Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

Sự tiếp biến tôn giáo diễn ra dưới tác động của những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nhất định của dân tộc

 


Lịch sử phát triển của các tôn giáo cho thấy, hầu hết các hình thức tôn giáo ra đời và phát triển đều phải biến đổi trên cơ sở kế thừa và vay mượn các chất liệu có sẵn trong đời sống của cộng đồng dân tộc, bởi vì tôn giáo có nguồn gốc từ xã hội hiện thực. Với các tôn giáo ngoại nhập cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Muốn du nhập và phát triển vào cộng đồng dân tộc nào đó, bản thân tôn giáo đó cũng phải tự biến đổi, tự thích nghi với đặc điểm, truyền thống văn hóa của dân tộc. Chính việc bị chi phối bởi văn hóa bản địa để tồn tại đã làm nảy sinh hiện tượng cùng một tôn giáo nhưng ở mỗi cộng đồng, dân tộc, quốc gia khác nhau lại có những hiện tượng khác nhau. Chẳng hạn, sự biểu hiện đa dạng của đạo Phật, đạo Tin Lành trên thế giới là một ví dụ.

Trên cơ tầng văn hoá của mỗi dân tộc, nhiều tôn giáo khác nhau có thể cùng tồn tại mà ít xuất hiện những xung đột, thậm chí còn tồn tại trong thế “hoà nhi bất đồng” (chung sống hoà bình - như kiểu tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam”. Ví dụ Đạo Cao Đài ở Việt Nam. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, Đạo Cao đài xuất hiện ở Nam Bộ, trở thừnh tôn giáo có tính khu vực, với tên “Cao Đài Đại đạo Tam kỳ phổ độ” gọi tắt là đạo Cao Đài. Xuất phát từ nguồn gốc ra đời, trong hoàn cảnh nô dịch, bóc lột của Thực dân Pháp, làm cho đời sống nông dân đến cùng cực, đã xuất hiện nhiều đạo(đạo Lành, đạo Minh sư, đạo trưởng, đạo dừa, đạo ngồi…các đạo này mục đích cũng là cứu oan cứu khổ cho chúng sinh, tuy nhiên đều không giải thoát được nỗi khổ cho chúng sinh, từ đó đã thúc đẩy số đông nông dân ở Nam bộ tìm đén một tôn giáo mới. Cốt lõi của đạo Cao Đài là tín ngưỡng “cầu hồn, cầu tiên” của Lão giáo đã tồn tại từ trước ở vùng này, kết hợp với tín ngưỡng “thần linh học” từ phương Tây tràn sang, hình thành tín ngưỡng “Cầu cơ chắp bút”, gọi là “cơ bút”. Tín ngưỡng này phát triển trong một bộ phận trung lưu ở Nam bộ từ năm 1920, mạnh nhất vào những năm 1924-1926. (có khoảng 50 vạn tín đồ). Giáo lý đạo Cao đài là: “Cao đài đại đạo Tam kỳ Phổ độ”. Cao đài: Đài cao thờ phụng thượng đế (là biến tướng của quan niệm niết bàn ở Phật giáo, thiên đường ở Ky tô giáo). Trị vì cao đài là Cao đài tiên ông đại bồ tát Ma-ha-tát. Đại đạo:Là đạo lớn gồm tất cả các đạo: nhân đạo (khổng tử), thần đạo (thờ thần), Thánh đạo (giê su), Tiên đạo (lão tử), Phật đạo (thích ca). Ngày nay con người hiểu biết nhau và do các đạo xung khắc nên đấng tối cao phải tổng hợp các đạo lại trong một đạo lớn. Tam kỳ:Là khoảng thời gian đấng tối cao đưa các đạo lớn xuống cứu hộ con người (3 lần). Phổ độ: Danh giới giữa mê muội với giác ngộ. Trung tâm giáo lý của cao đài là “tam giáo ngũ chi” Phật giáo (từ bi), Nho giáo (công bằng), lão giáo (bác ái). Từ “tam giáo” đẻ ra “ngũ chi đạo” (Phật, tiên, thánh, thần, Nhân đạo). Tam giáo đồng nguyên có trước khi có đạo Cao đài. Về thờ phụng, trong điện thờ cao nhất là Thượng Đế, tượng trưng bằng con mắt (thiên nhãn), dưới thiên nhãn  tam giáo (phật, nho, lão) và ngũ chi đạo: Quan âm, Lý Thái Bạch, Quan Thánh, Giê su và Khương Thái Công.. Lễ phục của tín đồ màu trắng; chức sắc theo từng nghành (vàng- Phật), (đỏ- Nho), (xanh- Lão) được cắt may cầu kỳ theo phẩm phụch các vua quan phong kiến.

Nhưng cũng có thể biến thành các hình thái khác, tuy xuất phát từ một gốc nhưng lại có nhiều khác biệt kể cả trong tín lý, cách tu tập. Chẳng hạn đạo Phật vốn là một tôn giáo có tính nhập thế nhưng khi du nhập vào Việt Nam, do những đặc điểm yêu cầu của dân tộc, tôn giáo này lại có tính nhập thế cao hơn. Hay nho giáo, nếu xem nó là một tôn giáo, cũng thấy có những khác biệt khi nhập thế vào Việt Nam. Nhìn chung nho giáo ở Việt Nam ít khắt khe hơn Nho giáo ở Trung Quốc, nhất là trong cách nhìn nhận về vai trò của người phụ nữ.

Ngày nay bên cạnh xu hướng toàn cầu hoá về mọi mặt của đời sống xã hội đang diễn ra mạnh mẽ, xu hướng đề cao lòng tự tôn dân tộc đang tác động đến đời sống tôn giáo thế giới. Toàn cầu hoá đã phá vỡ tính độc tôn của một tôn giáo trong từng quốc gia, kể cả quốc gia đã từng bị thống trị bởi một tôn giáo độc thần, do vậy, nó cũng đem đến cho nhiều tôn giáo giấc mơ bao trùm thế giới. Xu thế đó làm xuất hiện xu thế dân tộc hoá tôn giáo- trở về với tôn giáo truyền thống. Trong xu thế này, các tôn giáo truyền thống hay tôn giáo dân tộc được xem là chỗ dựa, là vũ khí để bảo vệ bản sắc dân tộc trước sự uy hiếp của các tôn giáo thế giới đang được các thế lực chính trị sử dụng như một vũ khí để đồng hoá văn hoá. Đứng ở vị trí này, các tôn giáo truyền thống hay tôn giáo dân tộc vẫn tiếp tục giữ vai trò làm “màng bọc” để dân tộc hoá các tôn giáo ngoại nhập.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét