biệt. Hơn nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đại đoàn kết dân tộc phải hướng tới hình thành một cộng đồng gắn bó và thống nhất; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng. Để làm được điều đó, phải quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong tổ chức thống nhất, đó chính là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên nền tảng liên minh công - nông - trí thức; hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và mở rộng. Người chỉ rõ nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốc gia dân tộc với lợi ích chính đáng của các giai cấp, tầng lớp. Phải luôn giữ vững quan điểm “dân là gốc”, tin vào dân, dựa vào dân, vì nhân dân. Đoàn kết tự giác, tự nguyện, thành thật, đoàn kết lâu dài. Đồng thời cần nhận diện và phân hóa lực lượng trung gian, lực lượng phản cách mạng để có phương pháp ứng xử phù hợp, góp phần củng cố và phát triển phong trào cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa to lớn và mang tính thời sự sâu sắc cho sự nghiệp cách mạng. Do đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết thời kỳ đổi mới có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo động lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; yếu tố quyết định để đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, đặc biệt trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Từ kinh nghiệm lịch sử và yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước, tại Đại hội VII (1991) của Đảng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”[2]. Đảng đã chỉ đạo đẩy mạnh nghiên cứu, làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cơ sở lý luận để vận dụng trong xây dựng khối đại đoàn toàn dân tộc; qua đó, khơi dậy và phát huy nguồn sức mạnh nội sinh to lớn của đất nước trên cơ sở khơi dậy và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hiện nay, thế giới có nhiều biến động phức tạp và khó lường, trong khi tình hình trong nước cũng chứng kiến những thay đổi sâu sắc về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đồng thời, đất nước ta phải đối mặt với những âm mưu, thủ đoạn chống phá từ các thế lực thù địch, chúng tập trung phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, trọng tâm then chốt tấn công trên mặt trận tư tưởng - văn hóa với mưu đồ làm tan rã niềm tin, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới “tự chuyển hóa” xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa... Trước thực tế đó, Đảng ta xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung mới để quy tụ, khơi dậy và phát huy sức mạnh, khát vọng cống hiến của toàn dân tộc nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời xác định quan điểm, đường lối nhất quán trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…”[3] nhằm đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn phát triển đất nước trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng bền chặt. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23- NQ/ TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX “về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong Văn kiện Đại hội XIII về phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra Nghị quyết số 43- NQ/TW, ngày 24/11/2023 “về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” với những quan điểm nhất quán: đại đoàn kết dân tộc là sợi chỉ đỏ, truyền thống quý báu, chủ trương, đường lối quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhờ đó, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại được thực hiện có hiệu quả. Đồng thời, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, quyền làm chủ của người dân được thực hiện trên thực tế, khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo trong các phong trào thi đua yêu nước... Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên nguồn sức mạnh nội sinh vững chắc, trở thành động lực to lớn giúp đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thách thức đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử to lớn như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[4]. Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác tổng kết nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết trong thời kì đổi mới còn chậm, thiếu toàn diện, đồng bộ. Việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân còn bất cập. Chủ trương về tổ chức thực thi chính sách, pháp luật còn hạn chế; chưa bảo đảm cho nhân dân tham gia đầy đủ vào quá trình quyết định chính sách; còn bị động, lúng túng trước một số vấn đề mới phát sinh. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, vai trò đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân còn một số hạn chế. Các thế lực thù địch, phản động dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân... Do đó, việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới hiện nay là điều kiện quan trọng, tiên quyết góp phần xây dựng và phát triển đất nước bền vững. Để tiếp việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết hiệu quả hơn, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Một là, nâng cao nhận thức về tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các hội thảo, tọa đàm về tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh ở các cấp, từ trung ương đến địa phương. Đưa nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết vào chương trình giảng dạy trong hệ thống giáo dục phổ thông, đại học và các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Hai là, củng cố vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần tăng cường tổ chức các phong trào, hoạt động cộng đồng như: Chương trình “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” tại các khu dân cư, Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đồng thời, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc để gần dân, sát dân hơn; lắng nghe và phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Ba là, nêu cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí để củng cố lòng tin của nhân dân. Khuyến khích cán bộ thực hành “nói đi đôi với làm”, gần dân, sát dân, giải quyết kịp thời các bức xúc của nhân dân. Nâng cao ý thức, trách nhiệm trong đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ. Để thực hiện hiệu quả nội dung này cần quán triệt sâu sắc tinh thần của Kết luận số 12-KL/TW ngày 6/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới... Bốn là, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Triển khai mạnh mẽ quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia giám sát và phản biện chính sách. Tăng cường công tác đối thoại giữa chính quyền với Nhân dân. Năm là, đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử dân tộc để củng cố lòng tin vào Đảng, Nhà nước. Chủ động cung cấp thông tin kịp thời, đúng đắn về các vấn đề xã hội để người dân không bị lôi kéo bởi thông tin sai lệch. Tận dụng các nền tảng số để phản bác thông tin sai lệch, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc. Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn. Trong thời kỳ đổi mới, cùng với việc không ngừng hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng đã không ngừng nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ đó, tinh thần đại đoàn kết dân tộc được phát huy mạnh mẽ, tạo nên sức mạnh to lớn để toàn dân chung tay đoàn kết, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, tận dụng cơ hội, từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./. [1] Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 119. [2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2007, T. 51, tr. 147. [3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.110. [4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 104. Ths. Phùng Thị Thu Giảng viên khoa Xây dựng Đảng Những tin cũ hơn TỈNH CAO BẰNG NỖ LỰC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN “HỖ TRỢ PHỤ NỮ KHỞI NGHIỆP

       Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, coi đó là một yếu tố quyết định cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược; đồng thời, là mục tiêu, nhiệm vụ, động lực quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”[1]. Khẩu hiệu đó trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam vận dụng trong mọi giai đoạn lịch sử. Người nhấn mạnh, sức mạnh của dân tộc là sức mạnh của toàn thể nhân dân, mọi tầng lớp, mọi dân tộc, mọi tôn giáo trên nền tảng liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
       Cùng với việc xác định lực lượng khối đại đoàn kết, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra nguyên tắc, phương pháp cơ bản thực hiện đại đoàn kết dân tộc là phải lấy mục tiêu chung của cách mạng cùng những điểm tương đồng để quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân. Bởi theo Người, ở mỗi người dân Việt Nam, dù ở giai cấp, tầng lớp, vùng, miền nào ít nhiều đều có lòng yêu nước, đều mưu cầu độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, tìm cái chung, lấy cái chung làm điểm tựa để hóa giải những khác biệt. Hơn nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đại đoàn kết dân tộc phải hướng tới hình thành một cộng đồng gắn bó và thống nhất; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng. Để làm được điều đó, phải quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong tổ chức thống nhất, đó chính là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên nền tảng liên minh công - nông - trí thức; hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và mở rộng. Người chỉ rõ nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốc gia dân tộc với lợi ích chính đáng của các giai cấp, tầng lớp. Phải luôn giữ vững quan điểm “dân là gốc”, tin vào dân, dựa vào dân, vì nhân dân. Đoàn kết tự giác, tự nguyện, thành thật, đoàn kết lâu dài. Đồng thời cần nhận diện và phân hóa lực lượng trung gian, lực lượng phản cách mạng để có phương pháp ứng xử phù hợp, góp phần củng cố và phát triển phong trào cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa to lớn và mang tính thời sự sâu sắc cho sự nghiệp cách mạng. Do đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết thời kỳ đổi mới có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo động lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; yếu tố quyết định để đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, đặc biệt trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
       Từ kinh nghiệm lịch sử và yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước, tại Đại hội VII (1991) của Đảng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”[2]. Đảng đã chỉ đạo đẩy mạnh nghiên cứu, làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cơ sở lý luận để vận dụng trong xây dựng khối đại đoàn toàn dân tộc; qua đó, khơi dậy và phát huy nguồn sức mạnh nội sinh to lớn của đất nước trên cơ sở khơi dậy và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 
       Hiện nay, thế giới có nhiều biến động phức tạp và khó lường, trong khi tình hình trong nước cũng chứng kiến những thay đổi sâu sắc về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đồng thời, đất nước ta phải đối mặt với những âm mưu, thủ đoạn chống phá từ các thế lực thù địch, chúng tập trung phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, trọng tâm then chốt tấn công trên mặt trận tư tưởng - văn hóa với mưu đồ làm tan rã niềm tin, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới “tự chuyển hóa” xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa... Trước thực tế đó, Đảng ta xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung mới để quy tụ, khơi dậy và phát huy sức mạnh, khát vọng cống hiến của toàn dân tộc nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời xác định quan điểm, đường lối nhất quán trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…”[3] nhằm đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn phát triển đất nước trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
       Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng bền chặt. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23- NQ/ TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX “về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong Văn kiện Đại hội XIII về phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra Nghị quyết số 43- NQ/TW, ngày 24/11/2023 “về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” với những quan điểm nhất quán: đại đoàn kết dân tộc là sợi chỉ đỏ, truyền thống quý báu, chủ trương, đường lối quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhờ đó, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại được thực hiện có hiệu quả. Đồng thời, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, quyền làm chủ của người dân được thực hiện trên thực tế, khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo trong các phong trào thi đua yêu nước... Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên nguồn sức mạnh nội sinh vững chắc, trở thành động lực to lớn giúp đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thách thức đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử to lớn như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[4].
       Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác tổng kết nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết trong thời kì đổi mới còn chậm, thiếu toàn diện, đồng bộ. Việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân còn bất cập. Chủ trương về tổ chức thực thi chính sách, pháp luật còn hạn chế; chưa bảo đảm cho nhân dân tham gia đầy đủ vào quá trình quyết định chính sách; còn bị động, lúng túng trước một số vấn đề mới phát sinh. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, vai trò đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân còn một số hạn chế. Các thế lực thù địch, phản động dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân... Do đó, việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới hiện nay là điều kiện quan trọng, tiên quyết góp phần xây dựng và phát triển đất nước bền vững. Để tiếp việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết hiệu quả hơn, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
        Một là, nâng cao nhận thức về tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các hội thảo, tọa đàm về tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh ở các cấp, từ trung ương đến địa phương. Đưa nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết vào chương trình giảng dạy trong hệ thống giáo dục phổ thông, đại học và các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị.
       Hai là, củng cố vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần tăng cường tổ chức các phong trào, hoạt động cộng đồng như: Chương trình “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” tại các khu dân cư, Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đồng thời, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc để gần dân, sát dân hơn; lắng nghe và phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
       Ba là, nêu cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí để củng cố lòng tin của nhân dân. Khuyến khích cán bộ thực hành “nói đi đôi với làm”, gần dân, sát dân, giải quyết kịp thời các bức xúc của nhân dân. Nâng cao ý thức, trách nhiệm trong đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ. Để thực hiện hiệu quả nội dung này cần quán triệt sâu sắc tinh thần của Kết luận số 12-KL/TW ngày 6/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới...
       Bốn là, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Triển khai mạnh mẽ quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia giám sát và phản biện chính sách. Tăng cường công tác đối thoại giữa chính quyền với Nhân dân.
       Năm là, đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử dân tộc để củng cố lòng tin vào Đảng, Nhà nước. Chủ động cung cấp thông tin kịp thời, đúng đắn về các vấn đề xã hội để người dân không bị lôi kéo bởi thông tin sai lệch. Tận dụng các nền tảng số để phản bác thông tin sai lệch, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc.
       Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn. Trong thời kỳ đổi mới, cùng với việc không ngừng hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng đã không ngừng nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ đó, tinh thần đại đoàn kết dân tộc được phát huy mạnh mẽ, tạo nên sức mạnh to lớn để toàn dân chung tay đoàn kết, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, tận dụng cơ hội, từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
----------
[1] Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 119.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2007, T. 51, tr. 147.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.110.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 104.
Yêu nước ST.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét