Thứ Tư, 3 tháng 11, 2021

Chủ động đấu tranh lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá Việt Nam

 

Chủ động đấu tranh lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá Việt Nam

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm chống phá Đảng và chế độ ta. Mục đích của chúng là lợi dụng hạn chế, thiếu sót của ta trong việc thực thi chính sách dân tộc, sự chênh lệch về mức sống và thu nhập giữa các vùng dân tộc, trình độ dân trí của một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp... để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, kích động đồng bào tham gia các cuộc biểu tình, bạo loạn chống đối chính quyền, gây thiệt hại về kinh tế, mất ổn định về chính trị - xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê, tổng dân số của Việt Nam là 96,2 triệu người, trong đó dân tộc Kinh hơn 82 triệu người, chiếm 85,3% dân số, 14,7% dân số còn lại thuộc về 53 dân tộc thiểu số, có những dân tộc thiểu số có dân số trên 1 triệu người, như: Tày, Thái, Mông, Khmer, Nùng...; có những dân tộc dân số chưa đến 5.000 người, sống phân bố và xen kẽ trên các địa bàn rộng lớn, tập trung chủ yếu là ở các vùng trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Quá trình hình thành và phát triển của mỗi dân tộc không giống nhau, song nhìn chung, các dân tộc luôn có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đồng bào các dân tộc luôn đồng hành cùng tiến trình lịch sử phát triển dân tộc, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đảng và Nhà nước ta luôn có quan điểm nhất quán đối với vấn đề dân tộc, đó là bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Trên cơ sở đó, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, tập trung làm giảm dần khoảng cách về trình độ dân trí, mức sống giữa các dân tộc trong lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số; gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa riêng của các dân tộc, kiên quyết đấu tranh loại bỏ tư tưởng kỳ thị, chia rẽ đoàn kết dân tộc hoặc lợi dụng vấn đề dân tộc để gây bất ổn về chính trị - xã hội, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc; thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc cùng tiến bộ, góp phần xây dựng đất nước, hướng đến tương lai các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đều phát triển, ấm no, bình yên và hạnh phúc.

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dân tộc, đặc biệt vùng đồng bào dân tộc thiểu số, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong những năm qua, nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về công tác dân tộc đã không ngừng được hoàn thiện. Đại hội lần thứ VIII của Đảng xác định: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược”, đến Đại hội lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”. Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) đã ban hành nghị quyết riêng về công tác dân tộc trong đó nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”. Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định thêm: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta”.

Tại Đại hội lần thứ XI, Đảng ta đã kế thừa các chủ trương, đường lối của các đại hội trước đó với quan điểm: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển chủ trương, đường lối về công tác dân tộc: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và tây duyên hải miền Trung. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc”.

Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, Đại hội XIII tiếp tục khẳng định quan điểm: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”. Chú trọng tính đặc thù của từng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Đặc biệt là, “có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững”.

Trên thực tế, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đang đi vào cuộc sống, mang lại sự bình đẳng, quyền và lợi ích hợp pháp trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết các dân tộc, tương trợ, tương thân, tương ái, cùng nhau tiến bộ, phát triển giữa các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời, từng bước khắc phục tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần cho người dân; phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; phòng, chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, kỳ thị, chia rẽ các dân tộc; nghiêm khắc xử lý các cá nhân, tổ chức lợi dụng vấn đề dân tộc gây mất đoàn kết, chống phá Đảng, Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, những chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, khi áp dụng vào đời sống vẫn còn những bất cập, hạn chế như, một số hệ thống chính sách còn dàn trải, chồng chéo, nhiều nội dung chưa rõ ràng, chưa có trọng tâm, trọng điểm; khả năng hiện thực hóa một số chính sách gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực, chưa phát huy tối đa thế mạnh của từng địa phương; công tác kiểm tra, đánh giá, tổng kết ở một số nơi chưa được thực hiện thường xuyên; việc rà soát, hoàn thiện nhiều chương trình, đề án còn chậm trễ... Thực tiễn cho thấy, công tác quản lý ở cấp cơ sở một số địa phương còn lỏng lẻo, chưa sâu sát, không nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là do trình độ của đội ngũ cán bộ cơ sở còn thấp, việc triển khai chính sách chưa chuyên nghiệp, lúng túng trong khâu hướng dẫn thực hiện. 

Những hạn chế, yếu kèm trên đã tạo cớ để các thế lực thù địch khoét sâu, lợi dụng vấn đề dân tộc để xâm phạm an ninh quốc gia, bằng cách xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề dân tộc nhằm bôi nhọ, bóp méo sự thật, chia rẽ đoàn kết dân tộc. Chúng lợi dụng những thiếu sót của ta trong việc thi hành các chính sách dân tộc để gây xung đột, mâu thuẫn trong nội bộ đồng bào các dân tộc, từ đó đẩy lên cao trào, tạo cớ can thiệp vào những vấn đề nội bộ về chính trị - xã hội ở nước ta. Lợi dụng các ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn, các sự kiện chính trị - xã hội có liên quan đến chính sách dân tộc để kích động, lôi kéo đồng bào các dân tộc tham gia biểu tình, gây rối trật tự công cộng. Chúng gieo rắc tư tưởng ly khai, tự trị, “tôn giáo hóa vùng dân tộc”… Xây dựng, nuôi dưỡng nhiều tổ chức phản động dùng làm công cụ chống phá. Tạo mâu thuẫn, gây xung đột giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số hay giữa các dân tộc khác nhau cùng sinh sống trên lãnh thổ, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo...

Để ngăn chặn và đẩy lùi các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, cần tiến hành đồng bộ một số giải pháp:

Trước hết, tiếp tục quán triệt, tuyên truyền sâu rộng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho tất cả các cơ quan, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương, nhất là ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Cần lựa chọn nội dung tuyên truyền phù hợp với trình độ, văn hóa, tâm lý của đồng bào từng khu vực. Cần có sự thống nhất trong công tác phối hợp, để bảo đảm những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào có ý nghĩa và thiết thực nhất, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đồng bào. Củng cố thường xuyên khối đại đoàn kết các dân tộc.

Thứ hai, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đồng bào các dân tộc, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, là đối tượng dễ bị các thế lực thù địch hướng đến lôi kéo, lợi dụng, kích động, giúp đồng bào có khả năng nhận biết được những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đồng thời, cấp ủy, chính quyền cơ sở, các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự cần thường xuyên thăm hỏi, nắm bắt tình hình, tâm tư của bà con, kịp thời giải quyết những bức xúc, những vấn đề nổi cộm, không để xảy ra các điểm nóng về chính trị - xã hội.

Thứ ba, chú trọng phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Triển khai có hiệu quả các dự án, chương trình xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Tạo mọi điều kiện giúp đỡ đồng bào biết tự lực cánh sinh tạo sinh kế. Từ đó thu hẹp khoảng cách về mức sống cũng như thu nhập của đồng bào các dân tộc thiểu số so với mức bình quân của cả nước. Khi đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên, đồng bào các dân tộc sẽ tin tưởng vào các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, không nghe theo lời kẻ xấu.

Thứ tư, cần làm tốt công tác nắm bắt tình hình, chủ động phòng ngừa, đấu tranh phát hiện, đi trước đón đầu và kịp thời xử lý những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc xâm phạm an ninh quốc gia. Khi phát hiện, cần tìm hiểu nguyên nhân, có biện pháp giải quyết kịp thời, triệt để, tránh để tạo cớ can thiệp, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm. Có những chính sách khoan hồng, giúp đồng bào trót nghe theo lời kẻ xấu quay trở về, tái hòa nhập cộng đồng.

 

HỌC TẬP THEO BÁC VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN TRONG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19 HIỆN NAY

Công tác truyên truyền là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, giữ vai trò xung kích trên mặt trận tư tưởng của Đảng, góp phần quan trọng trong sự nghiệp cách mạng và tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nhất là ở các thời điểm cam go, trước những nhiệmvụ cấp bách đòi hỏi quyết tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân. Hiện nay, trước diễn biến phức tạp của tình hình và hậu quả tiêu cực do dịch Covid-19 gây ra, với phương châm hành động “Chống dịch như chống giặc” của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, thì công tác tuyên truyền là một nhiệm vụ trọng tâm, cốt lõi, để “ý Đảng” phù hợp với “lòng Dân” tạo thành sức mạnh tổng hợp nhanh chóng đẩy lùi dịch bệnh trong thời gian sớm nhất, đồng thời ra sức phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Tuyên truyền là đem một việc gì nói để dân hiểu, dân nhớ, dân làm theo. Nói không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại”. Theo Người, tuyên truyền là hoạt động mang tính sáng tạo và tính thẩm mỹ, toát lên từ toàn bộ các yếu tố cấu thành hoạt động tuyên truyền, cả nội dung, hình thức, phương tiện, cho đến tư tưởng, đạo đức, tình cảm của người tuyên truyền. Người nhấn mạnh “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng mới lọt tai quần chúng”. Công tác tuyên truyền sẽ góp phần làm cho quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thấu suốt trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, làm dấy lên phong trào cách mạng mạnh mẽ thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, quyết sách ấy và những người làm công tác tuyên truyền, trong đó bao gồm cả những người viết báo, viết sách, những người nghệ sĩ và cán bộ, đảng viên, “hễ những người có tiếp xúc với dân chúng đều là người tuyên truyền của Đảng”. Vì vậy, trongphòng, chống dịch Covid-19rất cần xác định rõ mục đích và phương pháp tuyên truyền theo lời dạy của Bác để phát huy hiệu quả công tác này trong giai đoạn hiện nay.
Trước hết, cần xác định rõ hoạt động truyên truyền hướng tới mục đích: Giác ngộ tư tưởng (hiểu biết), củng cố niềm tin (ủng hộ) và hướng dẫn hành động (làm theo). Với tình hình dịch bệnh đã và đang diễn biến phức tạp như hiện nay, công tác tuyên truyền phòng chống dịch Covid-19 đã được các cấp ủy, chính quyền địa phương chủ động, sáng tạo để kịp thời truyền tải tới mọi người dân. Các thông tin về tình hình dịch bệnh được cập nhật thường xuyên, phản ảnh liên tục trên các phương tiện thông tin đại chúng; cập nhật liên tục và đầy đủ sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ về các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 đến với toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Công tác truyên truyền đã hướng tới nâng cao nhận thức của người dân, cán bộ, đảng viên trong việc chủ động phòng chống dịch bệnh cho bản thân và xã hội trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn ra phức tạp với nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng. Trong đó kêu gọi mọi người dân tuân thủ nghiêm quy định 5K theo hướng dẫn của Bộ y tế; hướng dẫn người dân thực hiện khai báo y tế qua mạng và cài đặt ứng dụng Bluezone trên điện thoại di động, thông báo cho chính quyền về các trường hợp nhập cảnh trái phép, nghi nhiễm bệnh hoặc đi về từ vùng dịch; tuyên truyền việc tiêm vacine phòng Covid-19 và các hoạt đông chung tay ủng hộ, phòng chống dịch…
Để thực hiện mục đích như đã nêu ở trên, các chủ thể tuyên truyền như “những người viết báo, viết sách, những người nghệ sĩ …tất cả cán bộ, tất cả đảng viên” như lời Bác dạy, cần sử dụng ngôn ngữ nói, viết, hình ảnh, âm thanh, ánh sáng và các công cụ hỗ trợ khác để giải thích, bình luận nhằm truyền đạt nội dung thông tin về phòng, chống dịch Covid-19 để người nghe, người đọc, người nhìn, hiểu rõ vấn đề, củng cố niềm tin và quyết tâm hành động.
Ngay từ khi dịch bệnh Covid-19 phát hiện tại Việt Nam, các cơ quan chức năng đã triển khai công tác tuyên truyền bằng nhiều phương pháp khác nhau. Trong đó có những bài hát, những quy định rõ ràng như quy định 5K của Bộ Y tế (khẩu trang, khử khuẩn, khoảng cách, không tụ tập, khai báo y tế) về phòng chống dịch. Chính vì dễ nhớ, dễ hiểu nên mọi đối tượng, tầng lớp nhân dân trong xã hội đều thực hiện khá hiệu quả.Hiện nay Bộ Y tế đã truyền đi thông điệp 5T (Tuân thủ nghiêm 5k, Tiêm chủng tại phường, xã; Thầy thuốc đến tận gia; Thực phẩm đủ tại nhà; Test Covid tất cả), với những câu từ dễ hiểu, dễ nhìn, dễ nghe và kịp thời, tin tưởng rằng Nhân dân hưởng ứng và thực hiện nghiêm túc theo quy định phòng chống dịch Covid-19 của Bộ y tế.
Trong những ngày qua hình ảnh đội ngũ y, bác sỹ, các chiến sỹ quân đội, công an, đoàn viên, thanh niên xung phong lên đường “chi viện cho miền Nam” chống dịch xuất hiện trên truyền thông đã gây xúc động mạnh mẽ đã lay động đến trái tim của người dân. Những câu chuyện, hình ảnh dấn thân, đồng sức, đồng lòng của người dân trong tâm dịch đã có tác dụng làm thay đổi nhận thức, hành vi của người dân, giúp họ có trách nhiệm hơn với cộng đồng trong phòng, chống đại dịch Covid-19. Những phong sự,  những bài viết về “ATM gạo”, “ATM oxy” “gian hàng 0 đồng”, “chuyến xe nghĩa tình”, “những người già, trẻ em, phụ nữ mang thai có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được vận chuyển bằng máy báy về quê”… giúp mọi xích lại gần nhau hơn, yêu thương nhau hơn làm nảy nở lòng ‘thương thân, thương ái”, nhân hậu, bao dung để cùng vượt qua đại dịch…Những hình ảnh, clip về việc vận chuyển các chuyển lương thực, thực phẩm, dụng cụ y tế của Nhà nước và đóng góp của các tỉnh thành hỗ trợ đồng bào miền Nam đã làm cho người dân tự tin hơn trong thời gian giãn cách xã hội “ai ở đâu thì ở đó”.
Với phương pháp tuyên truyền sáng tạo, dễ nghe, dễ nhìn, dễ hiểu thì những thông tin chính thống về tình hình dịch bệnh đã đến với người dân rộng rãi hơn; mọi người kết nối, liên kết với nhau nhiều hơn; những câu chuyện đẹp, những hình ảnh lay động tới trái tim đã được truyền đi nhanh hơn. Từ đó, giúp Nhân dân vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước trong phòng chống đại dịch Covid-19.
Công cuộc phòng, chống dịch Covid-19 ở nước ta còn phức tạp, trong đó, công tác tuyên truyền sẽ giữ vai trò rất quan trọng. Vì vậy tuyên truyền phải được coi là hoạt động mang tính sáng tạo và tính thẩm mỹ, toát lên từ toàn bộ các yếu tố cấu thành hoạt động tuyên truyền từ nội dung, hình thức, phương tiện cho đến tư tưởng, đạo đức, tình cảm của người tuyên truyền “để dân hiểu, dân nhớ, dân làm theo” như lời Bác dạy thì nhất định sẽ góp phần từng bước “đánh đại” và chiến thắng đại dịch Covid-19 trong thời gian không xa.

ĐỔI MỚI, KHÔNG NGỪNG ĐỔI MỚI VÌ LỢI ÍCH CỦA ĐẤT NƯỚC, DÂN TỘC

 Thuật ngữ và tư tưởng “đổi mới” được Hồ Chí Minh đề cập từ sớm trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (1927), sau đó được Người nhắc lại, làm rõ thêm trong nhiều bài viết, bài nói, nổi bật là: “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Đời sống mới” (1947), “Dân vận”  (1949), đặc biệt trong bản “Di chúc” thiêng liêng (1965 - 1969) để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc Người đi xa. Từ các các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh toát lên một hệ thống luận điểm có giá trị nền tảng và định hướng về đổi mới.

Tinh thần ấy là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hy sinh, phấn đấu vô cùng cao đẹp và sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chí Minh. Cuộc đời của Hồ Chí Minh là cuộc đời một con người trọn đời vì dân, vì nước. Người chỉ có một ham muốn tột bậc “là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(2).

Chính lòng yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm trước vận mệnh đất nước, dân tộc là động lực thôi thúc Người nung nấu tinh thần đổi mới từ rất sớm, đổi mới không ngừng.

Quyết định đi tìm chân lý cứu nước với một hướng đi mới, một phương pháp tiếp cận mới, phương thức hành động mới: đi về phương Tây, tiếp thu những trào lưu tư tưởng mới, khảo nghiệm những cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, tắm mình trong phong trào cách mạng của giai cấp vô sản và cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, bóc lột để tìm kiếm con đường giải phóng cho dân tộc - đó là cuộc đổi mới vĩ đại đầu tiên của Hồ Chí Minh, cuộc đổi mới mang ý nghĩa quyết định vận mệnh của đất nước, dân tộc.

Trở về nước, Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là Cách mạng tháng Mười Nga; đổi mới tư duy trong xây dựng, không ngừng hoàn thiện đường lối chiến lược, sách lược cách mạng; đổi mới phương thức lãnh đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân giành độc lập tự do, xây dựng Nhà nước cách mạng, tiến hành sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất đất nước, từng bước đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, khắc phục đói nghèo, lạc hậu... Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ 1941 khi Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng đến 1969 khi Người từ trần là một công cuộc đổi mới liên tục của Đảng, của nhân dân ta theo ngọn cờ và sự dẫn dắt của “Tổng công trình sư đổi mới” - Hồ Chí Minh.

Trước khi về với thế giới người hiền, Hồ Chí Minh dự báo, tiên liệu bối cảnh thế giới, tình hình đất nước, phác thảo những đường nét cơ bản của công cuộc kiến thiết toàn diện đất nước sau chiến tranh theo tinh thần đổi mới thể hiện trong bản Di chúc bất hủ. Đó là sự đúc kết kinh nghiệm, bài học lịch sử và định hướng tiếp tục đổi mới, tạo nền tảng trực tiếp của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo từ Đại hội lần thứ VI của Đảng đến nay.

Mai Năm Mới

Bình đẳng vaccine COVID-19

     Ngày 1/11, Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres đã kêu gọi sự bình đẳng vaccine và tinh thần tiếp tục cảnh giác trong cuộc chiến chống COVID-19, trong bối cảnh số người thiệt mạng vì đại dịch trên toàn cầu đã vượt ngưỡng 5 triệu.

    “Ngày hôm nay, loài người vượt qua cột mốc đau đớn khi hơn 5 triệu sinh mạng đã bị mất vì COVID-19…”.

    Nhấn mạnh đến tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận vaccine trên thế giới, ông Guterres nêu rõ, trong khi các nước giàu đang triển khai chiến dịch tiêm mũi vaccine thứ 3 cho người dân thì chỉ khoảng 5% dân số tại châu Phi được chủng ngừa đầy đủ. “Đây là một nỗi hổ thẹn toàn cầu” – Tổng thư ký Liên hợp quốc khẳng định.

    Cột mốc 5 triệu ca tử vong vì COVID-19 đã phát đi một thông điệp cảnh báo rõ ràng, đó là chúng ta không thể hạ thấp việc đề phòng virus.

    “Vẫn có thêm các ca tử vong, tình trạng bệnh viện quá tải, nhân viên y tế phải làm việc tới kiệt sức, cùng với nguy cơ lan rộng các biến thể mới của virus khiến nhiều người phải bỏ mạng. Bên cạnh đó, các mối đe dọa nguy hiểm khác đang tiếp tục tạo cơ hội cho dịch bệnh phát tán – đó là những thông tin sau lệch, tích trữ vaccine, chủ nghĩa dân tộc vaccine và thiếu tinh thần đoàn kết toàn cầu” – ông Guterres nói.

    Từ những lập luận trên, người đứng đầu Liên hợp quốc kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới ủng hộ mạnh mẽ chiến dịch vaccine toàn cầu mà ông phối hợp cùng Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phát động vào tháng trước. Mục tiêu đề ra là 40% dân số thế giới được chủng ngừa vào cuối năm 2021 và nâng con số này lên 70% vào giữa năm 2022.

    Theo ông Guterres thì những suy nghĩ rằng đại dịch đã kết thúc là điều sai lầm. Chúng ta cần tiếp tục cảnh giác, gồm cả việc tuân thủ các biện pháp y tế công cộng như đeo khẩu trang và thực hiện giãn cách xã hội.

    “Cách tốt nhất để tưởng nhớ hơn 5 triệu người đã thiệt mạng và tôn vinh những nhân viên y tế đang phải hàng ngày chống lại virus, đó là tạo nên sự bình đẳng vaccine thông qua việc ủng hộ các nỗ lực của chúng tôi, đồng thời duy trì cảnh giác ở mức cao nhất để có thể đánh bại con virus này… Chỉ sát cánh bên nhau, thế giới mới có thể vượt qua đại dịch COVID-19” – ông Guterres nói.

    Thông điệp trên được người đứng đầu Liên hợp quốc đưa ra trong bối cảnh số người tử vong trên thế giới đã vượt mốc 5 triệu chỉ trong vòng chưa đầy 2 năm kể từ khi đại dịch bùng phát. Hiện vaccine và các biện pháp y tế công cộng vẫn được coi là “chìa khóa” kìm hãm sự lây lan của đại dịch. Tuy nhiên, tình trạng phân bổ vaccine đang diễn ra phổ biến đã đặt cuộc chiến chống COVID-19 của con người trước thách thức, nhất là sự xuất hiện của các biến thể virus mới. Theo số liệu trên trang web ourworldindata, tính đến ngày 2/11, tỷ lệ dân số thế giới được chủng ngừa ít nhất 1 liều vaccine COVID-19 là 49,5%, trong khi tỷ lệ ở các nước thu nhập thấp mới chỉ là 3,6%./.

VTT (st)

Thứ Ba, 2 tháng 11, 2021

Báo quốc tế ghi nhận dấu ấn nổi bật của Việt Nam tại Hội nghị cấp cao ASEAN

 

Báo quốc tế ghi nhận dấu ấn nổi bật của Việt Nam tại Hội nghị cấp cao ASEAN

Dưới tiêu đề "Việt Nam nêu bật cuộc chiến COVID, phục hồi kinh tế, các vấn đề Biển Đông tại các hội nghị cấp cao khu vực", trang tin tức Châu Á- Thái Bình Dương (AsiaPacific News.net) vừa đăng tải bài viết đánh giá cao những đóng góp của Việt Nam tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 38-39.

Theo đó, trang tin này cho biết: Tại các hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 38 và 39, các hội nghị cấp cao ASEAN với Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc và Mỹ, Hội nghị Cấp cao ASEAN + 3 và Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ 16 từ ngày 26-28/10, Việt Nam đã nêu bật các vấn đề về ứng phó COVID-19, phục hồi kinh tế sau đại dịch, các vấn đề Biển Đông và Myanmar…

Trong số 17 hoạt động chính tại các hội nghị cấp cao, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tham dự 14 hoạt động, có các bài phát biểu quan trọng.

Phòng chống đại dịch

Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 38 được tổ chức trực tuyến ngày 26/10, lãnh đạo Chính phủ Việt Nam kêu gọi ASEAN thông qua một chiến lược chống COVID mới. Đó là khả năng thích ứng an toàn và ứng phó linh hoạt với các tình huống, khống chế hiệu quả đại dịch toàn cầu, đồng thời tạo điều kiện phục hồi kinh tế. Quan trọng hơn, ông đã đưa ra các biện pháp cụ thể, cũng như tuyên bố đóng góp thiết thực của Việt Nam trong cuộc chiến chống COVID-19 trong khu vực. 

Các biện pháp cụ thể bao gồm tăng hiệu quả của các cơ chế điều phối, cải thiện năng lực của hệ thống y tế, tăng khả năng tự chủ về vắc xin và thuốc điều trị COVID, nâng cao nhận thức của cộng đồng về đại dịch và các cách thức phòng chống dịch hiệu quả. Việt Nam, Singapore và Thái Lan là 3 nước duy nhất trong ASEAN tích cực nghiên cứu và phát triển vắc xin. 

Nhân dịp Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 38, Thủ tướng Phạm Minh Chính công bố danh sách vật tư y tế trị giá 5 triệu USD của Việt Nam dành cho Kho dự phòng vật tư y tế của ASEAN. 

Tại các hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 38 và 39 vào ngày 26/10, lãnh đạo các nước ASEAN hoan nghênh tiến độ thực hiện Khung phục hồi tổng thể ASEAN (ACRF) và Kế hoạch thực hiện, với vai trò là chiến lược thoát khỏi đại dịch COVID-19 của khu vực. 

Các nhà lãnh đạo nhắc lại cam kết hợp tác cùng nhau để giảm thiểu tác động của đại dịch thông qua năm chiến lược rộng lớn của ACRF bao gồm: củng cố hệ thống y tế; tăng cường an ninh con người; khai thác tối đa tiềm năng của thị trường nội khối ASEAN và hội nhập kinh tế sâu rộng hơn; tăng tốc chuyển đổi kỹ thuật số toàn diện; tiến tới một tương lai bền vững và kiên cường hơn. 

Các nhà lãnh đạo hoan nghênh những đóng góp mới của các quốc gia thành viên ASEAN và các đối tác bên ngoài cho Quỹ ứng phó COVID-19 của ASEAN (các cam kết đóng góp đến nay vào khoảng 25,8 triệu USD). Họ cũng hoan nghênh việc sử dụng 10,5 triệu USD của Quỹ để mua vaccine COVID-19 cho người dân ASEAN và nhân viên Ban Thư ký ASEAN thông qua UNICEF, vì “không ai an toàn cho đến khi mọi người đều an toàn”. Việc phân phối sớm vaccine cho người dân ASEAN và nhân viên Ban Thư ký ASEAN dự kiến diễn ra vào quý I và quý II năm 2022. 

Phục hồi kinh tế 

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng, để đẩy nhanh quá trình phục hồi kinh tế sau COVID-19 và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, làm cho thị trường ASEAN trở nên hấp dẫn hơn, ASEAN nên xem xét sử dụng các yếu tố mới như chuyển đổi kỹ thuật số, kinh tế kỹ thuật số, kinh tế tuần hoàn, công nghệ xanh, năng lượng tái tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao... Theo nghĩa rộng hơn, ASEAN cần củng cố vai trò cốt lõi của mình trong các tiến trình đa phương về đối thoại, hợp tác và hội nhập kinh tế đa phương trong khu vực. 

"Ông đã thông báo cho lãnh đạo các nước ASEAN về kế hoạch của Việt Nam tổ chức Diễn đàn ASEAN về Hợp tác tiểu vùng vì sự phát triển bền vững và tăng trưởng bao trùm vào ngày 30/11 tại thủ đô Hà Nội. Diễn đàn là một phần trong nỗ lực phối hợp phát triển tiểu vùng với sự tiến bộ bao trùm của ASEAN, sự tiếp nối các hoạt động chính của Việt Nam trong ASEAN năm 2020. 

Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Trung Quốc lần thứ 24 diễn ra ngày 26/10, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị ASEAN và Trung Quốc tăng cường hợp tác kinh tế, nhanh chóng nối lại các dịch vụ hàng không, du lịch, chuỗi sản xuất và cung ứng trong khu vực, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nhân đi lại an toàn. 

Tại các hội nghị cấp cao ASEAN, lãnh đạo các nước ASEAN đã quyết định rằng, ASEAN cần phải nỗ lực gấp đôi và chú trọng hơn nữa đến chất lượng của các hành động và sáng kiến ​​nhằm đạt được Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2025 và thúc đẩy chương trình hội nhập kinh tế của mình. 

Công nhận rằng chuyển đổi kỹ thuật số có tiềm năng to lớn và mang lại nhiều lợi ích cho ASEAN, đặc biệt là hướng tới sự phục hồi bền vững và toàn diện từ COVID-19, đồng thời lưu ý sự cần thiết phải hỗ trợ nhiều hơn nữa cho chuyển đổi kỹ thuật số trong khu vực, các nhà lãnh đạo hoan nghênh việc phê chuẩn Lộ trình Bandar Seri Begawan: Chương trình nghị sự về chuyển đổi kỹ thuật số của ASEAN nhằm đẩy nhanh quá trình phục hồi kinh tế và hội nhập kinh tế kỹ thuật số của ASEAN.

Các nhà lãnh đạo đã thông qua Tuyên bố của các nhà lãnh đạo ASEAN về thúc đẩy chuyển đổi kỹ thuật số trong ASEAN và kêu gọi tăng cường hội nhập và chuyển đổi kỹ thuật số trong khu vực để nâng cao khả năng cạnh tranh của khu vực và biến cuộc khủng hoảng đại dịch hiện nay thành cơ hội thông qua chuyển đổi kỹ thuật số. 

Các nhà lãnh đạo cũng công nhận Chiến lược tiếp thị du lịch ASEAN mới 2021-2025, trong đó đề ra lộ trình tiếp thị du lịch ASEAN trong 5 năm tới. Họ khuyến khích các quốc gia thành viên ASEAN cùng với khu vực tư nhân tăng cường hợp tác thúc đẩy ngành du lịch của khu vực, để đảm bảo tính cạnh tranh của ASEAN với tư cách là một điểm đến du lịch chung. 

Vấn đề Biển Đông 

Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 39, Thủ tướng Phạm Minh Chính nói rằng, ASEAN cần thể hiện sự dũng cảm và tự cường trong việc duy trì hòa bình, an ninh và ổn định ở Biển Đông. ASEAN cần tiếp tục kiên định lập trường và các nguyên tắc của mình trên Biển Đông; kêu gọi tất cả các nước tuân thủ luật pháp quốc tế, đề cao trách nhiệm, tránh các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình hoặc leo thang căng thẳng. 

Tất cả các bên liên quan cần thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), không ngừng nỗ lực làm việc với Trung Quốc trong việc đẩy nhanh việc soạn thảo Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) hiệu quả và thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). ASEAN hoan nghênh sự tham gia của các cường quốc trong khu vực trên cơ sở trách nhiệm, tính xây dựng và tôn trọng luật pháp quốc tế. 

Tại Hội nghị cấp cao ASEAN-Mỹ lần thứ 9 diễn ra ngày 26/10, Thủ tướng Việt Nam cho biết, sự tham gia tích cực và mang tính xây dựng của các cường quốc, trong đó có Mỹ, trong khu vực đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hòa bình, hợp tác, phát triển và an ninh khu vực. 

Tại Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ 16 vào ngày 27/0, Thủ tướng Phạm Minh Chính kêu gọi các nước liên quan thực hiện tự kiềm chế, tránh các hành động đơn phương có thể làm phức tạp tình hình và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình thông qua đối thoại, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Nga lần thứ 4 diễn ra ngày 28/10, lãnh đạo Chính phủ Việt Nam bày tỏ hy vọng Nga sẽ tham gia tích cực hơn vào các diễn đàn do ASEAN dẫn dắt, ủng hộ hơn nữa vai trò trung tâm của khối trong việc tăng cường đối thoại, hợp tác, xây dựng lòng tin và tuân thủ luật pháp, ứng phó hiệu quả với các thách thức đang nổi lên, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực, bao gồm an ninh, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông. 

Tại các hội nghị cấp cao ASEAN, lãnh đạo các nước Đông Nam Á đã thảo luận về tình hình Biển Đông, trong đó một số quốc gia thành viên ASEAN bày tỏ quan ngại về các hoạt động cải tạo đất, sự cố nghiêm trọng trong khu vực, trong đó có thiệt hại đối với môi trường biển, lòng tin và sự tự tin bị xói mòn, căng thẳng gia tăng và có thể phá hoại hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực. 

Các nhà lãnh đạo tái khẳng định sự cần thiết phải tăng cường lòng tin và sự tin cậy lẫn nhau, tự kiềm chế trong việc tiến hành các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định, đồng thời tránh các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình. Họ tiếp tục khẳng định sự cần thiết phải theo đuổi giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp các nguyên tắc được công nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS năm 1982. 

Các nhà lãnh đạo cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phi quân sự hóa và tự kiềm chế trong việc tiến hành hoạt động của các bên có tuyên bố chủ quyền và tất cả các quốc gia khác có liên quan, bao gồm những hoạt động được đề cập trong DOC năm 2002 có thể làm phức tạp thêm tình hình và leo thang căng thẳng ở Biển Đông. Họ hoan nghênh việc tiếp tục đọc lần thứ hai văn bản dự thảo đàm phán COC duy nhất, bất chấp những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra./.

 

LẠI DIỄN TRÒ "ĐỔI TRẮNG THAY ĐEN"

Mấy ngày qua, trên BBC, VOA tiếng Việt, RFA và một vài cơ quan truyền thông thiếu thiện chí với Việt Nam đã phát đi phát lại cái gọi là “phán quyết” của Nhóm Công tác về Giam giữ Tùy tiện của Liên Hợp Quốc (UNWGAD) về trường hợp Phạm Thị Đoan Trang. Họ lu loa rằng việc Việt Nam bắt giữ Phạm Thị Đoan Trang là “tùy tiện” từ đó kêu gọi chính quyền trả tự do cho đối tượng ngay lập tức và vô điều kiện. Họ tự khoác cho Phạm Thị Đoan Trang cái áo “nhà báo tự do”, “nhà báo độc lập” rồi từ đó rêu rao vu cáo rằng việc bắt giữ Phạm Thị Đoan Trang là “hành vi vi phạm quyền tự do ngôn luận một cách trắng trợn…”.

Trước hết cần phải khẳng định rằng Phạm Thị Đoan Trang chỉ là công dân bình thường vi phạm pháp luật Việt Nam chứ không phải là nhà báo theo đúng nghĩa. Mặt khác, ở Việt Nam, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào cho dù họ là ai, làm công việc gì, giữ trọng trách gì. Hiến pháp và pháp luật Việt Nam cũng quy định rất rõ về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt động báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí; quản lý nhà nước về báo chí. Ở Việt Nam chỉ có phóng viên, nhà báo, sinh hoạt trong Hội Nhà báo Việt Nam, chứ không có “nhà báo tự do”, “nhà báo độc lập” hay cái gọi là “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” như một vài cơ quan truyền thông thiếu thiện chí ở hải ngoại thường rêu rao.

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân, hành vi phạm tội của Phạm Thị Đoan Trang là rất rõ ràng và không thể chối cãi. Từ tháng 11-2017 đến tháng 12-2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nhiều lần trả lời phỏng vấn báo đài nước ngoài có nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam.

Đáng lưu ý, Phạm Thị Đoan Trang cùng một số người đã sáng lập ra trang tin điện tử “luatkhoa…”. Bản trang tin điện tử đăng công khai trên mạng là bản tiếng Việt, trong đó chứa đựng nhiều nội dung thông tin bóp méo, xuyên tạc nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam. Kết quả điều tra của cơ quan an ninh cũng xác định rõ Phạm Thị Đoan Trang có 13 bài trả lời phỏng vấn có âm thanh, hình ảnh; 3 bài viết gồm ảnh chụp hoặc bài viết dạng word xuất bản trên các trang báo nước ngoài, với nhiều nội dung lệch lạc, bóp méo, xuyên tạc làm sai lệch bản chất vấn đề. Làm việc với cơ quan chức năng, Phạm Thị Đoan Trang đã xác nhận mình là tác giả của “Báo cáo – nghiên cứu: Đánh giá luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và tình hình thực hiện quyền tín ngưỡng tôn giáo”. Phạm Thị Đoan Trang xác nhận “báo cáo” ấy do mình và một nhóm tác giả viết bằng tiếng Anh vào tháng 10-2017. Sau đó, Phạm Thị Đoan Trang dịch ra tiếng Việt và đăng tải trên trang “luatkhoa…” vào tháng 11-2017.

Ngoài ra, Phạm Thị Đoan Trang còn tàng trữ các tài liệu “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”; “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”… Kết luận của Viện Kiểm sát nhân dân cho thấy, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền “luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Trước những hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật rất rõ ràng của đối tượng, Cơ quan An ninh điều tra đã khởi tố, tạm giam Phạm Thị Đoan Trang về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự 1999 và “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự 2015.

Viện Kiểm sát nhân dân cũng đã ra Quyết định phê chuẩn các Quyết định của Cơ quan An ninh điều tra Công an TP. Hà Nội đối với bị can Phạm Thị Đoan Trang và tiếp tục thực hiện các bước tố tụng đúng theo quy định của pháp luật.

Cần phải thấy rằng, cũng như các quốc gia trên thế giới, nhằm điều chỉnh mọi hoạt động tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do trên internet, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật cơ bản đầy đủ và đồng bộ. Trong quy trình xây dựng luật nói chung, Luật Báo chí, Luật An ninh mạng… Việt Nam đều nghiên cứu kỹ công ước quốc tế và thảo luận, lấy ý kiến dân chủ trong nhân dân.

Phải khẳng định rằng hệ thống pháp luật của Việt Nam, trong đó có các văn bản luật về tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet… luôn đáp ứng hai yêu cầu cơ bản là: Phù hợp với thực tế lịch sử, văn hóa truyền thống dân tộc và tương thích với luật quốc tế. Nhìn tổng thể hệ thống pháp luật về tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet… của Việt Nam đã đi vào cuộc sống góp phần rất quan trọng giữ cho môi trường báo chí, không gian mạng của Việt Nam ngày càng an toàn, lành mạnh và hữu ích.

Tuy nhiên, cũng cần hiểu và thống nhất nhận thức rằng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet… phải nằm trong khuôn khổ pháp luật chứ không phải tự do vô tổ chức, vô hạn độ. Mọi quốc gia trên thế giới đều thiết lập hệ thống pháp luật để điều chỉnh hoạt động ngôn luận, báo chí, Internet và mạng xã hội của các thành viên tham gia. Hệ thống pháp luật của Việt Nam có sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền lợi với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Pháp luật Việt Nam không cho phép bất cứ công dân nào lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet và mạng xã hội để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, gây phương hại đến đạo đức xã hội, trật tự công cộng và an ninh quốc gia.

Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet và mạng xã hội. Trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, mỗi người dân phải đặt lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu, thể hiện rõ tinh thần “Thượng tôn pháp luật”, vì sự trong sạch của môi trường báo chí, môi trường Internet và mạng xã hội; vì sự bình yên của xã hội và sự phát triển của đất nước. Việt Nam kiên quyết xử lý mọi hành vi đi ngược tinh thần đó, vi phạm các quy định của pháp luật về tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet và mạng xã hội. Tại Việt Nam không có bất kỳ công dân nào bị xử lý khi thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet và mạng xã hội theo đúng pháp luật.

Việc UNWGAD và một số cơ quan truyền thông ở hải ngoại lu loa rằng, Việt Nam bắt giữ Phạm Thị Đoan Trang là “tùy tiện”, “vi phạm quyền tự do ngôn luận một cách trắng trợn”…thực chất là chiêu trò “đổi trắng thay đen” để bao che, dung túng cho kẻ vi phạm pháp luật, chống phá Việt Nam. Việt Nam áp dụng các biện pháp xử lý đối với công dân vi phạm pháp luật là việc làm bình thường để bảo đảm kỷ cương, phép nước. Hành vi kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho Phạm Thị Đoan Trang là trắng trợn can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Việc là của UNWGAD và một số cơ quan truyền thông thiếu thiện chí với Việt Nam ở hải ngoại là hành động vô lối, trái với Công ước quốc tế và vi phạm pháp luật Việt Nam. Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam kiên quyết phản đối, bác bỏ bởi luận điệu, chiêu trò ấy là xấu xa, bỉ ổi, nhằm mưu đồ đen tối không thể chấp nhận được./.

Yêu nước ST.

VĂN HÓA XẤU ĐỘC PHƯƠNG TÂY ĐANG NGẤM NGẦM XÂM LƯỢC DÂN TỘC TA

 

"Muốn xóa sổ vĩnh viễn một quốc gia, dân tộc thì hãy đồng hóa nền văn hóa của quốc gia, dân tộc đó".
Lợi dụng vào tâm lý hiếu kỳ, sính ngoại; tâm lý tuổi mới lớn, thích khẳng định mình, thích các hoạt động sôi nổi... các thế lực xấu đã thông qua truyền thông bẩn, ra sức tuyên truyền, cổ súy cho việc du nhập các lễ hội, luồng văn hóa ngoại lai từ phương Tây vào nước ta, nhưng chủ yếu là du nhập những mặt trái, biến tướng độc hại, dị hợm. Đồng thời chúng ra sức kêu gọi, vận động xóa bỏ những nét văn hóa cổ truyền của dân tộc nhằm thực hiện âm mưu thâm độc, tấn công vào nền văn hóa, thực hiện diễn biến hòa bình, làm suy yếu, rối loạn đất nước ta.
Hệ quả là gì? Các ông bố, bà mẹ, các bậc phụ huynh hãy dành vài phút để nghĩ lại xem, con cháu của chúng ta đang ra sao? Chúng háo hức tô ma, vẽ quỷ, máu mê bê bết, kinh dị diễu hành khắp phố, trêu đùa, dọa nạt mọi người để chào đón Halloween; mới tý tuổi đầu mà đã Valentine rồi dằn vặt đau khổ vì học cấp 2 rồi mà chưa có người yêu; chúng háo hức, mong ngóng ông già Noel của Lễ Giáng sinh... là những lễ hội truyền thống của Phương Tây.
Trong khi đó: Chúng đang tỏ ra chán ghét Tết cổ truyền, không thích các hoạt động sum họp gia đình đông người, suốt ngày chỉ chăm chăm cắm mặt vào cái điện thoại, máy tính. Từ đó các giá trị gia đình, gốc rễ của xã hội bị đảo lộn, ông bà bố mẹ con cái luôn có khoảng cách, thiếu sự gắn kết, thậm chí làm sâu sắc hơn sự xung đột giữa các thế hệ, phá vỡ các gia đình...
Thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần nâng cao trách nhiệm của mình hơn nữa, kiên quyết thực hiện 6 dám: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu khó khăn; nghiên cứu tham mưu các chủ trương, chính sách thích hợp nhằm làm tốt hơn nữa việc "bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc". Đồng thời tăng cường quản lý lĩnh vực văn hóa; có biện pháp thích hợp để ngăn chặn, đẩy lùi những ảnh hưởng tiêu cực của các luồng văn hóa ngoại lai độc hại; mạnh tay xử lý các trường hợp vi phạm.
Các gia đình - tế bào của xã hội, từng ông bố, bà mẹ hãy nâng cao ý trách nhiệm, dành thời gian quan tâm giáo dục truyền thống dân tộc, truyền thống gia phong, nền nếp cho con cái. Có thái độ kiên quyết, nghiêm khắc trước những biểu hiện lệch lạc, lai căng thái quá của con trẻ. Có như vậy thì gia đình mới yên ấm, xã hội mới ổn định và dân tộc Việt mới trường tồn! 
 

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC PHÁT NGÔN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VỀ VẤN ĐỀ ĐIỆN ẢNH

 

 

Trong chương trình kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XV, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã đưa ra thực trạng tình hình điện ảnh Việt Nam và những vấn đề cần giải quyết. Tuy nhiên, nhiều đối tượng, tổ chức đã cắt ghép phát biểu của Chủ tịch nước nhằm công kích, hướng lái dư luận.
Cụ thể mới đây, Đài Á Châu Tự Do (RFA) đã cắt ghép và xuyên tạc phát biểu của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc rằng: “Phim Việt được công chiếu gần đây không nhấn mạnh vai trò của cơ quan hành pháp và tư pháp mà chỉ toàn thấy cái ác.”
Tuy nhiên, nguyên văn trong chương trình kỳ họp thứ 2, khi đưa ra quan điểm về điện ảnh Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Xuyên Phúc đã cho rằng: “Vừa rồi, nhiều bộ phim không tốt đã xuất hiện. Những bộ phim được công chiếu cho thấy vai trò của công an, quân đội, của tòa, viện mờ nhạt đi. Tuy kết thúc có hậu những mấy chục tập phim chỉ toàn thấy cái ác”. Từ đó, Chủ tịch nước yêu cầu phim ảnh phải có cơ cấu, bố cục phù hợp, không để cái ác, cái xấu xâm nhập vào xã hội thông qua các bộ phim.
Quan điểm của Chủ tịch nước hoàn toàn hợp lý. Hãy nhìn vào một số bộ phim đã được công chiếu trong thời gian qua. Trong đó, Người phán xử là bộ phim gây tranh cãi về những tác động tiêu cực để lại. Chính Chủ nhiệm Ủy ban Quốc Phòng An Ninh, ông Lê Tấn Tới đã thẳng thắn cho rằng, “Sau khi VTV1 chiếu phim Người phán xử thì tình hình các băng ổ nhóm tội phạm xã hội đen xảy ra rất nhiều. Đất nước chúng ta quản lý xã hội bằng pháp luật, nhưng trong phim thì pháp luật không giải quyết được, mà đưa cho ông trùm làm người phán xử, kể cả phán xử cả lực lượng công an”. Chưa kể, còn nhiều bộ phim giang hồ tại Việt Nam bị chiếu tràn lan trên mạng. Trong những bộ phim này, vai trò của công an, pháp luật trở nên mờ nhạt. Thậm chí còn bị xếp sau “luật rừng”.
Như vậy, bố cục, nội dung phim cũng như khâu kiểm duyệt là vô cùng quan trọng. Trong một bộ phim, biên kịch có thể để cái ác, cái xấu đan xen để tình tiết lôi cuốn, hấp dẫn hơn. Tuy nhiên, các yếu tố cần phải logic, sát với thực tế. Tránh vì quá mải mê tạo sự lôi cuốn dẫn đến việc phai mờ vai trò của công lý, pháp luật, vô tình cổ súy những hành vi xấu. Đối với những bộ phim về tội phạm, có yếu tố hành động, máu me cần phải được kiểm duyệt độ tuổi chặt chẽ.
Mục đích là vậy nhưng Đài Á Châu Tự Do lại xuyên tạc lời nói Chủ tịch nước sang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Từ câu nói Chủ tịch nước, RFA xuyên tạc rằng phim Việt Nam chỉ nên đưa những cái hay, cái đẹp của công an vào mà bỏ qua những cái xấu. Lời xuyên tạc này hết sức phi lý! Mục đích RFA muốn tấn công trực diện vào ngành công an, định hướng dư luận. Từ đó, Đài Á Châu Tự Do kích động suy nghĩ tiêu cực, gây ấn tượng xấu về cơ quan hành pháp, tư pháp Việt Nam.
Tiếp đó, RFA còn xuyên tạc: “Chính quyền Việt Nam đang thảo luận các chính sách để siết chặt quản lý nền điện ảnh nước nhà nối tiếp theo các màn “phong sát” của Trung Quốc”. Đây là luận điệu hoàn toàn xuyên tạc sai với nội dung cuộc thảo luận của Quốc Hội.
Tại sao Đài Á Châu Tự Do lại cố tình lôi Trung Quốc vào vấn đề này? Tại sao lại xuyên tạc nội dung cuộc họp Quốc hội theo hướng Việt Nam sắp tới sẽ nối tiếp màn “phong sát” Trung Quốc? RFA đang muốn lợi dụng những định kiến sẵn có của một người dân về Trung Quốc để khích bác tình hình hay sao? Trong buổi thảo luận, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã nói rõ: “Không phải học tập theo Trung Quốc nhưng chúng ta cần nghiên cứu mặt tốt họ làm được”.
Điện ảnh là một loại hình văn hóa nghệ thuật. Mà đã là nghệ thuật thì cần mang ý nghĩa tốt đẹp, truyền bá những điều có ích, thể hiện vị trí và sự phát triển quốc gia. Với vai trò và nhiệm vụ lớn lao như vậy, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ: Luật pháp phải tạo ra hành lang pháp lý để tạo điều kiện cho điện ảnh phát triển. Luật pháp không thể cản trở và làm hư hỏng điện ảnh. Ngược lại, điện ảnh cũng phải có trách nhiệm quan trọng trong việc gìn giữ những nét đẹp văn hóa, truyền thống, lịch sử Việt Nam. Cao hơn, chúng ta cần đưa rộng những giá trị tốt đẹp ấy vươn tầm thế giới.
Những luận điệu mà Đài Á Châu Tự Do đưa ra hoàn toàn sai sự thật. Trang mạng này đã cắt ghép lời nói của Chủ tịch nước về vấn đề điện ảnh, từ đó, xuyên tạc sang ý nghĩa hoàn toàn khác. Không chỉ câu view, câu like đơn thuần, mục đích của Đài Á Châu Tự Do này muốn định hướng dư luận, truyền tải những thông điệp tiêu cực, gây ác cảm cho một bộ phận người dân vào lực lượng công an Việt Nam. Chính vì vậy, người dân cần hết sức tỉnh táo và chọn lọc nguồn thông tin kỹ càng để tránh bị đánh lừa, kích động.
 

Xử lý nghiêm minh theo pháp luật biểu hiện tung tin bịa đặt, bôi nhọ đời tư lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước

 


Ngày nay, việc tung tin bịa đặt để bôi nhọ một người khác, ở nhiều nước trên thế giới, không chỉ bị phê phán, lên án về mặt đạo đức, mà còn được xác định là hành vi vi phạm pháp luật, tùy theo mức độ nghiêm trọng, nhất là hậu quả do nó gây ra, mà còn bị xét xử theo pháp luật.

Để ngăn chặn, chống lại việc bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ đời tư những người đứng đầu, lãnh đạo đất nước, luật pháp của nhiều nước trên thế giới còn có những quy định chặt chẽ hơn, có những hình phạt nghiêm khắc hơn, đều có những quy định của luật pháp bảo vệ, không chỉ bảo vệ an ninh, an toàn thân thể con người, mà bảo vệ cả uy tín, danh dự, đặc biệt trước những điều bịa đặt, vu cáo để bôi nhọ nhân phẩm, để bảo vệ uy tín, bảo vệ tôn nghiêm, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan lãnh đạo đất nước, bảo vệ hình ảnh của đất nước trong cộng đồng quốc tế.

Ở nước ta, Hiến pháp và pháp luật có nhiều điều khoản bảo vệ quyền con người, bảo vệ danh dự, uy tín, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, nghiêm cấm các hành vi bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ, xâm phạm các quyền này của con người. Hiến pháp (năm 2013) quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn” (Điều 21). Luật dân sự (2015) quy định “Danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ” (Điều 34), “Người nào có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì phải bồi thường” (Điều 584) với mức bồi thường và phương thức bồi thường do Luật định. Luật hình sự (2015) quy định người nào thực hiện các hành vi “Bịa đặt hoặc loan tin những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác” là phạm tội vu khống, sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm (Điều 156); nếu mức độ bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ là nghiêm trọng thì người bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ phạm tội làm nhục người khác, có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm (Điều 155). Khi người bị vu khống, bôi nhọ là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hành vi tung tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ được thực hiện với mục đích là chống lại Đảng, chống lại Nhà nước, thì người thực hiện hành vi này phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định của Luật hình sự (2015). Điều 117 Luật hình sự quy định “Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm: Làm, tàng trữ, phát tán, hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền; làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể bị phạt tù từ 10 đến 20 năm”...

Những quy định của Hiến pháp, pháp luật như vậy là đúng đắn, phù hợp với văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc ta, cũng như các dân tộc khác, phù hợp với thông lệ quốc tế, tương đồng với luật pháp của các nước trên thế giới ngày nay. Cùng với công tác tuyên truyền, giáo dục, việc thực hiện nghiêm minh các quy định của Hiến pháp và pháp luật, xử lý nghiêm các hành vi bịa đặt, bôi nhọ đời tư, xúc phạm nhân phẩm, uy tín, danh dự người khác, nhất là lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước đã góp phần bảo vệ, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội để phát triển, nâng cao uy tín quốc tế của đất nước.

 

Lên án mạnh mẽ về mặt đạo đức lực lượng thù địch thông tin bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước là thủ đoạn xấu xa,

 


“Nhân vô thập toàn”, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của Đảng, Nhà nước nói chung, kể cả cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước nói riêng, không thể nào không có khuyết điểm, sai lầm. Vấn đề là phải hạn chế tối đa việc để xảy ra những sai lầm, khuyết điểm này, nếu xảy ra phải được phát hiện, sửa chữa, khắc phục kịp thời, hạn chế tối đa ảnh hưởng, tác động tiêu cực của nó. Đảng có điều lệ, quy định của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước, có nhiều cơ chế, cách thức để làm việc này, để giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động của cán bộ, đảng viên, nhắc nhở, cảnh cáo, ngăn ngừa sai phạm và xử lý sai phạm khi đã phát sinh. Đồng thời, Đảng, Nhà nước có cơ chế động viên, khuyến khích Nhân dân, các tổ chức xã hội giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức để tham gia, đóng góp vào công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước. Trong khi đó, việc tung tin bịa đặt, vu cáo để bôi nhọ đời tư của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước hoàn toàn khác về bản chất, về nội dung, động cơ, mục đích với việc Nhân dân giám sát, phát hiện cho Đảng, Nhà nước về những hạn chế yếu kém, sai phạm, sự suy thoái tư tưởng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức các cấp, kể cả cán bộ cấp cao, để góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Bịa đặt, hư cấu, tạo dựng những thông tin về đời tư của một người để xúc phạm, bôi nhọ danh dự của một người khác, dù người đó là ai, đều là việc làm xấu xa, trái với đạo đức truyền thống của dân tộc ta, nhân dân ta, phải bị lên án; khẳng định là việc làm xấu xa, cần phải lên án về mặt đạo đức. Do đó, rất cần tạo ra dư luận xã hội phê phán, lên án mạnh mẽ việc làm này của các thế lực chống đối, thù địch để cảnh báo, ngăn chặn, để nâng cao ý thức cảnh giác, nâng cao sức đề kháng của mỗi người dân trước những thủ đoạn chống phá này.