Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

Các tôn giáo ở Việt Nam kể cả tôn giáo ngoại nhập đều biến đổi phù hợp với trình độ phát triển kinh tế- xã hội, nhất là truyền thống của văn hoá dân tộc Việt Nam

 


Lịch sử trước đây cũng như hiện nay cho thấy, các tôn giáo khi vào Việt nam muốn trụ lại và phát triển đều phải biến đổi ít nhiều cho phù hợp với truyền thống dân tộc, với nền tảng văn hóa bản địa như phong tục, tập quán, tâm lý…của quốc gia – dân tộc nói chung, văn hóa các tộc người nói riêng. Ngoài ra trong quá trình hình thành và phát triển của mình, các tôn giáo lớn đều thích ứng với lợi ích khác nhau của các giai tầng xã hội, với sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng để tìm ra một tiếng nói chung, nhằm tôn vinh ý nghĩa “tốt đời, đẹp đạo”

Biểu hiện:

-Dân tộc và tôn giáo gắn kết với nhau trên cơ sở cộng đồng lãnh thổ

Ở Việt Nam khi mà phần lớn các tộc người và các tôn giáo đan xen, ít có tộc người nào, tôn giáo nào có lãnh thổ riêng biệt. Điều này là một trong những thuận lợi trong xây dựng, bảo vệ lãnh thổ cộng đồng lãnh thổ chung quốc gia cũng như xây dựng khối đoàn kết lương giáo, đoàn kêt toàn dân. Tuy nhiên đặc điểm này nếu không được sử lý tốt sẽ dẫn tới mất đoàn kết các tộc người theo tôn giáo khác nhau khi họ sống trên cùng một địa bàn.

- Dân tộc và tôn giáo gắn kết về cộng đồng ngôn ngữ

Phần lớn các tộc người ở Việt Nam theo các tôn giáo lớn (Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo…) đều lấy tiếng Việt là ngôn ngữ chính thống trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của mình. Chỉ có một số tộc người thiểu số có sử dụng ngôn ngữ của tộc người mình trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng

-Dân tộc và tôn giáo gắn kết với nhau về cộng đồng văn hóa

Các tôn giáo có giáo lý, cách tu tập khác nhau, nhưng luôn thấm đẫm bản sắc văn hóa của người Việt Nam trong ăn, ở, sinh hoạt, tập tục

Ví dụ: Tiêu biểu như cách thờ phụng. Những người theo tôn giáo khác nhau có thể sống chung trong một làng, 1 dòng họ, thậm chí một gia đình (tiếng trống Đình làng, tiếng chuông nhà thờ hoà quyện với tiếng mõ chùa là nét đặc trưng của sự ôn hoà). Người Việt Nam dù theo tôn giáo nào cũng giữ được bản sắc dân tộc. Người Việt nam không xa cách đối tượng mình thờ phụng, vì họ tin là người giúp mình. Thần thánh của các tôn giáo, tổ tiên cùng huyết thống cũng chỉ là người dẫn đường, nêu gương cho bản thân noi theo để giữ đạo làm người. Với tầng lớp có quyền thế tôn giáo vào Việt Nam giúp họ củng cố vương quyền, suy tôn vua là con trời hành đạo, là cha mẹ dân. Với người dân, tôn giáo là phương thức giúp họ điều chỉnh hành vi “ăn, ở” sao cho phải đạo, hợp lẽ trời, thoả mãn nhu cầu trần tục và thế giới mai sau “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”

-Ngày nay, các tôn giáo luôn có ý thức “cải tạo giáo hội” theo chiều hướng ngày càng đồng hành cùng dân tộc. Các tôn giáo có xu hướng nhập thế để phù hợp với hiện thực xã hội ngày nay (ít lễ lạy hơn; hướng vào lao động sản xuất…)

Đúng như tinh thần của Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam đã nêu ra: Ý thức mình là con cháu Lạc Hồng để đều là chủ nhân của đất nước. Ai cũng muốn đất nước mình, Tổ quốc mình thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, hội nhập với thế giới với tấm căn cước sang giá”

Như vậy có thể khẳng định trong lịch sử cũng như hiện nay, ở Việt Nam các tôn giáo (dù nội sinh hay ngoại nhập) luôn tự phải biến đổi mình để thích nghi, tồn tại. Sự vận động biến đổi của mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo gắn chặt với sự vận động và biến đổi của tồn tại xã hội. Trong điều kiện hiện nay, do tác động của kinh tế thị trường, toàn cầu hoá, quan hệ dân tộc và tôn giáo có những điểm khác biệt so với trước. Chính sự khác biệt đó là cơ sở để chúng ta nghiên cứu nhằm bổ sung lý luận về tôn giáo và hoạch định chính sách về quản lý tôn giáo theo phương châm “tôn giáo đồng hành cùng dân tộc” phù hơp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá của dân tộc.

Các tôn giáo ở Việt nam đồng hành cùng dân tộc, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân với phương châm “tốt đời đẹp đạo”

 


Trong lịch sử cũng như hiện tại nhìn chung, các tôn giáo ở Việt Nam có truyền thống gắn bó chặt chẽ với dân tộc, đồng hành cùng dân tộc, gắn đạo với đời. Mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo đều đoàn kết góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sinh thời, khi đề cập về mối quan hệ hữu cơ giữa dân tộc và tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Chỉ khi nào dân tộc được giải phóng, đất nước được độc lập thì tôn giáo mới được tự do, các giáo sỹ người Việt Nam mới thật sự được hưởng hạnh phúc, không bị phân biệt đối xử.

Tháng 1 năm 1946, khi nước ta đang đứng trước nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược một lần nữa, Người nhấn mạnh: Nước có độc lập thì dân mới thực sự tự do tín ngưỡng. Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do nên chúng ta phải làm cho nước được độc lập đã. Và “Nước có độc lập, thì đạo phật mới dễ mở mang”1[1]

Tôn giáo tồn tại cùng dân tộc và còn tồn tại lâu dài. Tuy nhiên tôn giáo chỉ có thể phát huy những giá trị tốt đẹp của mình khi đồng hành cùng dân tộc, do đó trên con đường phát triển của dân tộc phải biết khai thác, chắt lọc những giá trị tích cực của tôn giáo. Phương châm “Kính chúa yêu nước” của Công giáo, “Nước vinh, đạo sáng” của đạo Tin Lành, hay “Đạo pháp dân tộc – chủ nghĩa xã hội” của Phật Giáo…đã được Hồ Chí Minh nhắc lại nhiều lần khi nói về mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo, đồng thời là nguyên tắc để Đảng và Nhà nước ta giải quyết hài hòa, biện chứng mối quan hệ dân tộc và tôn giáo trong các thời kỳ cách mạng của đất nước.

Tuy nhiên trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam không phải lúc nào cũng “thuận buồm xuôi gió”. Khi chủ nghĩa thực dân, đế quốc lợi dụng tôn giáo như một “phương tiện” để áp bức dân tộc Việt Nam, hay khi một số tín đồ, chức sắc tôn giáo không đồng hành cùng dân tộc, những xung đột mâu thuẫn giữa dân tộc và tôn giáo nảy sinh.

Mâu thuẫn này chỉ từng bước được giải quyết khi dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, độc lập dân tộc đã được thực hiện, tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo được tôn trọng.

Đảng và Nhà nước nhất quán lấy nguyên tắc đoàn kết toàn dân tộc trong hoạch định, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo. Mọi chính sách pháp luật về tôn giáo phải quán triệt nguyên tắc đoàn kết và xuất phát từ lợi ích chung của cả dân tộc, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích vật chất và tinh thần của toàn dân làm mẫu số chung.

Bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH và nhất là hơn 30 năm đổi mới, quan hệ dân tộc và tôn giáo ở nước ta nhìn chung được phát triển theo chiều hướng tích cực và về cơ bản không dẫn đến “xung đột” như ở nhiều nước trên thế giới hiện nay. Trên cơ sở khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH, Đảng ta chỉ rõ, đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào không theo tôn giáo và đồng bào theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hóa đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên có nơi, có lúc, do nhận thức hoặc do thực hiện chưa đúng, các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo nên vẫn còn những mâu thuẫn phát sinh. Các mâu thuẫn này cần được nhận diện để tiếp tục giải quyết nhằm: một mặt phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo; mặt khác giữ vững sự ổn định chính trị và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân để phát triển đất nước bền vững theo định hướng XHCN.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2001, t5, tr 228

Suy cho cùng, tôn giáo chịu sự chi phối, quyết định của những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của dân tộc song tôn giáo tác động trở lại dân tộc, có thể đồng hành cùng dân tộc hoặc cản trở sự phát triển của dân tộc

 


-Tôn giáo đồng hành cùng dân tộc khi dân tộc có chính trị, kinh tế, văn hóa… tiến bộ, luôn quan tâm, tạo điều kiện cho tôn giáo, hành đạo

Xu hướng tôn giáo đồng hành cùng dân tộc khi một tôn giáo nào đó có đường hướng hành đạo tiến bộ, có cách thức tu tập phù hợp truyền thống văn hoá của dân tộc, có đội ngũ tu trì chân chính…

Ví dụ: Trường hợp phật giáo ở Việt Nam thời Lý - Trần hay đạo do thái người Ixraen

Theo xu hướng đó, tôn giáo có thể làm giàu các chuẩn mực đạo đức, làm phong phú các giá trị văn hoá, góp phần hình thành nên một lối sống cao đẹp của dân tộc, thậm chí còn là những dự cảm, có thể nâng cao trình độ tư duy của một dân tộc nào đó.

-Tôn giáo xung đột, cản trở sự phát triển của dân tộc, khi tôn giáo có đường hướng hành đạo không tiến bộ, hoặc các tôn giáo trong một quốc gia dân tộc mâu thuẫn với nhau.

Các tôn giáo có thể xung đột với dân tộc, cản trở sự phát triển của dân tộc. Vì sao? Vì ba lý do:

 Thứ nhất, suy cho cùng, thế giới quan tôn giáo không khuyến khích tư duy sáng tạo, tư duy khoa học; hơn thế nữa tôn giáo có vai trò cố kết cộng đồng cùng đức tin.

Thứ hai, phần lớn trên thế giới, các quốc gia, dân tộc là những quốc gia, dân tộc đa tôn giáo, do tính cục bộ vốn có, nếu như quốc gia dân tộc, không quản lý tốt các tôn giáo, có thể diễn ra xung đột, thậm trí chiến tranh giữa các tôn giáo, gây hậu quả tiêu cực cho con người, xã hội.

Thứ ba, trong một số trường hợp tôn giáo có thể bị các thế lực chính trị phản động lợi dụng để chống lại dân tộc.

Như vậy, Trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ dân tộc và tôn giáo là vấn đề hết sức phức tạp. Việc giải quyết mối quan hệ này như thế nào có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định chính trị và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo.

Sự tiếp biến tôn giáo diễn ra dưới tác động của những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nhất định của dân tộc

 


Lịch sử phát triển của các tôn giáo cho thấy, hầu hết các hình thức tôn giáo ra đời và phát triển đều phải biến đổi trên cơ sở kế thừa và vay mượn các chất liệu có sẵn trong đời sống của cộng đồng dân tộc, bởi vì tôn giáo có nguồn gốc từ xã hội hiện thực. Với các tôn giáo ngoại nhập cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Muốn du nhập và phát triển vào cộng đồng dân tộc nào đó, bản thân tôn giáo đó cũng phải tự biến đổi, tự thích nghi với đặc điểm, truyền thống văn hóa của dân tộc. Chính việc bị chi phối bởi văn hóa bản địa để tồn tại đã làm nảy sinh hiện tượng cùng một tôn giáo nhưng ở mỗi cộng đồng, dân tộc, quốc gia khác nhau lại có những hiện tượng khác nhau. Chẳng hạn, sự biểu hiện đa dạng của đạo Phật, đạo Tin Lành trên thế giới là một ví dụ.

Trên cơ tầng văn hoá của mỗi dân tộc, nhiều tôn giáo khác nhau có thể cùng tồn tại mà ít xuất hiện những xung đột, thậm chí còn tồn tại trong thế “hoà nhi bất đồng” (chung sống hoà bình - như kiểu tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam”. Ví dụ Đạo Cao Đài ở Việt Nam. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, Đạo Cao đài xuất hiện ở Nam Bộ, trở thừnh tôn giáo có tính khu vực, với tên “Cao Đài Đại đạo Tam kỳ phổ độ” gọi tắt là đạo Cao Đài. Xuất phát từ nguồn gốc ra đời, trong hoàn cảnh nô dịch, bóc lột của Thực dân Pháp, làm cho đời sống nông dân đến cùng cực, đã xuất hiện nhiều đạo(đạo Lành, đạo Minh sư, đạo trưởng, đạo dừa, đạo ngồi…các đạo này mục đích cũng là cứu oan cứu khổ cho chúng sinh, tuy nhiên đều không giải thoát được nỗi khổ cho chúng sinh, từ đó đã thúc đẩy số đông nông dân ở Nam bộ tìm đén một tôn giáo mới. Cốt lõi của đạo Cao Đài là tín ngưỡng “cầu hồn, cầu tiên” của Lão giáo đã tồn tại từ trước ở vùng này, kết hợp với tín ngưỡng “thần linh học” từ phương Tây tràn sang, hình thành tín ngưỡng “Cầu cơ chắp bút”, gọi là “cơ bút”. Tín ngưỡng này phát triển trong một bộ phận trung lưu ở Nam bộ từ năm 1920, mạnh nhất vào những năm 1924-1926. (có khoảng 50 vạn tín đồ). Giáo lý đạo Cao đài là: “Cao đài đại đạo Tam kỳ Phổ độ”. Cao đài: Đài cao thờ phụng thượng đế (là biến tướng của quan niệm niết bàn ở Phật giáo, thiên đường ở Ky tô giáo). Trị vì cao đài là Cao đài tiên ông đại bồ tát Ma-ha-tát. Đại đạo:Là đạo lớn gồm tất cả các đạo: nhân đạo (khổng tử), thần đạo (thờ thần), Thánh đạo (giê su), Tiên đạo (lão tử), Phật đạo (thích ca). Ngày nay con người hiểu biết nhau và do các đạo xung khắc nên đấng tối cao phải tổng hợp các đạo lại trong một đạo lớn. Tam kỳ:Là khoảng thời gian đấng tối cao đưa các đạo lớn xuống cứu hộ con người (3 lần). Phổ độ: Danh giới giữa mê muội với giác ngộ. Trung tâm giáo lý của cao đài là “tam giáo ngũ chi” Phật giáo (từ bi), Nho giáo (công bằng), lão giáo (bác ái). Từ “tam giáo” đẻ ra “ngũ chi đạo” (Phật, tiên, thánh, thần, Nhân đạo). Tam giáo đồng nguyên có trước khi có đạo Cao đài. Về thờ phụng, trong điện thờ cao nhất là Thượng Đế, tượng trưng bằng con mắt (thiên nhãn), dưới thiên nhãn  tam giáo (phật, nho, lão) và ngũ chi đạo: Quan âm, Lý Thái Bạch, Quan Thánh, Giê su và Khương Thái Công.. Lễ phục của tín đồ màu trắng; chức sắc theo từng nghành (vàng- Phật), (đỏ- Nho), (xanh- Lão) được cắt may cầu kỳ theo phẩm phụch các vua quan phong kiến.

Nhưng cũng có thể biến thành các hình thái khác, tuy xuất phát từ một gốc nhưng lại có nhiều khác biệt kể cả trong tín lý, cách tu tập. Chẳng hạn đạo Phật vốn là một tôn giáo có tính nhập thế nhưng khi du nhập vào Việt Nam, do những đặc điểm yêu cầu của dân tộc, tôn giáo này lại có tính nhập thế cao hơn. Hay nho giáo, nếu xem nó là một tôn giáo, cũng thấy có những khác biệt khi nhập thế vào Việt Nam. Nhìn chung nho giáo ở Việt Nam ít khắt khe hơn Nho giáo ở Trung Quốc, nhất là trong cách nhìn nhận về vai trò của người phụ nữ.

Ngày nay bên cạnh xu hướng toàn cầu hoá về mọi mặt của đời sống xã hội đang diễn ra mạnh mẽ, xu hướng đề cao lòng tự tôn dân tộc đang tác động đến đời sống tôn giáo thế giới. Toàn cầu hoá đã phá vỡ tính độc tôn của một tôn giáo trong từng quốc gia, kể cả quốc gia đã từng bị thống trị bởi một tôn giáo độc thần, do vậy, nó cũng đem đến cho nhiều tôn giáo giấc mơ bao trùm thế giới. Xu thế đó làm xuất hiện xu thế dân tộc hoá tôn giáo- trở về với tôn giáo truyền thống. Trong xu thế này, các tôn giáo truyền thống hay tôn giáo dân tộc được xem là chỗ dựa, là vũ khí để bảo vệ bản sắc dân tộc trước sự uy hiếp của các tôn giáo thế giới đang được các thế lực chính trị sử dụng như một vũ khí để đồng hoá văn hoá. Đứng ở vị trí này, các tôn giáo truyền thống hay tôn giáo dân tộc vẫn tiếp tục giữ vai trò làm “màng bọc” để dân tộc hoá các tôn giáo ngoại nhập.

MỖI CHÚNG TA CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VN HIỆN NAY

 

 

Các thế lực thù địch thời gian qua, thường xuyên tung những luận điệu xuyên tạc cho rằng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng là một nền KTTT "méo mó, không giống ai". Thế nhưng, thực tiễn cho thấy nền kinh tế thị trường tại Việt Nam mà họ tìm mọi cách phủ nhận ấy lại đang là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới; mặc dù đại dịch Covid-19 đang hành hoành làm nền kinh tế ở hầu hết các quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng.


Quá trình ra đời, phát triển của tôn giáo gắn liền với sự biến động của cộng đồng tộc người, dân tộc, quốc gia trong lịch sử

 


-Tôn giáo với tư cách là tôn giáo của một dân tộc  

          Tôn giáo chỉ ra đời khi trình độ nhận thức của con người và xã hội loài người đã phát triển đến một trình độ nhất định. Nghĩa là khi con người sống cùng nhau với tư cách là một dân tộc.  PhĂng ghen viết: “Tôn giáo sinh ra trong một thời đại hết sức nguyên thủy…Do đó những khái niệm tôn giáo ban đầu ấy, thường chung cho mỗi tập đoàn, những dân tộc cùng dòng máu”1. Sự xuất hiện của nhà nước quốc gia đã kéo theo sự thay đổi trong đời sống tôn giáo của cộng đồng, đánh dấu bằng sự ra đời của các tôn giáo dân tộc. Buổi ban đầu của thời kỳ này, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có chung một tôn giáo và coi nó như là chính thống, chi phối tâm linh, làm nền tảng tinh thần và góp phần xây dựng bản sắc riêng của cộng đồng. Phng ghen chỉ rõ: “Những vị thần được tạo ra…ở mỗi dân tộc là những vị thần dân tộc; lĩnh vực chi phối của các vị thần đó không vượt qua biên giới của lãnh thổ dân tộc mà các vị thần ấy phải bảo vệ, và ngoài biên giới đó thì do các vị thần khác tiến hành một sự thống trị không ai tranh giành được. Tất cả các vị thần ấy chỉ có thể tiếp tục tồn tại trong trí tưởng tượng chừng nào dân tộc tạo ra các vị thần ấy còn tồn tại; khi dân tộc đó tiêu vong thì các vị thần ấy cũng tiêu vong theo”2.

          Ví dụ: Sự ra đời của đạo Hindu, đạo Do Thái và nhiều tôn giáo khác.

-Tôn giáo với tư cách là tôn giáo của cộng đồng xã hội (nhiều dân tộc)

          Khi lịch sử có những thay đổi lớn, đôi khi là do các cuộc chiến tranh, các cuộc di cư tìm miền đất hứa đã làm thay đổi sâu sắc diện mạo nhân loại, lúc này dân tộc được mở mang. Khi dân tộc mở rộng, thì tôn giáo theo dân tộc, tôn giáo cũng mở rộng. Nhưng tôn giáo mở rộng không bó hẹp trong khuôn khổ quốc gia, mà quá trình mở rộng của tôn giáo bằng nhiều con đường: Từ chiến tranh, từ dân di cư, từ truyền đạo của các nhà truyền đạo, tôn giáo sẽ mở rộng phạm vi lãnh thổ (xét theo nghĩa đích thực: tôn giáo không có lãnh thổ cố định). Trong bối cảnh đó, đã hình thành các tôn giáo có tính khu vực và thế giới.

Ví dụ đạo Ki tô, đạo Phật. Ngược lại với những biến cố trên cũng đã làm mất đi nhiều quốc gia – dân tộc, kéo theo là sự lụi tàn tôn giáo của các quốc gia dân tộc đó.

Như vậy, theo dòng lịch sử, sự ra đời và tiêu vong của các hình thái tôn giáo gắn liền với số phận của các cộng đồng tộc người, dân tộc, quốc gia. Sự tiêu vong của các thị tộc, bộ lạc kéo theo sự tiêu vong hay biến dạng của các hình thái tôn giáo tương ứng và sự ra đời của các tôn giáo dân tộc. Đến lượt mình những tôn giáo dân tộc lại bị mất đi với sự tiêu vong của một số dân tộc, cùng với quá trình đó là sự bành trướng tôn giáo của một dân tộc thành tôn giáo khu vực hay thế giới.

Cho đến ngày nay xu hướng này vẫn không ngừng diễn ra. Các tôn giáo dân tộc, khu vực và thế giới vừa chung sống, vừa cạnh tranh, thậm trí tranh chấp, xung đột nhau, trong đó không ít là phục vụ mục đích chính trị, quân sự của các giai cấp thống trị. 

LÒNG DÂN VỚI ĐẢNG QUA NGÀY HỘI CỦA NON SÔNG


    Đại dịch bệnh Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp ở các tỉnh trong cả nước, nhưng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã diễn ra thành công rất tốt đẹp, đúng pháp luật. Đây là minh chứng cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của lòng dân với Đảng, luôn hướng về Đảng, đồng thời là cú giáng đập tan mọi chiêu trò, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch. 

Dân tộc, quốc gia là cơ sở, nền tảng cho sự ra đời và tồn tại của tôn giáo

 


-Dân tộc, quốc gia sản sinh ra tôn giáo

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và được xác nhận bởi lịch sử của nhân loại, tôn giáo không có nguồn gốc siêu nhiên mà tôn giáo có nguồn gốc từ xã hội hiện thực.

Tôn giáo được hình thành từ 3 nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên, KT-XH; nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý.

Về nguồn gốc tự nhiên, KT-XH:

Trong buổi bình minh của lịch sử loài người, con người đã từng sống một thời gian dài không tín ngưỡng, tôn giáo. Nhưng khi kinh tế hái lượm, săn bắt cùng với cuộc sống mông muội, hoang dã làm cho con người trong xã hội nguyên thủy rất gần gũi, gắn bó với tự nhiên. Song thiên nhiên bao quanh họ chứa đầy những huyền bí và thường xuyên đe dọa cuộc sống của họ, mà họ không thể nào lý giải và khắc phục được. Và thế là họ đã khoác lên tự nhiên một sức mạnh thần thánh. Lê nin đã khái quát: “…sự bất lực của con người dã man trong cuộc sống đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu”.

Khi quốc gia dân tộc, có sự phân chia giai cấp, trong lòng xã hội bị phân hóa. Xã hội có kẻ giàu người nghèo, có sự áp bức bóc lột, trong xã hội có sự bất công, có sự đau khổ, sự cùng cực, con người hoài nghi về số phận, muốn tìm đến tôn giáo, cần một đấng siêu nhiên cứu rỗi, che trở.

Về nguồn gốc nhận thức: từ thời kỳ nguyên thủy mông muội đến các giai đoạn lịch sử, nhận thức của con người còn hạn chế đối với sự bí ẩn của tự nhiên, xã hội, và chính bản thân con người, cho dù khoa học kỹ thuật của con người ngày càng hiện đại, nhưng vẫn còn nhiều điều của tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người chưa nhận biết được (chưa giải thích được).

Mặt khác nguồn gốc nhận thức của tôn giáo, còn gắn liền với đặc điểm của quá trình nhận thức của con người về thế giới khách quan- đó là quá trình phức tạp và đầy mâu thuẫn…Lê nin nói “ Nhận thức con người không phải là một đường thẳng, mà là một đường cong đi gần vô hạn đến một loạt những vòng tròn, đến một vòng tròn xoắn ốc. Bất cứ đoạn nào, khúc nào, mảnh nào của đường cong ấy cũng có thể chuyển hóa (chuyển hóa một cách phiến diện) thành một đường thẳng độc lập, đầy đủ, đường thẳng này ( nếu chỉ thấy cây mà không thấy rừng) sẽ dẫn đến vũng bùn, đến chủ nghĩa thầy tu”

Về nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:

Sợ hãi cũng tạo ra thần linh, sợ hãi trước những bí ẩn của thiên nhiên, sợ hãi trước những lực lượng thống trị xã hội, sợ hãi trước bệnh tật, tâm lý buồn đau, bất hạnh, khổ ải, cô đơn, và sợ hãi trước cái chết…đều là những nguồn gốc tâm lý để nảy sinh ra tôn giáo. Mặt khác tôn giáo được sinh ra cũng là để thỏa mãn khát vọng bất tử của con người, sợ hãi trước cái chết, con người tưởng tượng và hy vọng chết sẽ là chuyển sự sống sang một thế giới khác, thế giới của các thánh thần và thiên đường. Tôn giáo cũng là sự thay thế thế giới hiện thực bằng một thế giới mong ước. Con người đã gắn những ước vọng của mình cho thượng đế, vậy nên tôn giáo còn là kết quả của một xúc cảm khát khao, hy vọng.

Như vậy từ ba nguồn gốc sinh ra tôn giáo, có thể khẳng định rằng, tôn giáo do hiện thực xã hội sinh ra, mà hiện thực xã hội có được là do mỗi quốc gia, dân tộc sinh ra. Chính vì vậy, trong phê phán triết học pháp quyền của Hê ghen, C.Mác khẳng định “Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo”[1]

-Dân tộc, quốc gia là nơi dung dưỡng, cung cấp những chất liệu làm giàu đời sống tôn giáo

Không chỉ là cơ sở cho sự ra đời của tôn giáo, dân tộc, quốc gia, hay nói chung là mảnh đất hiện thực của xã hội loài người, cũng là nơi dung dưỡng, cung cấp những chất liệu làm giàu đời sống tôn giáo. Bằng chứng là, ở một quốc gia cổ đại, khi sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội vô cùng khắc nghiệt, Ân Độ đã sản sinh ra Phật giáo, một tôn giáo phản ánh khát vọng của những người bị áp bức về một thế giới bình đẳng giữa những con người. Ở khu vực Trung cận Đông, khi những người nô lệ thất bại trong cuộc khởi nghĩa do Spacrtacus lãnh đạo, khát vọng thực tại về một sự nhân từ, một sự cứu rỗi, một sự bác ái đã làm hình thành một đạo thế giới là đạo Kitô…



[1] C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H2002, t1, tr59.

BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG PHÒNG CHỐNG COVID-19

 

            Đại dịch COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, Quốc phòng, an ninh, đối ngoại và sức khỏe của nhân dân. Với phương châm “chống dịch như chống giặc”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam luôn luôn giữ vững, phát huy tốt phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong phòng, chống dịch COVID-19. Có ý thức sâu sắc về sự cần thiết, tự hào và luôn tích cực, tự giác làm chủ bản thân, tự giác trong phòng, chống dịch COVID-19 trong mọi điều kiện hoàn cảnh.

          Đặc biệt, mỗi cán bộ, chiến sĩ luôn tích cực, chủ động tự đối chiếu, tự đánh giá kết quả rèn luyện, tu dưỡng của bản thân so với yêu cầu đặt ra để phấn đấu thực hiện. Mỗi cá nhân kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện lười học tập, rèn luyện, phấn đấu cầm chừng, thỏa mãn, dừng lại; động viên, phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh với mọi suy nghĩ, hành động, việc làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ ở mọi lúc, mọi nơi. Đặc biệt trong phòng, chống dịch COVID-19.

THỰC HIỆN TỐT MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC - TÔN GIÁO LÀ MỤC TIÊU CÁCH MẠNG XHCN Ở VIỆT NAM

 


            Dân tộc và tôn giáo là hiện tượng của xã hội được phát triển lâu dài trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Quan hệ dân tộc và tôn giáo là vấn đề rộng lớn và phức tạp, có liên quan trực tiếp đến sự thống nhất và ổn định chính trị- xã hội, phát triển kinh tế, đảm bảo quốc phòng, an ninh của mỗi quốc gia, dân tộc. Nhất là trong bối cảnh đời sống chính trị thế giới đang thường xuyên phải đối diện với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm như chủ nghĩa ly khai, khủng bố, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo… Vì vậy việc nghiên cứu và thực hiện tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo và mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam là nhiệm vụ cấp bách hiện nay đối với Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và nhân dân Việt Nam.

HOÀI BÃO CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ MỘT NƯỚC VIỆT NAM HÒA BÌNH, ĐỘC LẬP VÀ THỐNG NHẤT

Độc lập, tự do, hoà bình và thống nhất đất nước là khát vọng cháy bỏng của mọi người dân Việt Nam yêu nước; là mục tiêu phấn đấu, thể hiện rõ trong mọi thời điểm và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Vì vậy mà, trong những thời điểm khác nhau, phát biểu ở các diễn đàn khác nhau, nhưng hoài bão của Người về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất đều thể hiện sự nhất quán, xuyên suốt, đó là: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”[1](12/1920); “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” (9/1945); “Kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”(1946), “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (7/1966); “Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào/Bắc Nam sum họp/Xuân nào vui hơn” (Thơ mừng xuân 1969); “Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” (Di chúc, 1969),v.v.. Trong hành trình hoạt động cách mạng và đấu tranh để đạt được hoài bão đó, Người đã không chỉ đến với chủ nghĩa Mác- Lênin mà còn truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin về Việt Nam - vào trong phong trào công nhân và phong trào đấu tranh yêu nước; chuẩn bị về mọi mặt và sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; đào tạo đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa hồng vừa chuyên; tập hợp, cổ vũ, động viên quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh cách mạng trong Mặt trận dân tộc thống nhất, trong các đoàn thể chính trị, các hình thức hội phù hợp yêu cầu từng giai đoạn cách mạng để nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc… Ngay sau khi ra đời ngày 3/2/1930, trong Cương chính trị đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối cách mạng Việt Nam là trải qua hai giai đoạn: trước hết là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở nước ta. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tập hợp quần chúng, đã lãnh đạo và đưa quần chúng ra đấu tranh với tinh thần và ý chí “toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa Thu năm 1945, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đồng thời, khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và dân tộc. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[2] trong bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945. Tuy nhiên, trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và trước nguy cơ mất nước một lần nữa; trân trọng giá trị thiêng liêng của độc lập, tự do và không cam tâm làm nô lệ, với tinh thần và ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, hưởng ứng lời hịch cứu nước của Người: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”, toàn thể nhân dân Việt Nam đã quyết tâm “thà hy sinh tất cả, nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[3]. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp đầy khó khăn, thử thách ấy, không chỉ đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, Người và Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, cổ vũ, động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước kiên trì kháng chiến và kiến quốc; từng bước giành thắng lợi và và kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bằng một "Điện Biên Phủ chấn động địa cầu". Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Theo tinh thần của Hiệp định, cuộc tổng tuyển cử tự do, thống nhất hai miền Nam - Bắc sẽ được thực hiện vào năm 1956. Tuy nhiên, thực hiện học thuyết Trurman; lo ngại sự sụp đổ dây chuyền của khu vực Đông Nam Á bởi cộng sản, Mỹ đã phá hoại hiệp định Giơnevơ, can thiệp vào miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam. Vậy là, khát vọng về một nước Việt Nam độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất - non sông liền một dải của Người và toàn thể nhân dân ta chưa thể trở thành hiện thực. Tiếp tục thực hiện khát vọng độc lập, tự do và thống nhất đất nước, để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã căn cứ vào tình hình quốc tế, trong nước, so sánh thế và lực giữa ta và địch, nắm vững phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng (cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc) phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Trong khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã liên tục thay đổi các chiến lược chiến tranh ở miền Nam, âm mưu và tìm mọi cách chia rẽ hai miền Nam - Bắc; ngày càng mở rộng quy mô cuộc chiến tranh, tăng cường xây dựng chế độ ngụy quyền Sài Gòn, xây dựng quân đội ngụy và tăng cường đội quân của các nước chư hầu vào tham chiến; tăng cường đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, nhằm hủy diệt cơ sở vật chất và tinh thần của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình và nhiệm vụ mới, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã một mặt nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tạo sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ và thắng Mỹ; đồng thời, tăng cường đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại. Mặt khác, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cổ vũ đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm xây dựng, bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc, chi viện cho miền Nam đánh Mỹ; giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhiệm vụ xây dựng hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đấu tranh giải phóng miền Nam, để miền Nam ruột thịt, với vị trí là tiền tuyến lớn, trực tiếp đương đầu với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai luôn nhận được sự chi viện không ngừng nghỉ sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc. Sau phong trào Đồng Khởi 1959-1960, cách mạng miền Nam ngày càng phát triển... Quân dân ta đã lần lượt đánh bại hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đơn phương” và “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Trong bối cảnh đó, tháng 3/1965, Tổng thống Mỹ Johnson đã quyết định thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam. Tình hình cách mạng miền Nam diễn biến hết sức phức tạp, chiến tranh lan rộng ra cả nước, vận mệnh dân tộc đứng trước thử thách thức nghiêm trọng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra ngày càng quyết liệt. Để khẳng định niềm tin và quyết tâm đánh thắng Mỹ, ngày 17/7/1966, trong Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa (…), song nhân dân việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”[4], nêu cao tinh thần và thúc giục quân dân cả nước quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam năm 1969. Ảnh tư liệu Trên toàn miền Nam, quân dân ta đã giành được những thắng lợi quan trọng sau gần hai năm trực tiếp đương đầu với quân Mỹ, quân đồng minh và quân đội Việt Nam cộng hòa. Tuy gặp nhiều tổn thất, song đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ chiến tranh xâm lược ở miền Nam. Chúng tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc… Trong những năm tháng đó, thực tiễn cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng ở miền Nam, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự chi viện về mọi mặt của hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam đã chứng minh rằng, càng mở rộng chiến tranh, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ngày càng lún sâu vào “đường hầm không lối thoát”. Bởi rằng, dù đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam và phá hoại, hủy diệt miền Bắc xã hội chủ nghĩa, song chúng cũng “không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng” với với sự đồng tâm, đồng chí, đồng lòng của một dân tộc quyết tâm thực hiện khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Không áp lực nào ngăn cản được sự thật, ngăn cản được tinh thần và ý chí của nhân dân hai miền Nam- Bắc đấu tranh cho hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất nước nhà. Tinh thần, quyết tâm của quân dân cả nước về nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được thể hiện rõ trong từng quyết sách của Trung ương Đảng, trong nghị quyết của Quốc hội, đặc biệt trong bản Di chúc lịch sử Người để lại trước khi đi xa. Trong Di chúc của Hồ Chí Minh, khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và niềm tin tất thắng về cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta được Người nhắc đến nhiều lần, cháy bỏng hơn bao giờ hết: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”; “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải rút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”; “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”; “Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ và góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”[5]… Bản Di chúc vốn không dài; nội dung Người viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng không nhiều, song chữ “nhất định” được lặp lại trong từng câu, thể hiện khát vọng cháy bỏng và niềm tin tưởng tuyệt đối của Người vào thắng lợi của nhân dân ta vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhất.

TỪ LO SỢ KHÔNG CÓ TRONG TƯ DUY QUÂN SỰ VIỆT NAM

ĐÓ LÀ CÂU TRẢ LỜI NGÀY 09/11/1995 CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP KHI TIẾP MCNAMARA (CỰU BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG MỸ)!


“Vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời câu hỏi của tướng lĩnh Mỹ.

10h30 ngày 9/11/1995, tại nhà khách Bộ Quốc phòng (phố Phạm Ngũ Lão, Hà Nội), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Robert McNamara (cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ) gặp nhau. Đối với giới báo chí thì đây là một cơ hội lịch sử, do vậy phải mất gần 10 phút hai cựu Bộ trưởng quốc phòng của cuộc chiến năm xưa mới qua khỏi vòng vây cuồng nhiệt của những máy ảnh, máy quay phim, micro… và những câu phỏng vấn tưởng không bao giờ dứt của giới báo chí quốc tế và Việt Nam.

Phút gặp mặt đầu tiên, hai ông đứng trao đổi với nhau về việc tập thể dục buổi sáng. Một người đã 85 tuổi còn một người sắp bước vào tuổi 80 (ông McNamara sinh năm 1919) nhưng cả hai đều tỏ ra nhanh nhẹn và minh mẫn.

Ông McNamara mở đầu cuộc trao đổi bằng lời bày tỏ về ý định của Đoàn tiền trạm Hội đồng đối ngoại New York mà ông dẫn đầu sang Việt nam để chuẩn bị cho một cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam dự kiến sẽ tổ chức tại Mỹ vào mùa thu năm tới, hy vọng tướng Giáp sẽ nhận lời mời tham dự.

Cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ cũng nhấn mạnh rằng với một cuộc chiến tranh đã làm hơn ba triệu người Việt Nam và gần 6 vạn người Mỹ bị chết thì việc rút ra những bài học lịch sử, đặc biệt là bài học về những cơ hội bị bỏ lỡ để tránh xảy ra chiến tranh là rất có ý nghĩa không chỉ cho hai nước xưa đã từng tham chiến nay đang hướng tới những quan hệ tốt đẹp mà còn là những bài học bổ ích cho một thế giới đang đầy rẫy các biến cố và xung đột.

Ông cũng kể lại rằng ngay sau khi thôi giữ chức Bộ trưởng bộ quốc phòng (3/1968), ông đã trở thành Chủ tịch Ngân hàng thế giới (World Bank Group of Institutions) và giữ cương vị đó 13 năm liên tục cho đến khi nghỉ hưu (6/1981).

Cũng trên cương vị này, năm 1978, Ngân hàng Thế giới đã cho Việt Nam vay một khoản tín dụng 60 triệu USD cho các dự án về thủy lợi. Giờ đây mới có dịp sang Việt Nam, ông vừa gặp các quan chức của Ngân hàng Thế giới và được viết Việt Nam là một quốc gia đã sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính được đầu tư từ bên ngoài, đó là những dấu hiệu khẳng định tính tự chủ, khả năng vươn lên và phát triển của Việt Nam.

Bước vào chủ đề chính, vị cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ xin hỏi Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thưa ngài, cho đến bây giờ, tôi vẫn không rõ những gì đã xảy ra trong ngày 4/8/1964?” (Đó là một ngày trước khi Tổng thống Mỹ Johnson mở màn cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc và trực tiếp đổ quân Mỹ can thiệp và mở rộng chiến tranh Việt Nam. Và hành động này được giải thích bằng việc trả đũa cho sự kiện đã diễn ra trong ngày 4/8/1964 mà theo báo cáo của phía Mỹ thì chiến hạm Maddox đã bị hải quân Việt Nam tiến công ở vùng biển quốc tế).

30 năm sau sự kiện đó, McNamara mới trực tiếp nhận được một câu trả lời chính xác. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Ngày 2/8/1964, tàu Mỹ xâm phạm hải phận Việt Nam ở khu vực đảo Hòn Mê. Một đơn vị hải quân địa phương của chúng tôi đã đánh đuổi. Còn ngày 4/8/1964, không có một hoạt động quân sự nào từ phía Việt Nam được tiến hành trên khu vực này”. Các vị khách Mỹ nghe rất chăm chú.

Đại tướng nói tiếp: “Nói điều này có thể là công việc nội bộ của Mỹ, nhưng theo tôi biết thì trước những ngày này, ở Mỹ người ta đã soạn thảo những văn bản để chuẩn bị cho việc mở rộng chiến tranh ở Việt Nam rồi”.

Về vấn đề có những cơ hội nào có thể vãn hồi hòa bình ở Việt Nam mà đã bị cả hai bên bỏ qua, Đại tướng nói rằng trong khi kiên quyết chiến đấu chống xâm lược, Việt Nam cũng rất mong muốn nội dung được đề cập tới trong những bài diễn văn của tổng thống Mỹ ở Baltimore về công thức Manila – Antinio… Nhưng Việt Nam cũng nhận thấy rằng mỗi lần người đứng đầu nước Mỹ nói đến những sáng kiến hòa bình trên sức ép quân sự của Mỹ. Có thể nói rằng phía Việt Nam đã không để lỡ một cơ hội nào vì dân tộc Việt Nam là một dân tộc yêu hòa bình hơn ai hết và chiến tranh sẽ mang lại đau khổ trước hết cho người Việt Nam.

Đại tướng cũng kể cho các vị khách Mỹ một câu chuyện cách nay ngót 50 năm, khi ông Paul Mus, một học giả được chính phủ Pháp nhờ chuyển một giải pháp hòa bình cho chính phủ kháng chiến Việt Nam. Trong đó có một điều khoản đòi hỏi quân đội Việt Nam phải hạ vũ khí. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi lại Paul Mus rằng nếu như người Đức gửi một tối hậu thư như vậy thì thái độ của những người kháng chiến Pháp sẽ như thế nào.

Đại tướng cho rằng quan điểm mà ông McNamara viết cuốn sách Nhìn lại tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam cho rằng một trong những nguyên nhân Mỹ thua ở Việt Nam là do không hiểu về dân tộc Việt Nam, và nhất là không hiểu về chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam là hoàn toàn đúng.

Đại tướng nhấn mạnh rằng dân tộc Việt Nam là một dân tộc mà ý thức và quyết tâm bảo vệ độc lập đã trở thành một triết lý, bản sắc văn hóa và cũng là một nguyên tắc không lay chuyển của người Việt Nam.

Sai lầm của Mỹ không những chỉ là không lường được sức chịu đựng và tinh thần quyết tâm của nhân dân Việt Nam mà còn thể hiện ở chỗ muốn tìm kiếm hòa bình ở Việt Nam bằng những cuộc thương lượng với các nước lớn khác.

Tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam không chỉ cho ý nghĩa trong quá khứ chiến trang mà cả trong công cuộc xây dựng, đổi mới hiện nay, Việt Nam sẽ đổi mới bằng cách riêng của mình. Những yếu kém về công nghệ Việt Nam sẽ học tập ở nước ngoài nhưng Việt Nam luôn phải giữ vững tinh thần độc lập và bản sắc dân tộc.

Đại tướng kể lại rằng có lần, tại Alger nhân sự tham dự ngày lễ kỷ niệm Quốc khánh của Algérie, Brzezinskin, người được coi là kiến trúc sư của chiến lược đánh phá Chủ nghĩa Cộng sản dẫn đến sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, đã gặp và hỏi Đại tướng rằng: “Chiến lược của ngài là gì?”. Câu trả lời: “Chiến lược của tôi là hòa bình trong độc lập và tự do”.

Đại tướng cũng thắc mắc lại cuộc gặp gỡ mới đây với A.Thomas và nhóm cựu chiến binh của cơ quan OSS (Cơ quan tình báo chiến lược của Hoa Kỳ, tiền thân của cơ quan tình báo trung ương Mỹ CIA) của Mỹ đã từng sát cánh cùng các chiến sĩ Việt Minh đánh phát xít Nhật hồi cách mạng tháng Tám 1945. Đại tướng nói rằng lúc đó chúng tôi đã nghĩ đến những bước phát triển tốt đẹp trong quan hệ giữa hai nước. Nhưng chính chủ thuyết Domino và chống Cộng đã dẫn điến những sai lầm của Mỹ ở Việt Nam trong những thập kỷ vừa qua. Việt Nam là một dân tộc quý trọng nền dân tộc của mình nhưng cũng luôn tôn trọng độc lập của các dân tộc khác. Mở đầu bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã dẫn ra câu đầu tiên của bản Tuyên ngôn độc lập Mỹ.

Ông McNamara bày tỏ sự tán đồng và những ý kiến của Đại tướng và cả hai vị đều tán thành ý nghĩa và sự bổ ích của cuộc hội thảo dự định sẽ tổ chức.

Trước chính ngọ, hai nhân vật của cuộc chiến tranh năm xưa đã vui vẻ chia tay nhau giữa vòng vây của các nhà báo.

Ngày hôm sau 10/11 cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ McNamara đã phát biểu trước các nhà báo: “Tôi thực sự xúc động khi quay trở lại Việt Nam, điều mà tôi từng mong ước 21 năm qua. Thời gian quả là dài nhưng nó giúp con người ta nguôi đi những dằn vặt về những việc đã làm. Điều đó làm tôi thực sự cảm động là tôi không hề thấy sự thù hận nào trong ánh mắt của người Việt Nan đối với tôi. Một Việt Nam thanh bình, dẫu chưa phồn vinh những quả là đẹp. Một đất nước như thế, một dân tộc như thế thì họ từng đứng vững trong quá khứ và sẽ tiến lên trong tương lai là điều không phải tranh cãi”. Nói về cuộc gặp với tướng Giáp, ông McNamara cho rằng đó là một cuộc gặp gỡ đầy ấn tượng.

15h30 ngày 23/6/1997, tại nhà khách Chính Phủ, cuộc gặp gỡ giữa ông Robert McNamara và Đại tướng Võ Nguyên Giáp diễn ra như hoạt động cuối cùng của cuộc Hội thảo Việt – Mỹ được coi là lần đầu tiên giữa các cựu quan chức và học giả hai nước về quan hệ Việt – Mỹ trong quá khứ với mục đích rút ra những bài học cho tương lai như thư của hai vị đại diện hai nhà nước đã gửi đến Hội thảo: bà Nguyễn Thị Bình và ông Bill Clinton. Kết quả cuộc hội thảo kéo dài hơn 3 ngày (20-23/6) đã được 2 bên công bố tại khách sạn Sofitel lúc 14h càng kích thích giới báo chí kéo sang Nhà khách Chính phủ chứng kiến cuộc gặp mặt đại tướng Võ Nguyên Giáp với cựu Bộ trưởng McNamara cùng các thành viên phía Mỹ vì 8 câu hỏi đã được phía Mỹ gửi trước mong được Đại tướng giải đáp.

10 phút dành cho các nhà báo tác nghiệp bằng những câu hỏi ngắn gọn, bằng những ánh chớp máy anhe, những trường đoạn camera và chấm dứt khi ông McNamara đưa ra một đề nghị kiên quyết yêu cầu mọi nhà báo đều phải rời khỏi phòng họp. Khi yên tĩnh đã trở lại, hai vị cựu Bộ trưởng Quốc phòng của những năm tháng chiến tranh Việt - Mỹ mới bắt tay nhau một lần nữa và trao đổi những câu hỏi xã giao của những người đã từng quen biết, không còn dè dặt thăm dò lẫn nhau như câu chuyện về tập thể dục buổi sáng ở cuộc gặp đầu tiên hồi tháng 11/1995 tại Nhà khách Bộ Quốc phòng.

Về phía Mỹ, ông McNamara ưu tiên giới thiệu hai trong số 52 vị thành viên phía Mỹ (gồm 6 cựu quan chức, 6 học giả và 40 quan sát viên) là tướng William Smith nguyên trợ lý đặc biệt cho tổng tham mưu trưởng liên quân Mỹ Maxwell Taylor và ông Chester Cooper, nguyên là nhà phân tích khu vực Đông Nam Á, thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia và trợ lý chính cho nhà thương lượng W.A.Harriman.

Là người không tham gia cuộc Hội thảo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mở đầu những lời hoan nghênh và cho rằng cần có nhiều cuộc hội thảo nữa để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau hướng tới tương lai hòa bình, hợp tác trên cơ sở bình đẳng đôi bên cùng có lợi.

“Tôi là quân nhân, tôi nói thẳng”

Nói về chiến tranh ở Việt Nam, người Mỹ hay nói đến giới hạn của sự dính líu là từ năm1961 đến 1969, Đại tướng cho rằng, như thế là chưa đủ vì từ năm 1950 Mỹ đã can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, đến Điện Biên Phủ, 80% chiến phí là của Mỹ. Thực chất sự dính líu của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam dưới hình thức và mức độ khác nhau phải là một phần tư thế kỷ, từ năm1950 đến 1975. Bị chi phối bởi một thứ “thần học” (théologie như cách nói của McNamara) là học thuyết “domino”, Mỹ cho Việt Nam là một vị trí quan trọng liên quan đến an toàn của mình, cho nên Kenedy coi Việt Nam là trọng điểm để tiêu diệt phong trào giải phóng dân tộc và đến Johnson thì phát động chiến tranh ra miền Bắc và đổ quân vào miền Nam.

Trở lại vụ Vịnh Bắc Bộ (từ ngày 2 đến 5/8/1964) và trận Pleiku (6/2/1965), khi phía Mỹ đặt câu hỏi ai ra lệnh và khi ra lệnh có nghĩ đến phản ứng của Mỹ ra sao? Đại tướng nói rằng việc này ông đã nói trong cuộc gặp mặt lần trước, nhưng vấn đề đơn giản là “lúc bấy giờ bộ đội Việt Nam ở miền Nam cũng như Hải quân ở miền Bắc được lệnh lúc nào quân địch xâm phạm, tiến vào lãnh thổ thì phải đánh, tôi là một quân nhân, nếu các ngài đồng ý, tôi nói thẳng rằng: “Chính sách (mở rộng chiến tranh của Mỹ) quyết định rồi nhưng phải tìm một cái cớ đưa ra Quốc hội!”. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ là sai lầm lớn nhất, về chiến lược và cũng là thảm bại đầu tiên và lớn nhất của lịch sử nước Mỹ”.

Ông McNamara bật dậy ngắt lời: “Xin lỗi Đại tướng, ngài nói không đúng”.

Đại tướng bình thản nói: “Ngài đánh chúng tôi trước khi có trận Pleiku, vả lại trận này cũng như trận đánh tàu Maddox chỉ là hoạt động địa phương. Còn phản ứng của chúng đối với việc mở rộng chiến tranh phá hoại là chuyển cả miền Bắc vào tình trạng chiến tranh để bảo vệ miền Bắc và đánh thắng chiến tranh không quân của Mỹ, làm trọn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn”.

Từ lo sợ không có trong tư duy quân sự Việt Nam”

Phía Mỹ đưa ra câu hỏi: “Những hành động quân sự nào của Mỹ làm tướng Giáp lo sợ nhất và vào những thời điểm nào?”.

Đại tướng cười và vui vẻ nói: “Chúng tôi trả lời là từ “lo sợ” không có trong tư duy quân sự của chúng tôi, bởi vì với chúng tôi, không có gì quý hơn độc lập tự do, chúng tôi quyết đánh Mỹ và chúng tôi luôn tin tưởng là sẽ thắng”.

Phía Mỹ đưa ra câu hỏi: “Nhìn lại quá khứ, tướng Giáp đánh giá thế nào về thành công và thất bại của Tổng tiến công Mậu Thân?”.

Đại tướng nói rằng: “Sức mạnh của Mỹ tuy lớn nhưng có những hạn chế cơ bản. Ví như kỵ binh bay mạnh ở chỗ cơ động nhưng đối với chúng tôi thì cơ động nhất là lực lượng tại chỗ, quân Mỹ đến đâu thì đã có lực lượng của chúng tôi ở chỗ đó”.

“Còn về Tổng tiến công Mậu Thân, mục đích chúng tôi là làm sao cho Mỹ rút. Về cách đánh mà nói thì đợt một là thắng lợi lớn, những đợt sau nếu theo ý kiến của Trung ương chuyển nhanh về nông thôn thì thắng to, nên vì vậy có tổn thất. Chiến tranh nhìn chung là chiến lược tổng hợp. Mục tiêu của chúng tôi là Mỹ phải chấm dứt leo thang, ngồi lại đàm phán. Như thế chúng tôi đã đạt được buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris. Chỉ có điều chúng tôi không dự kiến đầy đủ là Nixon lật lọng sẽ ký rồi lại ném bom B52… Nhưng cuối cùng chúng tôi vẫn bảo vệ được nền độc lập và thống nhất Tổ quốc của một nước nhỏ, dù kinh tế còn lạc hậu nhưng đã đánh thắng hai đế quốc to. Đó là thắng lợi của ai? Của nhân dân Việt Nam đồng thời cũng là của các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có những người Mỹ chống lại chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam”.

“Các ngài nên đọc Nguyễn Trãi”

Phía Mỹ nhận rằng, Mỹ không thắng được ở Việt Nam là do Mỹ không hiểu Việt Nam và bỏ qua nhiều cơ hội để chấm dứt sự dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng, về phía Việt Nam thì sao, có cơ hội nào bị bỏ lỡ không?

Câu trả lời của Đại tướng là: “Chúng tôi không bỏ qua một cơ hội nào”. Ông McNamara ngắt lời: “Cái đó còn phải bàn lại”.

Đại tướng đáp: “Mỹ xâm lược Việt Nam là sai lầm. Mỹ không hiểu Việt Nam. Chúng tôi là một dân tộc có tinh thần bất khuất hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm, nhưng rất mong muốn hòa bình. Thế kỷ XV, sau khi đánh thắng quân Minh đã từng có những lời tuyên ngôn trong các áng văn bất hủ “Bình Ngô Đại cáo” và “Phú Chí Linh” của Nguyễn Trãi:

“Đem lại thái bình muôn thuở

Tắt muôn đời chiến tranh”.

Các ngài nên đọc những sách đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước và phát triển học thuyết quân sự độc đáo Việt Nam, động viên chiến tranh toàn dân, do dân, vì dân nên đánh thắng”.

“Nước nhỏ có vai trò nước nhỏ”

Về quan hệ giữa Việt Nam và các nước lớn trong chiến tranh, Đại tướng nhắc lại nhiều lần: “Nước lớn có vai trò nước lớn, nhưng tôi muốn nhắc với ngài rằng: Nước nhỏ cũng có vai trò nước nhỏ. Danh dự, sức mạnh độc lập tự do, sức mạnh văn hóa của một nước không thể đo bằng cây số vuông. Trong quá khứ, Liên Xô và Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam nhiều trong chiến tranh nhưng Mỹ đã sai lầm khi tìm giải pháp quyết định cho cuộc chiến tranh này ở những cuộc thương lượng với những nước lớn đó.

Ngày nay, muốn xây dựng một trật tự thế giới mới thì các dân tộc phải bình đẳng và tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau. G7, G8 bàn với nhau, được, nhưng nếu không tính đến các nước nhỏ thì không bao giờ thế giới có hòa bình và ổn định phát triển”.

Kết thúc câu trả lời cho những câu hỏi về phía Mỹ đặt ra, Đại tướng nói:

“Tôi mong rằng đó là những điểm tôi suy nghĩ đã lâu, bây giờ nói rất ngắn sẽ giúp cho việc xây dựng quan hệ Việt Nam và Mỹ. Do vị trí địa lý chính trị và vai trò Việt Nam gắn liền với văn hóa và lịch sử của nó, quan hệ Việt – Mỹ sẽ góp phần vào sự ổn định khu vực và thế giới. Tôi nhất trí với ngài McNamara là không có nước nào có thể áp đặt được ý định của mình cho các dân tộc khác, nhất là với Việt Nam, phải tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi trên nguyên tắc bình đẳng.

Sự bình thường hóa quan hệ giữa hai nước đã mở ra những cơ hội để chúng ta đẩy nhanh sự phát triển những quan hệ hòa bình trong hợp tác và cùng có lợi trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền của nhau vì lợi ích của nhân dân hai nước và sự ổn định phát triển của thế giới”.

“Vị tướng tôi đánh giá cao nhất là Tướng Nhân Dân”

Sau câu hỏi của tướng Smith bằng cách nào Việt Nam đối phó được với những vũ khí hiện đại của Mỹ, một câu hỏi được mọi người chú ý được đặt ra: Vị tướng nào trong chiến tranh được tướng Giáp đánh giá cao nhất?

Đại tướng trả lời: “Quân đội Nhân dân Việt Nam ở cả miền Bắc và miền Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng có tinh thần quyết chiến rất cao, thông minh và sáng tạo. Còn vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình. Tôi hoàn thành nhiệm vụ cũng như những người lính hoàn thành nhiệm vụ. Trên bình diện nhiệm vụ thì tôi cũng như người lính là bình đẳng, cho nên tôi rất tôn trọng người lính. Còn các ngài muốn hỏi tôi rằng, tướng ngụy nào tôi để ý đến nhất thì có lẽ sự đánh giá ấy nên hỏi Bộ Tư lệnh Quân đội Mỹ”.

“Hôm nay, ngài lại thắng lợi về thời gian”

Người phát biểu cuối cùng của cuộc gặp mặt là ông Chester Cooper, vị tướng thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia thời chiến tranh của Mỹ chân thành nói: “Thưa Ngài, tôi thán phục Ngài từ 20 năm về trước, nay tôi cũng vẫn thán phục Ngài và chắc các bạn tôi ở đây cũng vậy. Chúng tôi sang đây với một tinh thần suy tư cởi mở và sẵn sàng muốn tìm hiểu dân tộc Việt Nam. Chúng tôi học hỏi được rất nhiều. Bài thuyết trình của Ngài cũng nhắn nhủ chúng tôi rất nhiều điều”.

Đại tướng bình luận: “Các ngài chưa hiểu hết đâu”.

Ông Cooper: “Chính vì vậy chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc tìm hiểu này và hy vọng lần sau chúng tôi sẽ trình bày để Ngài hiểu hơn về nước Mỹ chúng tôi. Chúng tôi sẽ nhớ mãi ngày hôm nay”.

Lúc chia tay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt tay ông McNamara: “Bắt tay một con người dũng cảm và có thiện chí”.

Cuộc gặp mặt kết thúc mà không thực hiện được một dự kiến tất cả sẽ chụp một bức ảnh chung bởi vì dự tính cuộc gặp mặt chỉ diễn ra dưới 1 tiếng đồng hồ thì đã kéo dài thêm gần 30 phút. Ông McNamara và tướng Smith vội vã về khách sạn để ra sân bay kịp giờ về nước.

Trong suốt cuộc gặp mặt, cựu Bộ trưởng McNamara không trình bày nhiều nhưng luôn tỏ ra sốt ruột về thời gian, thỉnh thoảng ông lại ngắt lời Đại tướng với câu xin lỗi lịch sự nhưng không giấu được sự sốt ruột vì muốn giành thêm thời gian để các thành viên của mình trình bày quan điểm. Nhưng thản nhiên và cũng lịch sự, Đại tướng chủ động giành phần lớn thời gian để phát biểu quan điểm của mình. Không giữ được kiên nhẫn, ông McNamara thốt lên: “Thế là ngài lại thắng về thời gian rồi”. Đại tướng lập luận: “Các ngài thua vì chưa hiểu, muốn hiểu nên lắng nghe”.

Sau cuộc gặp mặt, tôi gặp Stein Tonnesson, nhà sử học người Na Uy, thành viên duy nhất không có quốc tịch Mỹ của đoàn Mỹ, là tác giả của nhiều tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam. S.Tonnsson bình luận về cuộc gặp mặt giữa hai cựu Bộ trưởng Quốc phòng: “Lần này, tướng Giáp lại thắng trong một trận chiến về ngôn từ” (une guerre des mots).

Yêu nước ST.

Dấu hiệu hình sự vụ Phó Bí thư xã ở Hà Nội tự bầu 75 phiếu cho mình

 Các luật sư phân tích, hành vi tự bỏ thêm 75 phiếu bầu cho mình của Phó Bí thư xã Tráng Việt (Mê Linh, Hà Nội) là hành vi gian lận, làm sai lệch kết quả bầu cử, có dấu hiệu của tội phạm hình sự.

Trúng cử cũng không được công nhận

Như tin đã đưa, ngày 6/6, Ủy ban bầu cử xã Tráng Việt (huyện Mê Linh, Hà Nội) đã tiến hành bầu cử lại tại Tổ bầu cử số 4, xã Tráng Việt. Trước đó, ngày 23/5, sau khi kết thúc bỏ phiếu, Tổ bầu cử số 4 phát hiện thừa 75 phiếu bầu so với số phiếu đã phát ra.

Dấu hiệu hình sự vụ Phó Bí thư xã ở Hà Nội tự bầu 75 phiếu cho mình - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Hình ảnh người dân tại tổ bầu cử số 4 (xã Tráng Việt) bỏ phiếu lại ngày 6/6.

Qua kiểm tra, cơ quan bầu cử xác định, người có hành vi gian lận trong bầu cử là ông Nguyễn Xuân Hùng - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân (HĐND), Chủ tịch Ủy ban bầu cử xã Tráng Việt, ứng viên đại biểu HĐND xã tại đơn vị bầu cử số 4.

Do lo sợ bản thân sẽ trượt đại biểu HĐND cấp xã nên ông Hùng đã lợi dụng chức vụ, đặt vấn đề với ông Nguyễn Hữu Hoàn (Tổ trưởng Tổ bầu cử số 4), lấy 75 phiếu bầu, gạch tên những ứng viên khác, chỉ để lại tên mình trên phiếu bầu và nhờ 2 dân quân đi bỏ phiếu hộ.

Đánh giá về vụ việc, luật sư Diệp Năng Bình - Trưởng Văn phòng luật sư Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TPHCM) - cho hay, Điều 95 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND đã quy định khá rõ về hành vi gian lận trong bầu cử, ứng cử.

Cụ thể: "Người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử của công dân; vi phạm các quy định về vận động bầu cử; người có trách nhiệm trong công tác bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về bầu cử thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự".

Do đó, theo luật sư Bình, trong trường hợp này, cần phải xử lý hết sức nghiêm minh theo quy định.

Thực tế, bước đầu, Huyện ủy Mê Linh đã khai trừ Đảng đối với ông Nguyễn Xuân Hùng và ông Nguyễn Hữu Hoàn.

Dấu hiệu hình sự vụ Phó Bí thư xã ở Hà Nội tự bầu 75 phiếu cho mình - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Luật sư Diệp Năng Bình.

Cũng theo luật sư Diệp Năng Bình, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định 2 tội danh liên quan đến bầu cử, cụ thể là Điều 160 - Tội xâm phạm quyền bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân của công dân và Điều 161 - Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân. Tùy theo mức độ vi phạm khác nhau, người vi phạm sẽ bị áp dụng các biện pháp xử lý như phạt cảnh cáo hay phạt tù đến 3 năm.

Ngoài ra, người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND mà có hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử (như kê khai hồ sơ ứng cử không trung thực, gian dối, giả mạo thông tin, vi phạm các quy định về vận động bầu cử…) thì có thể bị xóa tên trong danh sách chính thức những người ứng cử; hoặc nếu đã được bầu thì cũng không được công nhận tư cách đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND.

Có thể xử lý hình sự?

Trao đổi với PV Dân trí, luật sư Tạ Anh Tuấn - Trưởng Văn phòng Luật sư Bách Gia Luật và Liên danh (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội) - cho rằng, vụ việc trên có dấu hiệu phạm tội theo quy định tại Điều 161 Bộ luật hình sự năm 2015.

Dấu hiệu hình sự vụ Phó Bí thư xã ở Hà Nội tự bầu 75 phiếu cho mình - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Luật sư Tạ Anh Tuấn.

Luật sư Tuấn phân tích, để thỏa mãn tội danh trên, người có hành vi phạm tội phải thỏa mãn 4 yếu tố cấu thành tội phạm.

Về mặt khách quan, hành vi giả mạo giấy tờ là hành vi người phạm tội dùng mọi cách để sửa chữa, làm giả danh sách ứng cử viên, làm giả phiếu bầu cử, biên bản kiểm phiếu…; hành vi gian lận phiếu là hành vi cố tình kiểm phiếu không đúng (thêm hoặc bớt), ghi chép số lượng phiếu bầu cử không chính xác, thêm hoặc bớt số phiếu bầu của cử tri…; có hành vi, thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử như: thay hòm phiếu thật bằng hòm phiếu giả, ngừng việc cho cử tri bỏ phiếu trong khi chưa hết thời gian quy định bỏ phiếu.

Về mặt khách thể: hành vi phạm tội xâm phạm đến chế độ bầu cử tự do, dân chủ, quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu dân ý được Hiến pháp quy định và hoạt động đúng đắn của cơ quan bầu cử các cấp.

Về mặt chủ quan của tội phạm: người phạm tội với lỗi cố ý, nhằm mục đích làm sai lệch kết quả bầu cử. Về mặt chủ thể của tội phạm: là chủ thể đặc biệt, người có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử như: thành viên tổ bầu cử, hội đồng bầu cử…

Đối chiếu các yếu tố nêu trên với hành vi vi phạm của 2 cá nhân trong vụ việc nói trên, theo luật sư Tuấn, hành vi của ông Nguyễn Xuân Hùng là hành vi gian lận, làm sai lệch kết quả bầu cử, là nguyên nhân dẫn đến phải bầu cử lại, thỏa mãn dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm.

Về dấu hiệu chủ thể, ông Hùng và ông Nguyễn Hữu Hoàn là người có trách nhiệm thực hiện giám sát đơn vị bầu cử (chủ thể đặc biệt), thỏa mãn dấu hiệu về chủ thể.

Do vậy, Trưởng Văn phòng luật sư Bách Gia Luật và Liên danh cho rằng, có căn cứ khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với ông Nguyễn Xuân Hùng và ông Nguyễn Hữu Hoàn theo điểm b, khoản 2 Điều 161 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, nếu người phạm tội sử dụng con dấu giả thiết lập phiếu bầu cử "khống", làm sai lệch kết quả bầu cử, luật sư Tuấn cho rằng có dấu hiệu tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức", quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự.

Nguồn: Dân Trí.

Hai câu hỏi thực tế về tự do báo chí

Khi bàn về tự do báo chí, một số người thường hay trích dẫn một câu trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của nước Pháp rằng, “Tự do trao đổi suy nghĩ và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người. Vì thế, bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do”; hoặc viện dẫn Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Mỹ được thông qua năm 1791 rằng, Quốc hội không được làm luật liên quan đến bất cứ tôn giáo nào, hoặc ngăn cản sự tự do tín ngưỡng, hoặc ngăn cản sự tự do ngôn luận, tự do báo chí, hoặc quyền của người dân được hội họp hòa bình, và kiến nghị chính quyền để giải quyết khiếu nại. Đồng thời, người ta cũng coi đó là biểu tượng của nền tự do báo chí ở Mỹ và phương Tây nói chung. Xin nói ngay rằng, những luận điểm đặt ra trong hai trích dẫn đó là hoàn toàn đúng, là thể hiện giá trị tích cực, tiến bộ của nhân loại. Nhưng vấn đề là ở chỗ, từ những luận điểm ấy đến thực tế xã hội có khoảng cách không? Cần hiểu như thế nào cho đúng về thực chất của những luận điểm đó? Từ đây có hai câu hỏi thực tế cần phải làm rõ: Thứ nhất, phải chăng trên thực tế báo chí ở nước Mỹ và phương Tây tự do tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế, ràng buộc nào? Thứ hai, phải chăng báo chí Mỹ và phương Tây chỉ thông tin những gì là sự thật, phi chính trị, là hoàn toàn khách quan, không thiên vị? Câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất là không, hoàn toàn không! Trước hết, cần phải khẳng định rằng, tự do báo chí là thiêng liêng, là cần thiết cho cuộc sống, là một biểu hiện cho tiến bộ và một yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nhưng trong toàn bộ lịch sử nhân loại, khi mà xã hội còn có mâu thuẫn về chính trị, bất bình đẳng về lợi ích thì chưa bao giờ tự do báo chí là tự do chung chung, tự do cho mọi người, tự do vô bờ bến. Ngược lại, tự do báo chí bao giờ cũng là và chắc chắn là tự do cho ai, tự do vì mục đích gì. Chính vì thế, nhiều nhà lãnh đạo cách mạng tư sản trước đây đã quyết liệt đấu tranh, thậm chí bị tù đày vì đòi được chia sẻ quyền tự do báo chí với các thế lực phong kiến, quý tộc, nhưng khi giành được chính quyền về tay mình, chính họ lại ngăn cản và không ngần ngại đàn áp tự do báo chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. V. I. Lê-nin đã chỉ ra rằng, giai cấp tư sản hiểu tự do báo chí là quyền tự do ra báo của nhà giàu, là quyền của bọn tư bản chiếm đoạt báo chí... Chính phủ công nông hiểu tự do báo chí là giải phóng báo chí khỏi ách tư bản..., tức là mang lại cho nhân dân lao động quyền tự do báo chí một cách đầy đủ. Mặt khác, theo thực tế pháp lý ở tất cả các quốc gia trên thế giới, vấn đề có tính nguyên tắc là tự do luôn gắn liền với trách nhiệm, quyền lợi luôn gắn liền với nghĩa vụ. Mối quan hệ phổ biến này nhằm mục tiêu chính đáng và khách quan là bảo đảm cho tự do của mỗi người không làm mất đi hay ảnh hưởng tiêu cực đến tự do của người khác và của cộng đồng. Đây cũng chính là nguyên tắc căn bản mà Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc đã khẳng định mạnh mẽ. Sau khi xác quyết các quyền tự do và quyền con người nói chung, Điều 29 của Tuyên ngôn này khẳng định: “Khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”. Nói cách khác, quyền tự do nói chung, tự do báo chí, ngôn luận nói riêng của mỗi người là thiêng liêng, là quan trọng, nhưng không có nghĩa là vì những quyền đó mà người ta có thể làm gì cũng được. Vấn đề là con người sống trong một cộng đồng xã hội, vì thế, tự do của mỗi con người cụ thể không thể tách rời tự do của cả cộng đồng. Hơn thế nữa, chính sự tự do của mọi người, của cả cộng đồng là điều kiện bảo đảm cho tự do của mỗi người. Vì thế, những quyền tự do của mỗi người không thể không bị hạn chế bởi pháp luật nhằm bảo đảm cho tự do của những người khác, bảo đảm lợi ích chung cho cả cộng đồng. Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của nước Pháp cũng thể hiện về các quyền tự do của con người và công dân Pháp theo nguyên tắc ấy. Điều khoản thứ tư của Tuyên ngôn nêu rõ: “Tự do bao gồm khả năng làm bất cứ điều gì mà không gây hại cho người khác. Như thế, việc thực hiện các quyền tự nhiên của mỗi cá nhân chỉ bị giới hạn sao cho các cá nhân khác trong xã hội cũng được hưởng những quyền tương tự. Những giới hạn này được quy định duy nhất bằng luật pháp”. Liên quan đến tự do báo chí và tự do ngôn luận, Điều 11 trong Tuyên ngôn này cũng xác định: “Tự do trao đổi suy nghĩ và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người. Vì thế, bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật”. Như vậy, tự do báo chí, tự do ngôn luận, bất luận trong trường hợp nào cũng là tự do có hạn định, không thể vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật. Trở lại trường hợp của nước Mỹ, tuy không có luật riêng về báo chí nhưng Mỹ lại có nhiều điều luật từ các luật khác của Quốc hội, nhiều quy định có tính pháp lý của tòa án, của các cơ quan liên bang khác và của các bang, trong đó có những quy định, những yêu cầu giới hạn đối với hoạt động báo chí, đối với quyền và trách nhiệm của công dân liên quan đến báo chí. Ví dụ, Ðiều 2.385 Chương 115, phần 18 (Title 18), Bộ luật của Mỹ (U.S.Code) quy định: Nghiêm cấm mọi hành vi in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng, tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hay bạo lực. Năm 1953, Bộ Luật này đã được bổ sung điều khoản cho phép xét xử việc đăng tải các tài liệu mà chính phủ cho là bí mật. Chưa kể, các tổ chức báo chí ở Mỹ cũng có những quy định riêng, yêu cầu người làm báo và các cơ quan báo chí phải tuân thủ những nguyên tắc cụ thể trong hoạt động báo chí. Quy tắc báo chí Mỹ theo tinh thần “lý thuyết trách nhiệm xã hội của báo chí” xác định 7 yêu cầu hoạt động nghề nghiệp là: 1- Trách nhiệm; 2- Tự do báo chí; 3- Sự độc lập; 4- Lòng thành, sự xác thực, đúng đắn; 5- Sự vô tư; 6- Sự bảo đảm tôn trọng thanh danh; 7- Giữ thuần phong mỹ tục. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hoạt động báo chí ở Mỹ và các nước phương Tây đã ít nhiều cởi mở hơn thời kỳ trước. Tuy nhiên, bằng hệ thống luật pháp, những chính sách và mức độ khác nhau, chính quyền Mỹ và các nước phương Tây vẫn quản lý chặt chẽ báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng. Ngoài ra, với sự cạnh tranh khốc liệt trong thị trường báo chí, truyền thông, hầu như tự do xuất bản báo chí và thành lập các tổ chức truyền thông hiện đại chỉ là quyền tự do của các ông chủ những tập đoàn tài phiệt giàu có, của những người có tiền, có của, có quyền lực trong tay. Không có chuyện những người nghèo hay tổ chức của họ có thể xuất bản báo chí hoặc duy trì hoạt động của một cơ quan truyền thông. Đặc biệt, các chính quyền phương Tây chưa bao giờ đối xử nhẹ tay đối với thông tin báo chí và những người làm báo bất đồng chính kiến, không “ăn cánh” với họ, có tư tưởng không đồng thuận với họ và nhất là đụng chạm đến lợi ích của các ông chủ và của nhà cầm quyền. Vụ Ét-uốt Snâu-đơn là một trong số những ví dụ sinh động và xác thực cho tình trạng đó. Tháng 6-2013, cựu nhân viên Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) E. Xnâu-đân đã tiết lộ cho một loạt tờ báo ở Mỹ và châu Âu về một chương trình rộng lớn của Chính phủ Mỹ nhằm theo dõi thông tin điện tử của người dân, và đặc biệt là Chương trình do thám toàn cầu, trong đó cơ quan tình báo Mỹ và Anh đã bí mật giám sát các cuộc điện thoại của 35 nhà lãnh đạo thế giới, trong đó có cả Thủ tướng Đức An-giê-la Méc-ken và ông Đ. Mét-vê-đép khi đó đang làm Tổng thống Nga. Vụ việc đã phơi bày ra ánh sáng mặt trái đen tối đến mức khó tưởng tượng của nền dân chủ, tự do kiểu Mỹ và làm chấn động cả thế giới. Ngay lập tức, Cơ quan An ninh nội địa Mỹ (NSA) và Lầu Năm góc tuyên bố E. Xnâu-đân đã đánh cắp 1,7 triệu trang tài liệu mật liên quan đến hoạt động của các cơ quan tình báo Mỹ và các chiến dịch quân sự của Mỹ. Anh ta bị cáo buộc ba tội: Ăn cắp tài sản chính phủ, truyền tin trái phép các thông tin quốc phòng và cố ý tiết lộ tài liệu tình báo mật cho người không được phép. Theo luật pháp của nước Mỹ, với những tội danh ấy, E. Xnâu-đân sẽ phải đối mặt với mức án tổng cộng 30 năm tù. E. Xnâu-đân đã phải chạy trốn khỏi nước Mỹ và hiện nay vẫn đang tị nạn ở Nga. Mặc dù việc Chính phủ Mỹ theo dõi thông tin của người dân và giám sát điện thoại của các nguyên thủ quốc gia khác là việc làm sai trái, phạm pháp và đi ngược lại những nguyên tắc của quan hệ ngoại giao, nhưng họ không những không nhận lỗi, mà còn trở thành người luận tội và truy đuổi E. Xnâu-đân. Ngược lại, E. Xnâu-đân hành động theo đúng chuẩn mực của Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp nước Mỹ, được giới thiệu nhận giải thưởng Nô-ben Hòa bình, nhưng anh ta vẫn bị coi là tội nhân và khó có đường trở về Mỹ - Tổ quốc mình. Vậy nên, nói báo chí Mỹ và phương Tây là tự do vô bờ bến, các nhà nước ở đó không bao giờ can thiệp là cách nói vô căn cứ, một thứ xáo ngữ phi thực tế! Trở lại với câu hỏi thứ hai, phải chăng báo chí Mỹ và phương Tây chỉ thông tin những gì là sự thật, là phi chính trị, khách quan, không thiên vị? Câu trả lời là không, hoàn toàn không! Một thực tế không thể phủ nhận là Chính phủ Mỹ và các nước phương Tây thường bưng bít và ngăn chặn báo chí đưa những những thông tin về các sự kiện khách quan mà bất lợi cho họ hoặc các đồng minh. Vụ thảm sát ở Mỹ Lai trong Chiến tranh Việt Nam là một ví dụ điển hình về tình trạng đó. Ngày 16-3-1968, trong cuộc càn quét vào thôn Mỹ Lai, làng Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, một đơn vị lục quân Mỹ đã nổ súng giết hại 504 dân thường không có vũ khí trong tay, phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Trước khi bị sát hại, nhiều người trong số các nạn nhân còn bị cưỡng bức, quấy rối, tra tấn, đánh đập hoặc cắt xẻo các bộ phận trên cơ thể. Trong khi đó, báo cáo của quân đội Mỹ lại ghi rằng họ đã “tiêu diệt 128 binh lính kẻ thù mà không chịu bất cứ thương vong nào”. Phải đến cuối năm 1969, tức là hơn một năm sau, một người lính Mỹ biết được vụ thảm sát này qua lời kể của những kẻ trực tiếp tham gia mới tố cáo, lôi vụ thảm sát đó ra ánh sáng và nhân loại mới được biết đến một tội ác dã man chống lại con người của quân đội Mỹ. Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh Péc-xích năm 1991, bộ máy tuyên truyền của quân đội Mỹ đã chuẩn bị và tổ chức rất chặt chẽ việc đưa tin để bảo đảm sự an toàn và có lợi cho họ. Các nhà báo được họ lựa chọn cẩn thận và bảo đảm mọi điều kiện sống, làm việc khi đi theo quân đội. Nhiệm vụ còn lại của họ là đưa tin theo những gì mà bộ máy tuyên truyền của quân đội Mỹ đã “xào nấu”. Giôn R. Mac A-thua, nhà báo Mỹ, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Mặt trận thứ hai: Kiểm duyệt và tuyên truyền về chiến tranh vùng Vịnh 1991”, đã nhận xét: Các hãng tin Mỹ, như FOX, CNN, ABC, CBS, NBC ít khi đưa được tin chính xác về diễn biến thực tế các trận đánh, vì hầu hết các bài và hình ảnh đều được biên soạn tại các căn cứ quân sự của Mỹ ở Ca-ta và Cô-oét. Các phóng viên hầu hết đều ở phía sau chiến tuyến viết bài, đưa tin dựa vào các tin và tài liệu do quân đội Mỹ cung cấp. Cũng chính trong thời kỳ này, xe tăng Mỹ đã nã đạn vào một khách sạn ở Thủ đô Bát-đa (I-rắc), nơi có hơn 100 nhà báo đang làm việc, làm cho 11 người chết, hàng chục người khác bị thương. Năm 1999, NATO không kích vào Đài Truyền hình quốc gia Nam Tư RTS ở Thủ đô Bê-ô-grat, giết chết 16 nhà báo... Những thông tin này đều bị chính quyền Mỹ kiểm soát, không để lọt ra trên báo chí của Mỹ. Một ví dụ khác, vụ biếm họa nhà tiên tri Mô-ha-met. Cuối năm 2005, tờ báo Jyllands-Posten của Đan Mạch đăng 12 bức biếm họa về nhà tiên tri Mô-ha-met của đạo Hồi, trong đó có bức vẽ nhà tiên tri Mô-ha-met với quả bom đã châm ngòi đặt trong khăn xếp trên đầu. Trên quả bom còn có ghi một tín điều của Hồi giáo. Sau đó một số tờ báo của 40 nước ở châu Âu đã đăng lại bức tranh này, trong số đó có tờ tuần báo trào phúng Charlie Hebdocủa Pháp. Sau vụ việc này, bạo loạn đã xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là những nước có đông tín đồ Hồi giáo. Những người phản đối việc đăng tải những bức vẽ này cho rằng đó là sự sỉ nhục và lăng mạ Hồi giáo. Những người ủng hộ lại cho rằng việc một tờ báo in hình biếm họa hay đăng tải cái gì chăng nữa là quyền tự do báo chí chính đáng. Lạ lùng là chính phủ nhiều nước phương Tây lại lên tiếng ủng hộ và đứng ra bảo vệ, thậm chí khuyến khích các tòa báo, bất chấp những nguyên tắc về chống lạm quyền tự do đã được ghi trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc mà họ đã công nhận. Những vụ bạo loạn chống lại việc đăng tải biếm họa nhằm vào Hồi giáo đã không giúp cho các cơ quan báo chí châu Âu, nhất là tờ tuần báo trào phúng Charlie Hebdo có một bài học cần thiết về việc “lạm dụng quyền tự do” “gây hại cho người khác”, “lăng mạ tôn giáo”. Trong các năm 2011, 2013 và 2015, mỗi năm Charlie Hebdo đều có một số báo chuyên biệt đăng tải những bài viết và biếm họa liên quan đến Hồi giáo. Việc làm đó đã gây nên sự phẫn nộ trong dư luận người theo Hồi giáo. Và ngày 7-1-2015, một số phần tử quá khích đã tấn công trụ sở tuần báo trào phúng Charlie Hebdo giữa trung tâm Pa-ri. Vụ xả súng đã khiến 12 người thiệt mạng, trong đó có 5 họa sĩ nổi tiếng của nước Pháp. Vụ xả súng ở tòa soạn Charlie Hebdo rõ ràng là hành động khủng bố cần phải lên án. Nhưng phải chăng để thực thi quyền tự do báo chí, người ta có thể tự do xúc phạm bất cứ ai, nhất là lăng mạ những điều thiêng liêng trong niềm tin tôn giáo? Nếu tự do báo chí cho người này nhưng lại làm tổn hại đến người khác, làm cho người khác không có tự do, thậm chí bị tổn thương, thử hỏi đó có phải là thứ tự do báo chí cần thiết cho con người và xã hội không? Ở trong nước, các chính phủ phương Tây quản lý, sử dụng báo chí truyền thông nhằm phục vụ cho lợi ích và làm đẹp hình ảnh của họ. Còn đối với các quốc gia bất đồng chính kiến, không ăn cánh hoặc yếu thế thì họ tìm cách can thiệp hoặc lũng đoạn tình hình bằng thông tin báo chí. Năm 1950, CIA bắt đầu thực hiện Chương trình “Kiểm soát nhận thức” (mind control), sử dụng các phương tiện thông tin báo chí để can thiệp vào nội tình các quốc gia không cùng chính kiến. Theo đó, họ thành lập và rót tiền cho Đài Châu Á tự do (RFA) để xây dựng các chương trình phát thanh tiếng địa phương, nhằm tuyên truyền chống các nước ở châu Á đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay, RFA vẫn hoạt động với chương trình theo 9 thứ tiếng, không chỉ là phát thanh mà còn bằng in-tơ-net. Đài Châu Âu tự do (RFE) được thành lập từ năm 1949, do Quốc hội Mỹ chu cấp kinh phí hoạt động, nhằm chống phá Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa Đông và Trung Âu trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Hiện RFE có hai trụ sở ở Pra-ha (Séc) và ở Oa-sinh-tơn (Mỹ), với các chương trình phát thanh bằng 28 thứ tiếng và nhằm vào Nga, một số nước ở Trung Á, Nam Á và Trung Đông. Bằng lực lượng báo chí khổng lồ, ảnh hưởng rộng khắp toàn thế giới, với sự hỗ trợ mạnh mẽ của tiền bạc và công nghệ tiên tiến, báo chí Mỹ và phương Tây hầu như chi phối lĩnh vực truyền thông, áp đặt dư luận xã hội cả thế giới. Và bằng con đường báo chí, Mỹ và phương Tây đã phát động những cuộc bạo loạn còn được gọi dưới cái tên mỹ miều là những cuộc “Cách mạng màu” ở một số quốc gia. Vụ Ru-ma-ni năm 1989 là một ví dụ điển hình cho việc sử dụng truyền thông báo chí để kích động bạo loạn, lật đổ. Vụ việc bắt đầu từ thành phố nhỏ Ti-mi-xoa-ra với 25 vạn dân ở vùng Tran-xi-va-ni-a, vùng đất nghèo nhất châu Âu. Trong một cuộc biểu tình của người dân, chủ yếu là cán bộ, công chức và người về hưu đòi chính quyền cải thiện đời sống, một số phần tử quá khích đập phá các cửa hàng, xe cộ đã bị lực lượng an ninh bắt giữ để duy trì trật tự. Truyền thông trong nước Ru-ma-ni chỉ đưa tin đơn giản như một cuộc gây rối. Vụ việc tưởng như đã yên lặng. Nhưng báo chí phương Tây lập tức vào cuộc. Mặc dù không chứng kiến sự kiện, nhưng báo chí phương Tây đã đưa tin cuộc biểu tình gây rối ở Ti-mi-xoa-ra như “một vụ thảm sát đẫm máu”. Đài Châu Âu tự do mặc dù chỉ “nghe nói” thôi nhưng đã đưa ra số người chết lên đến khoảng từ 4.000 đến 20.000. Đó là một con số chỉ có người đặc biệt giàu trí tưởng tượng mới có thể nghĩ ra, bởi vì nó lớn hơn nhiều lần số người tham gia biểu tình. Cùng với đó là một làn sóng những tin giả để bôi nhọ Ni-cô-la Xô-xét-xcu và chế độ đương thời. Và chính thông tin báo chí đã trở thành mồi lửa cho một đám cháy dữ dội, chất kích thích sự cuồng loạn của những đám đông vô chính phủ. Kết quả là chỉ hai tuần sau, Ni-cô-la Xô-xét-xcu, người có công đưa đất nước Ru-ma-ni từ tàn phá và nghèo đói sau chiến tranh trở thành một quốc gia hòa bình, phát triển, đã bị giết hại một cách hèn hạ. Sau gần 30 năm, viên đại úy I. Bô-e-ru đã tham gia vụ xử bắn Ni-cô-la Xô-xét-xcu hối hận: “Cuộc sống của những người dân nơi đây càng tồi tệ hơn sau khi ông Ni-cô-la Xô-xét-xcu bị lật đổ. Nếu như những người đó biết tôi là ai thì có lẽ họ sẽ xé xác tôi. Tôi lấy làm tiếc vì phải nói điều đó… Chúng tôi có nhiều người giàu, nhưng cạnh đó có cả sự bần hàn cùng cực. Nước chúng tôi thiếu một tầng lớp trung lưu. Dưới thời ông Ni-cô-la Xô-xét-xcu cũng có tình trạng làm ăn gian lận, trí trá, nhưng ít lắm, còn bây giờ nạn tham ô, nhũng nhiễu lan tràn khắp cả nước”(1). Đương nhiên là những điều như viên đại úy I. Bô-e-ru thừa nhận không bao giờ được báo chí phương Tây nhắc tới. Còn rất nhiều những ví dụ, vô số những bằng chứng cho sự không khách quan, thái độ thiên vị và những hoạt động phục vụ cho những âm mưu chính trị của báo chí Mỹ và phương Tây. Mặc dù giới chức chính quyền và các cơ quan báo chí chính thống không bao giờ công khai thừa nhận nhưng thực ra không khó gì để người ta có thể nhận ra. Hơn nữa, trong một số trường hợp, chính những nhân vật có thẩm quyền nhất lại thú nhận cho dù “không ai khảo”. Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm đã gọi một số hãng truyền thông là “rác rưởi” vì sản xuất “tin tức giả”. Ngày 18-2-2017, ông ta đã viết rằng: “Truyền thông tin tức giả (các đơn vị yếu kém NYTimes, @NBCNews, @ABC, @CBS, @CNN) không phải là kẻ thù của tôi, đó là kẻ thù của người dân Mỹ!”. Tóm lại, trả lời “không” cho hai câu hỏi thực tế đã đặt ra trên đây cũng là dễ hiểu. Bởi bản chất của tự do vốn luôn luôn là tự do cho ai, tự do vì mục đích gì và tự do trong khuôn khổ nào. Đối với tự do báo chí cũng vậy. Tự do báo chí cho mọi công dân, vì thỏa mãn nhu cầu thông tin trao đi và nhận lại và những mục đích tốt đẹp của con người và xã hội, luôn là điều mong muốn chung của mọi dân tộc, mọi quốc gia. Nhưng tự do cho mình, cộng đồng mình mà ảnh hưởng xấu đến người khác và cộng đồng khác, đâu còn là tự do. Bởi vậy, tự do báo chí phải đặt trong khuôn khổ pháp luật và những quy tắc đạo đức xã hội. Duy trì trong khuôn khổ ấy, trong những quy tắc ấy, báo chí là động lực thúc đẩy phát triển xã hội, là phương tiện phục vụ tích cực cho con người. Bỏ qua những khuôn khổ ấy, những quy tắc đạo đức ấy, báo chí rất có thể trở thành vô chính phủ, vật gây hại với văn hóa và con người, thậm chí trở thành công cụ chính trị chống phá lẫn nhau giữa các thế lực, đảng phái, nhà nước, giữa các quốc gia, dân tộc./.

Lịch sử vấn đề tự do báo chí

Sự ra đời của báo chí là kết quả quá trình phát triển văn hóa của nhân loại, trong đó đặc biệt là những thành tựu về kỹ thuật in ấn. Nhưng chính bối cảnh của cuộc cách mạng tư sản ở phương Tây và cùng với tiến trình công nghiệp hóa, mở rộng thị trường mới là điều kiện, là mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển và thể hiện sức mạnh của báo chí với tính chất là một phương tiện truyền thông mới. Trong cuộc đấu tranh một mất, một còn giữa một bên là các thế lực phong kiến, quý tộc bảo thủ và nhiều khi là cả sự sát cánh của các tăng lữ, với một bên là giai cấp tư sản đang lên cùng với nhu cầu phát triển nền kinh tế hàng hóa, báo chí ngay lập tức trở thành một quyền lực xã hội đầy hấp dẫn. Tuy nhiên, các nhà nước quân chủ lúc đó đã giành lấy báo chí, giữ lấy nó như một thứ vũ khí mạnh mẽ để bảo vệ quyền lực của mình. Tự do báo chí ra đời trong bối cảnh đó và tất nhiên do chính giai cấp tư sản phát động. Ban đầu, tự do báo chí được hiểu là quyền tự do in ấn và xuất bản các tờ báo mà giai cấp tư sản lúc đó đòi được chia sẻ công bằng với nhà nước phong kiến bảo thủ đang nắm giữ độc quyền. Một số nhà tư tưởng tư sản từng giải thích về tự do báo chí như tự do hàng hóa. Người ta có thể tự do sản xuất các hàng hóa để đưa ra thị trường tiêu thụ thì cũng có thể tự do in ấn, xuất bản các tờ báo để bán cho người đọc. Người dân đã biết chọn cho mình thứ hàng hóa tốt thì cũng có thể chọn cho mình những ý kiến hay, những tư tưởng tốt trong báo chí tự do (Giôn Min-tơn 1608 - 1674, Giôn Xtu-át Min 1806 - 1873). Tuy nhiên, giới phong kiến quý tộc và các nhà nước bảo thủ không hiểu như thế. Họ tìm mọi cách nắm lấy báo chí và biến báo chí thành một thứ công cụ sắc bén, một thứ quyền lực mạnh mẽ để bảo vệ vị thế xã hội và các lợi ích của mình. Trong khi nhà nước phong kiến sử dụng pháp luật và cả bạo lực để ngăn cản quyền tự do báo chí của giai cấp tư sản và nhân dân lao động thì một bộ phận tôn giáo cũng đứng về phía chính quyền, hòa giọng vào “dàn đồng ca” lên án tự do báo chí, tự do ngôn luận. Trong Thông điệp Mi-ra-ri-vốt ngày 15-8-1832, Giáo hoàng Grê-gô-ri-ô XVI đã lên án mạnh mẽ và hoàn toàn loại bỏ tự do ngôn luận, tự do báo chí ra ngoài vòng pháp luật của xã hội. Thông điệp viết: Cái châm ngôn sai lầm và phi lý, hay nói cho đúng, sự rồ dại: tự do tín ngưỡng, tự do báo chí, cái tự do ghê tởm nhất, tai hại nhất, mà bao giờ người ta cũng ghê sợ. Khi giành được chính quyền, giai cấp tư sản lại đi theo vết xe đổ của nhà nước phong kiến quý tộc, giành lấy cho riêng mình độc quyền về báo chí, ngăn cản tự do báo chí ở chính quốc và đàn áp báo chí tự do ở các quốc gia, lãnh thổ thuộc địa. Cuộc đấu tranh giành tự do báo chí của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địa đã phải trả giá cả bằng xương máu và nước mắt. Phải đến giữa thế kỷ XX, với kết quả của cuộc đấu tranh kiên trì, quyết liệt của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới cùng với những tiến bộ văn hóa, văn minh nhân loại, quyền tự do báo chí và cùng với nó là quyền tự do ngôn luận, mới được khẳng định và trở thành một giá trị chuẩn mực quốc tế. Điều 19 trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217A (III), ngày 10-12-1948, nêu rõ: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận, truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và không giới hạn về biên giới”. Ngày nay, quyền tự do báo chí không đơn thuần chỉ là quyền tự do in ấn, xuất bản các sản phẩm báo chí mà còn được mở rộng một cách toàn diện, bao gồm quyền tự do hoạt động nghề nghiệp của người làm báo; quyền tự do ra báo, thành lập các cơ quan truyền thông đại chúng; quyền tự do tiếp cận thông tin báo chí; quyền tự do truyền phát thông tin, biểu đạt quan điểm và quyền được bảo vệ và đối xử công bằng trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Cần phải nói rằng, lâu nay rất nhiều người vì mục đích nào đó mà thường chỉ nhấn mạnh các quyền tự do làm báo, tự do ra báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí mà quên đi quyền được bảo vệ một cách công bằng, đạo đức trên báo chí, truyền thông. Hơn thế nữa, người ta cũng vô tình hay hữu ý mà không nhắc đến vai trò của pháp luật trong điều chỉnh hoạt động báo chí phục vụ cho mục đích chung, hài hòa của xã hội và phúc lợi của nhân dân.