Trước hết cần thấy, tự do báo chí là
quyền tự do cơ bản, thiêng liêng, biểu hiện cho sự tiến bộ, phát triển của xã
hội. Mặt khác cũng cần hiểu tự do báo chí không phải là tự do chung chung, tự
do vô bờ bến, tự do không có giới hạn mà bao giờ nó cũng phải gắn và nằm trong
khuôn khổ pháp luật.Vấn đề có tính nguyên tắc trong tư tưởng lập pháp được mọi
quốc gia thừa nhận, vận dụng, thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật là tự do
luôn gắn liền với trách nhiệm, quyền lợi luôn gắn liền với nghĩa vụ.
Mối quan hệ phổ biến này nhằm mục tiêu
chính đáng, khoa học, khách quan, bảo đảm cho tự do của mỗi người không làm mất
đi hay ảnh hưởng tiêu cực đến tự do của người khác và của cộng đồng, xã hội. Do
vậy, tự do báo chí phải đặt trong khuôn khổ pháp luật và bao gồm cả những quy
tắc đạo đức xã hội. Trong khuôn khổ, quy tắc ấy, tự do báo chí được thừa nhận,
tôn trọng và bảo vệ; báo chí sẽ thực hiện tốt vai trò của mình, tạo môi trường
thông tin lành mạnh, là phương tiện hữu hiệu thúc đẩy phát triển xã hội, phục
vụ mục tiêu tốt đẹp cho con người.
Nằm ngoài điều đó, báo chí sẽ trở thành
tự do vô chính phủ, trở thành công cụ chính trị chống phá lẫn nhau giữa các
đảng phái, giai cấp, nhà nước, giữa các quốc gia, dân tộc, tác động tiêu cực
đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, trật
tự an toàn xã hội. Như vậy, tự do báo chí không thể vượt ra ngoài khuôn khổ của
pháp luật.
Thực tế,tự do báo chí ở phương Tây mà
một số người ca ngợi, cổ súy có phải là thứ tự do không giới hạn, nằm ngoài
khuôn khổ pháp luật? Theo Hiến pháp Hoa Kỳ (năm 1791) thì Quốc hội Mỹ không
được phép ban hành bất cứ văn bản nào hạn chế tự do ngôn luận và báo chí. Nhưng
theo nhiều văn bản pháp luật khác, ví dụ đạo luật năm 1798 thì sẽ là tội phạm
nếu viết, in, phát biểu và phổ biến những văn bản sai sự thật, cố ý xúc phạm
hay chống lại chính quyền.
Ngay trong Bộ luật Hình sự Mỹ ghi rõ:
“Nghiêm cấm mọi hành vi in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn
bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội
dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng,
tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại
Mỹ bằng vũ lực hay bạo lực”.
Hay như ở Ðức, các quy định cụ thể về tự
do báo chí thuộc thẩm quyền của các tiểu bang. Thí dụ, Luật Báo chí ở tiểu bang
Bavaria ghi rõ: “Chống lại các loại văn chương bẩn thỉu và độc hại là nhiệm vụ
của Nhà nước và các cơ quan địa phương. Sự hưởng thụ tự do cho mỗi người đều
phụ thuộc vào việc tất cả mọi người thực hiện nghĩa vụ trung thành với nhân
dân, Hiến pháp, Nhà nước và luật pháp”.
Ðức còn có lực lượng của các cơ quan nhà
nước theo dõi sách báo, tin tức do các cá nhân và tổ chức phát tán trên mạng để
thu thập tin tức và bằng chứng, khi cần thiết sẽ phục vụ cho các thủ tục xét xử
hình sự… Như vậy, tự do báo chí ở phương Tây hay bất cứ quốc gia nào cũng không
nằm ngoài khuôn khổ pháp luật. Hiểu tự do ngôn luận, tự do báo chí như vậy sẽ
giúp nhìn nhận, đánh giá khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam.
Thực tiễnđược cộng đồng quốc tế đánh giá
cao là tình hình nhân quyền ở Việt Nam nói chung, tự do ngôn luận, báo chí nói
riêng đã liên tục phát triển. Tuy nhiên, bất chấp thực tế đó, các thế lực thù
địch, phản động vẫn coi đây là một chiêu bài để chống phá Việt Nam.
Thủ đoạn của quan điểm, luận điệu này
thể hiện ở chỗ:
(1). Lợi dụng vào vấn đề tự do báo chí,
những điểm khác nhau trong quy định của luật pháp Việt Nam và các nước để xuyên
tạc.Từ đó nhằmlàm mất niềm tin vào nền báo chí, những thông tin, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà báo chí chuyển tải.
(2). Cố tình đánh đồng hiện tượng để quy
kết thành bản chất. Lấy sự việc số đối tượng tự xưng là “nhà báo độc lập”, “nhà
báo tự do”, blocger… vi phạm pháp luật hình sự để quy kết thành bản chất là
Việt Nam không có tự do báo chí.
(3). Kích động, cổ súy, bảo trợ cho
những đối tượng lợi dụng tự do báo chí nói trên để chống phá Việt Nam. (4). Lợi
dụng vấn đề tự do báo chí để công kích, lấy đó như một cái cớ để tổ chức phản
động và tổ chức khác vốn có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam báo cáo,
suy diễn, xuyên tạc, làm méo mó hình ảnh đất nước, con người, tình hình Việt
Nam, từ đó gây sức ép lên nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao của Việt
Nam.
Đằng sau quan điểm, luận điệu xuyên tạc
Việt Nam không có tự do báo chí là ý đồ sâu xa cố tình phê phán thể chế chính
trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hệ thống chính trị
trong đời sống xã hội ở Việt Nam; cố tình ca ngợi, cổ súy, hướng lái, thúc đẩy
cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây. Do đó, vấn đề “tự
do báo chí” cần được hiểu đúng và nhận diện rõ âm mưu, ý đồ xấu để lên án, đấu
tranh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét