Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2021

Tự do báo chí phải đặt trong khuôn khổ pháp luật

 

Trước hết cần thấy, tự do báo chí là quyền tự do cơ bản, thiêng liêng, biểu hiện cho sự tiến bộ, phát triển của xã hội. Mặt khác cũng cần hiểu tự do báo chí không phải là tự do chung chung, tự do vô bờ bến, tự do không có giới hạn mà bao giờ nó cũng phải gắn và nằm trong khuôn khổ pháp luật.Vấn đề có tính nguyên tắc trong tư tưởng lập pháp được mọi quốc gia thừa nhận, vận dụng, thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật là tự do luôn gắn liền với trách nhiệm, quyền lợi luôn gắn liền với nghĩa vụ.

Mối quan hệ phổ biến này nhằm mục tiêu chính đáng, khoa học, khách quan, bảo đảm cho tự do của mỗi người không làm mất đi hay ảnh hưởng tiêu cực đến tự do của người khác và của cộng đồng, xã hội. Do vậy, tự do báo chí phải đặt trong khuôn khổ pháp luật và bao gồm cả những quy tắc đạo đức xã hội. Trong khuôn khổ, quy tắc ấy, tự do báo chí được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ; báo chí sẽ thực hiện tốt vai trò của mình, tạo môi trường thông tin lành mạnh, là phương tiện hữu hiệu thúc đẩy phát triển xã hội, phục vụ mục tiêu tốt đẹp cho con người.

Nằm ngoài điều đó, báo chí sẽ trở thành tự do vô chính phủ, trở thành công cụ chính trị chống phá lẫn nhau giữa các đảng phái, giai cấp, nhà nước, giữa các quốc gia, dân tộc, tác động tiêu cực đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Như vậy, tự do báo chí không thể vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật.

Thực tế,tự do báo chí ở phương Tây mà một số người ca ngợi, cổ súy có phải là thứ tự do không giới hạn, nằm ngoài khuôn khổ pháp luật? Theo Hiến pháp Hoa Kỳ (năm 1791) thì Quốc hội Mỹ không được phép ban hành bất cứ văn bản nào hạn chế tự do ngôn luận và báo chí. Nhưng theo nhiều văn bản pháp luật khác, ví dụ đạo luật năm 1798 thì sẽ là tội phạm nếu viết, in, phát biểu và phổ biến những văn bản sai sự thật, cố ý xúc phạm hay chống lại chính quyền.

Ngay trong Bộ luật Hình sự Mỹ ghi rõ: “Nghiêm cấm mọi hành vi in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng, tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hay bạo lực”.

Hay như ở Ðức, các quy định cụ thể về tự do báo chí thuộc thẩm quyền của các tiểu bang. Thí dụ, Luật Báo chí ở tiểu bang Bavaria ghi rõ: “Chống lại các loại văn chương bẩn thỉu và độc hại là nhiệm vụ của Nhà nước và các cơ quan địa phương. Sự hưởng thụ tự do cho mỗi người đều phụ thuộc vào việc tất cả mọi người thực hiện nghĩa vụ trung thành với nhân dân, Hiến pháp, Nhà nước và luật pháp”.

Ðức còn có lực lượng của các cơ quan nhà nước theo dõi sách báo, tin tức do các cá nhân và tổ chức phát tán trên mạng để thu thập tin tức và bằng chứng, khi cần thiết sẽ phục vụ cho các thủ tục xét xử hình sự… Như vậy, tự do báo chí ở phương Tây hay bất cứ quốc gia nào cũng không nằm ngoài khuôn khổ pháp luật. Hiểu tự do ngôn luận, tự do báo chí như vậy sẽ giúp nhìn nhận, đánh giá khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam.

Thực tiễnđược cộng đồng quốc tế đánh giá cao là tình hình nhân quyền ở Việt Nam nói chung, tự do ngôn luận, báo chí nói riêng đã liên tục phát triển. Tuy nhiên, bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động vẫn coi đây là một chiêu bài để chống phá Việt Nam.

Thủ đoạn của quan điểm, luận điệu này thể hiện ở chỗ:

(1). Lợi dụng vào vấn đề tự do báo chí, những điểm khác nhau trong quy định của luật pháp Việt Nam và các nước để xuyên tạc.Từ đó nhằmlàm mất niềm tin vào nền báo chí, những thông tin, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà báo chí chuyển tải.

(2). Cố tình đánh đồng hiện tượng để quy kết thành bản chất. Lấy sự việc số đối tượng tự xưng là “nhà báo độc lập”, “nhà báo tự do”, blocger… vi phạm pháp luật hình sự để quy kết thành bản chất là Việt Nam không có tự do báo chí.

(3). Kích động, cổ súy, bảo trợ cho những đối tượng lợi dụng tự do báo chí nói trên để chống phá Việt Nam. (4). Lợi dụng vấn đề tự do báo chí để công kích, lấy đó như một cái cớ để tổ chức phản động và tổ chức khác vốn có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam báo cáo, suy diễn, xuyên tạc, làm méo mó hình ảnh đất nước, con người, tình hình Việt Nam, từ đó gây sức ép lên nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao của Việt Nam.

Đằng sau quan điểm, luận điệu xuyên tạc Việt Nam không có tự do báo chí là ý đồ sâu xa cố tình phê phán thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hệ thống chính trị trong đời sống xã hội ở Việt Nam; cố tình ca ngợi, cổ súy, hướng lái, thúc đẩy cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây. Do đó, vấn đề “tự do báo chí” cần được hiểu đúng và nhận diện rõ âm mưu, ý đồ xấu để lên án, đấu tranh.

Kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh


     Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, cán bộ, đảng viên của Đảng nếu không được giáo dục, tổ chức tốt và không tự tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên thì sẽ dễ dẫn đến chủ nghĩa cá nhân. Do vậy, kịp thời phát hiện và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” là vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay.

     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo về sự nguy hại của chủ nghĩa cá nhân đối với cán bộ, đảng viên và sự nghiệp cách mạng của Đảng. Người coi: “Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”1; “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”2. Cán bộ, đảng viên, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền, khi nhiễm “thứ vi trùng” này thì khó tránh khỏi sa vào hủ hóa, tự cao, tự đại, kiêu ngạo, thu vén lợi ích riêng; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, coi khinh, coi thường quần chúng. Điều đó nguy hại khôn lường, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng.

     Để xứng đáng vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng ta thường xuyên chú trọng xây dựng, chỉnh đốn, chăm lo rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì thế, tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên của Đảng luôn nỗ lực rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân, được nhân dân tin tưởng. Những năm gần đây, đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã có những chuyển biến tích cực, rõ nét, nhất là trong đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, được nhân dân tin tưởng và đồng thuận. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, một bộ phận cán bộ, đảng viên đã không đủ sức đề kháng để chống lại chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Viện vào cớ ấy, các thế lực thù địch đã ra sức “khuếch đại”, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Đảng. Vì vậy, để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cần kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng bằng các giải pháp đồng bộ, với tinh thần đấu tranh đến cùng.


Luận điệu suy diễn quy định mới về những điều Đảng viên không được làm

 

Ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định “Về những điều đảng viên không được làm” thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 1/11/2011 trước đây.

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37, từ đó suy diễn, tự cho mình vai trò “người phát xét” để quy kết, chỉ trích chế độ, chỉ trích vị trí, vai trò của Đảng.

Trên nhiều trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới chứng tỏ sự mục nát, là “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo gốc rễ của tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị”, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện, từ đó quy kết việc Đảng đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác để chống tham nhũng mà không thay đổi chế độ thì không bao giờ chống tham nhũng được. Đưa ra luận điệu “Đảng đứng trên pháp luật”, các đối tượng suy diễn “Đảng loay hoay, mò mẫm soạn ra các văn bản giấy tờ quy định cấm cho thêm rắc rối, chồng lấn pháp luật, vì những điều ấy pháp luật cũng cấm rồi, đảng viên cũng là công dân, thêm điều cấm là Đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật”!

Trên đài RFA, VOA, BBC… đăng tải nhiều bài xuyên tạc Quy định 37. Họ tự cho mình vai trò “phán xét”, viện dẫn ý kiến của đối tượng vốn có tư tưởng chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Điển hình như đối tượng Nguyễn Vũ Bình (từng có thời gian công tác tại một tạp chí ở Việt Nam) suy diễn trên RFA rằng: “Chắc chắn là không thể kiểm soát được, những quy định cấm đảng viên người ta đưa ra chỉ là những chiêu bài chứ nó không có hiệu quả trong thực tế”. Hay đối tượng Nguyễn Huy Vũ cũng “tát nước theo mưa”, xuyên tạc: “Mục đích duy nhất hiện nay chỉ vì lợi ích vật chất và địa vị, đã qua rồi cái thời mà người ta tham gia vào Đảng Cộng sản chỉ vì những lý tưởng thơ ngây”. Xuyên tạc những nội dung mới, số này tập trung khoét sâu vào một số quy định như cấm đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, cấm chuyển tài sản hay cấm thực hiện các giao dịch tài sản ở nước ngoài nhằm quy kết, rêu rao là vi phạm Hiến pháp…

Thực chất, đây là những luận điệu hòng hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Trước hết cần khẳng định, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, không thể lợi dụng vào một số quy định mới để xuyên tạc, suy diễn.

Quy định đảng viên không được “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng” (Điều 3). Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Mỗi người khi vào Đảng đều phải rèn luyện, phấn đầu vì mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, kiên định, trung thành nền tảng tư tưởng, chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng… Việc bổ sung, phát triển quy định như trên là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng về chính trị.

Hay quy định đảng viên không được “nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”. Điều lệ Đảng ghi rõ: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân” (Điều 1). Nếu thừa nhận một công dân có 2 quốc tịch là lẽ thường tình, song đối với đảng viên, lý tưởng suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, giai cấp, nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân sẽ phải giải thích thế nào khi một đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, chuyển tiền ra nước ngoài. Vậy trung thành với nhân dân, Tổ quốc thế nào nếu đảng viên có thêm quốc tịch khác? Đảng viên vào Đảng trên tinh thần tự nguyện, phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng cộng sản, hạnh phúc của nhân dân. Việc bổ sung nội dung này nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của công cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay.

Không phải bây giờ mà ngay từ khi Đảng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu từng tổ chức Đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật. Thực hiện tốt kỷ luật Đảng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu, hoàn thành trọng trách của mình.

Trong những năm qua, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng. Qua đó, kỷ luật Đảng được thực hiện nghiêm minh; đồng thời cảnh tỉnh, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Giữ nghiêm kỷ cương phép nước để cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”. Việc bổ sung, ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm thể hiện quyết tâm cao, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Mặt khác, việc tăng cường kỷ luật trong Đảng còn góp phần cảnh tỉnh, khắc phục, sửa chữa dứt điểm nhiều hạn chế, khuyết điểm trong mỗi tổ chức và từng đảng viên. Từ đó từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, lập lại trật tự, kỷ cương trong Đảng và hệ thống chính trị. Nhiều tổ chức Đảng kịp thời nhận diện, khắc phục được một số hạn chế, khuyết điểm. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã quan tâm, coi trọng việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực công tác; chú trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm, sửa đổi lề lối, phong cách, tác phong làm việc; nghiêm khắc tu dưỡng, rèn luyện bản thân.

Việc Đảng ta sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm không chỉ thể hiện sự quyết tâm của Đảng mà còn tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực./.

NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, HẠ THẤP UY TÍN LÃNH ĐẠO ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

             Một trong những thủ đoạn chống phá Đảng và chế độ ta mà các thế lực thù địch triệt để sử dụng trong bối cảnh, tình hình mới là tung tin xuyên tạc, hạ thấp uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Vào những dịp như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; công tác bổ nhiệm, luân chuyển sau Đại hội; những khó khăn, phức tạp liên quan đến tình hình dịch bệnh COVID-19... là cơ hội để chúng ráo riết tìm mọi cách tấn công trực diện vào công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ cấp cao. Thông qua Internet và mạng xã hội, với những kịch bản được chuẩn bị khá kỹ, chúng đã tổ chức các “cấp độ” chiến dịch vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ có thể nói là khá bài bản. Thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Một là, không chỉ bằng những thông tin, hình ảnh cắt ghép, sai lệch, lẫn lộn thật-giả, chúng còn sử dụng những phát ngôn, bình luận của một số “chuyên gia” và “học giả” bất mãn để “lập luận” quy chụp, biến không thành có, có “ít suýt ra nhiều”, gây hoài nghi trong dư luận, tạo hiệu ứng tiêu cực trong tâm lý, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân và cán bộ thiếu bản lĩnh.

Hai là, chúng lợi dụng, kích động hoặc mua chuộc một số đối tượng bất mãn, bất hảo để tung đơn thư nặc danh, mạo danh trên các trang mạng xã hội; lan truyền những thông tin sai trái nhằm kích động chia rẽ nội bộ; bôi nhọ danh dự, nhân phẩm những cán bộ trong nguồn quy hoạch; xuyên tạc quan điểm, ý kiến chỉ đạo, định hướng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trước những vấn đề quan trọng, nhạy cảm của đất nước và xã hội... Đồng thời tạo ra hàng loạt bình luận (comnent) tiêu cực nhằm gây nhiễu loạn, hoài nghi trong dư luận, khiến không ít người bị rơi vào “trận đồ bát quái” - không hiểu đúng sai thế nào!

Ba là, chúng thêu dệt, bịa đặt về nguồn gốc xuất thân, gia đình cũng như bản thân cán bộ lãnh đạo cấp cao, trong đó hầu hết là những nội dung theo kiểu “thâm cung bí sử”, đen tốitiêu cực... để rồi quy chụp rằng mọi bí ẩn, khuất tất, xấu xa đều liên quan đến cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng lu loa rằng dân chủ ở Việt Nam chỉ là “chiếc bánh vẽ”, đồng thời để hạ thấp uy tín đại biểu Quốc hội, chúng rêu rao “tất cả những người mà được gọi là đại biểu quốc hội đều được lựa chọn quyết định từ trước, bầu cử chỉ là hình thức.

Bốn là, các thế lực phản động, thù địch luôn “nhấn mạnh” cái gọi là “nguyên nhân của những tiêu cực xuất phát từ công tác nhân sự. Chúng đưa ra các bài viết, phỏng vấn, trao đổi, bình luận với những luận điệu như: công tác nhân sự của Đảng, nhất là nhân sự cấp cao “là cuộc “tranh giành quyền lực”, “thanh trừng nội bộ”, “thủ tiêu đối phương”, “theo lợi ích nhóm”… công tác nhân sự trong Đảng chỉ là sự ngụy tạo, chỉ là hợp thức hóa, là dịp để hội hè, tốn kém tiền bạc của nhân dân, còn nhân sự đã được sắp đặt theo lợi ích nhóm!”(1). Cùng với đó, chúng cho rằng “cán bộ lãnh đạo của Đảng là nhóm người đặc quyền đặc lợi”, “tự cho mình cái quyền được ban phát quyền lực, bổng lộc, chức tước, biến quyền lực của nhân dân thành quyền lực của mình”(2)...

Vẫn là “mô-típ” cũ, những luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của đội ngũ cán bộ nói chung, lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói riêng trong tình hình hiện nay chỉ là “phần nổi của tảng băng”, nguy hiểm và sâu xa hơn - điều mà các thế lực thù địch, phản động nhắm đến chính là “tung hỏa mù” để gây nghi ngờ, hoang mang trong dư luận, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Bằng tri thức lý luận và từ thực tiễn đời sống chính trị, xã hội của đất nước, chúng ta hoàn toàn có cơ sở và luận cứ khoa học để đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch.

Thứ nhất, không phải chỉ ở Việt Nam, mà mỗi đảng chính trị, đảng cầm quyền ở bất kỳ quốc gia hay thể chế chính trị nào, đều phải bầu ra bộ máy lãnh đạo của mình và phải tiến hành công tác lựa chọn, bầu cử ra đội ngũ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu dưới hình thức dân chủ trực tiếp hoặc gián tiếp. Đó là công việc quan trọng và được tiến hành theo quy định, quy trình chặt chẽ.

Thứ hai, quán triệt những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh“cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”công tác nhân sự của Đảng ta luôn được tiến hành theo đúng quy địnhquy trình chặt chẽ, nghiêm túc, công tâm, khoa học, dựa trên các nguyên tắc xây dựng Đảng và sự đồng thuận của nhân dân.

Thứ ba, những cán bộ được giới thiệu, bầu vào các vị trí chủ chốt của Đảng, Nhà nước trong nhiệm kỳ Đại hội XIII nhìn chung đều được đào tạo bài bản, trải nghiệm thực tiễn, có phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lýđặc biệt là được nhân dân tin tưởng, tín nhiệm.

Thứ tư, Đảng ta luôn coi trọng và thực hiện thường xuyên việc bồi dưỡng, giáo dục và rèn luyện cán bộ đảng viên. Những cán bộ có biểu hiện đặc quyền, đặc lợi, xa hoa, trụy lạc đều bị xử lý nghiêm khắc, thích đángNhững kết quả đạt được trong công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng thời gian qua đã thể hiện rõ tính quyết liệt, thường xuyên và không có vùng cấm” của Đảng. Đại hội XIII của Đảng xác định: “...phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(3). Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Thứ năm, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề kiểm soát quyền lực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh “phải nhốt quyền lực vào lồng cơ chế, pháp luật”. Theo đó, Cương lĩnh, Điều lệ, kỷ luật Đảng; Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; sự tín nhiệm của nhân dân là những yếu tố quyết định đến chất lượng giám sát quyền lực, khắc phục những biểu hiện tha hóa, lộng quyền, củng cố và phát huy vai trò, uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Thứ sáu, xét trên phương diện thực tiễn, phần lớn đội ngũ cán bộ đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo của ĐảngNhà nước luôn giữ vững tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; cống hiến trí tuệ, tài năng và nhiệt huyết, đóng góp xứng đáng vào “những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” của đất nước. Vì thế, không thể “lấy ví dụ” một số trường hợp suy thoái, sai phạm đã bị xử lý kỷ luật, truy tố để coi là “cái phổ biến” và “là bản chất” của đội ngũ lãnh đạo Đảng, Nhà nước - như những luận điệu sai trái mà các thế lực thù địch, phản động tung ra./.

CHỐNG CÁC BIỂU HIỆN SUY THOÁI ĐỂ NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

 

     Thực hiện lời căn dặn và những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong gần 89 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng, đa số đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn rèn luyện đạo đức cách mạng, có phẩm chất chính trị tốt, đạo đức, lối sống trong sáng; bản lĩnh chính trị vững vàng; phong cách công tác gắn bó với nhân dân; nỗ lực học tập, phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý… để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

     Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, trong sự phát triển của kinh tế thị trường hiện nay, một nguy cơ tiềm ẩn luôn rình rập tấn công vào Đảng, nhất là đối với những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền chính là chủ nghĩa cá nhân. Sức công phá của "kẻ địch" này càng lợi hại khi tính vụ lợi trong mỗi người bị kích lên cao, khi mà tư tưởng thực dụng ăn sâu vào máu thịt của những người "suy thoái". Thực tế những vụ án tiêu cực, đại án tham nhũng gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng, gây tổn thất về cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao, cán bộ đang quy hoạch cấp chiến lược bị xử lý vừa qua đã cho thấy: Cuộc đấu tranh phòng và chống chủ nghĩa cá nhân, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng đã bước đầu đem lại kết quả tốt, đem lại niềm tin đối với nhân dân. Tuy nhiên, tảng băng tiêu cực tham ô, tham nhũng vẫn còn hiện hữu, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mà nguồn gốc của nó chính là chủ nghĩa cá nhân, là “giặc nội xâm”. Do đó, mỗi người nhất định phải tiêu diệt, vì nó liên quan đến sức mạnh và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Từ thực tế công tác xây dựng Đảng những năm qua, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã nêu ra những biểu hiện suy thoái của đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn liền với chủ nghĩa cá nhân. Trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, lần đầu tiên Đảng ta chỉ rõ những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân thuộc nhóm biểu hiện thứ nhất. Đó là: 1) Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. Mang trong mình chủ nghĩa cá nhân, những người có lối sống ích kỷ, thực dụng thường lợi dụng những sơ hở trong chính sách và trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo để tiến thân, phục vụ cho tham vọng chính trị, lợi ích của mình; đồng thời khi ngon ngọt, khi công kích để một mặt cấu kết, bè phái, mặt khác chống phá , gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy yếu, hạ uy tín của Đảng. Khi không thực hiện được ý đồ cá nhân, không thăng tiến được, không kiếm nhiều lợi lộc hoặc bị kỷ luật, thì sinh ra bất mãn, buông xuôi, nên khi có sự móc nối, lôi kéo của các thế lực thù địch, các phần tử này dễ trở thành lực lượng chống lại Đảng và chế độ.

NHẬN DIỆN CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN ĐỂ PHÒNG VÀ CHỐNG

 

     Nhận thức sâu sắc sự nguy hiểm và tác hại của chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh đã sớm đề cập vấn đề này; nhấn mạnh yêu cầu phải phòng, chống, tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân trong mỗi cán bộ, đảng viên và coi đó là một trong những nội dung quan trọng để xây dựng một Đảng Mácxít cách mạng chân chính. Theo Người, chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch “nội xâm”; là vết tích xấu xa của xã hội cũ, “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”(1). Đó là thứ vi trùng mẹ, đẻ ra nhiều bệnh khác như lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô,v.v.. không chỉ đối lập với đạo đức cách mạng mà còn là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Chừng nào chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại, dù ít hay nhiều cũng vẫn sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên nỗ lực “một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng” và chừng đó nguy cơ về sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn. Chừng nào những biểu hiện cá nhân chủ nghĩa vẫn còn xâm nhập vào “nội bộ Đảng” thì chừng đó nguy cơ phá vỡ khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ vẫn hiện hữu và chừng đó vẫn sẽ làm giảm nguồn sức mạnh nội lực của Đảng, đe dọa sự tồn vong của Đảng cầm quyền và chế độ. Vì vậy, thường xuyên, liên tục phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân chính là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức cơ sở Đảng.

     Theo Hồ Chí Minh, những người sa vào, mang nặng chủ nghĩa cá nhân là những người chỉ biết và luôn đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc; việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể, miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy, miễn mình vui mặc thiên hạ buồn,v.v.. cho nên chừng nào còn những người cá nhân chủ nghĩa, nhất là bộ phận đó lại là những cán bộ, đảng viên, lãnh đạo, quản lý tại các địa phương, cơ quan, đơn vị thì chừng đó cách mạng còn gặp rất nhiều khó khăn. Đó chính là sự nguy hiểm tiềm tàng làm cho Đảng mất dần tính cách mạng, tính trí tuệ, tính đạo đức, tính nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. Hơn thế, theo Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội”, “là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân(2) và để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh đầy gian khó ấy, nhất định “người cách mạng phải tiêu diệt nó”(3).


 

     Vì thế, Hồ Chí Minh nhấn manh, người cán bộ, đảng viên không chỉ phải đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân mà còn phải thường xuyên tự rèn luyện mình bằng việc tu dưỡng đạo đức cách mạng. Đó là mối quan hệ chặt chẽ, có tác động qua lại và nếu làm tốt cả hai chiều, thì nhất định sẽ rèn luyện nhân cách người cán bộ, đảng viên tốt. Vì thế, ngày từ những năm 1925-1927, khi giảng cho những thanh niên Việt Nam yêu nước tại Quảng Châu, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã yêu cầu mỗi người phải rèn luyện theo “Tư cách người một người cách mệnh”, với 23 điều răn về phẩm chất đạo đức. Trong đó, có “hoà mà không tư”, “cả quyết sửa lỗi mình”, “vị công vong tư”, không hiếu danh, không kiêu ngạo”, “ít lòng ham muốn về vật chất”, “với từng người thì khoan thứ”, “có lòng bày vẽ cho người”, “hay xem xét người” “phục tùng đoàn thể…”(4). Sau đó, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, xuất phát từ thực trạng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ, Người cũng dành nhiều bài nói, bài viết bàn về vấn đề này.

     Đặc biệt, mùa xuân năm 1969, trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Hồ Chí Minh đã không chỉ tiên lượng nguy cơ suy thoái đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà Người còn chỉ rõ trong Đảng “còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích của riêng mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”(5)

     Khác với những người “rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác. Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào về những người con xứng đáng như thế” là những con người “do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ…” (6). Đó cũng chính là những người luôn “dùng của công làm việc tư”, “ham địa vị, hay lên mặt”, chỉ ưa người khác “tâng bốc mình, khen ngợi mình”, “ưa sai khiến người khác”, “tự thấy mình cái gì cũng giỏi”, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi, ích kỷ, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm… Đó cũng là những người luôn đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân, gây chia rẽ khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, làm mất dân chủ trong Đảng… Kết quả là do cá nhân chủ nghĩa mà lập trường tư tưởng không vững vàng, hoài nghi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, dao động dẫn đến bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất; thoái bộ dẫn đến phạm nhiều sai lầm khuyết điểm, khiến quần chúng không ưa, không phục, không yêu quý họ, mất niềm tin và rời xa họ.

     Theo Hồ Chí Minh, đây là những người đã ỷ thế vào quyền hạn và trách nhiệm được trao, ỷ thế vào quyền lực tại các cơ quan công quyền để kéo bè kéo cánh, chăm chút cho lợi ích của nhóm mình, dòng họ và địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ. Đối với họ,  chỉ có nhóm lợi ích vì “ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe”,v.v..  Những biểu hiện này là một trong những nguyên nhân của sự suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, để Đảng luôn “là đạo đức, là văn minh”, Hồ Chí Minh đã không chỉ nêu ra những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; nhấn mạnh yêu cầu phải phòng, chống và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân mà Người còn khẳng định: mỗi tổ chức cơ sở đảng nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng phải thường xuyên, kiên quyết, kiên trì cuộc đấu tranh phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong.


Cần chống tư duy, hành động ở một số cán bộ, đảng viên có tư tưởng sợ dịch bệnh, sợ trách nhiệm, làm việc cầm chừng, thu mình cầu an

Đại dịch Covid-19 tác động, ảnh hưởng toàn diện, sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong bối cảnh chồng chất khó khăn và thách thức, một bộ phận cá biệt cán bộ, đảng viên bộc lộ tư tưởng sợ dịch bệnh, sợ trách nhiệm, làm việc cầm chừng, thu mình cầu an... Biểu hiện cực đoan này không chỉ cản trở hiệu quả tổ chức chống dịch ở cơ sở, mà còn tác động xấu đến môi trường “tự soi, tự sửa” trong tổ chức đảng, là mầm mống của suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống, suy thoái chính trị tư tưởng trong tổ chức đảng... Hiện nay, một số cán bộ có năng lực, trải qua nhiều cương vị công tác nên có sự am hiểu thực tiễn cơ sở. Vì chỗ quen biết, được cấp trên điều động về địa phương nhận nhiệm vụ, trong quá trình liên hệ phối hợp công tác, chăm lo an sinh xã hội cho người dân. Lại từ chối hợp tác vì sợ... trách nhiệm, chỉ đâu đánh đấy, cứ an toàn là trên hết, làm quá đi, không phải đầu cũng phải tai... Cách tư duy, hành động như vậy trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, dù không phổ biến, nhưng sự xuất hiện của những nhân tố cực đoan ấy trong hệ thống chính trị các cấp chính là tác nhân gây cản trở công việc chung. Quá trình theo dõi, bám sát nhiệm vụ tổ chức chống dịch, bảo đảm an sinh xã hội ở các địa phương phía Nam thời gian qua, chúng tôi thấy một số trường hợp do cán bộ chần chừ, bàng quan nên việc tận dụng thời cơ, huy động nguồn lực xã hội chống dịch bị bỏ qua rất đáng tiếc. Một số nhà báo, hội đồng hương tham gia kết nối đưa lương thực, hàng nông sản từ các địa phương hỗ trợ TP Hồ Chí Minh và các vùng tâm dịch ở địa bàn phía Nam cũng phàn nàn tình trạng tương tự. Khi liên hệ với người đứng đầu ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương để hỗ trợ cho dân, dù các thủ tục hành chính và quy định phòng, chống dịch đều bảo đảm đầy đủ, nhưng một số nơi cán bộ do sợ trách nhiệm nên không muốn “gánh thêm việc”. Phương pháp làm việc kiểu cầu an cho bản thân, bàng quan với việc chung như trên đã làm giảm nhịp độ, gây ách tắc cục bộ guồng máy vận hành chống dịch ở địa phương. Khi những biểu hiện cực đoan, bất cập ấy diễn ra ở người đứng đầu, nó sẽ kéo lùi cả hệ thống, tạo tâm lý lười biếng, ỷ lại, làm việc cầm chừng, làm kiểu đối phó... trong bộ máy công vụ. Khi bàn đến những biểu hiện yếu kém nói trên, có người đã lấy câu chuyện về con nhộng và tổ kén trong dân gian để ví von, so sánh. Dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp nhưng với những cán bộ này, cấp trên chỉ thị nội dung gì thì làm nội dung đó, không thì thôi. Họ hoàn toàn không có sự năng động, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Cứ thu mình như con nhộng trong tổ kén cho an toàn... Để thu mình như con nhộng thì phải tự mình tạo ra một tổ kén hợp lý. Tổ kén ấy chính là kiểu làm việc hình thức, chiếu lệ, giả dối. Cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị ở cơ sở rất dễ nhận diện những tổ kén kiểu này trong nội bộ, thông qua thực tế công tác. Đó là những người vẫn đến cơ quan, công sở làm việc theo kế hoạch, nhưng chủ yếu là đến để cho có mặt, làm việc kiểu “đút chân gầm bàn”, ngại khó, ngại khổ. Thỉnh thoảng đi cơ sở thì lựa chọn những nơi an toàn, đến cho có lệ để lấy chất liệu làm báo cáo. Làm việc kiểu lớt phớt “cưỡi ngựa xem hoa” nhưng lại chịu khó chụp ảnh, viết bài đăng lên mạng xã hội “chém gió” để chứng tỏ bản thân... Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị phải căng sức, gồng mình chống dịch với phương châm lấy xã, phường làm "pháo đài", người dân là chiến sĩ, kiểu tư duy và cách làm việc cầu an, “làm màu” ấy rất tai hại. Nhất là khi những biểu hiện ấy lại diễn ra ở người đứng đầu tổ chức chính trị ở cơ sở. Chất lượng, hiệu quả công việc không những thấp kém, mà còn tạo môi trường hình thành lối tư duy thiếu trung thực, ngụy tạo thành tích, là cơ hội cho chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi... phát triển. Đó cũng là mầm mống của suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống, suy thoái tư tưởng chính trị trong nội bộ...

Nội dung chủ yếu của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch


Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực chính trị là khâu đột phá, giữ vai trò quan trọng hàng đầu, nội dung chủ yếu là chống phá hệ tư tưởng, đường lối chính trị, hệ thống chính trị, thể chế chính trị, thúc đẩy tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong nội bộ: chống phá hệ tư tưởng chính trị, đường lối chính trị nhằm làm phai nhạt, tiến tới xoá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm suy thoái, biến đổi tư tưởng chính trị cách mạng sang tư tưởng chính trị phản động, phản cách mạng; tiến công vào các thành tố quan trọng nhất trong hệ thống chính trị, thể chế chính trị, tập trung mũi nhọn phê phán, phủ định, làm tha hóa Đảng và Nhà nước; tác động vào công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng lực lượng ngầm, tìm cách tạo dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng chống đối; đòi Việt Nam cải cách hệ thống pháp luật, tiến tới xóa bỏ lực lượng lãnh đạo, chuyển hóa bộ máy quản lý, điều hành đất nước và xã hội.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực kinh tế là khâu mũi nhọn, nội dung chủ yếu là chống phá đường lối, chính sách kinh tế; làm chuyển hóa chế độ sở hữu, cơ cấu, thành phần kinh tế; hình thành môi trường kinh tế có lợi cho CNTB; từng bước xâm nhập, chiếm lĩnh những địa bàn, lĩnh vực kinh tế quan trọng và nhạy cảm; thúc đẩy tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về kinh tế: chống phá và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đường lối, chính sách kinh tế, chế độ sở hữu, cơ cấu, thành phần kinh tế; hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân, từng bước thực hiện tư nhân hoá nền kinh tế; hình thành môi trường kinh tế có lợi cho CNTB; từng bước xâm nhập, chiếm lĩnh những địa bàn, lĩnh vực kinh tế quan trọng và nhạy cảm.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực văn hóa - xã hội là khâu quan trọng, nội dung chủ yếu là chống phá đường lối, chính sách văn hóa - xã hội;  thúc đẩy tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm chệch hướng giá trị văn hóa, đạo đức và giáo dục - đào tạo; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chia rẽ nội bộ, kích động chống đối, gây rối loạn bên trong CNXH: chống phá đường lối, chính sách văn hóa - xã hội; thúc đẩy chệch hướng giá trị văn hóa, đạo đức; làm suy thoái, biến đổi đạo đức, lối sống theo hướng tha hóa, suy đồi; thúc đẩy biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp, phân tầng và phân hóa xã hội theo mô hình xã hội TBCN; lợi dụng mâu thuẫn, khiếu kiện, chống tham nhũng để kích động biểu tình, bạo loạn lật đổ; truyền bá lối sống thực dụng, đồi trụy, cá nhân cực đoan; tuyên truyền, xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; triệt để khoét sâu vấn đề dân tộc, tôn giáo, lấy đó làm “ngòi nổ” gây mất ổn định chính trị, kinh tế, rối loạn xã hội ở Việt Nam.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là khâu then chốt, chống phá về đối ngoại là khâu hỗ trợ quan trọng, nội dung chủ yếu là chống phá đường lối, chính sách quốc phũng - an ninh, đối ngoại; thực hiện phi chính trị hóa quân đội và công an: chống phá đường lối, chính sách quốc phũng - an ninh của Đảng, nhà nước; truyền bá tư tưởng tự do, dân chủ tư sản trong cán bộ, chiến sĩ LLVT; tìm cách xúc tiến “phi chính trị hoá” quân đội, công an; thúc đẩy hợp tác quân sự, an ninh để lôi kéo Việt Nam, đồng thời vừa răn đe, gây sức ép, tìm cách tạo chỗ đứng chân; tuyên truyền cho sức mạnh quân sự phương Tây, đặc biệt sức mạnh vũ khí công nghệ cao; kích động mâu thuẫn, gây chia rẽ nội bộ, phá hoại đoàn kết cán binh, đoàn kết quân dân; tổ chức các hoạt động tình báo, gián điệp, gây cơ sở và phá hoại từ bên trong; nhen nhóm “cách mạng màu”, kích động gây bạo loạn lật đổ; khi gặp tình huống và thời cơ thuận lợi có thể tổ chức lực lượng phản ứng nhanh gây xung đột vũ trang, hỗ trợ cho lực lượng phản động bên trong tiến hành bạo loạn ở những địa bàn xung yếu, thực hiện chia cắt chiến lược, tổ chức tập kích đường không vào những mục tiêu chiến lược của ta, không loại trừ khả năng tạo cớ tiến hành chiến tranh xâm lược khi thời cơ chín muồi; triệt để lợi dụng mở cửa, hội nhập để chuyển hóa Việt Nam; chia rẽ Việt Nam với các nước láng giềng, bạn bè truyền thống.

 

 

NHẬN THỨC VỀ CHIẾN LƯỢC DIỄN BIẾN HÒA BÌNH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG NƯỚC TA


Diễn biến hòa bình” là một chiến lược chống CNXH và CNCS do các thế lực thù địch với CNXH tiến hành nhằm thủ tiêu chế độ XHCN trên phạm vi toàn thế giới, chống phá độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của các quốc gia, dân tộc bằng các biện pháp phi vũ trang, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các nước XHCN và các nước độc lập dân tộc, lái chệch hướng phát triển của quốc gia, dân tộc theo quĩ đạo của CNTB.

Chủ thể chỉ đạo, điều khiển chiến lược “diễn biến hòa bình” là các thế lực thù địch với CNXH và độc lập dân tộc. Chủ thể tiến hành, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” bao gồm những phần tử cầm đầu lực lượng phản động bên ngoài và phản động trong nước; lãnh tụ các đảng phỏi đối lập; những phần tử cơ hội, phản bội trong ban lãnhđạo cấp cao của đảng cầm quyền, chính quyền, quõn đội, an ninh, cảnh sỏt; một bộ phận quần chúng bất mãn với chính quyền và chế độ bị kích động, lừa gạt hoặc bị mua chuộc. Đối tượng của “diễn biến hòa bình” lúc đầu là các nước XHCN và phát triển theo định hướng XHCN, sau đó mở rộng ra một số nước độc lập dân tộc.

Mục tiêu sâu xa của chiến lược “diễn biến hòa bình” là thủ tiêu chế độ XHCN trên phạm vi toàn thế giới, phá hoại nền độc lập của các quốc gia, dân tộc, thiết lập một thế giới “nhất thể húa TBCN”. Mục tiêu trực tiếp đối với các nước XHCN và phát triển theo định hướng XHCN là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các nước XHCN và các nước độc lập dân tộc, đối với các nước XHCN nhằm tạo ra sự vận động chệch hướng của quốc gia, dân tộc theo quĩ đạo của CNTB; đối với các nước độc lập dân tộc nhằm tạo ra tình trạng mất ổn định về kinh tế và chính trị, suy thoái từ bên trong, đi đến khủng hoảng toàn diện, từ đó ngày càng lệ thuộc vào CNTB. Chiến lược “diễn biến hòa bình” mang tính chất phản cách mạng, phản động; tính chất dân tộc; tính chất giai cấp; tính chất toàn cầu; tính chất phi vũ trang.

Phương thức thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình” là tiến công tổng hợp, toàn diện, “mềm, ngầm, sâu”, dựa vào lực lượng đối lập phản động trong nước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong của đối tượng là chính; lấy chính trị làm đột phá; kinh tế làm mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền làm ngòi nổ; quốc phòng - an ninh làm then chốt; ngoại giao làm hỗ trợ; đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu, kết hợp bạo loạn lật đổ, thực hiện răn đe quân sự từ bên ngoài, gây áp lực để làm tan rã, sụp đổ chế độ.


Luận điệu chống lại giáo hội Phật giáo Việt Nam

 

            Vừa qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam kỷ niệm 40 năm ngày thành lập. Ngay lập tức, các đối tượng cơ hội đã lợi dụng để đăng đàn xuyên tạc.

          Các đối tượng rêu rao rằng “40 năm Giáo hội phật giáo Việt Nam: 40 năm phật giáo độc quyền”. Những luận điệu phiến diện đã được đưa ra như: “Phật giáo Việt Nam là độc quyền của Nhà nước”, “độc quyền Phật giáo đánh mất sự đa dạng, ngăn cản tự do tôn giáo”, “độc quyền tôn giáo làm người dân không có sự lựa chọn trong sinh hoạt tôn giáo của mình, làm thui chột tính cạnh tranh các các hoạt động của phật giáo”, “trong 40 năm qua, giáo hội phật giáo Việt Nam đang đánh mất uy tín của mình”… Ngoài ra,các đối tượng cũng giành nhiều lời ca ngợi cho cái gọi là “Giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất”. Những thông tin được rêu rao như trên là vô căn cứ, xuyên tạc, không thể chấp nhận.

          Thứ nhất, phải khẳng định rõ Phật giáo Việt Nam nói riêng và tất cả các tôn giáo nói chung luôn được bảo đảm phát triển theo đúng quy định của pháp luật. Tôn giáo là nhu cầu chính đáng của nhân dân. Vì vậy, Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.Trải qua 40 năm, Giáo hội phật giáo Việt Nam đã đạt được những kết quả không thể phủ nhận. Việc các đối tượng vu khống Phật giáo Việt Nam “không có tự do”, “không có sự phát triển” là vô căn cứ, đi ngược lại thực tiễn, chà đạp niềm tin của hàng chục ngàn tăng ni, phật tử. Phải nói rõ, đây là hành động kỳ thị, báng bổ tôn giáo!

          Thứ hai, đằng sau những lời lẽ kích động như trên là mưu đồ lợi dụng vỏ bọc tôn giáo để chống phá đất nước. Nhắc đến tôn giáo là nhắc về niềm tin, tư tưởng, sự thành kính. Như Các Mác từng đề cập tôn giáo như sau: “Trái tim của một thế giới thiếu trái tim, là linh hồn của những hoàn cảnh thiếu linh hồn” (“Religion is the heart of the heartless world, the soul of the soulless conditions”). Có thể nói, tôn giáo là chỗ dựa về tinh thần cho mọi người. Chính vì vậy, các đối tượng chống phá liên tục lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền những thông tin, luận điệu sai trái, dẫn dắt tư tưởng, nhận thức của mọi người theo hướng tiêu cực, tạo cơ hội chống phá đất nước. Một mặt, những kẻ này lan truyền những “đạo lạ” vào cộng đồng. Mặt khác, họ xuyên tạc, kích động, phá vỡ mối đoàn kết giữa người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa các tôn giáo với nhau và ngay trong nội bộ của từng tôn giáo.

          Sở dĩ các đối tượng liên tiếp chĩa mũi nhọn công kích Phật giáo Việt Nam là bởi Phật giáo có số lượng tín đồ lớn, luôn đồng hành cùng dân tộc, phò trợ đất nước phát triển. Chính vì vậy, những kẻ xấu luôn tìm mọi cách chống phá, làm suy yếu Phật giáo chân chính. Mỗi con người Việt Nam đều nên tỉnh táo trước những chiêu trò tinh vi và xảo quyệt đó.

Nhận diện rõ những chiêu trò phản động của các thế lực thù địch


Các quan điểm sai trái, thù địch đã dùng nhiều chiêu trò, thủ đoạn phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “nhập khẩu” Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam bỏ qua con đường phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội là trái quy luật của lịch sử, vì thế "làm cho nước nghèo, nhân dân khổ cực"! Xuyên tạc, bịa đặt rằng Hồ Chí Minh là con người mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin theo kiểu chỉ nhắc lại chứ không có tư tưởng của riêng mình. Chúng vu khống, áp đặt cho rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh có tội là truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam nên "đã dẫn đến sai lầm, là căn nguyên gây ra hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ làm hao người tốn của nên làm cho đất nước lâm vào cảnh nghèo nàn, cuộc sống nhân dân khổ cực". Chúng còn phủ nhận tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đòi hỏi thay thế tư tưởng đó bằng tư tưởng mới là: “Chủ nghĩa dân tộc hài hòa và đại đồng”. Chúng cũng tìm mọi cách để đối lập giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh...

Cũng cần xác định rõ, việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của mọi lực lượng trong xã hội, trong đó quân đội là một lực lượng tiên phong, nòng cốt. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nâng cao trình độ, ý chí quyết tâm, có kỹ năng bút chiến. Mỗi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu nắm vững bản chất và khẳng định rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn là hệ thống lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại đúng đắn nhất mà không một học thuyết nào có thể thực hiện được vai trò đó. Hoàn cảnh lịch sử cụ thể luôn luôn thay đổi, song những quy luật phát triển cơ bản, phổ biến của lịch sử loài người mà Chủ nghĩa Mác-Lênin nêu lên là không thay đổi, có giá trị trường tồn và mãi mãi soi sáng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Kiên quyết đấu tranh với “lũ quạ đen vô tri”, đi ngược lại truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái tốt đẹp của dân tộc

Thời gian qua,lợi dụng sự kiện ngày 12/9, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát động Chương trình “Sóng và máy tính cho em” kêu gọi toàn xã hội hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, thiếu phương tiện học tập trực tuyến. Ngay lập tức, xuất hiện “lũ quạ đen vô tri” lợi dụng diễn đàn mạng xã hội, các trang facebook tiêu cực, phản động như Việt Tân, VOA, BBC, Nhật ký yêu nước, Tin Tức Hoa Kỳ,… liên tục phát tán với tần số dày đặc các bài viết, hình ảnh xuyên tạc cho rằng “Chính phủ, lãnh đạo các địa phương đã dùng mọi thủ đoạn để người dân góp tiền vào Quỹ vắc xin nhưng thiếu minh bạch, không dám công khai số tiền đó cho Nhân dân biết mà tự bỏ vào túi riêng. Đến nay, lại tiếp tục mị dân, phát động ra chương trình vơ vét với chủ đề “Sóng và máy tính cho em” do Chính phủ phát động ngày 12/9/2021”. Chúng cho rằng, trong khi Nhân dân đang đói khổ thì lãnh đạo Bộ Giáo dục - Đào tạo “lại nghĩ ra chiêu trò ép học sinh học trực tuyến bằng máy tính, điện thoại thông minh” để mua bán thu lợi bất chính… Từ đó kích động người dân yêu cầu Chính phủ “phải khẩn cấp gỡ bỏ lệnh cấm vận, ngăn sông, hỗ trợ, bảo đảm đời sống người dân, không được kêu gọi Nhân dân ủng hộ mà phải dùng từ tiền thuế và ngân sách Nhà nước để bảo đảm”. Đây là những luận điệu xuyên tạc, phản động, đi ngược lại truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách từ ngàn năm văn hiến của lịch sử nước nhà. Trên thực tế, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, truyền hình, người dân đều có thể nắm được tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp, chưa được kiểm soát, mức độ lây nhiễm trong cộng đồng còn lớn, chưa truy vết hết những F0 còn trong cộng đồng. Vì vậy, trong thời gian gần đây Chính phủ, các địa phương, nhất là các địa phương phía Nam vẫn đang thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch, giãn cách xã hội, tổ chức cho Quân đội, Công an, các ban ngành, đoàn thể, lực lượng chính trị, xã hội trong cả nước và từng địa bàn tham gia hỗ trợ Nhân dân phòng, chống dịch; giải quyết vấn đề an sinh, hỗ trợ Nhân dân vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Chính phủ và lãnh đạo các địa phương đã có nhiều chính sách hỗ trợ tiền, vật chất y tế, tiêm vaccine cho Nhân dân. Mới đây nhất, lãnh đạo TPHCM khẳng định sẽ hỗ trợ, nuôi dưỡng các trẻ em mồ côi do dịch Covid-19,... điều đó khẳng định rằng: Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo tốt cho Nhân dân, “quyết không để ai bị bỏ lại phía sau”. Những con số thống kê về mức độ lây nhiễm, tử vong trong những ngày gần đây, nhất là tại TPHCM, Bình Dương, Kiên Giang,... cho thấy dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, đe dọa lớn đến tính mạng, sức khỏe, an sinh và mọi mặt đời sống xã hội của người dân. Trong bối cảnh đó, nếu gỡ bỏ biện pháp giãn cách xã hội, phòng, chống dịch, tổ chức năm học mới bình thường thì mức độ lây nhiễm cộng đồng sẽ tăng cao, việc kiểm soát dịch trở thành bài toán khó khả thi không chỉ ngay ở địa phương đó mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả nước. Vì vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các địa phương vận dụng các hình thức phù hợp với tình hình dịch bệnh Covid-19 để tổ chức cho học sinh, sinh viên bắt đầu năm học mới, trong đó có hình thức dạy và học trực tuyến. Đây là quyết định hoàn toàn phù hợp thực tiễn diễn biến dịch Covid-19. Nhưng bài toán đặt ra khi áp dụng hình thức này, đó là: Đời sống người dân còn nhiều khó khăn; kiến thức, kỹ năng dùng máy tính, mạng của người dân còn chưa cao, chưa đồng đều; hệ thống đường truyền internet hạn chế dung lượng, phần mềm dạy học hoạt động chưa tốt, nhiều học sinh thiếu trang thiết bị học tập, sự hỗ trợ của gia đình còn gặp nhiều khó khăn nên việc dạy và học ở nhiều nơi chưa hiệu quả, dẫn đến tình trạng nhiều học sinh không có phương tiện để tham gia học trực tuyến. Nhưng nếu không tổ chức dạy và học trực tuyến thì nhiệm vụ năm học 2021-2022 khó có thể hoàn thành, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, xã hội, giáo dục - đào tạo của đất nước. Ngược lại, nếu giải quyết tốt bài toán trên thì chương trình, mục tiêu, nhiệm vụ năm học 2021-2022 và các vấn đề khác có liên quan đều có thể được giải quyết hợp lý. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện nay cả nước có gần 20 triệu học sinh phổ thông. Trong đó có hơn 7.350.000 học sinh, thuộc 26/63 tỉnh thành phố trong cả nước đang triển khai học trực tuyến. Tuy nhiên, theo thống kê ban đầu, tính tới ngày 12/9/2021, có khoảng hơn 1,5 triệu học sinh thuộc 213 quận, huyện trên cả nước không thể tham gia lớp học cùng các bạn do thiếu thiết bị. Để giải quyết bài toán đó, ngày 12/9/2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chủ trì hội nghị trực tuyến phát động chương trình “Sóng và máy tính cho em”, gồm 3 cấu phần chính: Có sóng, có Internet đến tất cả các hộ gia đình; Có máy tính cho các em thuộc các hộ nghèo; Có giá cước phù hợp cho các máy tính này. Phát biểu tại lễ phát dộng, Thủ tướng khẳng định: “Đây là Chương trình có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc”, “Là thông điệp thích ứng phù hợp với tình hình, quản lý sự thay đổi và lan tỏa lòng nhân ái của mỗi chúng ta”. Thủ tướng khẳng định: “Hỗ trợ hàng triệu học sinh lúc này là hỗ trợ cả một thế hệ, giảm bớt khó khăn và thiệt thòi cho các em hôm nay là chúng ta giảm bớt gánh nặng xã hội cho hàng chục năm về sau. Giúp các em học tập hôm nay là chăm lo cho tốc độ và chất lượng phát triển đất nước trong tương lai. Đường truyền mạng, sóng và thiết bị máy tính cho các em là sự kết nối vật lý và cơ giới phục vụ học tập, nhưng cũng là sự kết nối bền chặt hơn con người với con người, sự kết nối các vùng miền và kết nối hiện tại với tương lai”. Ngay tại buổi lễ, Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu đã chứng kiến lãnh đạo các bộ, ngành, tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp, tổ chức… trao máy tính tặng Chương trình “Sóng và máy tính cho em”. Tính đến cuối buổi lễ, chương trình đã huy động ủng hộ được hơn 1 triệu máy tính với tổng trị giá khoảng 2.575 tỷ đồng và số liệu này liên tục tăng theo từng ngày. Điều đó cho thấy rằng: Chương trình đã được cả nước, cộng đồng các doanh nghiệp, địa phương, các nhà hảo tâm,... quan tâm, ủng hộ lớn, là minh chứng sắc bén, bẻ gãy các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Chương trình “Sóng và máy tính cho em” do Chính phủ phát động là chương trình có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc, thể hiện truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái tốt đẹp của dân tộc. Đây thực sự là việc “làm tỏa sáng giá trị Việt Nam”, thể hiện được “Ý Đảng - lòng dân” hòa thành một, trở thành động lực quan trọng giúp dân tộc ta đã và sẽ vượt qua những khó khăn, thử thách, sớm chiến thắng dịch bệnh Covid-19, cần được sự chung tay, chung sức của cả hệ thống chính trị.

XÂY DỰNG "THẾ TRẬN LÒNG DÂN" VỮNG MẠNH

 

     Trong tình hình hiện nay, để xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần phải thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp sau:

     Một là, thường xuyên quan tâm, chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân bằng hệ thống các chính sách cụ thể, để nhân dân được ấm no, yên tâm và tin tưởng vào con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Các bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương cần tham gia, phối hợp chặt chẽ để tập trung phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và mức sống để nhân dân ổn định cuộc sống, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đặc biệt khó khăn. Quá trình thực hiện, cần có các cơ chế, chính sách phù hợp, ưu tiên những vùng đặc biệt khó khăn bằng những chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cụ thể, với khai thác tiềm năng, thế mạnh tại chỗ; đồng thời, tạo điều kiện cho các địa phương và nhân dân tiếp cận nguồn vốn và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội vì mục tiêu phát triển con người.

     Tiếp tục đẩy mạnh nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài; chăm lo sức khỏe cho nhân dân; chú trọng giải quyết các vấn đề bất bình đẳng về lợi ích, phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, miền; thường xuyên quan tâm giải quyết tốt những bức xúc, những vấn đề nổi cộm trong đời sống của nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, chăm lo bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; có cơ chế phù hợp để nhân dân được tham gia bàn bạc, giám sát, phản biện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo sự đồng thuận trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

     Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tư tưởng và hành động của toàn dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của “thế trận lòng dân”; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có cả những thuận lợi và khó khăn, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, càng phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền để nhân dân thấy rõ thời cơ và thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, trong củng cố “thế trận lòng dân” nói riêng. Phải làm cho “ý Đảng, lòng dân” về “thế trận lòng dân” thấm sâu vào mỗi người dân, trở thành tư tưởng chủ đạo trong xây dựng “thế trận lòng dân” thời kỳ mới.

     Cấp ủy, chính quyền và cơ quan chức năng các cấp cần thường xuyên nắm chắc tình hình, đặc điểm dân cư và yêu cầu xây dựng “thế trận lòng dân” trên từng địa bàn để có biện pháp tiến hành phù hợp, hiệu quả. Quá trình thực hiện, cần chú trọng đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục theo chuyên đề gắn với các sự kiện chính trị của đất nước; phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng, phương tiện thông tin, truyền thông và thiết chế văn hóa ở cơ sở. Đồng thời, cần đẩy mạnh phong trào thi đua nhằm tạo ra các điển hình tiên tiến về xây dựng “thế trận lòng dân”; từ đó, tổ chức học tập, rút kinh nghiệm và nhân rộng trên phạm vi cả nước.

     Ba là, chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp theo hướng gần dân, chăm lo cho dân, tạo sức mạnh và uy tín để củng cố niềm tin trong nhân dân. Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, gắn học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; làm cho từng tổ chức đảng và đảng viên thực sự trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo xây dựng “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

       Cùng với mở rộng dân chủ, cần tập trung xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; đồng thời, coi trọng nâng cao chất lượng công tác giáo dục, rèn luyện, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, đảm bảo mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức, lối sống, luôn đi đầu, đi trước, làm trước, làm có hiệu quả để nhân dân tin theo trong quá trình xây dựng “thế trận lòng dân” từ cơ sở. Chú trọng việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức quần chúng và nhân dân trong tổ chức triển khai, thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, tạo sự tin tưởng, đồng thuận và ủng hộ của nhân dân đối với chủ trương, quyết sách của Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp.

     Bốn là, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, thiết thực xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham ô, tham nhũng theo hướng tích cực phòng ngừa là chủ yếu, kết hợp với xử lý nghiêm các hành vi vi phạm cũng như các biểu hiện dung túng, bao che hoặc ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí dưới mọi hình thức. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng gắn với tự tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên; với coi trọng công tác quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên theo đúng quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước. Đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình thực chất kết hợp với mở rộng dân chủ, giữ vững kỷ cương, công khai minh bạch mọi vấn đề đối với từng cá nhân, tổ chức, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất là trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao như quản lý và sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên, ngân hàng, tài chính, xây dựng cơ bản, mua sắm công,… đảm bảo đủ sức phòng ngừa, răn đe, trừng trị để các đối tượng không thể và không dám tham nhũng.

     Đề cao trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, địa phương và phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trong quá trình thực hiện, cần kiên quyết xử lý, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng; đồng thời, có chính sách khuyến khích, bảo vệ các tổ chức, cá nhân phát hiện, tố cáo tham nhũng, lãng phí. Chủ động và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ lợi dụng vấn nạn tham nhũng để kích động, xúi giục, chia rẽ đoàn kết nội bộ, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

     Năm là, tăng cường hoạt động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng, chống và làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương, là giải pháp góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh. Theo đó, cần chủ động nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng về “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; đồng thời, luôn kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của Đảng và Nhà nước.

     Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động và đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”. Gắn nhiệm vụ này với đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo điều kiện để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.