Ngày 29/4/1975, khi năm cánh quân của Quân Giải phóng đã khép chặt vòng vây quanh Sài Gòn, bầu trời thành phố chứng kiến một cảnh tượng hỗn loạn.
Hàng loạt máy bay trực thăng Mỹ hối hả cất cánh từ nóc các tòa nhà và khu vực Đại sứ quán Mỹ.
Chở theo nhân viên ngoại giao, quân nhân Mỹ, các viên chức Sài Gòn cùng nhiều gia đình bế theo cả trẻ nhỏ bay ra Hạm đội 7 đang chờ ngoài Biển Đông.
Ít người để ý tới một thực tế quân sự lúc bấy giờ.
Xung quanh Sài Gòn, lực lượng pháo binh và tên lửa phòng không của Quân Giải phóng đã hoàn tất việc chiếm lĩnh trận địa.
Những chiếc trực thăng bay chậm chạp và dày đặc trên bầu trời hoàn toàn nằm trong tầm quét của các đài radar.
Thế nhưng, không có một quả tên lửa phòng không SAM-2 nào được phóng lên để bắn hạ những chuyến bay di tản ấy.
MỆNH LỆNH TẠI TRẬN ĐỊA TÊN LỬA BẾN BẦU
Trong bài hồi ức "Đưa 'Rồng lửa' vượt Trường Sơn vào giải phóng Sài Gòn", cựu chiến binh Nguyễn Hữu Mão đã kể lại hành trình đặc biệt của Trung đoàn Tên lửa Phòng không 263 vào mùa xuân năm 1975.
Tháng 3/1975, toàn trung đoàn nhận lệnh mật.
Đưa những quả tên lửa SAM-2 vượt Trường Sơn, băng qua đất Lào tiến thẳng vào Nam Bộ.
Đúng 18 giờ ngày 27/4/1975, Tiểu đoàn Tên lửa 43 đã hoàn tất việc dựng bệ phóng tại trận địa phía bắc Bến Bầu (khu vực Bến Cát, Bình Dương), sẵn sàng khóa chặt bầu trời Sài Gòn.
Chiều 28/4, màn hình radar bắt được tín hiệu một tốp máy bay cường kích A-37 đang lao về phía Sài Gòn.
Cấp trên thông báo mật: "Máy bay của ta đấy, không được bắn!" (Đó chính là Phi đội Quyết Thắng của phi công Nguyễn Thành Trung dùng máy bay thu được của đối phương đi ném bom sân bay Tân Sơn Nhất).
Sang ngày 29/4, tình hình trên màn hình hiện sóng của Tiểu đoàn 43 dày đặc tín hiệu của các tốp trực thăng và máy bay vận tải quân sự Mỹ đang lũ lượt rời khỏi Sài Gòn.
Ngay lúc các trắc thủ đang bám sát mục tiêu, một mệnh lệnh đặc biệt từ sở chỉ huy truyền xuống.
Ông Nguyễn Hữu Mão nhớ lại nguyên văn:
“Chúng tôi tiếp tục nhận được lệnh ‘không bắn’, để họ di tản.”
Lý do của mệnh lệnh ấy được giải thích rất ngắn gọn nhưng chạm tới lương tri người lính.
Trên những chiếc máy bay đang rời đi ấy không chỉ có đối phương, mà có cả rất nhiều người dân thường và trẻ nhỏ.
Một đơn vị tên lửa đã hành quân ròng rã hàng ngàn cây số qua bom đạn để chờ đến ngày quyết chiến cuối cùng.
Nhưng khi mục tiêu hiện lên trên màn hình radar, mệnh lệnh cao nhất mà họ thực thi lại là án binh bất động để mở đường sống cho những người đang tháo chạy.
HỒ SƠ MẬT SỐ 258 CỦA NHÀ TRẮNG
Trong bộ Tài liệu Ngoại giao Hoa Kỳ (Foreign Relations of the United States - FRUS, tập X, hồ sơ số 258) có ghi rõ.
Lúc 16 giờ 35 phút chiều ngày 24/4/1975 (giờ Washington), Tổng thống Mỹ Gerald Ford triệu tập cuộc họp khẩn của Hội đồng An ninh Quốc gia tại Nhà Trắng.
Bài toán đau đầu nhất của nước Mỹ lúc này là làm sao rút được hàng ngàn người Mỹ ra khỏi Sài Gòn mà không bị Quân Giải phóng tấn công tiêu diệt.
Tại cuộc họp, Kissinger báo cáo vừa nhận được một thông điệp quan trọng từ Đại sứ Liên Xô Anatoly Dobrynin chuyển tới.
Trong phần Chú thích số 6 của Hồ sơ 258 ghi rõ.
Phía Liên Xô chuyển lời bảo đảm rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ không cản trở cuộc di tản của người Mỹ và không có ý định làm bẽ mặt nước Mỹ trong lúc rút lui.
(Tất nhiên, hồ sơ Mỹ cũng ghi nhận một chi tiết thận trọng: Thông điệp ngày 24/4 mới chỉ cam kết cho công dân Mỹ, chưa đề cập chính thức tới những người Việt Nam đi cùng).
Và thực tế diễn biến trên bầu trời Sài Gòn ngày 29/4 đã chứng minh lời cam kết ấy.
Khi sân bay Tân Sơn Nhất bị pháo kích tê liệt, Tổng thống Ford buộc phải phát lệnh triển khai chiến dịch Frequent Wind (Gió lốc) dùng trực thăng CH-53 và CH-46 bay từ tàu chiến vào bốc người.
Trong hai ngày 29 và 30/4, trực thăng Mỹ đã thực hiện hàng trăm lượt bay, đưa hơn 7.800 người (gồm cả người Mỹ và người Việt) ra biển.
Ngay trong ngày 29/4, khi báo cáo trước Tổng thống Ford và các lãnh đạo Quốc hội Mỹ (được lưu tại Hồ sơ FRUS số 276), chính Ngoại trưởng Henry Kissinger đã phải thừa nhận:
“Phía Bắc Việt Nam không có nỗ lực nào nhằm ngăn cản cuộc di tản, ngoại trừ một số vụ bắn lẻ tẻ... Thông qua các bên trung gian, chúng ta đã có được một khoảng lắng trên chiến trường.”
LỜI THÚ NHẬN CỦA TRẠM TRƯỞNG CIA VÀ TƯ LỆNH HẠM ĐỘI 7 MỸ
Không chỉ có báo cáo của Kissinger, chính những người Mỹ cuối cùng rời khỏi Sài Gòn cũng để lại lời chứng xác nhận sự kiềm chế hỏa lực của Quân Giải phóng.
Tháng 4/2015, Trung tâm Nghiên cứu Tình báo thuộc CIA đã giải mật và công bố tập tài liệu mang tên Voices from the Station: The Evacuation of the US Embassy in Saigon (Những tiếng nói từ Trạm tình báo: Cuộc di tản khỏi Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn).
Ở trang 12 của tài liệu CIA này, các điệp viên Mỹ thừa nhận rằng Quân Giải phóng đã không hề pháo kích vào khu vực Đại sứ quán hay trung tâm Sài Gòn trong lúc trực thăng lên xuống.
Một nhân viên CIA đúc kết ngắn gọn.
“Họ không gây trở ngại cho chúng tôi. Họ muốn chúng tôi rời đi.”
Một nguồn tư liệu khác của Hải quân Mỹ là cuốn End of the Saga: The Maritime Evacuation of South Vietnam and Cambodia (của tác giả Malcolm Muir Jr., do Cơ quan Lịch sử và Di sản Hải quân Mỹ xuất bản năm 2017) cũng dẫn lại cuộc phỏng vấn Phó Đô đốc George Steele, Tư lệnh Hạm đội 7 Mỹ vào tháng 12/1975.
Chỉ huy Hải quân Mỹ nhận định.
Bộ chỉ huy Bắc Việt Nam hoàn toàn kiểm soát được kỷ luật của các đơn vị bên dưới để không bắn vào đoàn di tản.
NHÂN VĂN TRONG SỰ TỈNH TÁO
Cần làm rõ một chi tiết để không tuyệt đối hóa sự việc một cách phiến diện.
Có phải trong hai ngày 29 và 30/4/1975, tuyệt đối không có một viên đạn nào bắn lên trời?
Thực tế chiến trường không đơn giản như vậy.
Theo tư liệu của Thiếu tướng Võ Quang Hồ (đăng trên báo Nhân Dân ngày 30/4/2005), pháo binh tầm xa của ta đặt tại Nhơn Trạch vẫn nã hơn 300 quả đạn xuống khu quân sự sân bay Tân Sơn Nhất để làm tê liệt đường băng, chặn đứng việc vận chuyển quân sự.
Tài liệu của Hải quân Mỹ (Operations Frequent Wind and Eagle Pull) và báo cáo của Tổng thống Ford ngày 30/4 cũng ghi nhận có một vài quả tên lửa tầm thấp vác vai SA-7 và súng phòng không cá nhân bắn lên ở một số điểm, buộc máy bay hộ tống Mỹ phải bắn chế áp.
Nhưng sự khác biệt nằm ở cấp độ chiến dịch.
Không có một lệnh tổng công kích phòng không nào được ban ra.
Các trận địa tên lửa tầm cao uy lực nhất như SAM-2 ở Bến Bầu và hệ thống pháo binh chủ lực đã nhận lệnh "Không bắn" đối với các chuyến bay di tản và các khu vực tập trung dân thường.
Quyết định ấy nằm chung trong một tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Như Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh chiến dịch đã trăn trở bài toán làm sao đánh thắng nhanh nhất bằng các mũi thọc sâu để hạn chế tối đa sự tàn phá thành phố và bảo vệ sinh mạng cho hàng triệu đồng bào.
NHƯ VẬY CÓ THỂ THẤY..
7 giờ 43 phút sáng ngày 30/4/1975, chiếc trực thăng cuối cùng chở lính thủy đánh bộ Mỹ rời khỏi nóc tòa Đại sứ quán.
Chỉ vài giờ sau, xe tăng Quân Giải phóng húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập, khép lại cuộc chiến tranh kéo dài đằng đẵng.
Đằng sau mệnh lệnh "Không bắn, để họ di tản" là sự kết hợp giữa trí tuệ ngoại giao sắc sảo (mở lối thoát cho đối phương rút lui để tránh đổ máu thêm) và lòng nhân đạo sâu sắc của người chiến thắng.
Những người chỉ huy hiểu rằng.
Một chiếc trực thăng mang phù hiệu quân đội Mỹ bay lên trong ngày hôm ấy không còn là vũ khí đi gieo rắc bom đạn.
Mà bên trong khoang máy bay đó có những người phụ nữ, những đứa trẻ và những sinh mạng con người cần được sống sót khi hòa bình đã cận kề.
--------------
NGUỒN TƯ LIỆU ĐỐI CHIẾU
- Nguyễn Hữu Mão - "Đưa ‘Rồng lửa’ vượt Trường Sơn vào giải phóng Sài Gòn"
- Bộ Ngoại giao Mỹ - "Foreign Relations of the United States (FRUS)", Tập X: Hồ sơ số 258 (Biên bản họp Hội đồng An ninh Quốc gia ngày 24/4/1975 và Chú thích số 6 về thông điệp qua Liên Xô) & Hồ sơ số 276 (Báo cáo của Henry Kissinger trước Tổng thống Ford ngày 29/4/1975)./.
#QV-ST!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét