Lịch sử trước đây cũng như hiện nay cho thấy, các
tôn giáo khi vào Việt nam muốn trụ lại và phát triển đều phải biến đổi ít nhiều
cho phù hợp với truyền thống dân tộc, với nền tảng văn hóa bản địa như phong
tục, tập quán, tâm lý…của quốc gia – dân tộc nói chung, văn hóa các tộc người
nói riêng. Ngoài ra trong quá trình hình thành và phát triển của mình, các tôn
giáo lớn đều thích ứng với lợi ích khác nhau của các giai tầng xã hội, với sự
biến đổi của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng để tìm ra một tiếng nói
chung, nhằm tôn vinh ý nghĩa “tốt đời, đẹp đạo”
Biểu hiện:
-Dân tộc
và tôn giáo gắn kết với nhau trên cơ sở cộng đồng lãnh thổ
Ở Việt Nam khi mà phần lớn các tộc người và các tôn
giáo đan xen, ít có tộc người nào, tôn giáo nào có lãnh thổ riêng biệt. Điều
này là một trong những thuận lợi trong xây dựng, bảo vệ lãnh thổ cộng đồng lãnh
thổ chung quốc gia cũng như xây dựng khối đoàn kết lương giáo, đoàn kêt toàn
dân. Tuy nhiên đặc điểm này nếu không được sử lý tốt sẽ dẫn tới mất đoàn kết
các tộc người theo tôn giáo khác nhau khi họ sống trên cùng một địa bàn.
- Dân tộc
và tôn giáo gắn kết về cộng đồng ngôn ngữ
Phần lớn các tộc người ở Việt Nam theo các tôn giáo
lớn (Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo…) đều lấy tiếng Việt là ngôn ngữ chính thống
trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của mình. Chỉ có một số tộc người thiểu số
có sử dụng ngôn ngữ của tộc người mình trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng
-Dân tộc
và tôn giáo gắn kết với nhau về cộng đồng văn hóa
Các tôn giáo có giáo lý, cách tu tập khác
nhau, nhưng luôn thấm đẫm bản sắc văn hóa của người Việt Nam trong ăn, ở, sinh
hoạt, tập tục
Ví dụ: Tiêu biểu như cách thờ phụng. Những
người theo tôn giáo khác nhau có thể sống chung trong một làng, 1 dòng họ, thậm
chí một gia đình (tiếng trống Đình làng, tiếng chuông nhà thờ hoà quyện với
tiếng mõ chùa là nét đặc trưng của sự ôn hoà). Người Việt Nam dù theo tôn giáo
nào cũng giữ được bản sắc dân tộc. Người Việt nam không xa cách đối tượng mình
thờ phụng, vì họ tin là người giúp mình. Thần thánh của các tôn giáo, tổ tiên
cùng huyết thống cũng chỉ là người dẫn đường, nêu gương cho bản thân noi theo
để giữ đạo làm người. Với tầng lớp có quyền thế tôn giáo vào Việt Nam giúp họ
củng cố vương quyền, suy tôn vua là con trời hành đạo, là cha mẹ dân. Với người
dân, tôn giáo là phương thức giúp họ điều chỉnh hành vi “ăn, ở” sao cho
phải đạo, hợp lẽ trời, thoả mãn nhu cầu trần tục và thế giới mai sau “có thờ có
thiêng, có kiêng có lành”
-Ngày nay, các tôn giáo luôn có ý thức “cải tạo
giáo hội” theo chiều hướng ngày càng đồng hành cùng dân tộc. Các tôn giáo có xu
hướng nhập thế để phù hợp với hiện thực xã hội ngày nay (ít lễ lạy hơn; hướng
vào lao động sản xuất…)
Đúng như tinh thần của Hội đồng Giám mục Công giáo
Việt Nam đã nêu ra: Ý thức mình là con cháu Lạc Hồng để đều là chủ nhân của đất
nước. Ai cũng muốn đất nước mình, Tổ quốc mình thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, hội
nhập với thế giới với tấm căn cước sang giá”
Như vậy có thể khẳng định trong lịch sử cũng như
hiện nay, ở Việt Nam các tôn giáo (dù nội sinh hay ngoại nhập) luôn tự phải
biến đổi mình để thích nghi, tồn tại. Sự vận động biến đổi của mối quan hệ giữa
dân tộc và tôn giáo gắn chặt với sự vận động và biến đổi của tồn tại xã hội.
Trong điều kiện hiện nay, do tác động của kinh tế thị trường, toàn cầu hoá,
quan hệ dân tộc và tôn giáo có những điểm khác biệt so với trước. Chính sự khác
biệt đó là cơ sở để chúng ta nghiên cứu nhằm bổ sung lý luận về tôn giáo và
hoạch định chính sách về quản lý tôn giáo theo phương châm “tôn giáo đồng hành
cùng dân tộc” phù hơp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá của dân tộc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét