Sử thần viết để hậu thế biết một nước đã đi qua những gì. Dân gian kể để con cháu không quên mình là ai. Hai dòng ấy cùng chảy về một quá khứ, nhưng ở hai “chiềng” khác nhau. Chính sử là những bộ biên niên quốc sử chính thống, ghi chép niên đại, sự kiện, nhân vật và các chỉ dụ, hịch từ triều đình cho là quan trọng. Ví dụ, Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu (1272) ghi lịch sử từ Triệu Đà (207 TCN) đến Lý Chiêu Hoàng (1225); Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên (thế kỷ 15) tiếp tục từ 1226 đến 1427. Trên nền tảng này, Ngô Sĩ Liên dưới triều Lê Thánh Tông (năm 1479) biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư - cuốn quốc sử chính thống đầu tiên còn nguyên vẹn của Việt Nam. Bộ sử này (gồm 15 quyển) ghi lại lịch sử từ thời Kinh Dương Vương (năm 2879 TCN) đến năm 1427. Sau khi hoàn thành, các đời vua Lê (Huyền Tông, Hy Tông) tiếp tục hiệu đính, bổ sung và cuối cùng in ấn vào năm 1697.
- Đại Việt sử ký (1272) - Lê Văn Hưu (nhà Trần).
- Đại Việt sử ký tục biên (thế kỷ 15) - Phan Phu Tiên (nhà Lê Sơ).
- Đại Việt sử ký toàn thư (1479, in 1697) - Ngô Sĩ Liên (nhà Hậu Lê).
Chính sử của Đại Việt ghi rõ năm, tháng, niên hiệu, người ra chiếu và kết quả thắng - bại. Sau mỗi biến cố lớn thường có “lời bàn” của sử thần, phân tích ai đúng, ai sai, nguyên nhân hưng suy. Dù có thể không đồng ý tuyệt đối với từng lời bình của thời xưa, công lao của họ là đã giữ được khung xương lịch sử bằng giấy mực. Nếu không có những bộ sử này, nhiều thời kỳ trong quá khứ có thể chỉ còn là những cái tên mơ hồ.
Truyền thuyết dân gian - ký ức văn hóa
Bên kia, truyền thuyết dân gian ghi chép bằng lời kể trong đình làng, đền miếu, ca dao tục ngữ. Một số truyền thuyết được các danh sĩ nho học sưu tập vào sách chữ Hán. Ví dụ, khoảng năm 1329 Lý Tế Xuyên tập Việt điện u linh tập - tuyển truyện về các vị thần linh được thờ ở đồng bằng Bắc Bộ thời Trần. Cuối thời Trần, Lĩnh Nam chích quái (do Trần Thế Pháp sưu tầm, đời Lê hiệu đính) gồm 22 truyện huyền thoại và cổ tích ở đất Lĩnh Nam. Những tác phẩm này không nằm trong chính sử, nhưng đóng vai trò giữ ký ức tập thể: kể về nguồn gốc nòi giống, anh hùng dân gian, những hiện tượng siêu nhiên mang ý nghĩa biểu tượng.
- Việt điện u linh tập (1329) - Lý Tế Xuyên, tuyển truyện về các thần linh, thờ ở Bắc Bộ.
- Lĩnh Nam chích quái (cuối Trần, hiệu đính cuối thế kỷ 15) - tập 22 truyện kỳ ảo của dân gian Lĩnh Nam.
Trong truyền thuyết, người Việt hỏi những câu lớn: “Chúng ta sinh ra từ đâu? Núi này thiêng ở điểm gì? Khi giặc đến, đứa trẻ nào sẽ đứng lên cứu nước?” Nội dung tập trung vào ý nghĩa và hình tượng anh hùng hơn là niên đại. Chẳng hạn, chuyện Thánh Gióng - thần Phù Đổng - kể rằng có đứa trẻ lên ba vụt lớn, cưỡi ngựa sắt đánh đuổi giặc Ân rồi bay về trời. Dân gian không bận tâm ghi ngày đánh giặc, mà nhấn vào thông điệp: đất này có anh hùng trẻ tuổi sẵn sàng dậy non khi nguy biến. Tương tự, chuyện An Dương Vương trong truyền thuyết có Kim Quy hiện thần, Nỏ Thần, Mỵ Châu-Trọng Thủy… Tất cả là hình ảnh để giải thích vì sao thành Cổ Loa, giếng Ngọc, con gái vua liên quan đến việc mất nước. Truyền thuyết không cung cấp được biên niên sử chính xác, nhưng chúng cho thấy người Việt dựng hình tượng như thế nào để tự hào hoặc cảnh tỉnh.
Sự bổ sung qua lại
Hai dòng sử này bổ sung cho nhau. Nhiều lúc chính sử và truyền thuyết đan xen, nhất là khi sử liệu khan hiếm. Đặc biệt sau hơn 20 năm Bắc thuộc (1407-1427), nhiều sách vở Đại Việt bị tịch thu hoặc đốt hết. Minh Thành Tổ thậm chí ra sắc lệnh (1406-1407) “trừ kinh sách Nho, Phật, Lão ra, mọi sách vở văn tự [Việt]… từ ca lý dân gian cho đến sách dạy trẻ… một mảnh một chữ đều phải đốt hết” và phá hủy bia ký do người An Nam dựng. Nhiều tư liệu bị mất mát là thế, nên kể cả Sử quán đời Lê phải trông cậy vào truyền thuyết và văn hóa dân gian để điền vào các khoảng trống. Ngô Sĩ Liên không chỉ căn cứ vào Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, mà còn “tiếp thu từ dã sử, lời truyền tụng” - cụ thể là đã dùng Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh tập làm tư liệu khi biên soạn sử. Lần đầu tiên những chuyện thần thoại này được xem như nguồn tư liệu chính thống để dựng một bộ biên niên sử. Nhờ vậy, Đại Việt sử ký toàn thư mới ghi nhận truyền thuyết thời Hồng Bàng làm điểm khởi nguyên của dân tộc.
Nên đọc lịch sử sao cho đúng? Cần đọc chính sử để biết “việc gì đã xảy ra”, xét bằng nguồn sử liệu và đối chiếu. Cần đọc truyền thuyết để biết cộng đồng hiểu sự kiện ấy thế nào, vì sao họ còn nhắc mãi. Khi có sự trùng khớp, đó thường là xương sống lịch sử. Khi khác biệt, đó là dấu vết vết thương, nỗi sợ, hay nhu cầu chính trị của người kể chuyện. Ví dụ, Ngô Sĩ Liên trong bản toàn thư vẫn ghi vụ An Dương Vương mất nước, nhưng ông giãi bày với tư duy Nho giáo rằng Rùa Vàng, thần Kim Quy chỉ biểu tượng cho “khí thiêng” của đất nước. Phải nhìn vào hai nguồn để hiểu trọn vẹn: truyền thuyết giải thích ý nghĩa Mỵ Châu chết bi thương, nỏ thần mất như lời cảnh tỉnh, còn sử sách cho ta biết ngày mất nước diễn ra.
Cả chính sử và truyền thuyết đều có giới hạn. Chính sử do triều đại thắng cầm bút, thường thiên về năm tháng, chú trọng vua chúa, đôi khi giấu bớt khuyết điểm của người cầm quyền. Truyền thuyết thì tô vẽ hoặc ghép nối - nhiều làng đăng ký chung một anh hùng, thảm cảnh hóa chiến thắng hay ngược lại, hư cấu để gìn giữ linh thiêng, thậm chí dùng phục vụ lễ hội. Nhưng bỏ một bên thì lịch sử cũng mất một nửa hồn.
Kết luận: Đọc sử cần mở cả hai cuốn - sách sử chính thống lẫn truyện dân gian. Chính sử là nền móng, truyền thuyết là ký ức phủ lên nền móng ấy. Nhờ bộ bút của Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… chúng ta có từng mốc lịch sử khúc triều chính thống; nhờ dân gian kể truyền miệng mà tinh thần đại Việt không bao giờ cạn trong lòng người. Người xưa đã âm thầm làm một việc đáng trân trọng: họ giữ lại cho chúng ta một Đại Việt bằng chữ, và bao thế hệ vô danh cũng giữ lại một Đại Việt khác bằng lời kể dân gian. Nhờ cả hai nguồn ấy, hôm nay chúng ta mới còn có thể trở về với cội nguồn của chính mình.
Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư và các bộ lịch sử Hán Nôm (Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên); Việt điện u linh tập (Lý Tế Xuyên, 1329); Lĩnh Nam chích quái (Trần Đình Hoành giới thiệu)./.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét