Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2020

Niềm tin chính trị trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh


Niềm tin chính trị là yếu tố hết sức quan trọng trong hoạt động chính trị. Niềm tin chính trị được hình thành và củng cố dựa trên cơ sở tri thức khoa học cùng với tình cảm và lý tưởng chính trị.

Nhận thức khoa học càng sâu sắc thì niềm tin chính trị càng vững chắc, khi đó, niềm tin chính trị sẽ là nhân tố cốt lõi để đảm bảo sự ổn định về tư tưởng chính trị, giúp cho con người giữ được sự kiên định, không hoang mang, dao động trước những khó khăn, thử thách ngay cả khi đời sống chính trị thuận lợi hay có nhiều biến động.
Trước lúc đi xa, với niềm tin chính trị sâu sắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Di chúc những diễn biến, kết quả mà nhân dân ta sẽ giành được trong tương lai: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn... Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà...”.
Di chúc được Người viết trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta đang trong giai đoạn ác liệt ở cả hai miền Nam, Bắc, Mỹ ồ ạt đổ quân viễn chinh cùng các phương tiện chiến tranh hiện đại vào miền Nam, đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng lực lượng không quân và hải quân; đồng bào, chiến sĩ cả nước đang chịu nhiều tổn thất, hi sinh. Vậy, dựa trên cơ sở nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Di chúc niềm tin tất thắng?
Có thể thấy, niềm tin của Người dựa trên những cơ sở sau:
- Thứ nhất, niềm tin Hồ Chí Minh bắt nguồn từ niềm tin vào sức mạnh to lớn, vô địch của nhân dân và truyền thống yêu nước của dân tộc. Người khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Đó là truyền thống của dân tộc, cội nguồn tạo nên niềm tin Hồ Chí Minh. Với nền tảng vững chắc của niềm tin chính trị như vậy nên trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù thử thách cam go đến đâu, Bác vẫn tin rằng nhân dân là người chiến thắng, cách mạng cuối cùng sẽ thắng lợi vì có sức mạnh vô địch của nhân dân, truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc.
- Thứ hai, Người tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của Nhân dân Việt Nam.
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra Cương lĩnh, đường lối đúng đắn, xác định: Cách mạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc rồi tiến lên CNXH. Với đường lối đúng đắn, Đảng đã tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, làm nên những thành tựu vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) đã xóa bỏ chế độ thực dân nửa phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Tiếp đó, Đảng lãnh đạo nhân dân chiến đấu và chiến thắng đế quốc Pháp xâm lược, đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954. Cho đến thời điểm Người để lại Di chúc, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã trải qua 15 năm, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta chiến đấu anh dũng, lần lượt đánh bại các âm mưu, chiến lược của đế quốc Mỹ, tạo thế và lực ngày càng vững mạnh. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Đồng thời, chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta không ngừng được tôi luyện, trưởng thành và đã xây dựng nên những truyền thống quý báu, thể hiện bản chất tốt đẹp của Đảng. Đó là: Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng; nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH; kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin; trung thành với lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân; kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng; giữ gìn đoàn kết nội bộ, đoàn kết quốc tế… Những truyền thống quý báu của Đảng là sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân quốc tế, là sức mạnh bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng. Những truyền thống đó có ý nghĩa dân tộc và quốc tế sâu sắc, thể hiện tinh thần cách mạng triệt để, trình độ trí tuệ ngày càng được nâng cao của Đảng ta.
- Thứ ba, tin vào tính tất yếu của thắng lợi chính nghĩa và sự thất bại không thể tránh khỏi của của chiến tranh xâm lược phi nghĩa, trái đạo lý, phản nhân văn mà đế quốc Mỹ gây ra. Trong cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam bảo vệ nền độc lập dân tộc, Người nêu chân lý nổi tiếng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân là mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam và cũng là lẽ sống thiêng liêng nhất của Người: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chí Minh là khát vọng cháy bỏng của dân tộc Việt Nam, đã thực sự trở thành lời hiệu triệu, thành mệnh lệnh của trái tim mỗi người dân; là nguồn sức mạnh, động lực của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền, đánh bại kẻ thù xâm lược.
- Thứ tư, nhãn quan chính trị nhạy bén, sắc sảo và tầm nhìn xa trông rộng của Hồ Chí Minh là cơ sở quan trọng để Người tin tưởng vào sự thắng lợi của cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập của dân tộc. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp còn chưa kết thúc, Người đã nhận định: “Sớm hay muộn, Mỹ sẽ trực tiếp tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương… Mỹ đang tìm cách thay thế Pháp xâm lược Việt Nam”. Sau thắng lợi ở Điện Biên Phủ (7-1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chiến thắng Pháp rồi, phải nhớ trước mặt ta còn có kẻ địch hùng mạnh hơn, hung ác hơn, đó là đế quốc Mỹ”.
Nhãn quan chính trị sâu sắc, vốn tri thức sâu rộng và những trải nghiệm thực tiễn phong phú đã giúp Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học để khẳng định niềm tin tất thắng của nhân dân Việt Nam. Đã từng hoạt động trên đất Mỹ, am tường văn hóa Mỹ, Hồ Chí Minh biết rất rõ sức mạnh cũng như những chỗ yếu của Mỹ. Những hiểu biết về Mỹ ở tầng sâu thẳm nhất chính là cứ liệu thực tế để Người đi đến khẳng định: Việt Nam biết đánh và nhất định thắng Mỹ! Thực tế cũng đã chứng minh, tại thời điểm Người viết bản Di chúc, quân dân hai miền Nam Bắc luôn kề vai sát cánh bên nhau đánh thắng hết chiến lược chiến tranh này đến chiến lược chiến tranh khác: Từ chiến tranh đơn phương (1954-1960) đến chiến tranh đặc biệt (1961-1965), chiến tranh cục bộ (1966-1968) và sau này là Việt Nam hóa chiến tranh (1969-1972). Kết quả thắng lợi từng phần của cách mạng là căn cứ thực tiễn sinh động để Hồ Chí Minh tin vào chiến thắng của cuộc kháng chiến trường kỳ giành độc lập cho dân tộc, thống nhất đất nước. Nói về thiên tài của Hồ Chí Minh, cố Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng đã viết: Hồ Chí Minh “Là bậc yêu nước đại chí sĩ, là nhà lịch nghiệm cách mạng đại chuyên gia. Chân đi khắp năm châu, mắt trông xa vạn dặm; nhận rõ thời cuộc, lặng dò thời cơ”. Và “Về bằng cấp thì ông Hồ không tiến sĩ, phó bảng gì cả. Nhưng nói về tri thức và sự nghiệp cách mạng thì chắc chắn lớp chúng ta cũng như lớp trước chúng ta, không ai bì kịp. Sự thấu hiểu của ông Hồ rất xa, rất rộng, chẳng những việc trong nước và cả việc thế giới nữa kia. Nước này tương lai sẽ về đâu? Nước kia rồi đây sẽ thay đổi như thế nào? Ông nói rất rành rọt, mạch lạc, nghe không chán!”.
Có thể thấy, niềm tin Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở vững chắc của lý luận khoa học Mác- Lênin, sự am hiểu văn hóa dân tộc, vốn kiến thức uyên thâm về lịch sử cũng những trải nghiệm phong phú trong trong quá trình hoạt động cách mạng và lòng yêu nước cháy bỏng đã giúp Người nắm bắt được quy luật vận động của lịch sử và xu thế phát triển của thời đại, vạch ra các bước đi của cách mạng, nhờ đó đưa đất nước vượt qua những thách thức. Niềm tin ấy là kết quả của quá trình tích lũy thông tin, phân tích sự kiện trong nước và thế giới, tổng kết lịch sử và thực tiễn, khái quát quy luật vận động của hiện thực, rồi vận dụng để phán đoán diễn biến, xu hướng phát triển.
Trong bối cảnh cuộc kháng chiến còn nhiều gian khổ, hy sinh, chính niềm tin chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong bản Di chúc có ý nghĩa hết sức to lớn. Đó là trụ cột tinh thần, là nguồn cổ vũ, động viên vững chắc cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết một lòng quyết đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc, đi đến thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thắng lợi trong công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

ThS Nguyễn Thị Thành (Học viện Chính trị CAND)


Xuyên tạc bản chất, ý nghĩa Cách mạng Tháng Tám: Chiêu trò “bổn cũ soạn lại”


Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 đã đi vào lịch sử dân tộc, mở ra thời kỳ lịch sử mới, có ý nghĩa trọng đại của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, lâu nay, đi ngược lại với dòng thác cách mạng của đất nước, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị luôn tìm cách xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử truyền thống dân tộc, phủ nhận vai trò lãnh đạo, vu cáo Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Giá trị và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là minh chứng hiển nhiên của lịch sử. Thế nhưng, đến nay vẫn có không ít những quan điểm xuyên tạc, luận điệu sai trái, thù địch, phản động, những nhận thức lệch lạc đánh giá không đúng về ý nghĩa, tầm vóc lịch sử của sự kiện vĩ đại này ở một số luận điệu sau đây:
Một là, hạ thấp tầm vóc, bôi nhọ thành công của Cách mạng Tháng Tám của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng
Một số đối tượng hàm hồ cho rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là sự ăn may của Cộng sản Việt Minh”. Họ lập luận, Việt Minh đã nhanh tay cướp lấy thành quả của Đồng minh chống phát xít, khi quân đồng minh chưa kịp vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật.
Những kẻ thâm thù với cách mạng thì trắng trợn vu cáo: Việt Minh đã cướp công của dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám”; chúng vào hùa với nhau để tung ra luận điệu: Cách mạng Tháng Tám là do tinh thần dân tộc lãnh đạo, dù không có Đảng Cộng sản, nhiều nước thuộc địa đã giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tốn xương máu của dân tộc là do Đảng Cộng sản gây ra.
Như mọi người đều biết, để làm nên thành công của cách mạng Tháng Tám “long trời, lở đất”, cả dân tộc Việt Nam với quyết tâm và tinh thần “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, đã nhất tề vùng lên, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã thành công, lật đổ bộ máy thống trị phát xít cùng triều đình phong kiến, thiết lập nên chính quyền cách mạng trên cả nước.
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở đầu một chế độ mới, là chặng đường phát triển của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Cuộc cách mạng vĩ đại đó đã chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm trên đất nước ta, đồng thời chặt đứt những mắt xích quan trọng của chế độ thực dân, thúc đẩy, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc bị áp bức, nô lệ các nước thuộc địa trên toàn thế giới.
Cách mạng diễn ra trong điều kiện thời cơ nghìn năm có một, tuy nhiên, thời cơ đó chỉ được tận dụng và đạt thành quả với sự chuẩn bị kỹ lưỡng cả thế và lực lượng cách mạng của Đảng.
Cách mạng tháng Tám thắng lợi, nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc lâu dài, đầy hy sinh, gian khổ của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chứ không phải là sự “ăn may” hay “cướp công” nào cả như những đối tượng xấu, có thái độ thù địch, xuyên tạc.
Hai là, xét lại, xuyên tạc ý nghĩa lịch sử, thời đại của Cách mạng Tháng Tám
Mặc dù thụ hưởng thành quả của Cách mạng Tháng Tám gần 80 năm qua, song một số kẻ lại mạo danh, núp bóng “Người Việt Nam yêu nước” “ăn cháo đá bát”, đòi xét lại sự kiện lịch sử Cách mạng Tháng Tám. Có nhiều phần tử cơ hội chính trị tỏ ra bất mãn, cực đoan, quá khích, dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “xã hội dân sự” đấu tranh với cái gọi “vì chính nghĩa”, vì “dân chủ, tự do”, bất chấp lẽ phải, phẩm giá con người tung ra những luận điệu trắng trợn, hằn học, bỉ ổi rằng: Thành quả Cách mạng Tháng Tám nhanh chóng rơi vào tay Đảng Cộng sản.
Họ vu cáo đây là nguyên nhân dân tộc Việt Nam rơi vào “thảm họa” hai cuộc chiến tranh tàn khốc chống Pháp và chống Mỹ khiến cho đất nước bị tàn phá, dân tộc phân ly và ngày nay tiếp tục tình trạng nghèo đói, lạc hậu. Theo họ, nếu không đi theo con đường của cách mạng vô sản vạch ra, Việt Nam vẫn có độc lập mà tránh được chiến tranh, đi theo con đường của nước tư bản phát triển tới phồn vinh.
Đánh giá về nguyên nhân và bản chất của Cách mạng Tháng Tám, ngay các sử gia phương Tây mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, song họ đều thấy được vai trò to lớn của Mặt trận Việt Minh, tinh thần dân tộc, cũng như tầm tư tưởng thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nói về Cách mạng Tháng Tám, sử gia người Na Uy S.Tonesson thừa nhận “Cuộc cách mạng ở Việt Nam năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, không chỉ có vậy, đó còn là một cuộc cách mạng chính trị chống lại nền quân chủ thối nát, và là một cuộc cách mạng xã hội chống lại chủ đất và thực dân”.
Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ làm chủ cuộc đời mới, kỷ nguyên nhân dân được tự do, đất nước được độc lập. Sức lan tỏa của Cách mạng Tháng Tám đã thức tỉnh các dân tộc trên thế giới, các nước Phi, Mỹ La tinh, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc để giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột.
Đúng như nhà sử học Mông Cổ, TS Sanomish Dashtsevel đánh giá: “Cách mạng Tháng Tám đã tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam làm chủ đất nước, giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước. Cuộc Cách mạng tháng Tám còn có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ ở các nước châu Á và trên thế giới”.
Nói như vậy, thực chất của những luận điệu trên là một thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ, đổi trắng thay đen, hòng hạ thấp ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám. Mục đích của chúng là phá hoại về tư tưởng và đại đoàn kết dân tộc, gây mất lòng tin của các thế hệ đối với truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc Việt Nam.
Thủ đoạn của chúng là cố tình khoét sâu vào nỗi đau chiến tranh và vu cáo, đổ vấy hậu quả đau thương này cho chính quyền cách mạng, cố tình chia rẽ đoàn kết, hòa hợp dân tộc, đẩy một bộ phận nhân dân xa rời Đảng, Nhà nước.
Làm như vậy, họ đã vu cáo cả một dân tộc, phỉ báng cả quê hương, đất nước, biết bao anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc.
Họ cam tâm đứng về phía thế lực thù địch ra sức “bắn đại bác vào quá khứ” một cách bỉ ổi nhất; bán rẻ lương tâm, cuồng nhiệt cổ xúy cho mọi quan điểm, luận điệu chống đối Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, quê hương, xứ sở.
Ba là, xuyên tạc thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là mở ra thời kỳ Đảng đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, một đảng duy nhất nắm quyền thống trị với một nhà nước “chuyên chính vô sản”
Chúng cho rằng, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng nắm được quyền thống trị toàn đất nước, thành lập Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị.
Điều 4 – Hiến pháp 2013 chỉ rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội quân tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội quân tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật (Hiến pháp năm 2013, tr.12, 13).
Thực tế trong đời sống chính trị, xã hội đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
Ngoài lợi ích của dân tộc, phụng sự Tổ quốc và nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Đảng lấy “Tập trung dân chủ” (thiểu số phục tùng đa số, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách), “Đoàn kết thống nhất”, “tự phê bình và phê bình”… là những nguyên tắc tổ chức hoạt động của mình.
Cùng với đó là mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Xét trên cơ sở chính trị, pháp luật, thực tiễn như vậy tại sao lại nói là thể chế chính trị ở Việt Nam là độc tài, bác đoạt nhân quyền, mất tự do, dân chủ?
Thực tế, đằng sau sự vu cáo thâm độc này là cổ xúy cho thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thúc đẩy “xã hội dân sự”, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, hướng lái Việt Nam đi theo con đường TBCN.
Những nội dung xuyên tạc trên không có gì mới, chỉ là trò “bổn cũ soạn lại”, năm nào đến dịp cả nước kỷ niệm ngày lễ trọng đại, chúng lại lôi ra với ý đồ nói lâu, nói dai, nói đại để mong bỡn quá hoá thật. Tuy nhiên, chính sự nhai đi nhai lại luận điệu ấu trĩ ấy càng chứng tỏ bản chất phản động, phi lý của các thế lực chống đối. Bởi sự thật hiển nhiên chỉ có một, còn ngụy tạo tất bị chân lý phơi bày, không thể khoác áo giả dối, đánh lừa.
Lê Vĩnh Bình


THẤM THÍA NHỮNG LỜI NÓI CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN PHÚ TRỌNG

"Tự trọng là mình phải rất liêm chính. Như tôi cũng đã từng nói tại Hội nghị công an toàn quốc, danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất. Thế nào là danh dự? Cao hơn tất cả, vật chất không là gì. Cái còn mãi với thời gian là danh dự, trọng liêm, trọng chính, trọng đức. Còn vật chất chỉ là phù vân, nó quý thì quý thật nhưng ông cha ta đã tổng kết: danh thơm thì còn mãi. Đừng ham chức tước, địa vị, vật chất, tiền tài lôi kéo đủ thứ, nhất là chúng ta có quyền lực trong tay, lắm kẻ mơn trớn, xu nịnh. Các đồng chí đặc biệt coi trọng công tác xây dựng lực lượng. Quân tinh, tướng mạnh, thể chế tốt, chỉ đạo làm ráo riết, hiệu quả thì việc gì cũng thành. Tướng phải ra tướng, quân phải ra quân. Tất cả các cấp đồng lòng  vào cuộc tạo chuyển biến mạnh mẽ rõ rệt hơn nữa. Các đồng chí cũng cần nhấn mạnh trách nhiệm nêu gương, đặc biệt là nêu gương của người đứng đầu. “Trên chẳng chính ngôi thì dưới chúng tôi hỗn hào”. Trên nghiêm mới nói được dưới, dưới sợ không dám làm"
——-
(Lời nói của TBT,CTN tại: Hội nghị Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương)
Hải Đăng st

Lòng rộng 1 thước, con đường sẽ rộng 1 trượng!


Một ông lão ăn mày quần áo rách rưới, đầu tóc bù xù, bốc mùi hôi khó chịu, dừng chân trước một tiệm bánh ngọt. Những vị khách mua hàng đứng bên cạnh đều bịt mũi, nhíu mày, tỏ vẻ vô cùng khó chịu với ông lão.
Nhân viên bán hàng quát to: “Đi ngay chỗ khác! Đi ngay đi!”.
Người ăn mày lập cập lấy ra mấy đồng tiền lẻ cáu bẩn: “Tôi đến mua bánh ngọt! Xin hỏi loại nào là nhỏ nhất?”.
Từ bên trong, ông chủ tiệm rảo bước ra ngoài, niềm nở lấy một chiếc bánh ngọt nhỏ xinh từ trong tủ kính, đưa cho người ăn mày. Sau đó, ông chủ cúi gập người: “Cảm ơn quý khách đã chiếu cố mua hàng! Hoan nghênh quý khách lần sau lại tới!”.
Người ăn mày đón chiếc bánh từ ông chủ, mặt hiện rõ vẻ kinh ngạc, vội quay người rời khỏi tiệm bánh. Trong đời mình, dường như ông chưa từng được đối xử tôn trọng đến vậy!
Cháu trai ông chủ tiệm bánh chứng kiến toàn bộ sự việc, vô cùng thắc mắc, bèn hỏi: “Ông nội! Sao ông lại niềm nở với người ăn mày bẩn thỉu đó như vậy ạ?”.
Ông chủ tiệm bánh mỉm cười hiền từ: “Một người ăn mày cũng vẫn là khách hàng của chúng ta. Để mua bánh ngọt của cửa hàng chúng ta, ông ấy đã không tiếc tiêu những đồng tiền phải trải qua bao nhiêu vất vả mới kiếm được. Nếu ông không tự mình phục vụ ông ấy thì sao có thể xứng với sự ưu ái người ăn mày ấy dành cho chúng ta đây?”.
Cháu trai ông chủ lại hỏi: “Đã vậy thì vì sao ông vẫn còn lấy tiền của ông ăn mày ấy ạ?”.
Ông chủ cười đáp: “Hôm nay, ông ấy đến đây với tư cách là khách, chứ không phải đến để ăn xin cháu ạ! Đương nhiên, chúng ta phải tôn trọng ông ấy chứ! Nếu như ông không lấy tiền thì chẳng phải đã làm nhục ông ấy rồi sao? Nhất định cháu phải nhớ kỹ điều này, hãy tôn trọng từng khách hàng, bất kể họ là ai, ngay cả đó là một người ăn mày. Bởi tất thảy những thứ chúng ta có được hôm nay đều là do khách hàng mang lại”…
Chủ tiệm bánh nọ chính là ông nội của tỷ phú Nhật Bản Yoshiaki Tsutsumi. Về sau, Tsutsumi đã kể lại rất nhiều lần câu chuyện này cho nhân viên của mình nghe, để họ học tập cách tôn trọng khách hàng


GIỮ LỬA LÒ NGÀY CÀNG NÓNG


Chống tham nhũng là chuyện Đảng ta, dân ta đã nói và làm từ lâu. Nhưng để cái “lò” chống tham nhũng nóng lên trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng không chỉ đòi hỏi quyết tâm cao, sự kiên định mà cần phương pháp đúng. Từ sau Đại hội XII của Đảng (năm 2016) đến nay, với quyết tâm chính trị cao độ, tầm nhìn chiến lược sâu rộng của Trung ương Đảng, Đảng ta đã đưa ra được những giải pháp căn bản, mang tính khoa học, thực tế, cụ thể, đi đôi với đó là sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt nên cuộc chiến chống tham nhũng đã thu được kết quả quan trọng bước đầu, trở thành cái “lò” nóng thiêu đốt tham nhũng. Những kẻ thoái hóa, biến chất, phạm tội tham nhũng đã bị xử lý kỷ luật Đảng, xử lý theo pháp luật, dù còn đương chức hay đã nghỉ hưu, không có “vùng cấm”.
Nói cách khác, “lò” đã nóng lên, tuy nhiên, làm sao để “lò” luôn nóng và ngày càng nóng hơn, để sức nóng của cái “lò” đó có thể thiêu đốt mọi ý đồ tham nhũng của những kẻ bất lương, trước khi chúng hành động. Điều đó có nghĩa là cuộc chiến chống tham nhũng cần được tăng cường, được đẩy mạnh, ngày càng đi vào thực chất, có hiệu quả hơn. Mọi hành vi tham nhũng, mọi kẻ tham nhũng không kể chức vụ cần được phát hiện và xử lý kịp thời.
Đó vẫn còn là niềm mong mỏi và nỗi lo toan của Đảng, của dân. Bởi vì “lò” đã nóng không có nghĩa là tự nó cứ nóng đều, nóng mãi, mà phải không ngừng tiếp củi lửa, nguyên nhiên liệu. “Nguyên, nhiên liệu” cho “lò” chống tham nhũng nói gọn lại đó là ý chí, sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của “ý Đảng, lòng dân”, tất cả phải cùng vào cuộc. Chống tham nhũng - chống “giặc nội xâm” - cũng là cuộc chiến không khoan nhượng. Có tiêu diệt được nạn tham nhũng mới bảo vệ được Đảng và chế độ, bảo vệ được cuộc sống yên lành của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước. Kinh nghiệm lịch sử và thực tế hiện nay cho thấy, không một thứ “giặc” nào lại dễ dàng bị đánh bại. Chống tham nhũng ngày nay là cuộc chiến không kém phần cam go, lâu dài, quyết liệt. Hành vi tham nhũng ngày càng gian manh, xảo quyệt; thủ đoạn tham nhũng cũng như thủ đoạn ẩn nấp, giấu mình, chống trả ngày càng tinh vi, phức tạp, khiến cho việc phát hiện, xử lý tham nhũng ngày càng khó khăn. Hơn nữa, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh một mất, một còn nhưng lại diễn ra ngay trong nội bộ đảng, tổ chức, bộ máy chính quyền, và trong từng cá nhân có chức, có quyền. Vượt qua chính mình, thắng được chính mình, đó là điều khó khăn nhất.
Để “giữ cho lò luôn nóng và ngày càng nóng hơn”, để cuộc chiến chống “giặc nội xâm” này thu được nhiều kết quả, thành tựu to lớn hơn, cần thêm nhiều nỗ lực.
Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng để mọi người dân nhận thức sâu sắc hơn về quốc nạn tham nhũng, có quyết tâm cao hơn trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm”. Xét cho cùng, những yếu kém, khuyết điểm, tồn tại trong công tác phòng, chống tham nhũng nói chung, trong bản thân mỗi con người đều liên quan đến nguyên nhân hàng đầu là nhận thức và tư tưởng. Nhận thức, tư tưởng chỉ dẫn hành động của mỗi con người. Lý luận phải đi trước một bước. Đó là nguyên lý.
Theo đó, để triển khai tốt Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tuyên truyền, giáo dục người dân trong phòng, chống tham nhũng, cần chú trọng một số điểm sau:
 Nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là giai đoạn gần đây. Nghiên cứu sâu về những kinh nghiệm, bài học chống tham nhũng trong lịch sử của cha ông ta và của những nước có chỉ số xếp hạng tham nhũng thấp nhất trên thế giới (như New Zealand, Denmark, Singapore,…). Những vấn đề này mới chỉ đề cập đến trong những tin tức, bài báo, chưa đúng mức, đúng tầm. Mỗi vấn đề như vậy xứng đáng là đề tài để hội thảo, làm luận án khoa học cấp nhà nước. Những kết quả nghiên cứu khoa học ấy quyết không “để trong ngăn kéo” mà phải được vận dụng, được phát huy trong việc nâng cao nhận thức của nhân dân, trong hoạch định nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật phòng, chống tham nhũng của Nhà nước.
 Trong lĩnh vực giáo dục, phải có những bài học về phòng, chống tham nhũng, xây dựng tâm lý “bài trừ” tham nhũng. Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật phải coi phòng, chống tham nhũng là một trong những chủ đề, đề tài quan trọng nhất. Điều đó phải được thể hiện trong hoạt động nghiệp vụ của các nhà văn hóa, các văn nghệ sĩ. Coi phòng, chống tham nhũng là nội dung, là tiêu chí quan trọng để đánh giá, xem xét thành tích, phong tặng danh hiệu cho các nhà hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật. Có vinh danh, giải thưởng xứng đáng cho tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị về đề tài phòng, chống “giặc nội xâm”, cũng như đề tài xây dựng con người mới, người tốt, việc tốt.
 Với mọi người dân, những cá nhân không có chức quyền trong bộ máy công quyền của Đảng, Nhà nước, là đối tượng bị ảnh hưởng bởi nạn tham nhũng, không thể thờ ơ đứng ngoài cuộc mà cần phải cùng vào cuộc chống tham nhũng. Như Tổng Bí thư nói, những năm trước, nạn tham nhũng, kẻ tham nhũng nhởn nhơ trước pháp luật, người dân bi quan, “chống ai, ai chống, bây giờ chống ai” thì nay “lò” đã nóng, “cá nhân nào muốn đứng ngoài cuộc cũng không thể được”. Đảng, Nhà nước đã và đang tạo mọi điều kiện, cơ chế để mọi người dân có thể tham gia có hiệu quả vào công cuộc phòng, chống tham nhũng. Chỉ có như vậy, cuộc chiến chống “giặc nội xâm” mới thu được thành công.
 Với những người có chức, có quyền (cán bộ, công chức, viên chức) trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, các cấp, các ngành, các địa phương - những đối tượng có nguy cơ mắc vào tham nhũng, cần nhận thức sâu sắc hơn ai hết về phòng, chống tham nhũng, từ đó có hành động đấu tranh phòng, chống tham nhũng một cách quyết liệt. Cán bộ, đảng viên của Đảng, công chức, viên chức Nhà nước cần luôn tự vấn làm thế nào để đúng nghĩa “công bộc của dân”, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, hưởng đúng chế độ, chính sách tiền lương, đãi ngộ và những niềm vinh quang chân chính do Đảng, Nhà nước và nhân dân trao tặng.
 Bên cạnh những biện pháp trên, cần có các biện pháp, hình thức cổ vũ, động viên, khuyến khích thi đua chống tham nhũng. Chống tham nhũng là chống “giặc nội xâm”, là cuộc chiến không kém phần cam go, gian khổ, hy sinh, quyết liệt, vừa cấp bách, vừa thường xuyên, thậm chí có mặt còn khó khăn, phức tạp hơn và kéo dài hơn. Thực tế vừa qua có nhiều gương sáng, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, bản thân chịu nhiều gian nan, thiệt thòi, không được chú trọng bảo vệ, biểu dương, khen thưởng đúng mức. Cứ như vậy còn ai muốn và dám chống tham nhũng.
Hai là, cần rà soát lại, bổ sung, sửa đổi, bồi lấp những kẽ hở trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, luật pháp, chính sách, cơ chế của Nhà nước, nhất là Luật phòng chống tham nhũng, Bộ luật Hình sự và các bộ luật khác có liên quan đến phòng, chống tham nhũng. Như vậy mới kiểm soát được quyền lực, mới “nhốt quyền lực trong cái lồng cơ chế, chính sách, luật pháp” để người có chức, có quyền “không thể tham nhũng, không dám tham nhũng”. Cụ thể:
 Ủy ban Kiểm tra Trung ương hiện vẫn giữ cách làm, quy trình: kiểm tra Đảng đi trước, phát hiện sai phạm, đề nghị xử lý kỷ luật. Chờ một thời gian cấp có thẩm quyền của Đảng ra kỷ luật về Đảng, có dấu hiệu hình sự mới chuyển công an điều tra. Quy trình rườm rà, thời gian quá dài, tội phạm thừa thời gian để đối phó, tẩu tán chứng cứ, tang vật, tài sản. Do vậy, đoàn Kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, hay Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng khi tiến hành công việc, nên hội tụ đủ các thành phần liên quan (nhất là Viện Kiểm sát, Công an, Điều tra hình sự, Quân đội); phát hiện sai phạm nhỏ thì nhắc nhở, phê bình; sai phạm nặng, có dấu hiệu tham nhũng thì tiến hành bắt tạm giam, điều tra hình sự, phong tỏa tài sản một cách khẩn trương, nhanh chóng để kẻ tham nhũng không thể trốn chạy, hay tẩu tán tài sản. Quá trình điều tra, nếu đúng là tham nhũng thì đưa ra tòa, không mắc tội tham nhũng thì tuyên bố kết luận không tham nhũng và trả lại mọi danh dự, quyền lợi, chức vụ.
 Bổ sung thêm tội danh “tham nhũng chính trị”, “tham nhũng quyền lực” (mua bán chức tước, địa vị, quyền lực; khai man hồ sơ để “chui sâu, leo cao”; phong cấp bậc, chức tước quá quy định, không đúng tiêu chuẩn) và đây phải được coi là một trong những tội nặng nhất, đúng tính chất là “giặc nội xâm”. Gia tăng khung hình phạt cho các tội danh tham nhũng, nhất là tham nhũng chính trị, tham nhũng quyền lực.
 Người đã “tay nhúng chàm” tham nhũng chưa ở mức độ xử lý hành chính, hình sự nhưng ăn năn, hối lỗi, tự giác, thành khẩn khai báo với tổ chức về hành vi của mình và hoàn trả lại toàn bộ tiền, của (vật chất) đã tham nhũng của công hoặc của cá nhân, thì cần được làm gương. Nếu có thành tích tố giác tham nhũng, hoặc vận động được người khác làm theo mình, thì có thể được biểu dương như người có thành tích chống tham nhũng. Đây là một giải pháp mang tính đột phá. Đó chính là hành vi “lập công chuộc tội”. Chấp nhận điều này sẽ khuyến khích nhiều kẻ tham nhũng khác làm theo. Điều đó có lợi cho nhân dân, cho đất nước. Đó còn là xuất phát từ đạo lý, truyền thống dân tộc, chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng ta “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, có không ít những người lầm đường lạc lối, từng có tội với nhân dân, với đất nước nhưng được giác ngộ, từ bỏ con đường cũ, đi theo con đường mới, “lập công chuộc tội” với nhân dân, với đất nước, đã được “quay đầu lại”.
 Bổ sung vào Luật Phòng chống tham nhũng, Bộ luật Hình sự: Người có hành vi hối lộ (để giải quyết công việc riêng, hay mua nghề nghiệp, chức quyền, gọi là bên mua) mà tố cáo kẻ nhận hối lộ, tham nhũng, không những được trả lại tiền đã hối lộ, mà còn được xem xét đáp ứng nguyện vọng nếu xứng đáng, đủ tiêu chuẩn. Hơn nữa, còn được bảo vệ cả danh dự và an toàn cho bản thân, gia đình (có cơ chế bảo đảm). Giải pháp mạnh dạn này nhất định mang lại hiệu quả cao. Bởi vì điều này sẽ làm tăng nguy cơ bị lộ, tăng nỗi sợ hãi, tăng áp lực với kẻ tham nhũng quyền lực, khiến họ không dám làm. Nó cũng là sự khuyến khích mạnh mẽ việc tố cáo tội tham nhũng. Và người có hành vi hối lộ không thể coi đây là hành vi “bất tín” với người đã “giúp mình”. Nếu gọi là “bất tín”, không trung thực với “giặc nội xâm” thì chỉ có lợi cho nhân dân, cho đất nước.
 Mọi quan chức, cán bộ, đảng viên khi vào Đảng và khi nhận chức vụ trong Đảng hay chính quyền (từ Trung ương xuống địa phương) phải có lời thề (tuyên thệ). Sau những lời hứa cơ bản: Trung thành với lý tưởng, sự nghiệp của Đảng, sự giàu mạnh của đất nước, hạnh phúc của nhân dân… nhất thiết phải có câu: “Không tham nhũng và quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng”.
- Công khai, minh bạch nhiệm vụ, chức trách và chế độ đãi ngộ (lương, phụ cấp, các chế độ đãi ngộ khác…) của mọi cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước từ Trung ương xuống cơ sở, từ những người lãnh đạo cao nhất xuống công chức cơ sở, xã, phường… Công khai trên báo chí, ở các công sở cho toàn dân đều biết để kiểm tra, giám sát. Các công chức ở các cơ quan công quyền phục vụ nhân dân đều phải mặc đồng phục, có thẻ ghi tên trong khi thi hành công vụ.
 Cần có những cơ chế, quy định cụ thể để mọi công dân hăng hái tham gia tố cáo tham nhũng: tố cáo thế nào (có mẫu đơn hướng dẫn), gửi đến cơ quan nào, ai tiếp nhận và phản hồi ra sao... Thực tế hiện nay, người dân thấy tham nhũng, bị tham nhũng nhưng không biết làm thế nào, tố cáo thế nào, với ai? Tâm lý sợ sệt, e dè còn phổ biến. Nếu không gỡ được mối lo này thì chống tham nhũng vẫn chưa thực sự đạt hiệu quả

Mỹ nhe nanh ở Biển Đông, Tàu khoe móng vuốt trên Biển Đông.


Việt Nam làm gì? Theo Mỹ ư? Ngu ngốc và đáng thương cho ai có ý nghĩ điên rồ đó. Đứng về phía Trung quốc ư? Càng ngu ngốc hơn nếu có một chút ý nghĩ này.
Lịch sử quan trọng lắm. Hãy giở sách ra mà đọc, mà học, mà ngẫm. Chỉ cần Việt Nam ngã về bên nào đều trở thành kẻ thất bại thảm hại, là hành động tự sát.
Đơn giản thôi:
Ngã theo Mỹ và có một động thái bất cẩn thì Việt Nam sẽ tạo cớ cho Trung quốc hiện thực hóa ngay âm mưu chiếm thêm đảo của Việt Nam trên biển Đông (khi đó Mỹ cũng chẳng làm gì hết, Mỹ - Trung là bạn hay là thù của nhau, có đi đêm với nhau không thì có chúng mới biết). Và trong thực tế, Mỹ có đem toàn bộ chiếm hạm đến biển Đông đi chăng nữa thì Mỹ cũng sẽ lòng vòng mép ngoài/chưa bao giờ bước qua lằn ranh 12 hải lý của cái gọi là hải phận của các đảo mà Trung Quốc chiếm đóng. Mỹ ko bao giờ dám vượt qua lằn ranh đó. Điều này đã được minh chứng trong thực tế và nói lên điều gì?
Thưa rằng:
(1) Mỹ - Trung chỉ ve vãn nhau thôi, nếu thấy lợi (khi một bên nhượng bộ về kinh tế hoặc ủng hộ bên kia về một vấn đề mà bên đó đang gặp khó trên bàn cờ quốc tế...) chúng sẽ làm bạn của nhau ngay lập tức. Việt Nam chẳng là cái thá gì sất.
(2) Mỹ ko dám vượt qua hải phận vì muốn an toàn, dù đang làm bộ éo sợ chết. Nhưng kỳ thực Mỹ ngầm ủng hộ, công nhận cái chủ quyền của TQ đối với các đảo mà TQ đang chiếm đóng, tức là công nhận cái chủ quyền của TQ đối với đảo đó còn gì. Vậy Việt Nam được gì nào?
(3) Mỹ đưa thêm 1 tàu thì TQ đem thêm 1 tàu vào Biển Đông, hai bên cùng dàn hàng ngang, bịt nòng súng, mở nhạc cùng khiêu vũ với nhau. Mỏi chân thì Mỹ nó rút, nhưng thằng TQ nó lại không rút. Việt Nam phải làm gì? Khóc à?
Mỹ - Trung càng ve vãn, vờn nhau trên Biển Đông thì Việt Nam càng đau đầu lắm lắm. Thách thức sẽ trở thành nguy cơ, nếu không hóa giải được nguy cơ thì tai họa sẽ ập đến. Vì dù liều đến đâu, mạnh đến đâu cũng không thể đối đầu với 2 thằng khổng lồ trước mặt. Tốt nhất là toàn dân nên tin tưởng vào đối sách của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ. Chỉ cần mỗi người dân kiêu dũng đứng bên Đảng, Nhà nước khi đất nước lâm nguy và khắc lên trán hai chữ "Sát Tàu" hoặc "Sát Mỹ" thì bố thách TQ - Mỹ dám láo với Việt Nam

BỆNH NHÂN CÓ VÔ ƠN?

Thông tin bệnh nhân người Anh về nước và từ chối các báo đài chụp ảnh quay phim phỏng vấn khiến khá nhiều người bực bội - trong đó một tờ báo viết ra hẳn hoi là ông ta chảnh, là thế này thế nọ.

THÀNH CÔNG TO LỚN NHƯNG MẬT "BÍ MẬT" CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Khoảng hai mươi năm trước, khi tôi chuyển đến Hà Nội, thành phố ảm đạm, xám xịt, bị bao phủ bởi khói bụi. Chiến tranh đã kết thúc, nhưng những vết sẹo khủng khiếp vẫn còn.

Tôi đã mang chiếc 4WD của mình từ Chile đến đây và luôn tự lái nó. Đó là một trong những chiếc SUV đầu tiên trong thành phố Hà Nội. Mỗi lần tôi lái đi, nó thường bị những người đi xe máy đâm vào, những chiếc xe máy luôn chạy như những viên đạn trên khắp các đại lộ của thủ đô Việt Nam.

Phải nói là Hà Nội rất đẹp, nhưng u uất, rõ ràng là do chiến tranh. Có những nỗi đau, những câu chuyện khủng khiếp trong quá khứ. Trong những ngày tôi ở đó, Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất châu Á. Nhiều di sản lớn, bao gồm Thánh địa Mỹ Sơn ở miền Trung Việt Nam, về cơ bản vẫn là những bãi mìn rộng lớn, thậm chí nhiều năm sau các vụ đánh bom thảm khốc của Mỹ. Cách duy nhất để đến thăm những nơi như vậy là nhờ xe quân sự do chính phủ quản lý.

Tòa nhà nơi tôi sống, được cải tạo từ nhà tù cũ khét tiếng của Pháp ở Hà Nội, Hoả Lò, nơi những người yêu nước và cách mạng Việt Nam từng bị tra tấn, hãm hiếp và hành quyết, và cũng là nơi giam giữ một số phi công Mỹ bị bắt trong thời gian được gọi là "Chiến tranh Việt Nam" theo cách gọi của Mỹ. Từ cửa sổ nơi ở, tôi có thể nhìn thấy một trong hai chiếc máy chém trong sân của những gì mà sau đó đã trở thành một bảo tàng về tội ác của chủ nghĩa thực dân.

Vào năm 2000, Hà Nội không có một trung tâm thương mại nào và khi chúng tôi đến, nhà ga của sân bay Nội Bài chỉ là một tòa nhà nhỏ, có kích thước chỉ như một nhà ga xe lửa cấp tỉnh. Vào những ngày đó, đối với người dân Việt Nam, một chuyến đi đến Bangkok sẽ tạo ra cảm giác giống như một chuyến đi đến một thiên hà khác. Đối với các nhà báo như tôi, những người sống ở Hà Nội, đi lại thường xuyên đến Bangkok hoặc Singapore là một điều cần thiết tuyệt đối, vì hầu như không có thiết bị chuyên nghiệp hoặc phụ tùng nào có sẵn ở Việt Nam.
***
Hai thập kỷ sau, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia phát triển và thoải mái nhất ở châu Á. Một nơi mà hàng triệu người phương Tây rất thích đến sống. Chất lượng cuộc sống ở đây vẫn đang phát triển liên tục. Mô hình xã hội chủ nghĩa và kế hoạch trung tâm của nó rõ ràng đang thành công. Có những con đường giao thông rất lớn, ví dụ như tuyến đường nối giữa thành phố Huế với Đà Nẵng, với mạng lưới giao thông công cộng hiện đại, cũng như các công trình văn hoá thể thao. Tất cả điều này trái ngược hoàn toàn với sự ảm đạm tư bản cực đoan ở các quốc gia như Indonesia, thậm chí là Thái Lan. Cuộc sống của người Việt Nam không ngừng được cải thiện về vệ sinh, chăm sóc y tế, giáo dục và đời sống văn hóa. Với ngân sách khá nhỏ, quốc gia này lại đạt được mức độ ngang tầm với các quốc gia giàu có hơn nhiều ở châu Á và thế giới.

Người dân Việt Nam là một trong những người lạc quan nhất trên thế giới. Chỉ trong ba năm tôi sống ở Việt Nam, đất nước này đã thay đổi đáng kể. Sức mạnh và quyết tâm to lớn của người dân đã giúp thu hẹp khoảng trống còn sót lại sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở Đông Âu. Việt Nam đã lựa chọn, thành công, cho mô hình một nền kinh tế hỗn hợp, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Những nỗ lực to lớn của Hoa Kỳ và Châu Âu nhằm phá hoại hệ thống xã hội chủ nghĩa, thông qua việc sử dụng các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức có vỏ bọc phi chính phủ được tài trợ bởi các chính phủ phương Tây, đã bị nhận diện và bị đánh bại một cách quyết đoán ở Việt Nam. Những người kiên định lý tưởng Cộng sản trong Đảng cầm quyền và chính phủ của họ đã áp đảo những kẻ đang cố làm hư hỏng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hòng đẩy đất nước ngả về phía phương Tây.
***
Những gì tiếp theo là thành công đáng kể, trên nhiều mặt. Theo một báo cáo của Đông Nam Á, được công bố vào ngày 1 tháng 10 năm 2018:
"Việt Nam là quốc gia tốt nhất trong số 151 quốc gia được khảo sát trong một nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống gắn với sự bền vững môi trường".

Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam được đánh giá thực hiện đặc biệt tốt, khi so sánh với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Báo cáo trên giải thích thêm:
"Một nghiên cứu trên phạm vi rộng, được gọi là nghiên cứu 'Cuộc sống tốt đẹp cho tất cả hành tinh', được tiến hành và xuất bản bởi một nhóm các nhà nghiên cứu từ Đại học Leeds, cho rằng chúng ta cần phải suy nghĩ lại về cách nhìn nhận sự phát triển và mối quan hệ của nó với môi trường. Về cơ bản, chúng tôi đã làm việc trên một số chỉ số tổng hợp và mối quan hệ khác nhau giữa các kết quả xã hội với các chỉ số môi trường. Chúng tôi đã đưa ra ý tưởng về việc, nếu chúng ta chỉ nhìn vào các chỉ số xã hội, chúng ta có thể xác định một mức độ tương đương với một cuộc sống tốt hay không?".

Cuộc khảo sát này được thực hiện ở 151 quốc gia và Việt Nam cho thấy có các chỉ số tốt nhất:
"Các nhà nghiên cứu đã xem xét 11 chỉ số xã hội bao gồm sự hài lòng về cuộc sống, dinh dưỡng, giáo dục, chất lượng dân chủ và việc làm. Nói chung, chúng tôi đã làm tự mình thấy ngạc nhiên rằng Việt Nam đã làm rất tốt về tổng thể. Bạn có thể từng mong đợi điều đó phải là Costa Rica hoặc Cuba, vì Việt Nam thường chưa bao giờ được đánh giá là một quốc gia phát triển bền vững. Hai quốc gia mà các nhà nghiên cứu dự kiến sẽ làm tốt nhất vì họ thường cung cấp hỗ trợ xã hội tốt và không gây thiệt hại môi trường như nhiều quốc gia khác, nhưng cuối cùng 2 quốc gia này đã xếp sau Việt Nam".

Đây không phải là báo cáo duy nhất ca ngợi thành công lớn của mô hình xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đã đạt được danh tiếng của một siêu sao kinh tế và xã hội. So với các nước ủng hộ chủ nghĩa thị trường tự do tư bản như Indonesia hay thậm chí là Philippines, các thành phố xã hội chủ nghĩa thanh lịch của Việt Nam được thiết kế và duy trì cho người dân, cũng như vùng nông thôn ngày càng gọn gàng và đẹp hơn, rõ ràng đã cho thấy hệ thống nào trong hai hệ thống kinh tế này vượt trội hơn và phù hợp hơn đối với người dân châu Á và văn hóa của họ .
***
Trong thời gian khẩn cấp, nghiêm trọng về thiên tai và y tế, Việt Nam cũng vẫn đi trước các nước Đông Nam Á khác. Giống như Cuba và Trung Quốc, Việt Nam đã đầu tư rất nhiều vào việc phòng chống thiên tai. Theo tạp chí "Thời đại mới", các quốc gia xã hội chủ nghĩa bao gồm Việt Nam, đã làm được công việc tuyệt vời để chống lại sự bùng nổ của đại dịch COVID-19 gần đây:
"Các nước đang phát triển như Cuba và Việt Nam với các cấu trúc và triết lý nhà nước xã hội chủ nghĩa đang xử lý thành công đại dịch COVID-19. Vai trò của các chiến lược về kinh tế và chăm sóc sức khỏe lâu dài của họ đóng vai trò gì sau thành công này? Tiến sỹ Talebur Rupom đặt câu hỏi này và cho rằng hiện là thời điểm quan trọng mà các quốc gia nên đầu tư mạnh vào các lĩnh vực y tế để đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người.
Các quốc gia có các hệ thống chăm sóc y tế được trợ cấp tập trung hoặc được tài trợ đầy đủ đang chiến đấu với cuộc khủng hoảng COVID-19 tốt hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Ngoài ra còn có một số lý do chủ động khác khiến họ có thể giảm tỷ lệ tử vong và các trường hợp nhiễm bệnh.
Cuba và Việt Nam là hai quốc gia đang phát triển đã nhanh chóng đối phó với mối đe dọa mới nổi này. Bất chấp lệnh cấm vận và hạn chế của Hoa Kỳ và với nguồn lực hạn chế, việc xử lý đại dịch của Cuba có thể là một hình mẫu cho những quốc gia khác. Với nền kinh tế nhỏ hơn Bangladesh, quốc gia Đông Nam Á Việt Nam cũng đang có được sự tín nhiệm để khởi động lại nền kinh tế sau khi khống chế thành công đại dịch COVID-19, mặc dù họ có chung biên giới quan trọng với Trung Quốc".

Đến cuối tháng 5 năm 2020, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với 95,5 triệu dân, chỉ có 327 ca nhiễm và không có ca tử vong nào, theo dữ liệu do Đại học Johns Hopkins cung cấp. Ngay cả tạp chí chính thống, cánh hữu của Anh, "The Economist", cũng không thể bỏ qua thành công lớn trong cuộc chiến chống lại Covid-19 của các quốc gia Cộng sản, như bang Kerala của Ấn Độ và Việt Nam:
"Việt Nam với dân số 95 triệu người, là một nơi lớn hơn nhiều các quốc gia khác. Tuy nhiên, khi đối phó với covid-19, họ đã hành động theo một kịch bản đáng kinh ngạc, với một kết quả rất ấn tượng. Giống như Kerala, họ đã sớm có các ca bị phơi nhiễm virus và chứng kiến sự gia tăng các ca bệnh mới trong tháng 3. Tuy nhiên, các trường hợp nhiễm bệnh cũng đạt đến đỉnh điểm sớm và đã giảm xuống chỉ còn 39. Việt Nam là duy nhất trong số các quốc gia có quy mô tương tự, và ngược lại với những câu chuyện thành công nổi tiếng trong chống Covid như Đài Loan và New Zealand, Việt Nam vẫn chưa có ca tử vong nào. Philippines, một quốc gia ở gần đó có cùng dân số và quy mô nền kinh tế, đã có hơn 10.000 người nhiễm bệnh và 650 người đã chết.
Giống như Kerala, Việt Nam gần đây đã phải chiến đấu với các dịch bệnh chết người khác, trong khi dịch Sars bùng phát trên toàn cầu vào năm 2003 và cúm lợn năm 2009. Cả Việt Nam và Kerala đều được hưởng lợi từ một di sản đầu tư lâu dài vào y tế công cộng và đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ ban đầu, với sự quản lý tập trung, mạnh mẽ, một phạm vi thể chế từ các phường ở thành phố cho đến các ngôi làng xa xôi đều có rất nhiều nhân viên y tế lành nghề. Không phải ngẫu nhiên, chủ nghĩa cộng sản đã có một ảnh hưởng mạnh mẽ, vì hệ tư tưởng nhà nước không thể bị khuất phục của Việt Nam, cũng như lý tưởng và cách làm đã được các đảng cánh tả thống trị Kerala từ những năm 1950 áp dụng".

Một số phân tích, bao gồm từ cả những người ở phương Tây, cho rằng Việt Nam đã vượt xa nhiều quốc gia trong khu vực, bao gồm cả những nước, ít nhất là trên giấy tờ, giàu có hơn nhiều. Tờ DW (Deutsche Welle), ví dụ, đã báo cáo vào ngày 22 tháng 5 năm 2020:
"Chuyên gia kinh tế hàng đầu thế giới, Adam McCarty, hy vọng rằng Việt Nam sẽ được hưởng lợi rộng rãi từ cách họ xử lý COVID-19. Có lẽ đây là một bước ngoặt khi Việt Nam vươn lên khỏi nhóm các quốc gia như Campuchia và Philippines và gia nhập nhóm các quốc gia phát triển hơn như Thái Lan và Hàn Quốc, mặc dù Việt Nam chưa có GDP tương tự, nhưng ông McC đã trao đổi với DW từ Hà Nội:
Với phần còn lại của thế giới vẫn còn bị COVID-19, xuất khẩu thực sự sẽ bị tổn thương - ông McC nói. Nhà kinh tế này nhấn mạnh rằng mọi thứ không thể quay trở lại như cũ. Và mặc dù tiêu dùng trong nước có thể sẽ tăng trong những tháng tới, con số tăng trưởng 5% cho năm 2020 có thể là quá tham vọng. Có thể chỉ đạt được mức 3%, nhưng điều đó đã là rất tốt trong trường hợp này. Nó vẫn có nghĩa là Việt Nam đã trở thành một người chiến thắng".

Tôi vẫn luôn định kỳ trở lại Việt Nam, một điều đáng chú ý là đất nước này không hề có khu ổ chuột. Không có tình trạng khổ cực phổ biến ở các nước theo chủ nghĩa tư bản hoang dã như Indonesia, Philippines, thậm chí ngay cả ở Campuchia và Thái Lan. Không có tình trạng khốn khổ ở các thành phố, thị trấn và nông thôn Việt Nam. Đó là một thành công lớn.

Kế hoạch cộng sản có nghĩa là hầu hết các thảm họa tự nhiên và y tế đều phải được ngăn chặn tốt. Khi tôi sống ở Hà Nội, những khu vực rộng lớn và đông dân cư giữa sông Hồng và thành phố thường bị ngập lụt hàng năm. Nhưng dần dần, các khu phố tồi tàn đã được di dời, và các khu vực cây xanh được trồng trở lại, ngăn nước có thể chảy vào thành phố. Từng bước hợp lý, Việt Nam đã và đang thực hiện những thay đổi được thiết kế khoa học, chặt chẽ để cải thiện toàn diện cuộc sống của người dân.

Các phương tiện truyền thông đại chúng ở phương Tây và trong khu vực viết rất ít về "phép màu Việt Nam" này, vì những lý do rõ ràng.

Với sự hy sinh to lớn, nhân dân Việt Nam đã đánh bại thực dân Pháp, và sau đó là quân chiếm đóng Hoa Kỳ. Hàng triệu người đã hy sinh, nhưng một quốc gia mới, tự tin và mạnh mẽ đã ra đời. Nó thực sự đã đứng lên từ đống tro tàn. Nó đã xây dựng một mô hình của riêng mình, đặc thù Việt Nam. Bây giờ, nó đang chỉ đường cho những quốc gia yếu hơn và ít quyết tâm hơn ở Đông Nam Á, những nước vẫn đang sẵn sàng hy sinh công dân của mình, bằng cách ngoan ngoãn thần phục sự chỉ huy của Bắc Mỹ và Châu Âu.

Từ vị trí của một trong những nước châu Á nghèo nhất, Việt Nam đã trở thành một trong những nước mạnh nhất, quyết đoán và lạc quan.
Quốc Văn ST.

OAI HÙNG?

Sống thời buổi này, đương nhiên người ta có quyền tự do đủ kiểu,  trong đó có tự do trang phục, thế nên việc đám người nào đó đam mê mặc những bộ đồ của US ARMY hay của đội lôi hổ, trâu điên, đại bàng... gì gì đó của Quân lực hạng tư thế giới, khó ai có thể kết án họ vi phạm pháp luật.
Nhưng dưới khía cạnh nhận thức và đạo Đức, không ai cấm cộng đồng mạng lên tiếng vì ngứa mắt.
Về nhận thức, oai hùng gì khi khoác lên mình những chiếc áo của đội quân từng xâm lược đất nước mình, từng bán rẻ đất nước mình cam tâm làm tay sai cho ngoại bang.
Oai hùng gì khi khoác lên người chiếc áo của một chế độ phi nghĩa đã bị nhân dân lật đổ.
Oai hùng gì khi khoác lên người quân phục của những kẻ đu càng chạy tụt quần tháo thân khỏi đất nước.
Về đạo Đức, có tự hào gì khi khoác lên mình áo của những kẻ từng ra tay sát hại đồng bào mình một cách dã man bằng súng đạn.
Cổ suý cho những đội quân xâm lược, tôn sùng những thây ma bán nước, đó chỉ có thể là bọn thần kinh không bình thường.
Kể cả, có là nghệ sĩ gì đi nữa thì chắc dây thần kinh cũng đã bị chập cheng!
Các anh có quyền tự do trang phục, còn tôi có quyền tự do ngôn luận.
Đừng trách mà dễ xa nhau!

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2020

NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI LÀM TIM TA NHÓI ĐAU


1. ANH HÙNG, LIỆT SĨ

- Có 1.146.250 Liệt sỹ trên cả nước.
+ Có 191.605 Liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống Pháp
+ Có 849.018 Liệt sỹ hi sinh trong kháng chiến chống Mỹ
+ Có 105.627 Liệt sỹ hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc, cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo…)

- Hơn 200.000 hài cốt Liệt sỹ chưa được tìm thấy, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Cam pu chia, Biển Đông…

- Hơn 300.000 hài cốt Liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính tên tuổi, quê quán, đơn vị…

- Tỉnh có nhiều Liệt sĩ hi sinh nhất: Tỉnh Quảng Nam có 65.000 Liệt sĩ hi sinh trong các cuộc chiến tranh. (ngoài ra tỉnh Quảng Nam còn có hơn 30.000 thương binh) (tính đến năm 2012).

- Huyện có nhiều liệt sỹ nhất cả nước là huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) với hơn 19.800 Liệt sĩ. (tính đến năm 2012).

2. NGƯỜI DÂN

- Ngoài ra, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khoảng hơn 4 triệu dân thường Việt Nam ở hai miền (miền Bắc và miền Nam) đã chết và bị thương tật suốt đời do bom đạn, do kẻ thù giết hại…

3. CÔNG TRÌNH TRI ÂN ANH HÙNG, LIỆT SỸ

- Có 9.637 công trình tri ân, ghi công Liệt sỹ như tượng đài, nhà bia, nghĩa trang Liệt sỹ trên địa bàn cả nước. (tính đến năm 2012)
+ Hơn 3.000 nghĩa trang Liệt sĩ trên địa bàn cả nước (hầu hết các tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã, phường, thị trấn trên đất nước Việt Nam đều có nghĩa trang Liệt sỹ…)

- Các Nghĩa trang Liệt sĩ cấp Quốc gia nổi tiếng linh thiêng như:
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên (Hà Giang)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Biên Phủ (Điện Biên)
+ Nghĩa trang Mai Dịch (Thủ đô Hà Nội)
+ Nghĩa trang Quốc tế Việt – Lào (Anh Sơn, Nghệ An)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn (Quảng Trị)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 (Đông Hà, Quảng Trị)
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM)…
+ Nghĩa trang Liệt sĩ Hàng Dương (Côn Đảo, Bà Rịa Vùng Tàu)

4. NGƯỜI CÓ CÔNG CỦA VIỆT NAM

- Có 9.000.000 người có công trên cả nước

- Trên 127.000 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng có chồng, con hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Một số Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu:
+ Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam có chồng, chín con đẻ, một con rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ;
+ Mẹ Trần Thị Mít ở Quảng Trị có chồng, sáu con đẻ, một con dâu và một cháu nội là liệt sĩ;
+ Mẹ Lê Thị Tự ở Quảng Nam có chín con là Liệt sĩ;
+ Mẹ Phạm Thị Ngư ở Bình Thuận, mẹ Nguyễn Thị Rành ở huyện Củ Chi (Sài Gòn) đều có tám con là Liệt sĩ, bản thân 2 mẹ cũng là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

- Tỉnh Quảng Nam là tỉnh có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất với 11.658 mẹ (số liệu tính đến 2001).

- Gần 13.000 Anh hùng LLVTND và Anh hùng Lao động.

- Gần 800.000 Thương binh và người được hưởng chính sách như Thương binh.

- Hơn 300.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam.

- Gần 111.000 người hoạt động cách mạng, người tham gia kháng chiến bị địch bắt giam, tù đày, tra tấn trong các nhà tù nổi tiếng như (Nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Lao Bảo, Côn Đảo, Phú Quốc…)
Hải Đăng st

Kỷ niệm 34 năm trận đánh mở màn chiến dịch MB84


Hôm nay, ngày 12 tháng 7, ngày được coi là giỗ trận của Sư đoàn bộ binh 356, khi gần 600 người lính của sư đoàn đã anh dũng hi sinh trong trận chiến chống lại quân Trung Quốc để bảo vệ biên cương Tổ quốc, mở màn chiến dịch MB84 tại mặt trận Thanh Thuỷ - Vị XuyênHà Giang.
Tháng 2.1979, Trung Quốc đồng loạt tấn công vào biên giới sáu tỉnh phía Bắc của Việt Nam. Trải qua 30 ngày chiến đấu ác liệt, Quân và Dân Việt Nam  đã đánh bại "chiến thuật biển người" man rợ, tàn ác của Trung Quốc, buộc quân xâm lược phải rút khỏi Đất nước ta vào ngày 18.3.1979.
Tuy nhiên, Trung Quốc không hoàn toàn rút quân, mà vẫn duy trì lực lượng ở biên giới và trên lãnh thổ Việt Nam, khiến cho chiến sự tiếp diễn suốt 10 năm sau đó.
Ngày này của 34 năm trước, quân đội Việt Nam mở màn chiến dịch MB84 giành lại các điểm cao trên biên cương Tổ quốc bị quân Trung Quốc chiếm đóng trái phép trước đó. Sư đoàn bộ binh 356 làm nhiệm vụ chủ công, phối hợp với các cánh quân của các Sư đoàn 313, 316 và nhiều đơn vị khác.
Trong ngày 12.7.1984, do tương quan lực lượng và địa hình phức tạp, gần 600 chiến sĩ sư đoàn 356 đã anh dũng hi sinh để bảo vệ từng tấc đất biên cương của Tổ quốc. 32 năm sau trận chiến đấu ác liệt, rất nhiều hài cốt của những người lính hi sinh vì Tổ quốc vẫn còn nằm lại ở chiến trường, chưa thể quy tập về các nghĩa trang liệt sĩ, về với gia đình, đồng đội do mìn còn nhiều, để lại nỗi day dứt, khắc khoải khôn nguôi trong tâm can của những đồng đội còn sống.
Xin thắp nén nhang tưởng nhớ những người đã ngã xuống vì độc lập, chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc./.
Tượng đài nghĩa trang liệt sĩ  Vị Xuyên, Hà Giang

LIỆT SĨ NGUYỄN HỮU TIẾN - NGƯỜI VẼ LÁ CỜ TỔ QUỐC

Có thể nhiều người chưa biết, người vẽ lá cờ đỏ sao vàng - Quốc kỳ của nước CHXHCN Việt Nam - là một chiến sĩ cộng sản, liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến, một người con ưu tú của quê hương Hà Nam.
Lá cờ đỏ có một ngôi sao vàng 5 cánh nằm ngay chính giữa lần đầu tiên tung bay trên chiến trường là trong khởi nghĩa Nam Kỳ. Sau này lá cờ ấy được chọn làm Quốc kỳ của nước CHXHCN Việt Nam. Người vẽ nên lá cờ đó là chiến sĩ cộng sản Nguyễn Hữu Tiến.
Liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến sinh ngày 5/3/1901 tại làng Lũng Xuyên. Từ nhỏ Nguyễn Hữu Tiến đã sớm giác ngộ cách mạng và tham gia vào các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp.
Năm 1930, Nguyễn Hữu Tiến cùng các đồng chí như Trần Tử Yến, Vũ Văn Uyển đứng ra thành lập Chi hội Việt Nam cách mạng thanh niên tại làng Lũng Xuyên, theo quyết định của Kỳ bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Đây là tổ chức cách mạng đầu tiên do Đảng lãnh đạo tại Hà Nam, Nguyễn Hữu Tiến được tín nhiệm giữ chức Phó Bí thư phụ trách công tác tuyên truyền.
Hoạt động được một thời gian thì ông bị địch bắt. Sau 2 năm bị tù đày ở Côn Đảo, chịu bao nhiêu khổ cực, được chỉ thị của Đảng bộ Côn Đảo, Nguyễn Hữu Tiến cùng 6 đồng chí khác vượt ngục thoát ra khỏi nhà tù trở về đất liền tiếp tục hoạt động cách mạng. Sau chuyến vượt ngục ấy, Nguyễn Hữu Tiến được Xứ ủy Nam Kỳ giao phụ trách liên tỉnh Đảng bộ Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Rạch Giá.
Tháng 7/1940, Xứ ủy Nam Kỳ họp mở rộng thông qua đề cương khởi nghĩa, được đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai mô tả lại một số lá Quốc kỳ của các nước. Tại đây chiến sĩ Nguyễn Hữu Tiến đã nung nấu ý định sẽ vẽ lá cờ Tổ quốc nhằm tuyên truyền cho cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.
Vào trước khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ (23/11/1940), lá cờ đỏ sao vàng 5 cánh lần đầu tiên được in trên trang nhật báo Tiến Lên, cùng với một bài thơ do chính ông sáng tác, kêu gọi nhân dân Việt Nam đoàn kết chiến đấu dưới lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc:
“Việt Nam ta con Hồng cháu Lạc
Dòng máu đỏ, giống da vàng, trải bốn ngàn năm oanh liệt.
Thế mà chịu tám mươi năm rên xiết
Dưới giày đinh đế quốc sài lang!
Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm máu đào vì nước
Sao vàng tươi da của giống nòi
Đứng lên mau! Hồn nước gọi ta rồi
Hỡi sĩ, nông, công, thương, binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh
Đoàn kết lại sức mình sẽ mạnh
Quyết đánh tan phát xít Nhật - Tây
Hỡi hai lăm triệu con yêu nước Việt Nam này
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh...”.
Ngay sau đó, Nguyễn Hữu Tiến đã vẽ lá cờ vào phiến đá và in ra nhiều bản cho chuyển xuống các cơ sở bí mật. Công việc in ấn gần xong thì lính Pháp ập đến bắt giữ.
Sau khi khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, Nguyễn Hữu Tiến bị thực dân Pháp xử bắn vào ngày 28/8/1941. Trước khi ra pháp trường, ông đã để lại lời nhắn tha thiết về lòng yêu nước, căm thù giặc cũng như tinh thần bất khuất, cùng niềm tin vào tương lai.
"Vĩnh biệt hôm nay có mấy lời
Nhắn cùng đồng chí khắp nơi nơi
Tinh thần để lại cho non nước
Thù hận ghi sâu giữa đất trời
Án chém Hà Nam đà rũ sạch
Khổ sai Côn Đảo đã qua rồi
Anh em đi trọn con đường nhé
Cờ đỏ sao vàng sáng tương lai".
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Phó chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt nam nhận định, hình tượng lá cờ đỏ sao vàng do Nguyễn Hữu Tiến đã thể hiện rõ ý tưởng thiết kế nền đỏ tượng trưng cho cách mạng, màu vàng tượng trưng cho dân tộc Việt Nam, 5 cánh tức là các tầng lớp nhân dân VN. Tôi cho rằng đây là 1 sự kết tinh, 1 sự nghiên cứu rất kỹ rất sâu của ông Nguyễn Hữu Tiến
Tháng 5.1941 tại Hội nghị TƯ 8 đã quyết định lấy lấy cờ đỏ sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ. Và trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 70 năm qua, hình ảnh lá cờ Tổ quốc tung bay trong niềm vui chiến thắng đã làm nên những dấu mốc son vĩ đại của nhân dân ta. Trân trọng và biết ơn người đã thắp sáng hình ảnh đó

THÀNH CÔNG TO LỚN NHƯNG "BÍ MẬT" CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM


Khoảng hai mươi năm trước, khi tôi chuyển đến Hà Nội, thành phố ảm đạm, xám xịt, bị bao phủ bởi khói bụi. Chiến tranh đã kết thúc, nhưng những vết sẹo khủng khiếp vẫn còn.
Tôi đã mang chiếc 4WD của mình từ Chile đến đây và luôn tự lái nó. Đó là một trong những chiếc SUV đầu tiên trong thành phố Hà Nội. Mỗi lần tôi lái đi, nó thường bị những người đi xe máy đâm vào, những chiếc xe máy luôn chạy như những viên đạn trên khắp các đại lộ của thủ đô của Việt Nam.
Phải nói là Hà Nội rất đẹp, nhưng u uất, rõ ràng là do chiến tranh. Có những nỗi đau, những câu chuyện khủng khiếp trong quá khứ. Trong những ngày tôi ở đó, Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất châu Á. Nhiều di sản lớn, bao gồm Thánh địa Mỹ Sơn ở miền Trung Việt Nam, về cơ bản vẫn là những bãi mìn rộng lớn, thậm chí nhiều năm sau các vụ đánh bom thảm khốc của Mỹ. Cách duy nhất để đến thăm những nơi như vậy là nhờ xe quân sự do chính phủ quản lý.
Tòa nhà nơi tôi sống, được cải tạo từ nhà tù cũ khét tiếng của Pháp ở Hà Nội, Hoả Lò, nơi những người yêu nước và cách mạng Việt Nam từng bị tra tấn, hãm hiếp và hành quyết, nó cũng là nơi giam giữ một số phi công Mỹ bị bắt trong thời gian được gọi là "Chiến tranh Việt Nam" theo cách gọi của Mỹ. Từ cửa sổ nơi ở, tôi có thể nhìn thấy một trong hai chiếc máy chém trong sân của những gì mà sau đó đã trở thành một bảo tàng về tội ác của chủ nghĩa thực dân.
Vào năm 2000, Hà Nội không có một trung tâm thương mại nào và khi chúng tôi đến, nhà ga của sân bay Nội Bài chỉ là một tòa nhà nhỏ, có kích thước như một nhà ga xe lửa cấp tỉnh. Vào những ngày đó, đối với người dân Việt Nam, một chuyến đi đến Bangkok sẽ tạo ra cảm giác giống như một chuyến đi đến một thiên hà khác. Đối với các nhà báo như tôi, những người sống ở Hà Nội, đi lại thường xuyên đến Bangkok hoặc Singapore là một điều cần thiết tuyệt đối, vì hầu như không có thiết bị chuyên nghiệp hoặc phụ tùng nào có sẵn ở Việt Nam.
***
Hai thập kỷ sau, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia phát triển và thoải mái nhất ở châu Á. Một nơi mà hàng triệu người phương Tây rất thích đến sống. Chất lượng cuộc sống ở đây vẫn đang phát triển liên tục. Mô hình xã hội chủ nghĩa và kế hoạch trung tâm của nó rõ ràng đang thành công. Có những con đường giao thông rất lớn, ví dụ như tuyến đường nối giữa thành phố Huế với Đà Nẵng, với mạng lưới giao thông công cộng hiện đại, cũng như các công trình văn hoá thể thao. Tất cả điều này trái ngược hoàn toàn với sự ảm đạm tư bản cực đoan ở các quốc gia như Indonesia, thậm chí là Thái Lan. Cuộc sống của người Việt Nam không ngừng được cải thiện về vệ sinh, chăm sóc y tế, giáo dục và đời sống văn hóa. Với ngân sách khá nhỏ, quốc gia này lại đạt được mức sống ngang tầm với các quốc gia giàu có hơn nhiều ở châu Á và thế giới.
Người dân Việt Nam là một trong những người lạc quan nhất trên thế giới. Chỉ trong ba năm tôi sống ở Việt Nam, đất nước này đã thay đổi đáng kể. Sức mạnh và quyết tâm to lớn của người dân đã giúp thu hẹp khoảng trống còn sót lại sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở Đông Âu. Việt Nam đã lựa chọn, thành công, cho mô hình một nền kinh tế hỗn hợp, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Những nỗ lực to lớn của Hoa Kỳ và Châu Âu nhằm phá hoại hệ thống xã hội chủ nghĩa, thông qua việc sử dụng các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức có vỏ bọc phi chính phủ được tài trợ bởi các chính phủ phương Tây, đã bị nhận diện và bị đánh bại một cách quyết đoán ở Việt Nam. Những người kiên định lý tưởng Cộng sản trong Đảng cầm quyền và chính phủ của họ đã áp đảo những kẻ đang cố làm hư hỏng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hòng đẩy đất nước ngả về phía phương Tây.
***Những gì tiếp theo là thành công đáng kể, trên nhiều mặt. Theo một báo cáo của Đông Nam Á, được công bố vào ngày 1 tháng 10 năm 2018:
"Việt Nam là quốc gia tốt nhất trong số 151 quốc gia được khảo sát trong một nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống gắn với sự bền vững môi trường".
Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam được đánh giá thực hiện đặc biệt tốt, khi so sánh với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Báo cáo trên giải thích thêm:
"Một nghiên cứu trên phạm vi rộng, được gọi là nghiên cứu 'Cuộc sống tốt đẹp cho tất cả hành tinh', được tiến hành và xuất bản bởi một nhóm các nhà nghiên cứu từ Đại học Leeds, cho rằng chúng ta cần phải suy nghĩ lại về cách nhìn nhận sự phát triển và mối quan hệ của nó với môi trường. Về cơ bản, chúng tôi đã làm việc trên một số chỉ số tổng hợp và mối quan hệ khác nhau giữa các kết quả xã hội với các chỉ số môi trường. Chúng tôi đã đưa ra ý tưởng về việc, nếu chúng ta chỉ nhìn vào các chỉ số xã hội, chúng ta có thể xác định một mức độ tương đương với một cuộc sống tốt hay không?".

Cuộc khảo sát này được thực hiện ở 151 quốc gia và Việt Nam cho thấy có các chỉ số tốt nhất:
"Các nhà nghiên cứu đã xem xét 11 chỉ số xã hội bao gồm sự hài lòng về cuộc sống, dinh dưỡng, giáo dục, chất lượng dân chủ và việc làm. Nói chung, chúng tôi đã làm tự mình phải ngạc nhiên rằng Việt Nam đã thực hiện rất tốt về tổng thể. Bạn có thể từng mong đợi điều đó phải là ở Costa Rica hoặc Cuba, vì Việt Nam thường không được đánh giá là một quốc gia phát triển bền vững. Hai quốc gia mà các nhà nghiên cứu dự kiến sẽ làm tốt nhất vì họ thường cung cấp hỗ trợ xã hội tốt và không gây thiệt hại cho môi trường như nhiều quốc gia khác, nhưng cuối cùng 2 quốc gia này đã xếp sau Việt Nam".
Đây không phải là báo cáo duy nhất ca ngợi thành công lớn của mô hình xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đã đạt được danh tiếng của một siêu sao kinh tế và xã hội. So với các nước ủng hộ chủ nghĩa thị trường tự do tư bản như Indonesia hay Philippines, các thành phố xã hội chủ nghĩa thanh lịch của Việt Nam được thiết kế và duy trì cho người dân, cũng như vùng nông thôn ngày càng gọn gàng và đẹp đẽ hơn, rõ ràng đã cho thấy hệ thống nào trong hai hệ thống kinh tế này vượt trội hơn và phù hợp hơn đối với người dân châu Á và văn hóa của họ
 ***Trong thời gian khẩn cấp, nghiêm trọng về thiên tai và y tế, Việt Nam cũng vẫn đi trước các nước Đông Nam Á khác. Giống như Cuba và Trung Quốc, Việt Nam đã đầu tư rất nhiều vào việc phòng chống thiên tai. Theo tạp chí "Thời đại mới", các quốc gia xã hội chủ nghĩa bao gồm Việt Nam, đã làm được công việc tuyệt vời để chống lại sự bùng nổ của đại dịch COVID-19 gần đây:
"Các nước đang phát triển như Cuba và Việt Nam với các cấu trúc và triết lý nhà nước xã hội chủ nghĩa đang xử lý thành công đại dịch COVID-19. Vai trò của các chiến lược về kinh tế và chăm sóc sức khỏe lâu dài của họ đóng vai trò gì sau thành công này? Tiến sỹ Talebur Rupom đặt câu hỏi này và cho rằng hiện là thời điểm quan trọng mà các quốc gia nên đầu tư mạnh vào các lĩnh vực y tế để đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người.
Các quốc gia có các hệ thống chăm sóc y tế công cộng được trợ cấp tập trung hoặc được tài trợ đầy đủ đang chiến đấu với cuộc khủng hoảng COVID-19 tốt hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Ngoài ra còn có một số lý do chủ động khác khiến họ có thể giảm tỷ lệ tử vong và các trường hợp nhiễm bệnh.
Cuba và Việt Nam là hai quốc gia đang phát triển đã nhanh chóng đối phó với mối đe dọa mới này. Bất chấp lệnh cấm vận và hạn chế của Hoa Kỳ và với nguồn lực hạn chế, việc xử lý đại dịch của Cuba có thể là một hình mẫu cho những quốc gia khác. Với nền kinh tế nhỏ hơn Bangladesh, quốc gia Đông Nam Á Việt Nam cũng đang có được sự tín nhiệm để khởi động lại nền kinh tế sau khi khống chế thành công đại dịch COVID-19, mặc dù họ có chung biên giới quan trọng với Trung Quốc".
Đến cuối tháng 5 năm 2020, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với 95,5 triệu dân, chỉ có 327 ca nhiễm và không có ca tử vong nào, theo dữ liệu do Đại học Johns Hopkins cung cấp. Ngay cả tạp chí chính thống, cánh hữu của Anh, "The Economist", cũng không thể bỏ qua thành công lớn trong cuộc chiến chống lại Covid-19 của các quốc gia Cộng sản, như bang Kerala của Ấn Độ và Việt Nam:
"Việt Nam với dân số 95 triệu người, là một nơi lớn hơn nhiều các quốc gia khác. Tuy nhiên, khi đối phó với covid-19, họ đã hành động theo một kịch bản đáng kinh ngạc, với một kết quả rất ấn tượng. Giống như Kerala, họ đã sớm có các ca bị phơi nhiễm với virus và chứng kiến sự gia tăng các ca bệnh mới trong tháng 3. Tuy nhiên, các trường hợp nhiễm bệnh cũng đạt đến đỉnh điểm sớm và đã giảm xuống chỉ còn 39. Việt Nam là duy nhất trong số các quốc gia có quy mô tương tự, và ngược lại với những câu chuyện thành công nổi tiếng trong chống Covid như Đài Loan và New Zealand, Việt Nam vẫn chưa có ca tử vong nào. Philippines, một quốc gia ở gần đó có cùng dân số và quy mô nền kinh tế, đã có hơn 10.000 người nhiễm bệnh và 650 người đã chết.
Giống như Kerala, Việt Nam gần đây đã phải chiến đấu với các dịch bệnh chết người khác, như dịch Sars bùng phát trên toàn cầu vào năm 2003 và cúm lợn năm 2009. Cả Việt Nam và Kerala đều được hưởng lợi từ một di sản đầu tư lâu dài vào y tế công cộng và đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ ban đầu, với sự quản lý tập trung, mạnh mẽ, một phạm vi thể chế từ các phường ở thành phố cho đến các ngôi làng xa xôi đều có rất nhiều nhân viên y tế lành nghề. Không phải ngẫu nhiên, chủ nghĩa cộng sản đã có một ảnh hưởng mạnh mẽ, vì hệ tư tưởng nhà nước không thể bị khuất phục của Việt Nam, cũng như lý tưởng và cách làm đã được các đảng cánh tả cầm quyền Kerala từ những năm 1950 áp dụng".
Một số phân tích, bao gồm từ cả những người ở phương Tây, cho rằng Việt Nam đã vượt xa nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó có những nước, ít nhất là trên giấy tờ, giàu có hơn nhiều. Tờ DW (Deutsche Welle), ví dụ, đã báo cáo vào ngày 22 tháng 5 năm 2020:
"Chuyên gia kinh tế hàng đầu thế giới, Adam Adam McCarty, hy vọng rằng Việt Nam sẽ được hưởng lợi rộng rãi từ cách họ xử lý COVID-19. Có lẽ đây là một bước ngoặt khi Việt Nam vươn lên khỏi nhóm các quốc gia như Campuchia và Philippines và gia nhập nhóm các quốc gia phát triển hơn như Thái Lan và Hàn Quốc, mặc dù Việt Nam chưa có GDP tương tự, nhưng ông McC đã nói với DW từ Hà Nội
Với phần còn lại của thế giới vẫn còn bị COVID-19, xuất khẩu thực sự sẽ bị tổn thương, ông McC nói. Nhà kinh tế này nhấn mạnh rằng mọi thứ không thể quay trở lại như cũ. Và mặc dù tiêu dùng trong nước có thể sẽ tăng trong những tháng tới, con số tăng trưởng 5% cho năm 2020 sẽ là quá tham vọng. Có thể chỉ đạt được mức 3%, nhưng điều đó đã là rất tốt trong trường hợp này. Nó vẫn có nghĩa là Việt Nam đã trở thành một người chiến thắng".
Tôi vẫn luôn định kỳ trở lại Việt Nam, một điều đáng chú ý là đất nước này không hề có khu ổ chuột. Không có tình trạng khổ cực phổ biến ở các nước theo chủ nghĩa tư bản hoang dã như Indonesia, Philippines, thậm chí ngay cả ở Campuchia và Thái Lan. Không có tình trạng khốn khổ ở các thành phố, thị trấn và nông thôn Việt Nam. Đó là một thành công lớn.
Kế hoạch cộng sản có nghĩa là hầu hết các thảm họa tự nhiên và y tế đều phải được ngăn chặn tốt. Khi tôi từng sống ở Hà Nội, những khu vực rộng lớn và đông dân cư giữa sông Hồng và thành phố thường bị ngập lụt hàng năm. Nhưng dần dần, các khu phố tồi tàn đã được di dời, và các khu vực cây xanh được trồng trở lại, ngăn nước có thể chảy vào thành phố. Từng bước hợp lý, Việt Nam đã và đang thực hiện những thay đổi được thiết kế khoa học, chặt chẽ để cải thiện toàn diện cuộc sống của người dân.
Các phương tiện truyền thông đại chúng ở phương Tây và trong khu vực viết rất ít về "phép màu Việt Nam" này, vì những lý do rõ ràng.
Với sự hy sinh to lớn, nhân dân Việt Nam đã đánh bại thực dân Pháp, và sau đó là quân chiếm đóng Hoa Kỳ. Hàng triệu người đã hy sinh, nhưng một quốc gia mới, tự tin và mạnh mẽ đã ra đời. Nó thực sự đã đứng lên từ đống tro tàn. Nó đã xây dựng một mô hình của riêng mình, đặc thù Việt Nam. Bây giờ, nó đang chỉ đường cho những quốc gia yếu hơn và ít quyết tâm hơn ở Đông Nam Á, những nước vẫn đang sẵn sàng hy sinh công dân của mình, bằng cách ngoan ngoãn thần phục sự chỉ huy của Bắc Mỹ và Châu Âu.
Từ vị trí của một trong những nước châu Á nghèo nhất, Việt Nam đã trở thành một trong những nước mạnh nhất, quyết đoán và lạc quan

 


Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2020

Sáng mãi đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa" theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh


Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh dạy:
"Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải yêu thương, giúp đỡ họ". Thấm nhuần sâu sắc và thực hiện lời dạy bảo ân cần của Người, Đảng, Nhà nước, nhân dân và lực lượng vũ trang ta luôn luôn trân trọng, ghi nhớ công ơn và làm nhiều việc tốt để tỏ lòng hiếu nghĩa, quý trọng đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với nước.
Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc các ngành, các cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố họp ở xã Hùng Sơn, Đại Từ Thái Nguyên tháng 6/1947, Chủ Tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn ngày 27/7 hàng năm làm ngày thương binh toàn quốc (sau đổi thành Ngày Thương binh, liệt sĩ). Ngày 27/7/1947 là ngày thương binh liệt sĩ đầu tiên ở nước ta, trở thành một ngày truyền thống tốt đẹp, thực hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "ăn qủa nhớ người trồng cây", đền ơn đáp nghĩa" đối với người có công với cách mạng.
Trong thư gửi Ban tổ chức Ngày thương binh, liệt sĩ năm 1948 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Thương binh là những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó đã ốm yếu. Vì vậy. Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn và giúp đỡ những người anh dũng ấy". Bác nói: "Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các anh hùng liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả những khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ truyền lại cho chúng ta".
Trước lúc vĩnh biệt chúng ta, Bác đã để lại bản Di chúc, Người căn dặn: "Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ dần dần tự lực cánh sinh". Người nhắc nhở: "Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia tưởng niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta".
Người không quên nhắc nhở Đảng, Nhà nước phải thường xuyên quan tâm đến cha mẹ, vợ con của thương binh và gia đình liệt sĩ, người có công với nước, nếu họ mất sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp quyết không để họ bị đói, rét...



Cội nguồn sâu xa của sự phát triển quan hệ Việt - Mỹ ngày nay

         Quan hệ Việt Nam  - Hoa Kỳ hiện nay đang phát triển tích cực. Có thể khẳng định rằng, để có được kết quả như ngày nay có rất nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có nguyên nhân sâu xa từ thắng lợi cuộc kháng chiến chiến chống Mỹ cứu nước của Nhân dân Việt Nam (1954- 1975).
        Thắng lợi của cuộc kháng chiến  chống Mỹ cứu nước của Nhân dân Việt Nam (1954- 1975) đã đưa dân tộc Việt Nam  trở thành đất nước hoàn toàn tự do, độc lập. Chính điều này tạo nên sự bình đẳng giữa Việt Nam  và Hoa kỳ trong mọi quan hệ. Đây chính là nền tảng vững chắc để 2 nước thực thi hàng loạt các nguyên tắc, các hoạt động cụ thể trong quan hệ song phương, đa phương để đi đến cùng xây dựng lòng tin lẫn nhau và tạo sự tin cậy trong con mắt các quốc gia bè bạn trên thế giới. Điều đó , một lần nữa khẳng định giá trị to lớn và ý nghĩa lịch sử 30 năm chiến tranh cách mạng gảii phóng dân tộc (1954- 1975) của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
                                                                                                                             Tự Nhiên