Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Đảng, Nhà nước ta thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc

 


 Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của dân tộc, bởi lẽ:

Một là, đồng bào các  tôn giáo trước hết là người Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Mặt khác, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Hai là, trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

 Thực hiện đoàn kết đồng bào các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

Cơ sở của đoàn kết là: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”[1].

 Kiên quyết đấu tranh chống những hành động gây chia rẽ, làm suy yếu khối đại đoàn kết, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc

Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong quan điểm về công tác tôn giáo và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.



[1]  Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 239- 240.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẬP TAN ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CỦA BỌN GIẶC KHI CHÚNG ĐANG “CẮN VÀO LỊCH SỬ”

 


Tất cả những vấn đề nêu trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, ở nước ta đang có sự hình thành Chủ nghĩa xét lại trong ngành lịch sử, một nguy cơ hiện hữu nếu chúng ta không nhận diện rõ âm mưu thủ đoạn đó thì hậu quả của nó là khó lường. Tất cả mọi cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang nhân dân… đặc biệt là các cựu chiến binh, những người đã vào sinh ra tử năm xưa hãy lên tiếng để đánh trả bọn lật sử, bọn cổ súy cho lật sử và bọn đang hà hơi tiếp sức cho chúng bằng những đòn đánh trực diện, những đòn đánh mang tinh thần và khí phách của Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng, không để chúng đổi trắng thay đen, không để chúng cắn vào lịch sử. Hãy loại bỏ và đánh gục tư tưởng “cố thủ thành trì”, bảo vệ cái ghế của mình của cán bộ, đảng viên; những người thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; các cơ quan có thẩm quyền phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục CBĐV tham gia đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của giặc. Phải định hướng và khơi dậy lòng yêu nước, cho họ thấm thía vì sao phải bảo vệ thành quả cách mạng, phê phán và đẩy lùi mọi âm mưu, thủ đoạn hạ thấp thành quả cách mạng, xuyên tạc lịch sử để họ tự giác bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ những chiến công, thành quả của cách mạng như những điều thiêng liêng nhất. Với những người là cán bộ, đảng viên đang tham gia “trào lưu” lật sử, cổ súy cho lật sử, nói và viết xuyên tạc lịch sử thì phải kịp thời “thổi còi” vì đó chính là những biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Phải xem những hiện tượng xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lịch sử là hành vi phá hoại, như đào phá vào nền móng, chân tường của ngôi nhà hòa bình, độc lập của Tổ quốc. ngăn chặn kịp thời những dòng tiền chảy từ hải ngoại về để nuôi dưỡng cho đám giặc nội xâm đang tiếp tay cho địch; không để đồng tiền làm hoa mắt, chuyển tâm, trở cờ theo giặc để xuyên tạc lịch sử Việt Nam. Bảo vệ không chỉ bằng làm tốt việc giáo dục lịch sử, giáo dục truyền thống mà còn phải gắn liền với bảo vệ cuộc sống hòa bình, ổn định, phát triển đất nước, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất-tinh thần của nhân dân. Thế hệ đi sau trên những thành quả của những người đi trước phải trân trọng, vun đắp và phát huy để những thành quả ấy ngày càng đơm hoa, kết trái; để lại cho lịch sử như một tấm gương soi, giúp cho thế hệ mai sau soi vào quá khứ, hiện tại và tương lai với sự trân trọng, biết ơn, rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá.

Không gian mạng là một chiến trường không có tiếng súng nhưng vô cùng khốc liệt; hiện nay các tổ chức phản động nước ngoài đang dồn sức, bơm tiền vào nước ta để nuôi dưỡng bọn có trí thức nhưng trở cờ, bọn lười lao động nên làm tay sai cho giặc để kiếm tiền để ăn chơi trác táng ; trên không gian mạng ngày càng xuất hiện nhiều hội, nhóm, facebook cá nhân đang muốn “cạo lông, rửa mặt, bôi son” cho địch, chúng ca ngợi lũ ngụy tặc hết lời; bôi nhọ, phủ định chế độ XHCN ở nước ta. Vì vậy mỗi cán bộ,giảng viên, viên chức Quốc phòng, HSQ, BS, đảng viên phải thường xuyên nghiên cứu và đấu tranh, phản bác và lột trần bộ mặt thật của chúng. Đồng thời phải luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất, trên dưới một lòng để kiên quyết đấu tranh với chúng đến cùng.

 

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 


Đây là quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò tôn giáo trong thời kỳ quá độ.

Một là, Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, bởi lẽ: Tôn giáo đã có lịch sử từ lâu đời trong xã hội loài người, trở thành nhu cầu tinh thần (nhu cầu giải toả tâm lý) của một bộ phận quần chúng nhân dân. Nhiều giá trị đạo đức tôn giáo hướng con người đến những giá trị chân, thiện, mỹ, nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng CNXH. Mọi sự nóng vội, chủ quan trong giải quyết vấn đề tôn giáo đều trái với quan điểm trên, gây chia rẽ, mất đoàn kết, cản trở quá trình xây dựng CNXH

Hai là, Tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Cụ thể là:

- Công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng.

-Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý

Ba là, phải quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các tôn giáo

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp vĩ đại nhằm giải phóng quần chúng nhân dân khỏi mọi sự áp bức, nô dịch cả về vật chất và tinh thần. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào theo tôn giáo là mục tiêu, nhiệm vụ to lớn của Đảng và Nhà nước ta trong cách mạng XHCN.

Nhận diện và đấu tranh với âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” để chống phá Đảng, Nhà nước, hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam

Những năm gần đây, khái niệm “xã hội dân sự” xuất hiện trên các diễn đàn, báo chí, truyền thông xã hội với tần suất ngày càng nhiều hơn. Sở dĩ được thảo luận nhiều, vì trong vòng hơn hai thập niên qua, “xã hội dân sự” được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước ta. Hiện nay, vấn đề “xã hội dân sự” (XHDS) đã và đang được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Sau thất bại trong hoạt động chống phá Việt Nam ở các giai đoạn trước, hiện nay, các thế lực thù địch xem việc củng cố, thúc đẩy “XHDS” theo mô hình phương Tây là một hướng đi mới, là một trong những phương thức tác động cơ bản của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Mục tiêu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” là tìm cách thúc đẩy sự xuất hiện các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, làm suy yếu sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng, hình thành “XHDS độc lập về chính trị” là một “lối thoát” cho sự ra đời công khai, hợp pháp của các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, buộc Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng ra sức cổ vũ cho hình thành ở Việt Nam một mô hình “XHDS độc lập về chính trị” kiểu phương Tây, nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước. Hòng thực hiện âm mưu đó, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng tính chất chính trị, xã hội phức tạp của “XHDS” để tác động vào hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều phương thức khác nhau, từ tuyên truyền lừa bịp, thổi phồng, cường điệu hóa vai trò của XHDS, cung cấp tài chính, phương tiện hoạt động đến gây sức ép với Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ đối ngoại. Các đối tượng chống đối nhân danh chiêu bài “XHDS”, “dân chủ”, “nhân quyền”... để tập hợp lực lượng, lập hội, nhóm với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ, mục đích dễ gây “ấn tượng” với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”,... Thủ đoạn mà các đối tượng chống đối sử dụng phổ biến hiện nay là thông qua các trang web, diễn đàn trực tuyến, nhất là mạng xã hội để công khai tổ chức, tuyên truyền, lừa bịp, lôi kéo quần chúng tham gia; sử dụng các phần mềm bảo mật để liên lạc, tổ chức huấn luyện, đào tạo trực tuyến cho thành viên; công khai viết “đơn kiến nghị” đòi thành lập đảng chính trị đối lập, tự do thành lập hội mà không tuân theo quy định pháp luật, đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự... Ngoài ra, các đối tượng này còn tìm cách chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, lợi dụng các khuyết điểm trong quản lý đất đai, môi trường... để kích động khiếu kiện, tụ tập đông người, biểu tình, xuyên tạc tình hình, hạ uy tín cán bộ; thông qua các hoạt động này để tập hợp lực lượng, gây thanh thế, từng bước nhen nhóm và thành lập tổ chức chính trị đối lập... Tại các địa bàn chiến lược, các đối tượng chống đối đẩy mạnh xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo; kích động tư tưởng ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, khơi gợi, khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, tuyên truyền phát triển các tổ chức tôn giáo phi pháp, tụ tập “xưng vua”... Bên cạnh đó, dưới danh nghĩa đại diện các tổ chức “XHDS”, một số đối tượng chống đối đã tham gia các buổi điều trần ở nước ngoài, vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, đề nghị can thiệp trả tự do cho các đối tượng chống đối trong nước bị bắt do vi phạm pháp luật... Đặc biệt, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang diễn ra trong một bộ phận đảng viên, tình trạng yếu kém, sai phạm của một số cán bộ để thổi phồng, cường điệu hóa khuyết điểm, “hạ bệ” uy tín chính trị của Đảng, lôi kéo người dân tham gia các tổ chức mang danh nghĩa “XHDS” để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy, một số tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài rất quan tâm đến các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội ở nước ta và tìm cách xâm nhập, tác động, hướng lái hoạt động, chuyển hóa dần các tổ chức này khi chưa đủ điều kiện, thời cơ thành lập tổ chức đối lập. Thông qua các hoạt động, như triển khai dự án, tài trợ tài chính, tổ chức hội thảo với các NGO Việt Nam, một số tổ chức nước ngoài đã đi sâu xâm nhập, tìm hiểu nội bộ, xu hướng quan điểm của các NGO Việt Nam, kích động các tổ chức này thoát ly vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý của Nhà nước, cổ vũ quyền “tự do lập hội” theo tiêu chí phương Tây. Ngoài ra, một số tổ chức nước ngoài còn hỗ trợ tài chính cho một số NGO Việt Nam để xuất bản, phát hành tài liệu nghiên cứu, văn bản luật nước ngoài nhằm tuyên truyền quan điểm, pháp luật phương Tây đến với công chúng Việt Nam một cách công khai. Các tổ chức phản động nước ngoài cũng tìm cách thúc đẩy hình thành “XHDS” tại Việt Nam với mục đích chống phá từ bên trong. Tổ chức “Bảo vệ người lao động” (tại Ba Lan) gia tăng hoạt động với ý đồ chuyển hướng xâm nhập vào trong nước, thúc đẩy hình thành các tổ chức “công đoàn tự do”. Tổ chức “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” đã tiến hành “Đại hội thanh niên sinh viên Việt Nam trên thế giới lần thứ V” vào tháng 1-2008 tại Ma-lai-xi-a. Tại “đại hội” này, các đối tượng tham gia cho rằng để tiến hành “cuộc cách mạng hòa bình” tại Việt Nam thì phải xây dựng được một “XHDS bền vững” và muốn thay đổi xã hội thì không chỉ trên phương diện chính trị, mà còn trên các phương diện kinh tế, luật pháp, trong mỗi cộng đồng dân cư. Qua đây cho thấy, các thế lực thù địch bên ngoài đặc biệt quan tâm đến việc lợi dụng “XHDS” để thực hiện âm mưu lật đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ðáng chú ý là, một số đối tượng cơ hội chính trị có quan điểm cực đoan đã lợi dụng một số tổ chức quần chúng hợp pháp để tổ chức các hội thảo, tọa đàm, diễn đàn có nội dung đòi “trưng cầu ý dân” về Ðiều 4 của Hiến pháp cũng như sửa đổi toàn bộ Hiến pháp, thúc đẩy hình thành “XHDS” và thực hiện các quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, báo chí, lập hội theo tiêu chí phương Tây, tư hữu hóa đất đai... Ðây là phương thức chống đối công khai rất nguy hiểm, nếu thiếu cảnh giác có thể tạo môi trường để các thế lực thù địch lợi dụng các tổ chức “XHDS” đưa ra những kiến nghị thay đổi thể chế, chuyển đổi hệ thống luật pháp XHCN bằng luật pháp tư sản.

VÌ SAO CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ GIA TĂNG HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ" ĐỂ CHỐNG PHÁ?

Một số học giả trên thế giới có quan điểm chống cộng rất đề cao vai trò của “XHDS” trong các cuộc “cách mạng sắc màu” lật đổ chế độ XHCN. Giữa những năm 80 của thế kỷ XX, ngay sau khi khởi xướng cải tổ với việc M. Goóc-ba-chốp chủ trương “công khai hóa” và “dân chủ hóa”, các tổ chức đoàn thể phi chính thức và các ấn phẩm tuyên truyền cho tự do hóa tư sản dưới nhiều hình thức đã mọc lên “như nấm sau mưa” ở Liên Xô. Ngày 28-12-1987, xã luận đăng trên báo Sự thật cho biết, Liên Xô khi đó đã có hơn 30.000 tổ chức, đoàn thể phi chính thức. Do thái độ ủng hộ của M. Goóc-ba-chốp, ngày càng có nhiều tổ chức đoàn thể xã hội chống đối Đảng, chính quyền Xô-viết được công khai hóa, hợp pháp hóa. M. Goóc-ba-chốp không những cho phép các đoàn thể phi chính thức tồn tại mà còn cổ vũ thành lập các đảng phái, từng bước thực hiện chế độ đa đảng. Các đảng đối lập ra đời và sau đó đã giành được chính quyền tại một loạt địa phương dưới cái gọi là “bầu cử tự do” là hệ quả trực tiếp của chính sách nêu trên. Những tổ chức này trắng trợn xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ, hạ bệ các nhà lãnh đạo Liên Xô trước đây, phủ nhận thành tựu của chủ nghĩa xã hội, ngang nhiên hô hào chống chế độ và Nhà nước Xô-viết. Đây là một trong những nhân tố trực tiếp dẫn đến sự tan rã của Liên Xô. Tại Ðông Âu ngay từ những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, ở một số nước đã hình thành các công đoàn, hội có xu hướng tách khỏi quản lý của nhà nước, đối lập với chính quyền, hoạt động với danh nghĩa là “tổ chức XHDS” nhân danh bảo vệ công nhân, bảo vệ các quyền dân sự. Thông qua việc lôi kéo quần chúng, với sự hỗ trợ từ nước ngoài, một số tổ chức Công giáo, được kích hoạt thêm bởi các chính sách “công khai hóa”, “dân chủ hóa” và chính sách đối ngoại với đồng minh của M. Goóc-ba-chốp, những tổ chức này nhanh chóng chuyển hóa thành tổ chức chính trị đối lập, đóng vai trò trọng yếu trong việc hạ bệ uy tín của nhà nước, thúc đẩy hình thành chế độ đa đảng và giành chính quyền thông qua cái gọi là “bầu cử dân chủ”. Các cuộc “cách mạng đường phố” tại các nước khu vực Trung Ðông - Bắc Phi hay “cách mạng nhung”, “cách mạng màu” ở một số nước thuộc không gian hậu Xô-viết thời gian qua cũng cho thấy vai trò của các cơ quan đặc biệt nước ngoài, các NGO trong việc hỗ trợ các tổ chức XHDS trong nước lôi kéo, kích động quần chúng lật đổ các chính thể hợp pháp, gây nên tình trạng khủng hoảng chính trị, thậm chí có nước còn lâm vào cảnh chia rẽ, xung đột triền miên, lãnh thổ bị chia cắt lâu dài. Chúng ta không phủ nhận vai trò nhất định của các tổ chức xã hội, hiệp hội, quỹ, diễn đàn,... nhất là khả năng tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội tại cộng đồng hay nhóm xã hội cụ thể; tập hợp nguyện vọng đa dạng của các tầng lớp trong xã hội phản ánh đến Đảng và Nhà nước; trực tiếp đứng ra cung ứng một số dịch vụ xã hội do Nhà nước ủy quyền, hoạt động trong khuôn khổ quy định pháp luật. Trên thực tế, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng thiết lập các tổ chức xã hội đa dạng theo ngành nghề, lợi ích, nhu cầu, nhân đạo, hữu nghị, sở thích... và không ngừng hoàn thiện quy định pháp luật để phát huy vai trò của các tổ chức này thật sự có ích cho xã hội, cho người dân. Các tổ chức NGO nước ngoài hoạt động tại nước ta thật sự có đóng góp cho cộng đồng, phát triển xã hội, tôn trọng pháp luật Việt Nam đều được tôn trọng, khuyến khích. Nhưng cần thấy rõ rằng, ở nhiều quốc gia, nhất là những nước đang phát triển, sự hình thành các tổ chức của “XHDS” thường chịu sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó có các lực lượng chính trị từ bên ngoài thông qua nhiều hình thức và con đường khác nhau. Vậy chúng ta cần nhận thức về “XHDS” như thế nào? Cùng với thực tế tồn tại và phát triển ngày càng phong phú của các tổ chức hội quần chúng, thuật ngữ “XHDS”, “tổ chức XHDS” được thảo luận, bàn luận khá sôi nổi ở nước ta. Tuy nhiên, đây là vấn đề chính trị, xã hội rất phức tạp, còn nhiều nhận thức khác biệt, thậm chí đối lập nhau, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận. Hiện nay, đang tồn tại hai khuynh hướng nhận thức phổ biến về vấn đề XHDS: Một là, tuyệt đối hóa, đề cao quá mức vai trò của “XHDS”, cho rằng cần đẩy nhanh sự phát triển của “XHDS” ở Việt Nam, đồng nhất quá trình này với thực hiện dân chủ hóa, xem đây là “liều thuốc vạn năng” cho khắc phục những giới hạn của quản lý nhà nước và giải quyết tiêu cực trong đời sống xã hội phát sinh từ cơ chế thị trường; hai là, coi “XHDS” mang tính tiêu cực, “đối lập” với Nhà nước XHCN, là vấn đề nhạy cảm, nên né tránh, ngại đề cập và không khuyến khích nghiên cứu, tìm hiểu, thậm chí dựa vào các tổ chức xã hội hoạt động theo kiểu “bất tuân dân sự”, gây nên tình trạng vô chính phủ, bất ổn chính trị - xã hội ở nhiều nước trên thế giới rồi bài xích, phủ nhận sạch trơn vai trò các hội, quỹ, diễn đàn trong tham gia quản lý phát triển xã hội. Việc chưa thống nhất nhận thức khiến cho cách tiếp cận, ứng xử đối với vấn đề XHDS hiện nay của các cơ quan chức năng đang khá lúng túng.

Một số kinh nghiệm đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta

 


Qua thực tiễn đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta, có thể rút ra một số kinh nghiệm:

Một là, coi trọng tuyên truyền giáo dục làm cho đồng bào tôn giáo thấu suốt quan điểm, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm nâng cao nhận thức, lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch bên ngoài cấu kết với lực lượng phản động bên trong lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào tôn giáo, đi ngược lại đạo pháp và chủ nghĩa xã hội.

Hai là, phương pháp công tác tôn giáo cần tuân theo bốn quy cách: có lý, đúng luật, được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ; thống nhất đồng bộ giữa ba bộ phận (Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng là các tín đồ, chức sắc và tổ chức giáo hội)

Ba là, trong xử lý vấn đề lợi dụng tôn giáo hoạt động trái pháp luật, phải bình tĩnh, nắm chắc tình hình, không định kiến, nóng vội, cần tiến hành đồng bộ các biện pháp hành chính, kinh tế, giáo dục; cần tránh hai khuynh hướng: hữu khuynh lừng chừng để kẻ địch có cơ hội lôi kéo, lừa gạt quần chúng hoặc tả khuynh tuyên chiến với tôn giáo, đánh nhầm vào quần chúng tín đồ tốt. Ở những nơi thường xảy ra diễn biến phức tạp cần thành lập các tổ công tác hoặc ban chỉ đạo, những nơi chưa xảy ra phức tạp, phải chủ động ngăn ngừa, ngăn chặn, giải quyết ngay từ cơ sở không để lây lan, kéo dài.

Bốn là, chủ động sâu sát cơ sở địa bàn có tôn giáo để nắm chắc tình hình, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa; thực hiện tốt ba cùng: cùng ở, cùng làm, cùng sinh hoạt với dân; phải thường xuyên nắm chắc âm mưu, hoạt động của kẻ xấu để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn. Khi xảy ra “điểm nóng” cần phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy, chính quyền địa phương với Ban Chỉ đạo Trung ương ở ttừng khu vực để giải quyêt dứt điểm, không để lan sang các vùng khác và phải tuyệt đối tránh tiếp xúc với người nước ngoài.

Năm là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn liền với vấn đề dân tộc. Đó là, phải chăm lo giải quyết vấn đề đời sống, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc ít người. Công tác tôn giáo phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược quốc phòng an ninh, thực hiện chính sách định canh, định cư, chống di dịch cư tự do trong đồng bào các dân tộc ít người, theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Vì vừa qua, kẻ địch đã triệt để lợi dụng tập quán này để truyền đạo trái phép rất phức tạp.

ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ" ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

Hiện nay, vấn đề “xã hội dân sự” (XHDS) đã và đang được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Sau thất bại trong hoạt động chống phá Việt Nam ở các giai đoạn trước, hiện nay, các thế lực thù địch xem việc củng cố, thúc đẩy “XHDS” theo mô hình phương Tây là một hướng đi mới, là một trong những phương thức tác động cơ bản của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Mục tiêu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” là tìm cách thúc đẩy sự xuất hiện các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, làm suy yếu sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng, hình thành “XHDS độc lập về chính trị” là một “lối thoát” cho sự ra đời công khai, hợp pháp của các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, buộc Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng ra sức cổ vũ cho hình thành ở Việt Nam một mô hình “XHDS độc lập về chính trị” kiểu phương Tây, nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước. Hòng thực hiện âm mưu đó, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng tính chất chính trị, xã hội phức tạp của “XHDS” để tác động vào hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều phương thức khác nhau, từ tuyên truyền lừa bịp, thổi phồng, cường điệu hóa vai trò của XHDS, cung cấp tài chính, phương tiện hoạt động đến gây sức ép với Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ đối ngoại. Các đối tượng chống đối nhân danh chiêu bài “XHDS”, “dân chủ”, “nhân quyền”... để tập hợp lực lượng, lập hội, nhóm với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ, mục đích dễ gây “ấn tượng” với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”,... Thủ đoạn mà các đối tượng chống đối sử dụng phổ biến hiện nay là thông qua các trang web, diễn đàn trực tuyến, nhất là mạng xã hội để công khai tổ chức, tuyên truyền, lừa bịp, lôi kéo quần chúng tham gia; sử dụng các phần mềm bảo mật để liên lạc, tổ chức huấn luyện, đào tạo trực tuyến cho thành viên; công khai viết “đơn kiến nghị” đòi thành lập đảng chính trị đối lập, tự do thành lập hội mà không tuân theo quy định pháp luật, đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự... Ngoài ra, các đối tượng này còn tìm cách chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, lợi dụng các khuyết điểm trong quản lý đất đai, môi trường... để kích động khiếu kiện, tụ tập đông người, biểu tình, xuyên tạc tình hình, hạ uy tín cán bộ; thông qua các hoạt động này để tập hợp lực lượng, gây thanh thế, từng bước nhen nhóm và thành lập tổ chức chính trị đối lập... Tại các địa bàn chiến lược, các đối tượng chống đối đẩy mạnh xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo; kích động tư tưởng ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, khơi gợi, khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, tuyên truyền phát triển các tổ chức tôn giáo phi pháp, tụ tập “xưng vua”... Bên cạnh đó, dưới danh nghĩa đại diện các tổ chức “XHDS”, một số đối tượng chống đối đã tham gia các buổi điều trần ở nước ngoài, vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, đề nghị can thiệp trả tự do cho các đối tượng chống đối trong nước bị bắt do vi phạm pháp luật... Đặc biệt, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang diễn ra trong một bộ phận đảng viên, tình trạng yếu kém, sai phạm của một số cán bộ để thổi phồng, cường điệu hóa khuyết điểm, “hạ bệ” uy tín chính trị của Đảng, lôi kéo người dân tham gia các tổ chức mang danh nghĩa “XHDS” để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy, một số tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài rất quan tâm đến các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội ở nước ta và tìm cách xâm nhập, tác động, hướng lái hoạt động, chuyển hóa dần các tổ chức này khi chưa đủ điều kiện, thời cơ thành lập tổ chức đối lập. Thông qua các hoạt động, như triển khai dự án, tài trợ tài chính, tổ chức hội thảo với các NGO Việt Nam, một số tổ chức nước ngoài đã đi sâu xâm nhập, tìm hiểu nội bộ, xu hướng quan điểm của các NGO Việt Nam, kích động các tổ chức này thoát ly vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý của Nhà nước, cổ vũ quyền “tự do lập hội” theo tiêu chí phương Tây. Ngoài ra, một số tổ chức nước ngoài còn hỗ trợ tài chính cho một số NGO Việt Nam để xuất bản, phát hành tài liệu nghiên cứu, văn bản luật nước ngoài nhằm tuyên truyền quan điểm, pháp luật phương Tây đến với công chúng Việt Nam một cách công khai. Các tổ chức phản động nước ngoài cũng tìm cách thúc đẩy hình thành “XHDS” tại Việt Nam với mục đích chống phá từ bên trong. Tổ chức “Bảo vệ người lao động” (tại Ba Lan) gia tăng hoạt động với ý đồ chuyển hướng xâm nhập vào trong nước, thúc đẩy hình thành các tổ chức “công đoàn tự do”. Tổ chức “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” đã tiến hành “Đại hội thanh niên sinh viên Việt Nam trên thế giới lần thứ V” vào tháng 1-2008 tại Ma-lai-xi-a. Tại “đại hội” này, các đối tượng tham gia cho rằng để tiến hành “cuộc cách mạng hòa bình” tại Việt Nam thì phải xây dựng được một “XHDS bền vững” và muốn thay đổi xã hội thì không chỉ trên phương diện chính trị, mà còn trên các phương diện kinh tế, luật pháp, trong mỗi cộng đồng dân cư. Qua đây cho thấy, các thế lực thù địch bên ngoài đặc biệt quan tâm đến việc lợi dụng “XHDS” để thực hiện âm mưu lật đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ðáng chú ý là, một số đối tượng cơ hội chính trị có quan điểm cực đoan đã lợi dụng một số tổ chức quần chúng hợp pháp để tổ chức các hội thảo, tọa đàm, diễn đàn có nội dung đòi “trưng cầu ý dân” về Ðiều 4 của Hiến pháp cũng như sửa đổi toàn bộ Hiến pháp, thúc đẩy hình thành “XHDS” và thực hiện các quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, báo chí, lập hội theo tiêu chí phương Tây, tư hữu hóa đất đai... Ðây là phương thức chống đối công khai rất nguy hiểm, nếu thiếu cảnh giác có thể tạo môi trường để các thế lực thù địch lợi dụng các tổ chức “XHDS” đưa ra những kiến nghị thay đổi thể chế, chuyển đổi hệ thống luật pháp XHCN bằng luật pháp tư sản.

Tác động đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân của tôn giáo đối với QP-AN

 


Hầu hết tín đồ các tôn giáo ở nước ta đều suy nghĩ và hành động theo phương châm: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là cơ sở vững chắc tạo nên thế trận lòng dân, cơ sở để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Song hiện nay, một số chức sắc tôn giáo đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc và cách mạng, ngấm ngầm hoặc công khai kích động tín đồ không thực hiện các nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước như: không nộp thuế, không thực hiện nghĩa vụ công dân, nghĩa vụ quân sự…, làm ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng khai thác, huy động nguồn nhân lực, vật lực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt các thế lực thù địch đang tăng cường mua chuộc, kích động, lôi kéo đồng bào nhẹ dạ, cả tin, truyền đạo trái phép, phát triển tín đồ, tập hợp lực lượng, nhất là ở các địa bàn chiến lược như: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ…nhằm kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá vỡ thế trận lòng dân, mưu đồ ly khai, dựng ngọn cờ, tạo cớ để kêu gọi các thế lực từ bên ngoài can thiệp, xâm lược nước ta.

Vì vậy, chúng ta cần nhận rõ tác động của tình hình tôn giáo đến quốc phòng, an ninh ở nước ta hiện nay, bao hàm cả mặt tích cực và mặt tiêu cực, để có giải pháp hiệu quả phát huy mặt tích cực, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực, nhằm xây dựng nền quốc phòng toàn dân, và an ninh nhân dân vững chắc.

Âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch

Âm mưu: chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang thực hiện âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo cùng với vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền làm “ngòi nổ” để thực hiện “diễn biến hòa bình”. Bạo loạn lật đổ nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta,

Thủ đoạn: thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch đã áp dụng nhiều thủ đoạn nham hiểm và xảo quyệt, đó là: ra sức tuyên truyền cho cái khẩu hiệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” nhân danh các công ước quốc tế để pháp lý hóa nhằm can thiệp vào nội bộ các tôn giáo, như: dự luật “Quyền tự do tôn giáo không bị đàn áp”, “Luật tự do tôn giáo quốc tế” ký hiệu HR2431. Chúng kích động tín đồ các tôn giáo, tìm mọi cách cho ra đời các “Giáo hội độc lập, ly khai” theo kiểu “Tin lành Đề ga” với sự tiếp tay hậu thuẫn từ bên ngoài. Đồng thời chúng tìm cách khai thác mọi sơ hở của ta để lôi kéo quần chúng lạc hậu gây rối loạn trật tự xã hội để tạo cớ can thiệp vào nước ta. Chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động dùng vật chất để lừa mị, xúi dục các tín đồ đòi “tự do tôn giáo”, lợi dụng sinh hoạt tôn giáo để biểu dương lực lượng, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân hoặc xúi dục tín đồ đòi đất, khiếu kiện,,,, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc như một thủ đoạn chiến lược lâu dài để chống phá cách mạng. Các thế lực thù địch đã rất kiên trì tuyên truyền, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp “dân tộc thiểu số” “đàn áp tôn giáo” để mê hoặc dư luận thế giới, mê hoặc tín đồ, kéo đồng bào vào các hoạt động chia rẽ, ly khai tạo cớ để can thiệp vào nội bộ nước ta.

Đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề tôn giáo là một bộ phận nằm trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đây là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và lâu dài, được tiến hành trên những mặt chủ yếu sau:

Trên lĩnh vực chính trị tư tưởng: thực hiện tuyên truyền vạch trần âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng, đồng thời làm cho các tín đồ hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong tuyên truyền cần nhận thức rõ tôn giáo là một vấn đề tâm linh đã ăn sâu, bén rễ trong đời sống của không ít người trong nhiều dân tộc qua nhiều thế hệ. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng niềm tin, nghi thức thờ phụng, những sinh hoạt tôn giáo phù hợp với giáo lý, với truyền thống của dân tộc; nâng cao đạo đức, nhân cách con người, sống “tốt đời, đẹp đạo” chủ động đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc bóp méo sự thật, thay trắng, đổi đen lừa mị tín đồ của các thế lực thù địch, phản động.

Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội: phải gắn đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo với cuộc đấu tranh chống nghèo nàn, lạc hậu. Một trong những thủ đoạn mà kẻ địch lợi dụng là dựa vào đời sống còn khó khăn của các tín đồ để dụ dỗ, kích động họ chống lại chính quyền. Vì vậy, đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phải gắn với động viên các tín đồ tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần. Đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền, bởi các vấn đeè đó có mối quan heẹ chặt chẽ, đa xen với nhau.

Trên lĩnh vực đối ngoại: đây là lĩnh vực hết sức phức tạp và nhạy cảm mà các thế lực thù địch lợi dụng để can thiệp, chống phá nước ta. Chúng dựng lên cái gọi là “tự do tôn giáo ở Việt nam”, “nhân quyền ở Việt Nam” để lừa bịp dư luận thế giới, trắng trợn, vu cáo Nhà nước ta “đàn áp tôn giáo”… Do đó chúng ta cần quán triệt phương châm tích cực, chủ động, mềm dẻo, linh hoạt bác bỏ mọi luận điệu vu cáo, xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.

Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh: đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo trên lĩnh vực quốc phòng an ninh được biểu hiện trực tiếp ở việc làm thất bại mọi mưu đồ chính trị, khuấy lên những khác biệt, mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo trong cộng đồng người Việt; mưu đồ hỗ trợ chủ nghĩa cực đoan, cuồng tín, làm bùng lên những vụ gây rối, bạo loạn ly khai, mưu đồ tạo dựng, hình thành những nhân tố chống đối từ bên trong, xây dựng phát triển lực lượng đối lập để lật đổ chính quyền của các thế lực thù địch, phản động. Thực tế cho thấy, có lúc vấn đề tôn giáo đã tạo nên những “điểm nóng” như: vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Tây Nguyên tháng 2 năm 2001 và tháng 4 năm 2004 với cái gọi là “Nhà nước Đề ga” “Hội thánh Tin lành Đề ga”, việc truyền đạo trái phép và “xưng vua” ở Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tháng 5 năm 2001 và tình hình truyền đạo trái phép ở Nghệ An, Thái Bình, Hải Phòng… Những vụ việc đó đã ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đến xây dựng thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Từ thực tiễn xử lý các vụ việc này cho thấy, trong đấu tranh chống dịch lợi dụng vấn đề tôn giáo phải kiên quyết và khôn khéo, dứt điểm, không để lây lan kéo dài; phải phát huy được sức mạnh tổng hợp đấu tranh trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh phải kết hợp chặt chẽ với các lĩnh vực khác, trong đó đặc biệt là công tác tuyên truyền, vận động, giúp đỡ đồng bào tín đồ tích cực phát triển kinh tế - xã hội…nhằm tạo sức đề kháng từ bên trong của mỗi tín đồ tôn giáo, của mỗi địa phương và cả nước.

Đừng để tác phong “quan phụ mẫu” trỗi dậy khiến lòng dân ta thán

Sống trong một xã hội cởi mở, trình độ dân trí ngày càng cao, tinh thần dân chủ được coi trọng, thì đương nhiên cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức có quyền cần phải có tư duy hành xử nhân văn, tác phong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành khoa học, vì sự phát triển tiến bộ của tổ chức, cơ quan, đơn vị; vì cuộc sống yên lành, hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, những năm qua, ở nhiều nơi vẫn để xảy ra tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên “độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành”-một biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra. Một tàn dư của chế độ quan lại thời phong kiến còn tồn tại dai dẳng Theo các nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống, trong tư duy ứng xử của người Việt, cùng với “trọng tĩnh, trọng tình, trọng văn” (coi trọng sự yên ổn; trân trọng tình nghĩa; quý trọng văn chương, khoa bảng), chúng ta còn “trọng xỉ”, tức là trọng những người cao tuổi, người đi trước, người có kinh nghiệm hơn mình. Dân gian có câu “Triều đình trọng tước, hương ước trọng xỉ” với ý nghĩa, trong triều đình thì trọng những người có chức tước, còn ở làng xã thì trọng những người cao tuổi. Ưu điểm của truyền thống “trọng tước, trọng xỉ” là giáo dục con người sống có trước có sau, quý mến những bậc cao niên và những người có trình độ năng lực, vốn sống, kinh nghiệm hơn mình. Tuy nhiên, vì quá coi trọng tôn ti, thứ bậc trong quan hệ ứng xử cũng khiến nhiều quan chức nảy sinh tâm lý “đàn anh”, tư tưởng “bề trên”, từ đó dễ có thái độ quan cách, tác phong gia trưởng, thậm chí trịch thượng, độc đoán cả trong giao tiếp, ứng xử và sinh hoạt, công tác. Khi nói đến tác phong gia trưởng, chủ nghĩa gia trưởng, người ta liên tưởng đến những ông quan mũ cao áo dài của một thời phong kiến đầy oai phong lẫm liệt, dù ở chốn quan trường ăn lộc vua, hưởng lộc nước mà lại đi đứng nghênh ngang, coi mình như quan phụ mẫu, tức là cha mẹ của dân, nói gì cũng bắt dân chúng phải nhất nhất tuân lệnh! Tưởng như tác phong gia trưởng, độc đoán chỉ còn trong chế độ phong kiến chuyên quyền thời xưa, nhưng buồn thay, thói xấu này vẫn tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Dù mức độ gia trưởng không hà khắc như thời phong kiến, nhưng những biểu hiện của thói gia trưởng trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo thời nay cũng không thể xem thường. Biểu hiện khá phổ biến là không ít cán bộ nhận thức chưa thấu đáo, giải quyết không đúng mực mối quan hệ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, mà thực chất là coi nhẹ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của tập thể, trong khi lại đề quá cao vị trí của bản thân, lợi dụng chức vụ công tác để đưa cái tôi của mình lèo lái, chi phối, thậm chí lấn át cái ta của tập thể cấp ủy, tổ chức, cơ quan, đơn vị. Trong giải quyết các mối quan hệ ứng xử với nội bộ tập thể hay khi phát biểu đăng đàn thì có cán bộ lãnh đạo coi ý kiến của mình có sức nặng vượt trội, còn ý kiến tham gia của người khác chỉ là phụ, nhẹ tựa lông hồng, nghe rồi bỏ đấy. Nổi cộm của thói gia trưởng của một bộ phận cán bộ lãnh đạo là có thái độ, hành vi can thiệp không đúng nguyên tắc vào công việc của tập thể, nhất là công tác nhân sự (tuyển dụng, quy hoạch, phân công công tác, điều động cán bộ) và các vấn đề liên quan đến các chương trình, dự án đầu tư kinh tế-xã hội, tài chính… Cũng vì mắc bệnh gia trưởng, có người ngấm ngầm thành kiến đối với những người có ý kiến khác mình, thậm chí trù dập những người góp ý kiến phê bình trung thực, thẳng thắn. Lại có quan chức coi gì mình nói cũng cho là đúng, là nhất, bắt buộc mọi người phải tuân theo. Thế nên, ở một số tổ chức, cơ quan, đơn vị hiện nay xuất hiện câu cửa miệng như: “Với sếp có hai điều phải học thuộc lòng: Điều 1-Sếp luôn luôn đúng; Điều 2-Nếu sếp sai thì xem lại điều 1”. Cá biệt có nơi còn có câu “khẩu hiệu ngầm” của những nhân viên cấp dưới: “Ý sếp là ý trời!”; “Cãi lại ý sếp-dễ sớm kết thúc sự nghiệp!". Những câu nói đó cho thấy phần nào sự gia trưởng, độc đoán vẫn đang ngự trị trong một bộ phận quan chức khiến cấp dưới bày tỏ tâm lý lo ngại, sợ sệt không đáng có. Rèn luyện và thể hiện tác phong sâu sát quần chúng, tôn trọng tập thể và cấp dưới Tác phong gia trưởng là một thói tệ hại của người cách mạng. Ngay từ khi chính quyền cách mạng non trẻ vừa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo, những cán bộ, đảng viên có thái độ gia trưởng lúc nào cũng “Tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi”, “cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy”, từ đó “coi khinh dân gian, nói phô, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên. Không biết rằng thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của Chính phủ”. Cũng đề cập đến thói gia trưởng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng chỉ rõ: “Một số người có chức có quyền giữ tác phong quan cách, gia trưởng” và “có thái độ coi thường quần chúng, không lắng nghe ý kiến người lao động, chèn ép quần chúng”. “Ngang tàng phóng túng”, “vác mặt quan cách mạng”, “chèn ép quần chúng”… là những từ ngữ mạnh mà lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng ta đã sử dụng như muốn cảnh tỉnh nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên vẫn để cho tư duy, lề lối, cung cách hành xử hách dịch, cửa quyền vốn là tàn dư của chế độ quan lại phong kiến thời xưa ngự trị trong bản thân mình. Điều đó hoàn toàn xa lạ, trái ngược với tư tưởng tiến bộ, thái độ cầu thị, tác phong dân chủ, khoa học của người cộng sản. Đấu tranh, ngăn ngừa và từng bước loại khỏi thói gia trưởng trong tư tưởng và hành động, suy nghĩ và việc làm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay là góp phần xây dựng nền tảng đạo đức, văn hóa lành mạnh trong bộ máy công quyền. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Vì vậy, mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chỉ là người thay mặt Nhà nước, chính quyền và được tổ chức, cơ quan, đơn vị ủy quyền để giải quyết, xử lý công việc cho người dân theo đúng tinh thần là “công bộc, đầy tớ” của nhân dân. Muốn làm tròn trách nhiệm, bổn phận với nhân dân, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải có quan điểm vì nhân dân phục vụ; thái độ tôn trọng, quý mến nhân dân; tác phong công tác gần gũi, sâu sát quần chúng; thể hiện phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực, góp phần vun đắp, thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Để phòng ngừa lề thói, tác phong gia trưởng, vấn đề mấu chốt là cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp cần nhận thức đúng đắn và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc dân chủ, kiên quyết tránh xa biểu hiện tuyệt đối hóa yếu tố tập trung dẫn tới thái độ độc đoán; hoặc lợi dụng dân chủ của tập thể để làm tấm bình phong lấp liếm, che đậy những hành vi chuyên quyền của mình. Đối với người đứng đầu các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần tự giác khép mình vào khuôn khổ tổ chức, thực hiện đúng quy chế lãnh đạo của ban thường vụ, cấp ủy; không lợi dụng vị thế công tác để can thiệp, chi phối tập thể hướng theo, làm theo ý định cá nhân không trong sáng của mình. Mặt khác, cán bộ lãnh đạo cần có ý thức tôn trọng, phát huy dân chủ, trí tuệ của tập thể, cơ quan, đơn vị; thật sự gần gũi, sâu sát, yêu thương quần chúng; thành tâm lắng nghe, thấu hiểu nguyện vọng chính đáng của cấp dưới để có cách ứng xử, giải quyết phù hợp, có lý, có tình. Vì thực tế cho thấy, khi cán bộ thực lòng cảm thông, chia sẻ với quần chúng, thì quần chúng mới quý trọng mình, hay nói như Bác Hồ: “Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Đó cũng là cơ sở để phòng tránh, ngăn ngừa lề thói, tác phong gia trưởng. Tuy vậy, cần hiểu rằng, khi cán bộ giữ chức vụ nào đó thì không thể có tác phong dễ dãi, theo đuôi quần chúng, mà phải có tư duy đột phá, phong cách quyết đoán của người lãnh đạo. Vì xuất phát từ nguyên tắc, cơ chế lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay, các tổ chức đảng, chính quyền các cấp ngoài việc phát huy vai trò của tập thể lãnh đạo vẫn phải đề cao, coi trọng tinh thần quyết đoán của cá nhân người đứng đầu. Kiên định, bản lĩnh, quyết đoán là những yếu tố rất cần thiết của người lãnh đạo, mà thiếu nó, vị thế người đứng đầu sẽ trở nên mờ nhạt trong tập thể. Vấn đề là ở chỗ, kiên định mà không cứng nhắc, bản lĩnh mà không liều lĩnh, quyết đoán mà không độc đoán-điều đó mới làm nên phẩm chất chân chính, tư cách chững chạc của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Có kỹ năng quyết đoán mới có khả năng quyết định dứt khoát, mạnh mẽ để giải quyết, xử lý được những vấn đề mới, vấn đề cấp bách do cuộc sống, thực tiễn đặt ra. Nhưng tác phong quyết đoán đều phải vì lợi ích chung, vì nguyện vọng chung của tập thể, của số đông người lao động thì mới thể hiện được tài năng, đức độ của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Tác động trên lĩnh vực kinh tế của tôn giáo đối với QP-AN ở nước ta hiện nay

 


Hiện nay nước ta có trên 24 triệu tín đồ, ngoài ra còn hàng chục triệu người có tín ngưỡng khác nhau. Đa số các tín đồ hăng hái lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Trong quá trình lao động sản xuất, trình độ nhận thức, ý thức chính trị, niềm tin, năng lực, hành động của tín đồ ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên một bộ phận không nhỏ tín đồ vẫn còn thụ động, trông đợi sự cứu vớt của các lực lượng siêu nhiên, chưa tích cực lao động sản xuất, nên tình trạng đói nghèo vẫn rình rập quanh họ. Một số tôn giáo đã huy động tín đồ đóng góp tới 10% thu nhập để chi cho hoạt động của các giáo hội, đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình đầu tư tái sản xuất của đồng bào tôn giáo cũng như của toàn xã hội. Đây là một nguy cơ tạo nên những bất ổn trong xã hội.

Tác động của tình hình tôn giáo trên lĩnh vực chính trị tinh thần đối với quốc phòng, an ninh ở nước ta hiện nay


Tác động của tôn giáo đến chính trị tinh thần xã hội là quá trình làm tăng lên hay suy giảm niềm tin, ý chí của các thành viên trong xã hội, làm thay đổi trạng thái tâm lý, tinh thần trách nhiệm trước yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đất nước.

Do thành tựu công cuộc đổi mới đất nước vừa qua đem lại, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo hiện nay đã được cải thiện rõ rệt. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo ngày càng được hoàn thiện và được tuyên truyền rộng rãi trong đồng bào có đạo, đã tạo được niềm tin, sự phấn khởi của tín đồ, chức sắc các tôn giáo đối với cách mạng. Sự đồng thuận trong xã hội giữa tín đồ các tôn giáo được củng cố trên nền tảng lợi ích, mục tiêu chung đã tạo cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao sức mạnh chính trị tinh thần của toàn dân trong xây dựng củng cố quốc phòng, an ninh.

Tuy nhiên các tín đồ, chức sắc các tôn giáo là những người có niềm tin tôn giáo và mức độ niềm tin đó ở mỗi người khác nhau. Nhìn chung các tín đồ tôn giáo đều phụ thuộc vào giáo lý, thần quyền; một bộ phận tín đồ lạc hậu dễ bị kẻ xấu lợi dụng mua chuộc, lôi kéo, hoặc khống chế vì mục đích chính trị phản động. Đáng chú ý là một số chức sắc tôn giáo có tư tưởng cực đoan, lợi dung sơ hở, yếu kém trong quản lý Nhà nước để tuyên truyền, kích động lôi kéo đồng bào có đạo chống đối chính quyền. Nghiêm trọng hơn một số chức sắc, tôn giáo còn công khai tuyên truyền xuyên tac quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo gây lên sự hiểu lầm, thiếu tin tưởng của một bộ phận tín đồ. Ở một số vùng có tôn giáo, khối đại đoàn kết toàn dân tộc có nguy cơ bị rạn nứt nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến khả năng duy trì huy động tiềm lực chính trị, tinh thần vào sự nghiệp củng cố quốc phòng, anh ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Thực trạng công tác tôn giáo ở nước ta hiện nay


Thực hiện đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước  từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước dến nay, công tác tôn giáo đã đạt được nhiều thành tựu tiến bộ:

1) Công tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ, chức sắc…hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ

2) Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.

3) Các tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo Hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.

4) “Các ngành, các cấp đã chủ động tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước”[1]




[1] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị ban chấp hành Trung ương 7, Khóa IX. Nxb CTQG,H.2003, tr46 

Quốc hội, người đại diện chân chính cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân

Một số trang mạng và tài khoản cá nhân trên internet đang có những bình luận xấu độc về hoạt động của Quốc hội Việt Nam. Họ cho rằng đây là Quốc hội của Đảng chứ không phải của nhân dân vì có tới hơn 90% đại biểu là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Thể chế bầu cử của Việt Nam là “Đảng chọn dân bầu”… Vậy vì sao các thế lực thù địch, những người tự gọi là “người bất đồng chính kiến” lại tung ra những luận điệu đó? Qua bài viết này, chúng tôi xin góp phần giải đáp những vấn đề trên. Xuyên suốt các Hiến pháp của Việt Nam từ Hiến pháp 1946-Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đến Hiến pháp 2013 của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam đều quy định: Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân (HĐND) và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước. Điều 69, Hiến pháp 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Về quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước là “có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Khoản 3, Điều 2-Chế độ chính trị). Hiến pháp 2013 quy định về bầu cử như sau: Việc bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND. ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của nhân dân cả nước. Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định: Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu ĐBQH và bỏ một phiếu bầu đại biểu HĐND tương ứng với mỗi cấp. Cử tri phải tự mình đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Luật cũng quy định: Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử sẽ mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu và thực hiện bầu cử. Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Những quy định về bầu cử của pháp luật Việt Nam là tiên tiến, công bằng và bình đẳng nhất. Ở một số quốc gia, như Hoa Kỳ chẳng hạn, việc bầu cử nguyên thủ (tổng thống và phó tổng thống) do các Đại cử tri (Elector) của các bang chứ không phải do dân bầu trực tiếp. Trước đó ở mỗi bang sẽ cử ra một số đại cử tri bằng đúng tổng số Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ của bang. Như vậy chỉ có phiếu của đại cử tri mới quyết định chức vụ nguyên thủ. Theo báo cáo của Hội đồng Bầu cử quốc gia, cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIV, năm 2016 như sau: Tổng số cử tri đủ điều kiện bầu cử là 67.485.482 người, trong đó số cử tri đã tham gia bỏ phiếu là 67.049.091 người, đạt tỷ lệ 99,35%. Cơ cấu (kết hợp) như sau: Đại biểu là người dân tộc thiểu số: 86 người (đạt 17,30%); phụ nữ: 133 người (đạt 26,80%); đại biểu là người ngoài Đảng có 21 người (đạt 4,20%)… Như vậy có thể nói cuộc bầu cử ĐBQH được nhân dân ta đặc biệt quan tâm; cơ cấu đại biểu toàn diện bao gồm cả người ngoài Đảng; các cơ quan chức năng chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc nhằm bảo đảm kết quả đúng với đánh giá của cử tri. Tỷ lệ đại biểu là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam cao chỉ chứng tỏ là uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam rất cao trong nhân dân Việt Nam. Và do đó, việc những người ngoài Đảng ứng cử, nhưng không trúng cử cũng là điều dễ hiểu. Còn nhớ, trong cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIV, một tiến sĩ khoa học từng có nhiều bài viết trên mạng “phản biện” chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được nhiều “người bất đồng chính kiến” đề cao nên tự tin tự ứng cử. Song hội nghị cử tri (theo luật định) tại địa phương đã bỏ phiếu với kết quả 6/75. Kết cục ứng cử viên này đã bị loại. Hoạt động lập pháp của Quốc hội Việt Nam trong thời gian qua, nhất là từ sau Hiến pháp 2013 có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp tiến hành. Về nội dung, pháp luật Việt Nam ngày nay không thể “sao chép” theo tư duy cũ mà phải bảo đảm đúng với quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước và tinh thần Hiến pháp 2013, trong đó bảo đảm các nguyên tắc: Pháp luật là tối thượng; kinh tế thị trường theo định hướng XHCN; toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thực tế xã hội-tâm tư nguyện vọng của nhân dân và bảo đảm quyền con người. Hoạt động lập pháp ngày nay cũng phải kịp thời thể chế hóa nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoạt động lập pháp cũng gắn liền với đổi mới tổ chức, hoạt động của Chính phủ và chính quyền địa phương cũng như các cơ quan tư pháp. Một trong những đổi mới của Quốc hội khóa XIV là tăng số lượng đại biểu chuyên trách. Trong hoàn cảnh của Việt Nam, theo Luật Tổ chức Quốc hội (có hiệu lực từ ngày 1/1/2016), ĐBQH gồm: Đại biểu chuyên trách và đại biểu kiêm nhiệm. Đại biểu chuyên trách dành toàn bộ thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình; đại biểu kiêm nhiệm dành 30% thời gian cho hoạt động của Quốc hội. Theo đó, cơ cấu Quốc hội khóa XIV có 114 đại biểu chuyên trách Trung ương (thuộc các cơ quan của Quốc hội) và 67 đại biểu chuyên trách địa phương, còn lại là đại biểu kiêm nhiệm. Giám sát đang là một hoạt động được tăng cường, nhất là trong khóa XIV. Hoạt động giám sát hiện nay tập trung vào việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo, tình trạng ô nhiễm môi trường, quản lý đất đai… Tại Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội đã biểu quyết, năm 2020 thực hiện giám sát chuyên đề “Thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em”. Đây là một trong những vấn đề mà cử tri đang bức xúc. Sinh hoạt của Quốc hội Việt Nam đã và đang đổi mới theo hướng dân chủ-thẳng thắn; phản ánh sát, cập nhật những vấn đề-kể cả vụ việc đang diễn ra mà cử tri quan tâm. Ví dụ, tại Kỳ họp thứ bảy, trước khi thông qua dự án Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia các ĐBQH đã có cuộc trao đổi rất cởi mở về việc có nên quy định cấm người điều khiển phương tiện giao thông sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông hay không? Kết quả quy định này đã được thông qua với 374/446 (chiếm 77,27% tổng số đại biểu). Sở dĩ các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội tập trung công kích Quốc hội Việt Nam thật không có gì khó hiểu. Đây là thủ đoạn nằm trong chiến lược chống phá Việt Nam toàn diện-từ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đến toàn bộ hệ thống chính trị các cấp. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, thực hiện âm mưu xuyên tạc, bôi nhọ cơ quan này, các thế lực thù địch hy vọng sẽ làm giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội, dần dần tiến tới chuyển hóa chế độ XHCN ở Việt Nam./.

Xu hướng tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay

 


Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu tôn giáo, hiện nay cùng với sự biến đổi nhanh chóng, sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đã dẫn đến sự biến đổi của tôn giáo. Tình hình tôn giáo trên thế giới hiện nay đã và đang biến đổi theo bốn xu hướng chủ yếu là: “toàn cầu hóa”, “dân tộc hóa” “đa dạng hóa” và “thế tục hóa”

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ trước, sang đầu thế kỷ XXI càng phát triển với tốc độ cao hơn đã làm biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc mọi mặt của đời sống nhân loại, làm cho xu hướng hòa bình, hợp tác để phát triển giữa các quốc gia, dân tộc trở thành xu hướng lớn của thời đại ngày nay. Trong bối cảnh đó, các cường quốc đế quốc tư bản chủ nghĩa cũng như các nước khác đều ra sức cạnh tranh nhằm tạo ảnh hưởng, nâng cao hơn vị thế của mình trên trường quốc tế. Tương tự như vậy, các tôn giáo cũng có tham vọng mở rộng ảnh hưởng của nó, làm cho xu hướng “toàn cầu hóa tôn giáo” đã và đang diển một cách mạnh mẽ.

Hiện nay, Kitô giáo, Hồi giáo đang mở rộng ảnh hưởng ở bốn châu lục là châu Á, châu Phi, châu Âu và châu Mỹ; còn Phật Giáo không chỉ mở rộng ảnh hưởng ở địa bàn truyền thống là châu Á mà còn mở rộng và đang ảnh hưởng mạnh mẽ ở châu Âu, châu Úc đến cả Canađa và Mỹ. Bên cạnh xu hướng toàn cầu hóa, lại xuất hiện xu hướng dân tộc hóa tôn giáo, biểu hiện ở sự trở về đối với tôn giáo truyền thống để bảo vệ bản sắc dân tộc chống lại sự lấn lướt, áp đặt của các tôn giáo lớn ngoại nhập. Xu hướng này đã và đang ngày càng được coi trọng ở nhiều quốc gia, dân tộc. Không ít quốc gia, dân tộc đã dùng phương pháp kích thích tôn giáo truyền thống trong nước phát triển để chống lại sự xâm lăng của tôn giáo bên ngoài, coi đó là biểu tượng giữ vững bản sắc văn hóa và sự gắn kết dân tộc. Cùng với xu hướng quốc tế hóa, dân tộc hóa, là xu hướng đa dạng hóa tôn giáo. Sự hình thành xu hướng này đã do sự phát triển của kinh tế- xã hội và khoa học kỹ thuật làm nảy sinh nhiều tôn giáo mới với nhiều sắc thái khác nhau. Các tôn giáo mới xuất hiện cùng với các tôn giáo truyền thống, tôn giáo du nhập đồng thời tồn tại, phát triển trong một quốc gia, tạo nên bức tranh đa sắc phức tạp của tôn giáo thời hiện đại. Mặt khác sự liên minh, liên kết tôn giáo cũng đang diễn ra mạnh mẽ tạo nên sự đa dạng phong phú nhưng cũng không kém phần phức tạp trong đời sống tinh thần của nhân loại ít nhất là ở thế kỷ XXI. Cuối cùng là xu thế thế tục hóa tôn giáo - đó là một quá trình gồm hai mặt cả tích cực và tiêu cực, song đều có cái chung làm cho niềm tin tôn giáo sát hơn với đời sống hiện thực của con người. Mặt tích cực thể hiện ở sự đề cao cái thiện, chống cái ác vì hòa bình, tiến bộ xã hội; mặt tiêu cực thể hiện ở các hiện tượng làm tầm thường hóa ý nghĩa thiêng liêng của tín ngưỡng, tôn giáo như:lợi dụng tôn giáo để hoạt động phản văn hóa, kích thích lối sống bản năng thấp hèn, tiến hành các hoạt động ly khai, khủng bố.

Ở nước ta hiện nay, tình hình tôn giáo cũng đang diễn ra sự biến đổi theo bốn xu hướng trên của các tôn giáo thế giới. Các tôn giáo do nhu cầu, lợi ích khác nhau đều tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình, làm cho tình hình tôn giáo diễn biến rất phức tạp. Trong những năm gần đây các tôn giáo phát triển cả về số lượng tín đồ, cơ cấu tổ chức và sự hình thành các tôn giáo mới. Đáng chú ý là đạo Tin lành ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc…Ở Tây Nguyên sau năm 1975 chỉ có khoảng 50.000 tín đồ đạo Tin lành, đến nay đã có trên nửa triệu. Ở Tây Bắc, Đạo Tin lành những năm 80 của thế kỷ XX mới chỉ có mầm mống, đến nay đang phát triển mạnh với trên 100.000 tín đồ và một phần ba trong số bản người H’Mông có đạo Tin lành. Sự phát triển của các tôn giáo nói chung, và sự phát triển của Đạo Tin lành vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, địa bàn trọng yếu đòi hỏi chúng ta cần phải thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, ngăn ngừa có hiệu quả sự lợi dụng của vấn đề tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta của các thế lực thù địch.

Do thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước vừa qua đem lại, đời sống vật chất và tính thần của đồng bào tôn giáo hiện nay đã được cải thiện rõ rệt. Đồng bào các tôn giáo luôn phát huy tinh thần tương thân, tương ái, đồng hành cùng dân tộc lên án đấu tranh với các hành động xâm phạm chủ quyền biển, đảo, tích cực tham gia các phong trào thi dua vì an ninh Tổ quốc…Sự đồng thuận trong xã hội giữa tín đồ các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo và không theo tôn giáo được củng cố trên nền tảng lợi ích, mục tiêu chung đã tạo cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao sức mạnh chính trị tinh thần của toàn dân trong xây dựng, củng cố quốc phòng an ninh. Tuy nhiên các tín đồ, chức sắc các tôn giáo là những người có niềm tin tôn giáo và mức độ niềm tin đó ở mỗi người khác nhau. Nhìn chung các tín đồ tôn giáo đều phụ thuộc vào giáo lý, thần quyền, một bộ phận lạc hậu dễ bị kẻ xấu lợi dụng mua chuộc, lối kéo, hoặc khống chế. Một số chức sắc tôn giáo có tư tưởng cực đoan, lợi dụng sơ hở, yếu kém trong quản lý nhà nước để tuyên truyền, kích động lôi kéo đồng bào có đạo chống đối chính quyền. Nghiêm trọng hơn một số chức sắc tôn giáo còn công khai tuyên truyền, xuyên tạc quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo gây lên sự hiểu lầm, thiếu tin tưởng của một bộ phận tín đồ. Ở một số vùng có tôn giáo, khối đại đoàn kết dân tộc có nguy cơ bị rạn nứt nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến khả năng duy trì, huy động tiềm lực chính trị tinh thần vào sự nghiệp củng cố quốc phòng và an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Về “sức mạnh mềm” Việt Nam

Việt Nam có nền văn hóa với bề dày truyền thống hàng nghìn năm. Nền văn hóa đó có bản sắc riêng và được coi là rất mạnh, nên không dễ đồng hóa. Văn hóa Việt Nam do những con người được đánh giá là thông minh và sáng tạo, dũng cảm và bản lĩnh, hiếu học và cần cù, khoan dung và nhân hậu,… sáng tạo ra. Đó là “sức mạnh mềm” Việt Nam. Việt Nam có vị trí địa - chính trị đặc thù. Ngày nay, yếu tố này được tính đến trong chiến lược của hầu hết các cường quốc. Về một phương diện nhất định, đó cũng là “sức mạnh mềm” Việt Nam. Sức mạnh này cần được lý giải sâu sắc hơn và phải được phát huy với tính cách là nguồn nội lực cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 1. Joseph Nye, GS. Đại học Harvard, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ thời Tổng thống B. Clinton(1), là người khởi xướng học thuyết “sức mạnh mềm” (Soft power). Theo ông, sức mạnh mềm là một thuật ngữ thường dùng để chỉ những ảnh hưởng, tác động, can thiệp,... thuộc về những nhân tố văn hóa - xã hội, kể cả những nhân tố tín ngưỡng, tâm lý, truyền thống, giá trị... Đối lập với “sức mạnh cứng” (Hard power), “sức mạnh mềm” là “khả năng đoạt lấy thứ mình muốn thông qua sự hấp dẫn thay vì ép buộc. Nó xuất phát từ sự hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị và các chính sách của một quốc gia”. “Sức mạnh mềm” mang tính phi quân sự, phi bạo lực, sinh ra từ sự lựa chọn chứ không phải áp đặt. Nó có khả năng giải quyết tốt các vấn đề từ góc độ văn hóa - xã hội. Có 3 nguồn lực chính để tạo nên “sức mạnh mềm” của một quốc gia, đó là: nền văn hoá, hệ giá trị và hệ thống chính sách. Trên thực tế, “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm” có khả năng hỗ trợ làm tăng ảnh hưởng cho nhau. “Sức mạnh cứng” có thể giúp phát huy “sức mạnh mềm”, làm cho “sức mạnh mềm” trở nên hấp dẫn. Theo J. Nye, khả năng kết hợp giữa “sức mạnh mềm” và “sức mạnh cứng” sẽ tạo ra “sức mạnh thông minh” (Smart power). Sức mạnh của châu Âu, theo J. Nye, khác với sức mạnh Mỹ và các cường quốc khác, là một thứ sức mạnh có sức hấp dẫn, rất nên lựa chọn mà nhiều quốc gia trong thế giới hiện đại có thể không tính đến. Từ cuối năm 2017, khi dư luận quốc tế lo ngại về cuộc chiến tranh thông tin được một vài quốc gia tiến hành như là một thứ “sức mạnh sắc bén” (Sharp power) đe dọa an ninh thế giới, J. Nye vẫn bày tỏ sự tin tưởng vào “sức mạnh mềm”. Ông cho rằng, cần thiết phải tỉnh táo để không làm suy giảm “sức mạnh mềm” trước sự đe dọa của “sức mạnh sắc bén”. 2. Đầu năm 2010, J. Nye đến Việt Nam. Trong buổi thuyết trình về “sức mạnh mềm” và qua nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi với các chính khách, trí thức, doanh nghiệp Việt Nam, J. Nye trả lời nhiều câu hỏi của những người tham dự và khẳng định “Việt Nam là một câu chuyện rất hấp dẫn trong lịch sử về sự dũng cảm của con người cũng như văn hóa. Việt Nam có tiềm năng về “sức mạnh mềm”. “Việt Nam có thể tận dụng điều đó cho sự phát triển của mình”(2). Việt Nam có bề dày văn hóa truyền thống hàng nghìn năm. Ngày nay, điều được thừa nhận này có ý nghĩa quy định sự phát triển tiếp theo của đất nước. Quán tính lịch sử, khuôn mẫu văn hóa, bản lĩnh dân tộc, thói quen tư duy, cách thức kiếm sống, phương thức ứng xử,…với tất cả thế mạnh và những hạn chế của nó, chắc chắn sẽ không tách rời hiện tại và tương lai. Những hạn chế thuộc về tập quán văn hóa sẽ rất khó loại bỏ hoặc vượt qua, trong khi đó, những thế mạnh của truyền thống đầy tiềm năng lại không dễ để phát huy tác dụng. “Sức mạnh mềm” là điều có thật. Và, sự phát triển tối ưu hay hợp lý sẽ đến với chủ thể nào biết phát huy thế mạnh về văn hóa, nhận ra được những khuyết tật cố hữu của mình để nắm bắt và khống chế cơ hội trong thế giới toàn cầu hóa. Trong so sánh với các dân tộc - quốc gia xung quanh và xa hơn ở bên ngoài, Việt Nam xưa nay luôn được đánh giá tích cực ở nhân tố văn hóa. Không phải ngẫu nhiên cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu từng nhận xét: “Người Việt Nam là một trong những dân tộc nghị lực và có khả năng nhất Đông Nam Á. Sinh viên của họ đến Singapore theo diện học bổng ASEAN rất nghiêm túc với việc học hành và thường có điểm số cao nhất(3). Về phương diện địa - chính trị, trong thế kỷ XXI Việt Nam vẫn là quốc gia có vị thế rất đặc biệt trên bàn cờ chính trị thế giới, là nhân tố có ý nghĩa chi phối trật tự địa - chính trị. Điều này đã được Zbigniew Brezinski, Samuel Huntington dự báo từ rất sớm(4), nhưng vào những năm 90 của thế kỷ XX không mấy ai thật sự chú ý, kể cả các nhà chiến lược Mỹ. Gần đây, khi tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương nóng lên, Robert Kaplan và các chiến lược gia của Trung tâm An ninh Mỹ (CNAS) mới phân tích sâu hơn và thừa nhận vị thế địa chiến lược này của Việt Nam. Có thể thấy, thái độ của các quốc gia, nhất là các cường quốc đối với Việt Nam trong mấy năm trở lại đây là một minh chứng cho vị thế địa - chính trị đặc thù của Việt Nam. Thông qua việc tổ chức một số sự kiện lớn tại Việt Nam, vị thế này đã lộ ra những khó khăn, thách thức và cả thuận lợi của Việt Nam trong tương quan với các quốc gia khác trên bàn cờ chính trị thế giới. Nhiều chính khách đã không tiếc lời khen ngợi Việt Nam. Tổng thống Mỹ Donald Trump trong chuyến tham dự Hội nghị Cấp cao APEC được tổ chức vào tháng 11-2017 tại Đà Nẵng và sau đó thăm chính thức Việt Nam đã gọi Việt Nam là “một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên trái đất”, một trong những “điều kỳ diệu lớn” của thế giới. Những sự kiện, hiện tượng này nếu không phải là “sức mạnh mềm”, thì chắc chắn cũng có liên quan tới “sức mạnh mềm”. Sự thực là trong thế kỷ XX, với Việt Nam, các cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước, giải phóng dân tộc đều có nguyên nhân không tách rời vị thế địa - chính trị của đất nước. Hầu hết các học giả có tên tuổi viết về chiến tranh đều coi cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam (1954-1975) thuộc về cuộc chiến ý thức hệ. Ngày nay, trong tương quan với chiến lược xoay trục của Mỹ hướng về châu Á - Thái Bình Dương và trong tương quan với tham vọng “Giấc mộng Trung Hoa” của Trung Quốc, vị thế địa chiến lược của Việt Nam một lần nữa lại trở nên quan trọng, nằm ngoài ý muốn của tất cả các bên. Vấn đề là ở chỗ, nếu xem nhẹ vị thế địa - chính trị đặc biệt của Việt Nam, thì việc mưu cầu và theo đuổi các lợi ích của Trung Quốc, Mỹ, Nga đều có thể bị vi phạm. ASEAN, Nhật Bản và Ấn Độ, trong tầm ảnh hưởng bởi những tương quan, cũng đều phải lựa chọn kế sách thích hợp. Những năm gần đây, các đầu óc chiến lược của Trung Quốc, Mỹ và Nga đều đã nhận ra tính thực tế của điều này. Và, không hề ngẫu nhiên, sách lược của các quốc gia vừa nói ở trên đều công nhiên thể hiện khá rõ phương thức ứng xử có tính đến yếu tố Việt Nam. Với Việt Nam, điều này khá ngặt nghèo và là bất khả lựa chọn. Điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch sử từ xa xưa và đặc thù văn hóa của đất nước đã quy định một cách khách quan vị thế và phương thức ứng xử để quốc gia - dân tộc có thể trường tồn và phát triển. Trong số các dân tộc Bách Việt miền nam sông Dương Tử, chỉ có Việt Nam là không bị đồng hóa bởi văn minh Hán, dù phải trải qua hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Không có ngoại lệ, trong tất cả các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đều chiến thắng, dù đó là Tần, Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh hay Pháp, Mỹ. Từ rất sớm, người Việt đã chinh phục được Biển Đông, làm chủ được Hoàng Sa - Trường Sa. Giữ vị trí giao điểm của các luồng văn minh, Việt Nam xưa nay luôn là mảnh đất dừng chân, lập nghiệp và hội tụ của nhiều tôn giáo, nhiều phương thức sống, nhiều dạng văn minh. Văn minh Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh, văn minh Đại Việt từ Đinh, Lê đến tận thế kỷ XX, trong tương quan với các nền văn minh - văn hóa bên ngoài đương thời, đều không hề thua kém về trình độ phát triển. Nhìn lại lịch sử, có thể thấy các thế hệ trước đã xử lý rất hiệu quả nhân tố đặc thù văn hóa địa - chính trị ngặt nghèo này. Những bài học kinh nghiệm phong phú về việc khơi dậy và phát huy tiềm năng “sức mạnh mềm” đã một phần được ghi lại trong sử sách. Việc tìm kiếm những gợi ý thông minh cho hiện tại và tương lai là trách nhiệm phải đúc kết của thế hệ hôm nay. 3. Bài học kinh nghiệm về việc khơi dậy và phát huy tiềm năng “sức mạnh mềm”, gợi ý tìm phương thức phát triển cho tương lai, mà thế hệ hôm nay có trách nhiệm phải đúc kết, trước hết và cũng rất căn bản là bài học về phương diện văn hóa. Cùng với vị thế địa chiến lược quan trọng, Việt Nam còn có cả một bề dày văn hóa đã được tạo dựng và tôi luyện qua hàng nghìn năm lịch sử và cũng vừa mới sử dụng trong gần trọn thế kỷ XX. Bài học từ quá khứ còn nóng hổi. Chủ nghĩa yêu nước sâu sắc, bền bỉ, ý chí “không có gì quý hơn độc lập, tự do” (Hồ Chí Minh), tư tưởng “vì Dân” (Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh), tinh thần “lấy nhân nghĩa thắng hung tàn” (Nguyễn Trãi), sách lược “dĩ bất biến ứng vạn biến” (Hồ Chí Minh),... là những sức mạnh văn hóa có thực nếu thế hệ hôm nay biết tôn trọng, khai thác và vận dụng. Với tính cách là thành phần quan trọng của “sức mạnh mềm”, những nét đặc thù văn hóa nói trên có khả năng thúc đẩy sự phát triển. Ở những phẩm chất lớn của con người, tinh thần hiếu học, lòng yêu nước, khả năng sáng tạo, đức tính cần cù, yêu lao động,… là những phẩm chất như vậy. Bài học kinh nghiệm từ những năm đầu thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế là bài học về phát huy tiềm năng văn hóa còn tiềm ẩn trong xã hội, giải phóng con người, mạnh dạn xóa bỏ những khuôn thước cứng nhắc, lấy dân - hợp lòng dân, hạnh phúc của người dân làm gốc, coi thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo cho hành động. Trong bối cảnh phức tạp của sự nghiệp bảo vệ chủ quyền đất nước hiện nay, những nét đặc trưng của tinh thần dân tộc cần phải tính đến là sức mạnh của nhân dân, là ý chí của dân tộc, là lòng yêu nước của mỗi người, là tính chính nghĩa của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc,... Đó chính là “sức mạnh mềm” trong chiến lược bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bên cạnh sức mạnh quân sự, chính trị. Bài học về “sức mạnh mềm” đầu tiên của các cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc là, nhân tố con người bao giờ cũng mạnh hơn vũ khí. Với vị thế địa - chính trị đặc biệt của mình, cùng với những kinh nghiệm văn hóa đối ngoại đầy bản lĩnh, Việt Nam hôm nay được coi là đối tác quan trọng của nhiều cường quốc và của cộng đồng quốc tế. Nhân tố Việt Nam được tính đến trong chiến lược của tất cả các cường quốc. Tinh thần dân tộc được đúc rút từ kinh nghiệm máu xương của những cuộc chiến tranh vệ quốc thiêng liêng, lòng khát khao hòa bình và phát triển của Việt Nam hôm nay chắc chắn sẽ là sức mạnh to lớn để bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước, độc lập dân tộc, góp phần giữ gìn hòa bình và an ninh ở khu vực và thế giới. Với nền văn hóa có bề dày truyền thống hàng nghìn năm, với tiềm năng con người được đánh giá là tích cực, người Việt Nam ngày nay bằng những phẩm chất văn hóa thông minh và sáng tạo, dũng cảm và bản lĩnh, hiếu học và cần cù, khoan dung và nhân hậu,… chắc chắn sẽ vượt qua những khó khăn, thách thức hiện thời, cùng nhau xây dựng đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” để “sánh vai với các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ. Đó là “sức mạnh mềm” Việt Nam./.

Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

 


+ Tín ngưỡng, tôn giáo mang tính quần chúng, nhưng ở cấp độ tâm lý tôn giáo, có tính dung hợp, đan xen, hòa đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các vị thần, thánh, của tôn giáo khác. Hành vi tôn giáo ít nhiều mang tính thực dụng và theo tính cổ truyền truyền thống. Tâm lý tôn giáo không chỉ sâu đậm trong những tín đồ tôn giáo mà còn cả trong những số đông những người không theo tôn giáo.

+ Các tôn giáo chính có ảnh hưởng lớn trong xã hội đều du nhập từ bên ngoài vào và nhiều ít được “Việt hóa”. Ngoài tín ngưỡng truyền thống và tàn dư tín ngưỡng nguyên thủy gắn với đời sống tâm linh của người Việt, các tôn giáo du nhập vào Việt Nam, dù “tự nhiên” như Phật Giáo hay “áp đặt” như Thiên Chúa giáo vẫn hòa quyện với văn hóa dân tộc, tạo nên một nền văn hóa thống nhất nhưng đa diện, phong phú. Ở một số thời điểm lịch sử nhất định, giữa các tôn giáo ở nước ta cũng có sự “bất hòa” do các thế lực thực dân, đế quốc âm mưu chia rẽ tôn giáo để thực hiện ý đồ chính trị. Song nhìn chung tôn giáo ở Việt Nam có sự hòa hợp, chung sống hòa bình. Các  tín đồ dù thuộc tôn giáo nào đều có chung mục đích sống “tốt đời, đẹp đạo’ tích cực góp phần vào sự nghieẹp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền được thông tin của người dân

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam chú trọng, bởi đây là một trong những quyền cơ bản của con người. Thế nhưng thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật về việc thực hiện các quyền dân sự, chính trị nói chung và quyền tiếp cận thông tin nói riêng ở Việt Nam. Trên một số trang mạng thiếu thiện chí có kẻ cho rằng Việt Nam "bóp nghẹt", "bưng bít" thông tin; “cản trở các quyền tự do biểu đạt, chính kiến và ngôn luận"... của người dân. Thậm chí trên trang mạng của RFA còn hồ đồ phán rằng: “bưng bít thông tin là nguyên tắc của Chính phủ Việt Nam...”. Cần khẳng định ngay rằng giọng điệu trên là bịa đặt vô căn cứ, trắng trợn xuyên tạc việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị nói chung và quyền được thông tin ở Việt Nam nói riêng. Hành động ấy lộ rõ ý đồ, động cơ chính trị không trong sáng đối với Việt Nam. Sự thật bảo đảm quyền được thông tin của người dân ở Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái ấy. Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân được thông tin; khai thác, sử dụng internet để tiếp cận thông tin nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện các quyền tự do cơ bản của nhân dân. Theo tinh thần ấy, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về bảo đảm quyền được thông tin của người dân. Những thành tựu ấy trước hết được thể hiện ở việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã sửa đổi và ban hành mới nhiều văn bản luật nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được thông tin của người dân, trong đó có những luật, nghị định như: Luật Báo chí 2016; Luật Tiếp cận thông tin 2016; Luật An ninh mạng 2018; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”... Tất cả những văn bản luật ấy đều tuân thủ nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, theo đúng Hiến pháp năm 2013, vừa bảo đảm quyền tiếp nhận thông tin, vừa bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong bảo vệ bí mật Nhà nước, chống việc lộ, lọt bí mật thông tin. Nghị định số 72/2013/NĐ-CP xác định chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân ở các vùng khó khăn có thể sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng vào việc tìm kiếm và tiếp cận thông tin. Trước sự phát triển mạnh mẽ của internet và mạng điện tử, vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là một nhiệm vụ quan trọng, tất yếu. Luật An ninh mạng xác định nguyên tắc pháp quyền của Nhà nước ta, đồng thời tôn trọng và bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền được tiếp cận thông tin. Đối với các trang mạng đang hoạt động tại Việt Nam, Luật An ninh mạng cũng có các quy định rất rõ ràng, cụ thể. Bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng theo Luật An ninh mạng dựa trên thông lệ quốc tế không cản trở quyền được thông tin của người dân và cũng không cản trở hoạt động của các doanh nghiệp mạng đang triển khai dịch vụ ở Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc công bố tại hội thảo tổ chức ngày 3-12-2018. Theo đó, Việt Nam đang là một trong những nước có tốc độ phát triển internet nhanh nhất thế giới, với trên 50 triệu người dùng internet... Chính phủ Việt Nam đã triển khai hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp thông qua Cổng thông tin điện tử Chính phủ, xây dựng và công bố công khai hằng năm Chỉ số cải cách hành chính của các cơ quan hành chính Nhà nước và Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước. Trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Chính phủ Việt Nam đã thành lập Ủy ban quốc gia, đẩy nhanh tiến độ xây dựng “Chính phủ điện tử”; cổng thông tin điện tử của các cơ quan Nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ công trực tuyến, để cán bộ, cơ quan, tổ chức đối thoại trực tiếp với nhân dân; để người dân thông qua mạng internet có thể bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, gửi ý kiến tới Đảng, chính quyền nhằm nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận phản ánh thông tin, kiến nghị của người dân. Thực tế cho thấy số người dùng internet, MXH để bày tỏ chính kiến, tổ chức các diễn đàn thảo luận, phản biện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gửi các góp ý, kiến nghị đến các cơ quan chức năng ở Việt Nam ngày càng tăng. Nhiều thông tin từ MXH đã được các cơ quan chức năng, các cấp chính quyền kiểm tra, xác minh và xử lý kịp thời. Nhằm bảo đảm quyền được tiếp nhận thông tin của người dân, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, trong đó có việc phát triển báo chí, truyền thông. Để tăng cường tính công khai, minh bạch thông tin, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế về cơ chế phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo các quy định của pháp luật và hoạt động báo chí hiện hành... Được Đảng, Nhà nước quan tâm, báo chí cách mạng nước ta đã có sự phát triển nhanh chóng và toàn diện, ngày càng thể hiện rõ vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là diễn đàn xã hội rộng rãi để phát huy dân chủ; là người bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân... Không chỉ tăng nhanh về số lượng các cơ quan báo chí, các chương trình phát thanh, truyền hình và công nghệ làm báo, chất lượng các xuất bản phẩm ngày càng đổi mới cả về nội dung, hình thức thể hiện. Đội ngũ những người làm báo có sự phát triển, trưởng thành trên nhiều mặt. Đặc biệt, định hướng phát triển báo chí theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện đã tạo ra khả năng to lớn cho việc truyền tải thông tin của các cơ quan báo chí, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền được thông tin và tiếp nhận thông tin của nhân dân. Sự phát triển nhanh của các phương tiện thông tin đại chúng và internet cho thấy quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin ở Việt Nam đã có bước cải thiện, phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, cũng như mọi quốc gia trên thế giới, luật pháp Việt Nam quy định hạn chế quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin và tiếp cận thông tin trong một số trường hợp, phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, nhằm tôn trọng các quyền hợp pháp và chính đáng, uy tín, danh dự của người khác; nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng và đạo đức của xã hội. Những trường hợp mà một vài trang mạng dẫn ra để nói rằng Việt Nam vi phạm quyền tự do thông tin, thực chất họ đã vi phạm pháp luật Việt Nam. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam mọi hành vi cản trở, đe dọa đến quyền được thông tin, quyền tự do tiếp cận thông tin; lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin để xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của tổ chức, cá nhân; gây tổn hại đến uy tín, danh dự của người khác; xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức và sức khỏe cộng đồng... tùy vào tính chất, mức độ đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chúng ta cũng khách quan thừa nhận rằng, việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần sớm được khắc phục. Đáng lưu ý là việc thực hiện Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ở một số bộ, ngành, địa phương chưa tốt. Còn có biểu hiện cán bộ được phân công phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí sợ trách nhiệm, đùn đẩy cho người không có thẩm quyền hoặc viện dẫn nhiều lý do để từ chối cung cấp thông tin. Một số cán bộ được phân công cung cấp thông tin còn thiếu kỹ năng phát ngôn, chưa tìm hiểu sâu kỹ vấn đề, vụ việc, nên chưa đáp ứng được yêu cầu của báo chí và dư luận. Sự phối hợp giữa người phát ngôn với bộ phận chức năng chuyên sâu chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng thông tin cung cấp chưa kịp thời và thiếu rõ ràng. Việc điều tra, xử lý những đối tượng vi phạm quyền được thông tin của người dân, tung tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi xấu, gây ảnh hưởng tới danh dự, uy tín của tập thể, cá nhân... chưa kiên quyết, kịp thời; chế tài xử phạt chưa đủ mạnh... Mặc dù còn những hạn chế, nhưng những thành quả của Việt Nam trong bảo đảm quyền được thông tin của người dân là rất cơ bản và không thể phủ nhận. Những tiến bộ đó đã được dư luận quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nỗ lực phát huy những thành quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại, hạn chế. Mặt khác, Việt Nam kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc, bóp méo sự thật về bảo đảm quyền con người nói chung và quyền được thông tin, tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam nói riêng./.

Việt nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo

 


Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, hiện nay ở nước ta có 16 tôn giáo với 43 tổ chức giáo hội, với hơn 24 triệu tín đồ, chiếm gần 27% dân số cả nước. Mỗi tín ngưỡng tôn giáo ở nước ta có quá trình hình thành, phát triển mang những dấu ấn lịch sử tín ngưỡng và giáo lý khác nhau. Các tín ngưỡng bản địa hình thành, phát triển từ rất sớm gắn liền với đời sống xã hội, ăn sâu, bám rễ trở thành nét văn hóa của người Việt như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ thần, thờ mẫu, thờ Thành hoàng… Cùng với tín ngưỡng, các tôn giáo ở nước ta cũng rất đa dạng, có tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào (Phật giáo, Công giáo, Đạo Hồi, Tin Lành), có tôn giáo nội sinh (Cao Đài, Hòa Hảo…) tạo nên bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo nhiều màu sắc phong phú, đa dạng.

Phật giáo, du nhập vào Việt Nam (khoảng thế kỷ thứ I sau Công nguyên) từ Trung Quốc, Ấn Độ, được người Việt tiếp nhận rất tự nhiên và phát triển trở thành tôn giáo mang tính phổ biến, rộng rãi. Phật giáo phát triển cực thịnh, trở thành “quốc đạo” vào thời Lý - Trần, nhưng suy giảm vào cuối thời Hậu Lê. Từ đầu thế kỷ XX đến nay, Phật giáo có sự phục hồi phát triển trên địa bàn cả nước, với nhiều tông phái khác nhau.

Công giáo du nhập vào nước ta từ thế kỷ XVI, bởi các nhà truyền giáo phương Tây, nhưng chỉ thực sự phát triển từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Vì thế, quá trình tồn tại, phát triển, hoạt động của Công giáo Việtt Nam luôn chịu sự ảnh hưởng và bị các thế lực thù địch, phản dộng lợi dụng, chi phối.

Tin lành vào Việt Nam từ năm 1911, do Liên Hiệp Phúc âm và Truyền giáo Mỹ tiến hành. Quá trình phát triển của Đạo Tin lành gắn liền với sự can thiệp xâm lược của Mỹ, nên bị chi phối bởi những mục đích chính trị của Mỹ. Hiện nay đạo Tin lành phát triển mạnh ở các vùng dân tộc Tây Nguyên, Tây Bắc với nhiều nhánh, phái khác nhau.

Đạo Hồi vào nước ta từ thế kỷ thứ XVI, chủ yếu trong người Chăm với hai dòng chính là Chăm Bà Ni ở Ninh Thuận và Chăm IxLam ở An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hai tôn giáo nội sinh là Đạo Cao Đài do Lê Văn Chiêu sáng lập năm 1925 và Phật giáo Hòa Hảo do Huỳnh Phú Sổ sáng lập năm 1939. Ngoài ra, ở nước ta còn có nhiều tổ chức tôn giáo khác cũng đang hình thành, biến đổi, phát triển.

Quan điểm của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo qua các văn kiện quan trọng

 


Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng, Nhà nước, nhất là trong thời kỳ đổi mới đến nay, được thể hiện trên nhiều văn kiện quan trọng như: Cương lĩnh chính trị, Nghị quyết chuyên đề và nghị quyết các kỳ đại hội của Đảng, các chỉ thị, luật, các pháp lệnh…, trong đó gắn vấn đề tôn giáo với QP-AN, được tập trung vào các văn  kiện uan trọng sau:

- Văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng, nhất là Đại hội XII, XIII.

- Nghị quyết số 24 - NQ/TW ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.

- Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban chấp hành trung uơng Khoa IX về công tác tôn giáo.

- Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo số 21/2004/PL - UBTVQH11, tháng 6/2004

- Hiến pháp nước CHXHCNVN (2013)

- Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14

Trên các văn kiện, nhiều quan điểm, chính sách về tôn giáo và chỉ đạo công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước đã được đổi mới về căn bản và mang tính “đột phá”, lần đầu tiên được Đảng ta đưa ra. Đó là các quan điểm: tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và là vấn đề còn tồn tại lâu dài; đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới; nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng; công tác tôn giáo là trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn dân và kiên quyết đấu tranh chống các thế lực phản động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng. Như vậy, có thể thấy, quan điểm của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo đã chuyển chủ yếu từ nhận thức tôn giáo là chính trị, là nhạy cảm, tiêu cực, là địch lợi dụng tôn giáo, sang tôn giáo là nhu cầu của nhân dân, là lực lượng quần chúng của Đảng và tôn giáo có những giá trị tích cực. Nhận thức của Đảng về tôn giáo như vậy là khách quan và toàn diện hơn so với trước đây. Đó là những căn cứ quan trọng của đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo gắn với quốc phòng an ninh.