Thứ Năm, 16 tháng 12, 2021

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ DÂN CHỦ

 Thuật ngữ “dân chủ” ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII trước công nguyên. Về mặt ngữ nghĩa, ngôn ngữ Hy Lạp cổ dùng thuật ngữ “demokratos” để diễn đạt dân chủ, trong đó “demos” là nhân dân và “kratos” là quyền lực. Theo cách diễn đạt này, dân chủ trong tiếng Hy Lạp cổ được hiểu là quyền lực thuộc về nhân dân hoặc quyền lực của nhân dân. Cách hiểu trên cơ bản được giữ nguyên cho đến ngày nay. Theo đó, dân chủ là một khái niệm dùng để chỉ quyền làm chủ của nhân dân, phản ánh mối quan hệ giữa nhân dân và quyền lực nhà nước, trong đó quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

“Dân chủ” không phải là khái niệm bất biến mà là một phạm trù chính trị, lịch sử, văn hóa, xã hội và luôn gắn với sự tồn tại của các kiểu nhà nước trong những điều cụ thể nhất định. Bởi vậy, khái niệm “dân chủ” có mối quan hệ chặt chẽ với khái niệm “chế độ dân chủ” và “nền dân chủ”. “Chế độ dân chủ” dùng để chỉ thiết chế xã hội nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân; còn khái niệm “nền dân chủ” dùng để chỉ hệ thống các thiết chế được xác lập và thực thi trong hiện thực xã hội theo mục tiêu thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội đó. Biểu hiện của một chế độ dân chủ thường bao gồm bốn yếu tố chính: Có một hệ thống chính trị mà việc lựa chọn và thay thế các chính phủ thông qua bầu cử tự do và công bằng; bảo đảm sự tham gia tích cực của công dân trong chính trị và đời sống dân sự; bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm pháp quyền, trong đó tất cả mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không ai đứng trên luật pháp. Có 2 phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ trực tiếp là phương thức tôn trọng và thực hiện dân chủ trong các tổ chức, cộng đồng hay xã hội, theo đó quyền làm chủ của các thành viên trong tổ chức, cộng đồng hay xã hội đó được thực hiện một cách trực tiếp do chính bản thân các thành viên đó. Dân chủ đại diện là phương thức tôn trọng và thực hiện dân chủ trong các tổ chức, cộng đồng hay xã hội, chủ yếu trong tổ chức của các cơ quan đại biểu, cơ quan quyền lực nhà nước, theo đó quyền làm chủ của các thành viên xã hội được thực hiện thông qua các đại diện của họ được bầu chọn hoặc chỉ định trong số các thành viên. Trong thực tiễn, quyền làm chủ của nhân dân đôi khi được thực hiện kết hợp cả hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, dân chủ là một phạm trù có quá trình phát sinh, phát triển rất phức tạp. Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, mỗi thời đại, mỗi quốc gia, dân tộc, dân chủ luôn có những nét đặc trưng trên cơ sở kế thừa biện chứng những điểm chung được nêu ở trên. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, xét về bản chất chính là dân chủ của giai cấp chủ nô. Trong chế độ phong kiến, các tư tưởng và mô hình dân chủ bị hạn chế, cấm đoán bởi chế độ tập quyền chuyên chế khi quyền lực tuyệt đối nằm trong tay một đấng quân vương. Nền dân chủ tư sản được xác lập do cuộc cách mạng tư sản dựa trên cơ sở liên minh giữa giai cấp tư sản với các giai cấp khác lật đổ chế độ phong kiến. Vì vậy, những thành tựu giành được của nền dân chủ tư sản không chỉ do riêng giai cấp tư sản tạo ra, mà là kết quả đấu tranh của nhân dân lao động, kết quả của quá trình nhận thức và tất yếu của tiến bộ xã hội. Những tuyên bố về tự do, bình đẳng, bác ái, tư tưởng về nhà nước pháp quyền và xã hội công dân là những nội dung đầu tiên của dân chủ tư sản. Tuy nhiên, với bản chất của xã hội tư sản, nền dân chủ tư sản không tránh khỏi những hạn chế khách quan. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của nhân dân lao động (dân chủ nhân dân) được thể hiện trong mọi lĩnh vực chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội. Nó được hình thành và phát triển bằng toàn bộ những giá trị văn hóa chân thực của nhân loại. Xã hội càng phát triển, điều kiện vật chất, trí tuệ, tinh thần của con người ngày càng phong phú thì xu hướng dân chủ càng mở rộng và được khẳng định mạnh mẽ.

Học thuyết Mác - Lê-nin quan niệm: “chế độ dân chủ là chế độ thống trị của đa số đối với thiểu số (chứ không phải trái lại, như bọn tư bản vẫn mong muốn)”(1). Hình thức của nền dân chủ là đa dạng, không có mô hình dân chủ chung cho mọi quốc gia, dân tộc. Mức độ tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội phản ánh trình độ phát triển của nền dân chủ, những vấn đề cốt lõi nhất của dân chủ. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có những đặc trưng chủ yếu: Là nền dân chủ phát triển ở trình độ cao nhất trong lịch sử, một chế độ dân chủ rộng rãi nhất - dân chủ cho toàn thể nhân dân lao động; là nền dân chủ hoàn toàn có khả năng thực hiện được quyền lực thuộc về nhân dân lao động, vì quyền lực ấy được bảo đảm bằng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chiếm địa vị thống trị trong nền kinh tế; là một chế độ dân chủ được thể chế hóa và vận hành trong hiện thực xã hội bằng mối quan hệ chính trị - pháp lý “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”.

Ở Việt Nam, dân chủ cũng có quá trình hình thành và phát triển tuân theo quy luật chung. Hiện nay, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của đổi mới, nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Dân chủ là phương thức, nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý nhà nước và xã hội, trong đó mọi thành viên được tôn trọng, bình đẳng trong việc tham gia quyết định các vấn đề của đất nước, xã hội, cộng đồng. Công dân được tạo mọi điều kiện để phát huy các quyền tự do, dân chủ của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm: “Trước hết cán bộ, đảng viên, đoàn viên, phải làm đầu tàu gương mẫu..., làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(2). Cơ sở của dân chủ xã hội chủ nghĩa là các quyền tự do của cá nhân, tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nhưng không có tư tưởng tự do vô giới hạn mà phải trong khuôn khổ pháp luật. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta khẳng định: “Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm..., quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm”(3). Dân chủ là quyền tự do của con người trong các lĩnh vực nhưng tự do phải trong khuôn khổ các chuẩn mực, nguyên tắc pháp lý, đạo đức xã hội. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở... Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân”(4).

Trong khi đó, trái ngược với quan điểm này, các nước tư bản cho rằng, dân chủ bao gồm các yếu tố: bầu cử tự do, đa đảng, tư pháp độc lập và nhân quyền; nhấn mạnh thái quá vào khía cạnh đầu phiếu phổ thông, các quyền tự do chính trị, tự do dân sự một cách tuyệt đối, phổ quát không bị giới hạn bởi đặc thù địa lý, xã hội, quốc gia, dân tộc. Và cũng chính từ quan điểm này mà các nước tư bản phương Tây đã áp đặt một cách vô căn cứ giá trị dân chủ tư sản với các nước khác, trong đó có Việt Nam. Họ triệt để lợi dụng sự khác nhau trong thực thi dân chủ với các khuôn khổ, chuẩn mực, nguyên tắc pháp lý và xã hội của các nước khác nhằm tiến hành những hoạt động chống phá.

Hiện nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, sự lan truyền của tư tưởng dân chủ tư sản từ các nước phương Tây sang các nước khác đang hình thành những làn sóng. Tuy nhiên, sự tồn tại của nền dân chủ phụ thuộc vào những yếu tố nội tại của một quốc gia, vào quá trình phát triển của lịch sử, xã hội ở quốc gia đó qua nhiều thế hệ chứ không thể áp đặt từ bên ngoài. Vì vậy, nhiều phong trào dân chủ trên thế giới được phương Tây ủng hộ không thiết lập nổi một nền dân chủ ổn định mà chỉ dẫn tới hỗn loạn và nội chiến do các phe phái chính trị không thể hợp tác với nhau để duy trì nền dân chủ, mà đấu tranh với nhau để giành quyền lực với sự hỗ trợ của nước ngoài, còn nhân dân thì bị lôi cuốn vào cuộc xung đột đó.

SỰ THẬT VỀ "XUẤT KHẨU DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN" KIỂU MỸ

 

 Lâu nay, nhóm người tự nhận “đấu tranh dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam” chủ yếu là thành phần ba que, lưu vong cực đoan và số a dua trong nước, luôn xem mô hình “xuất khẩu dân chủ, nhân quyền” kiểu Mỹ, phương Tây đến các quốc gia không phải đồng minh, lệ thuộc của họ là mẫu hình cao quý, là đưa văn minh nhân loại tới các quốc gia độc tài, cổ hủ, kém phát triển,…

Sau bao năm gieo rắc, xuất khẩu thành công tới Liên Xô, Đông Âu, Bắc Phi, Trung Đông, Myanmar, Hồng Kong…thì nay nó quay quật trở lại chính nơi sinh ra nó là Mỹ, Pháp, …với các tên gọi phong , quy mô, cách thức triển khai…không kém gì nơi họ từng “xuất khẩu”. Tuy nhiên, các phong trào này chưa thành công vì nó không có quốc gia và thế lực ngoại bang nào hẫu thuẫn, châm lửa và bản thân những người dân khởi xướng thân cô thế cô, tiềm lực hạn chế trong khi quân đội, vũ trang chính phủ Mỹ, EU còn rất mạnh.

Ấy vậy, mà một số đồng đảng của Việt tân vẫn xưng xưng và trắng trợn khoe khoang về thành tựu “xuất khẩu dân chủ, nhân quyền” này, xem nó như là vũ khí ưu việt của Mỹ và một số nuốc Tây Âu, Mới đây, blogger chống Cộng tự xưng là Đỗ Ngà đã viết rằng Mỹ không còn là nước xuất khẩu hàng hóa kinh tế, mà đã chuyển sang “xuất khẩu dân chủ, nhân quyền”. Trong khi Đỗ Ngà tỏ ra tự hào về một nước Mỹ như vậy, nhận xét của Ngà khiến những người có thần kinh bình thường phải bật cười và suy ngẫm.

“Trước tiên, có thể thấy bài viết của Đỗ Ngà xác nhận một thực tế mà nhiều tờ báo nhà nước đã mô tả: Mỹ “xuất khẩu dân chủ, nhân quyền” để thu về tiền bạc. Cuộc xâm lược của Mỹ tại Iraq đã chỉ khiến các mỏ dầu tại nước này rơi vào tay các tập đoàn Mỹ. Trong khi đó, khẩu hiệu “tự do kinh tế” cũng liên tục được Mỹ sử dụng để gây sức ép, buộc các quốc gia khác phải mở cửa thị trường cho mình. Sự thịnh vượng của nước Mỹ không thuần túy xuất phát từ công sức lao động của người dân nước này, nó xuất phát từ khả năng của Mỹ trong việc kiểm soát và khai thác trật tự quốc tế.

Khi dân chủ, nhân quyền chỉ là những món hàng có thể quy thành các con số kinh tế, thì dân chủ, nhân quyền cũng mất đi ý nghĩa thật sự. Việc Iraq “nhập khẩu” dân chủ Mỹ không xuất phát từ mong muốn của người dân nước này, mà xuất phát từ sức mạnh của hỏa lực Mỹ, và tham vọng thâu tóm thị trường của các tập đoàn Mỹ. Nhân quyền cũng không còn là quyền hiến định bẩm sinh của mọi người: nó chỉ được công nhận khi đem lại lợi nhuận. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy cựu Tổng thống Obama gọi chính quyền độc tài Ethiopia là “dân chủ” trong chuyến thăm nước này vào năm 2005, hay khi thấy cựu Tổng thống Donald Trump tỏ thái độ thân mật với nguyên thủ các nước mà Mỹ coi là vi phạm nhân quyền một cách nghiêm trọng. Mới năm ngoái, Phạm Đoan Trang còn phàn nàn rằng các “nhà hoạt động nhân quyền” ở Việt Nam thường bị hai chính quyền Việt-Mỹ trao đi đổi lại như món hàng, mỗi khi cần thương lượng các hiệp định thương mại. Thật khó tin, khi sau những sự kiện nhục nhã này, Đỗ Ngà vẫn cảm thấy tự hào về truyền thống buôn bán nhân quyền của Mỹ.

Vậy những nước nhập khẩu dân chủ, nhân quyền Mỹ đã trở nên thịnh vượng như thế nào? Sau 10 năm, phong trào biểu tình “Mùa xuân Arab” đã chỉ dựng được duy nhất một nền dân chủ ở Tunisia, nơi người dân thường đang phàn nàn rằng họ thậm chí còn trở nên nghèo hơn, và các quan chức của chính quyền cũ vẫn đang nắm hầu hết quyền lực kinh tế, chính trị. Trong khi đó, Libya và Syria bị phá hủy bởi những cuộc nội chiến có sự can thiệp, chiếm đóng của nước ngoài, còn Ai Cập thì rơi vào tay chính quyền độc tài quân sự. Nếu khách hàng bị ép mua nhân quyền Mỹ, và việc mua bán này chỉ khiến họ nghèo đi trong khi Mỹ giàu lên, thì việc “xuất khẩu nhân quyền” không phải là kinh doanh, mà là ăn cướp”.

Còn nhớ, Mỹ, Pháp cũng từng nhân danh “khai sáng văn minh”, đem dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam đã rải hàng triệu lít chất độc da cam, hàng triệu tấn bom đạn san phẳng Việt Nam và cướp bóc kiệt quệ Việt Nam hàng thế kỷ ra sao. Để giải thoát khỏi “sản phẩm dân chủ, nhân quyền” đó, hàng triệu người dân Việt đã ngã xuống, khiến cho những kẻ tay sai, nguy quyền, ngụy quân phải sống lưu vong, ngày ngày hằn học, tìm trăm phương ngàn kế phá hoại đất nước như Đỗ Ngà kia.

KHỞI ĐIỂM CỦA MỘT CHIẾN LƯỢC PHI NHÂN TÍNH “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” Chiến lược “diễn biến hòa bình” được hình thành trong thời kỳ “chiến tranh lạnh”, cuối thập kỷ 40, đầu thập kỷ 50 và hoàn chỉnh vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, hệ thống chủ nghĩa xã hội ra đời, chiếm 35% dân số thế giới; Liên Xô trở thành thành trì phe xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh giành độc lập ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh phát triển mạnh mẽ và trở thành một xu thế khách quan, phổ biến. Cuộc đấu tranh “ai thắng ai”, giữa hai hệ thống: chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, diễn ra quyết liệt “một mất một còn”. Trong bối cảnh tình hình ấy, Mỹ và phương Tây tiến hành chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, hòng “hạ nhiệt cơn sốt”, sức lan tỏa bởi ảnh hưởng, tác động của Liên Xô đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Với chiến lược này, Mỹ dùng biện pháp vũ trang, sử dụng sức mạnh quân sự là chủ yếu. Vì vậy, Mỹ đã xây dựng căn cứ quân sự ở khắp nơi; theo đó, NATO sau một thời gian chuẩn bị, cuối cùng đã mau chóng ra đời. Tuy nhiên, tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược bằng biện pháp vũ trang, sử dụng sức mạnh quân sự để chống lại hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã khiến Mỹ và NATO hứng chịu nhiều cay đắng và thất bại nhục nhã. Các cuộc chiến tranh do Mỹ và đồng minh gây ra…, cuối cùng đều thất bại; trong đó có cả cuộc chiến tranh đẫm máu xâm lược Việt Nam. Điểm qua quá trình ra đời và thực hiện âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” với các kịch bản dàn dựng sẵn của Mỹ và phương Tây sẽ giúp chúng ta nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn nhận định nêu trên. Sự kiện mang dấu ấn cột mốc đánh dấu sự ra đời của chiến lược “diễn biến hòa bình” được ghi lại là ngày 22/12/1946, khi G.Kennan – đại diện của Mỹ ở Liên Xô gửi một bức điện dài 8.000 từ về Mỹ, kiến nghị với Nhà Trắng chính sách chống Liên Xô, đó là: bao vây quân sự, phong tỏa kinh tế, lật đổ chính trị, thậm chí dùng vũ trang xâm lược; kiềm chế khuynh hướng “làn sóng cộng sản” đang lan tràn, dâng cao… Học thuyết “ngăn chặn phi vũ trang” của Kennan được các chính khách và các nhà khoa học quân sự Mỹ và phương Tây tán dương, ca tụng, tâng bốc hết lời với ý nghĩa là “thượng sách’, ngón đòn “độc chiêu” có tầm vóc vạch đường đi mới…Cùng với đó, Akinsơn đề ra luận thuyết “chủ nghĩa dân chủ cá nhân”; Đalét với chiến lược “hòa bình giải phóng”; Kennơđi với học thuyết “gieo hạt giống tự do trong kẽ nứt tấm màn thép”. Tuy cách tiếp cận và nội dung đề xuất của các luận thuyết ấy có khác nhau, song mục tiêu, quan điểm, biện pháp chung của các luận thuyết ấy cơ bản giống nhau là thay biện pháp quân sự bằng biện pháp phi quân sự, đánh vào lòng người là chủ yếu, kết hợp với đánh vào kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, ngoại giáo, quốc phòng, an ninh…, để giành thắng lợi mà không cần bạo lực, không cần gây chiến tranh. Vì thế, ý tưởng “diễn biến hòa bình” đã được tung hê, từng bước được bổ sung, hoàn thiện. Vì thế, Kennơđi đã coi phương pháp “hòa bình” là kế sách tối ưu, có thể sử dụng nó “vô thời hạn”, lấy uy hiếp quân sự làm hậu thuẫn, dồn sức tập trung đánh vào các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…, khiến các nước chủ nghĩa xã hội sụp đổ dần dần, từ bên trong, tự tan rã, tự biến mất, nhờ đó “phương Tây có thể kê cao gối để ngủ”. Tháng 3 năm 1947, Tổng thống Mỹ là Truman đã quyết định thành lập tổ chức “Nghiên cứu các giải pháp hoà bình chống chủ nghĩa xã hội” và xác định: Mục tiêu của Mỹ là gieo rắc ở Liên Xô sự hoài nghi, bi quan trong dân chúng, hỗn loạn trong xã hội. Theo Truman, điểm khởi đầu của “sự nghiệp vĩ đại ấy” là dùng chiến tranh tâm lý và thông tin, đánh vào giới trẻ, sinh viên, tranh cướp, giành giật và đưa họ đứng về phía Mỹ; đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động gây chia rẽ giữa Đảng Cộng sản với Nhà nước xã hội chủ nghĩa, giữa Đảng Cộng sản với nhân dân; giữa nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa với nhau, trước hểt là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu.. Tháng 12 năm 1957, Tổng thống Aixenhao tuyên bố “Mỹ sẽ giành thắng lợi bằng hòa bình” trước chủ nghĩa xã hội. Luận điểm này có thể coii là “cái hồn cốt” đánh dấu sự hình thành nội dung cốt lõi của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Minh chứng cho lời tuyên bố ấy và sự khẳng định “bức màn sắt” của chủ nghĩa xã hội đã bị chọc thủng, Z.Brzesinki, trong cuốn Thất bại lớn – bản tiếng Việt, trang 158, đã thừa nhận: Từ 1981 đến 1987, khoảng 15 ngàn báo chí bí mật, 24 ngàn quyển sách và bài viết từ Mỹ và phương Tây đã được đưa vào các nước xã hội chủ nghĩa, chủ yếu là Liên Xô. Chính sách “cây gậy và củ cà rốt” của Mỹ đã phát huy tác dụng nhất định: vừa răn đe quân sự, vừa đánh vào lòng người bằng miếng mồi câu “kinh tế”, “viện trợ”…Nhìn chung, từ sau 1945 đến 1979, Mỹ và phương Tây chủ yếu dùng sức mạnh quân sự để chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, song “diễn biến hòa bình” với tư cách là một chiến lược toàn cầu phản cách mạng đã từng bước được hình thành và nó đã được sử dụng như một phương tiện hỗ trợ để đánh vào các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô. Ngay từ đầu, biện pháp này đã phát huy tác dụng; nhiều cán bộ cao cấp trong các Đảng Cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô đã ý thức được tác hại của “diễn biến hòa bình”; song điều đáng tiếc là những người có trách nhiệm cao nhất trong các Đảng Cộng sản ở các nước ấy đã làm ngơ, để mất cảnh giác nên đã trúng mưu của các thế lực thù địch. Có thể khẳng định rằng, mũi nhọn của chiến lược “diễn biến hòa bình” là từng bước làm xuất hiện “những nhân tố mới lạ, xa dần với các giá trị chuẩn mực của chủ nghĩa cộng sản”, tiến tới làm thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Cuối cùng sẽ đánh sập cả hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới. Một trong những khởi phát của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm thẳng vào mắt khâu yếu nhất của sợi dây chuyền dẫn chủ nghĩa xã hội là Hunggary (năm 1956).

 


Chiến lược “diễn biến hòa bình” được hình thành trong thời kỳ “chiến tranh lạnh”, cuối thập kỷ 40, đầu thập kỷ 50 và hoàn chỉnh vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, hệ thống chủ nghĩa xã hội ra đời, chiếm 35% dân số thế giới; Liên Xô trở thành thành trì phe xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh giành độc lập ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh phát triển mạnh mẽ và trở thành một xu thế khách quan, phổ biến. Cuộc đấu tranh “ai thắng ai”, giữa hai hệ thống: chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, diễn ra quyết liệt “một mất một còn”. Trong bối cảnh tình hình ấy, Mỹ và phương Tây tiến hành chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, hòng “hạ nhiệt cơn sốt”, sức lan tỏa bởi ảnh hưởng, tác động của Liên Xô đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Với chiến lược này, Mỹ dùng biện pháp vũ trang, sử dụng sức mạnh quân sự là chủ yếu. Vì vậy, Mỹ đã xây dựng căn cứ quân sự ở khắp nơi; theo đó, NATO sau một thời gian chuẩn bị, cuối cùng đã mau chóng ra đời. Tuy nhiên, tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược bằng biện pháp vũ trang, sử dụng sức mạnh quân sự để chống lại hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã khiến Mỹ và NATO hứng chịu nhiều cay đắng và thất bại nhục nhã. Các cuộc chiến tranh do Mỹ và đồng minh gây ra…, cuối cùng đều thất bại; trong đó có cả cuộc chiến tranh đẫm máu xâm lược Việt Nam. Điểm qua quá trình ra đời và thực hiện âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” với các kịch bản dàn dựng sẵn của Mỹ và phương Tây sẽ giúp chúng ta nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn nhận định nêu trên.

Sự kiện mang dấu ấn cột mốc đánh dấu sự ra đời của chiến lược “diễn biến hòa bình” được ghi lại là ngày 22/12/1946, khi G.Kennan – đại diện của Mỹ ở Liên Xô gửi một bức điện dài 8.000 từ về Mỹ, kiến nghị với Nhà Trắng chính sách chống Liên Xô, đó là: bao vây quân sự, phong tỏa kinh tế, lật đổ chính trị, thậm chí dùng vũ trang xâm lược; kiềm chế khuynh hướng “làn sóng cộng sản” đang lan tràn, dâng cao… Học thuyết “ngăn chặn phi vũ trang” của Kennan được các chính khách và các nhà khoa học quân sự Mỹ và phương Tây tán dương, ca tụng, tâng bốc hết lời với ý nghĩa là “thượng sách’, ngón đòn “độc chiêu” có tầm vóc vạch đường đi mới…Cùng với đó, Akinsơn đề ra luận thuyết “chủ nghĩa dân chủ cá nhân”; Đalét với chiến lược “hòa bình giải phóng”; Kennơđi với học thuyết “gieo hạt giống tự do trong kẽ nứt tấm màn thép”. Tuy cách tiếp cận và nội dung đề xuất của các luận thuyết ấy có khác nhau, song mục tiêu, quan điểm, biện pháp chung của các luận thuyết ấy cơ bản giống nhau là thay biện pháp quân sự bằng biện pháp phi quân sự, đánh vào lòng người là chủ yếu, kết hợp với đánh vào kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, ngoại giáo, quốc phòng, an ninh…, để giành thắng lợi mà không cần bạo lực, không cần gây chiến tranh. Vì thế, ý tưởng “diễn biến hòa bình” đã được tung hê, từng bước được bổ sung, hoàn thiện. Vì thế, Kennơđi đã coi phương pháp “hòa bình” là kế sách tối ưu, có thể sử dụng nó “vô thời hạn”, lấy uy hiếp quân sự làm hậu thuẫn, dồn sức tập trung đánh vào các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…, khiến các nước chủ nghĩa xã hội sụp đổ dần dần, từ bên trong, tự tan rã, tự biến mất, nhờ đó “phương Tây có thể kê cao gối để ngủ”.

Tháng 3 năm 1947, Tổng thống Mỹ là Truman đã quyết định thành lập tổ chức “Nghiên cứu các giải pháp hoà bình chống chủ nghĩa xã hội” và xác định: Mục tiêu của Mỹ là gieo rắc ở Liên Xô sự hoài nghi, bi quan trong dân chúng, hỗn loạn trong xã hội. Theo Truman, điểm khởi đầu của “sự nghiệp vĩ đại ấy” là dùng chiến tranh tâm lý và thông tin, đánh vào giới trẻ, sinh viên, tranh cướp, giành giật và đưa họ đứng về phía Mỹ; đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động gây chia rẽ giữa Đảng Cộng sản với Nhà nước xã hội chủ nghĩa, giữa Đảng Cộng sản với nhân dân; giữa nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa với nhau, trước hểt là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu..

Tháng 12 năm 1957, Tổng thống Aixenhao tuyên bố “Mỹ sẽ giành thắng lợi bằng hòa bình” trước chủ nghĩa xã hội. Luận điểm này có thể coii là “cái hồn cốt” đánh dấu sự hình thành nội dung cốt lõi của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Minh chứng cho lời tuyên bố ấy và sự khẳng định “bức màn sắt” của chủ nghĩa xã hội đã bị chọc thủng, Z.Brzesinki, trong cuốn Thất bại lớn – bản tiếng Việt, trang 158, đã thừa nhận: Từ 1981 đến 1987, khoảng 15 ngàn báo chí bí mật, 24 ngàn quyển sách và bài viết từ Mỹ và phương Tây đã được đưa vào các nước xã hội chủ nghĩa, chủ yếu là Liên Xô. Chính sách “cây gậy và củ cà rốt” của Mỹ đã phát huy tác dụng nhất định: vừa răn đe quân sự, vừa đánh vào lòng người bằng miếng mồi câu “kinh tế”, “viện trợ”…Nhìn chung, từ sau 1945 đến 1979, Mỹ và phương Tây chủ yếu dùng sức mạnh quân sự để chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, song “diễn biến hòa bình” với tư cách là một chiến lược toàn cầu phản cách mạng đã từng bước được hình thành và nó đã được sử dụng như một phương tiện hỗ trợ để đánh vào các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô. Ngay từ đầu, biện pháp này đã phát huy tác dụng; nhiều cán bộ cao cấp trong các Đảng Cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô đã ý thức được tác hại của “diễn biến hòa bình”; song điều đáng tiếc là những người có trách nhiệm cao nhất trong các Đảng Cộng sản ở các nước ấy đã làm ngơ, để mất cảnh giác nên đã trúng mưu của các thế lực thù địch.

Có thể khẳng định rằng, mũi nhọn của chiến lược “diễn biến hòa bình” là từng bước làm xuất hiện “những nhân tố mới lạ, xa dần với các giá trị chuẩn mực của chủ nghĩa cộng sản”, tiến tới làm thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Cuối cùng sẽ đánh sập cả hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới. Một trong những khởi phát của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm thẳng vào mắt khâu yếu nhất của sợi dây chuyền dẫn chủ nghĩa xã hội là Hunggary (năm 1956).

 

NHẬN DIỆN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH CỦA ĐẢNG TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


 

Đảng Cộng sản Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng đã luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Chính vì vậy, ngày 22-/10/2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó các cơ quan báo chí tuyên truyền các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị – xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước còn diễn biến phức tạp. Đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, đã và sẽ còn có diễn biến khó lường với nhiều khó khăn, thách thức mới. Các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng mọi phương tiện để chống phá thông qua việc đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ 4.0, không gian mạng sẽ trở thành một bộ phận cấu thành thiết yếu và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc. Chính vì vậy, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung dùng Internet, triệt để sử dụng mạng xã hội để chống phá, bịa đặt, nhào nặn, lan truyền những thông tin, hình ảnh thất thiệt gây tâm lý bi quan, hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân với mục tiêu cốt lõi để phá hoại nền tảng tư tưởng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do vậy phải ngăn chặn tác động của các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho các cấp, các ngành và mỗi cán bộ, đảng viên và người dân miễn dịch với nó.

 Nắm bắt tình hình hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, nhất là liên quan đến các vụ việc phức tạp, nhạy cảm, “điểm nóng” mới phát sinh ở ngành, địa phương; kịp thời chỉ đạo định hướng ngay các biện pháp đấu tranh. Chỉ đạo thống nhất, phối hợp lực lượng từ Trung ương đến địa phương đấu tranh phản bác; chia sẻ, chuyển tải bài viết của Nhóm Chuyên gia Trung ương lên các Blog, Facebook trong hệ thống, tạo sự chủ động, lan tỏa nhanh và huy động tổng lực các lực lượng đấu tranh, phản bác trước những thông tin xuyên tạc, bịa đặt liên quan đến các sự kiện chính trị, vụ việc phức tạp, nhạy cảm được xã hội quan tâm. Công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tập trung định hướng tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đổi mới hình thức đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái thù địch, sử dụng đồng bộ các phương tiện thông tin đại chúng (báo mạng, báo hình, báo nói, báo in), chú trọng tuyên truyền công khai trên các báo điện tử, trang tin điện tử; qua các trang mạng xã hội; qua tuyên truyền miệng. Đa dạng hóa các phương pháp đấu tranh, sử dụng đồng bộ, kết hợp có hiệu quả các phương pháp đối thoại, đấu tranh trực diện. Quan tâm phương pháp đối thoại nhằm thuyết phục những người có nhận thức sai lầm, lệch lạc. Cách thức đấu tranh phản bác phải linh hoạt dựa trên tính chất vấn đề cần đấu tranh, phản bác. Hiện nay, trước diễn biến mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, cuộc đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch ngày càng phức tạp. Có thể thấy, các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá cách mạng Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân.

 

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỂ TĂNG CƯỜNG KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI CỦNG CỐ TIỀM LỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH

 

        Để phát huy những tác động tích cực, hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của phát triển kinh tế thị trường đối với quốc phòng, an ninh, kết hợp hài hòa và bảo đảm thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cần có một hệ thống các quan điểm, giải pháp đồng bộ. Trong đó, giải pháp đặc biệt quan trọng là hoàn thiện công tác quản lý nhà nước. Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường, đáp ứng yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, cần xuất phát từ quan điểm chủ đạo của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được thể hiện trong Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị và được hoàn thiện qua các kỳ đại hội Đảng. Đại hội XII của Đảng xác định mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”.

Đồng thời, cần quán triệt một số quan điểm sau:

        Một là, Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

       Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các văn kiện đại hội Đảng nêu bật nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh. Đây là nguyên tắc cơ bản, quy định chức năng lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, từ việc xây dựng, hoạch định đ­ường lối, chủ trương chiến lược về quốc phòng, an ninh đến tổ chức thực hiện.

        Hai là, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia có mối quan hệ biện chứng, tác động, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau.

       Đây là quan điểm xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhất là trong bối cảnh, tình hình mới. Đảng ta tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong đó, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để tạo môi trường, tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; ngược lại, mỗi thành quả của nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ tạo điều kiện vững chắc cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước.

        Ba là, hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh phải đồng bộ, hiệu quả.

         Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật. Vì vậy, Nhà nước cần phải có một hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và pháp luật, chính sách về quốc phòng, an ninh đồng bộ; được tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi tình huống.

        Bốn là, thực hiện nhất quán chính sách quốc phòng, an ninh mang tính chất hòa bình, tự vệ

        Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình. Xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng vũ trang và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Trên cơ sở quán triệt quan điểm chủ đạo và các quan điểm nêu trên, trong thời gian tới, để tăng cường kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, hoàn thiện công tác quản lý nhà nước cần tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau:

        Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh.

         Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nền kinh tế, ngành, địa phương gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh một cách phù hợp. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Xử lý kỷ luật nghiêm cán bộ, công chức vi phạm, không hoàn thành nhiệm vụ trong tham mưu, hoạch định chính sách phát triển kinh tế làm nguy hại đến tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

       Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường, bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh.

       Mọi chủ trương, đường lối của Đảng có liên quan đến kết hợp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đều phải được thể chế hoá thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật một cách đồng bộ, thống nhất để quản lý và tổ chức thực hiện hiệu lực, hiệu quả trong cả nước. Cơ chế, chính sách bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh cần được xây dựng theo quan điểm quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Việc phân bổ ngân sách đầu tư cho kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh theo hướng tập trung cho những mục tiêu chủ yếu, những công trình có tính lưỡng dụng cao đáp ứng cả cho phát triển kinh tế  - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh, cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng chính sách khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với các tổ chức, cá nhân, các nhà đầu tư có các đề tài khoa học, các dự án công nghệ có ý nghĩa lưỡng dụng cao, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

          Thứ ba, hoàn thiện chiến lược tổng thể kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong thời kỳ mới. Muốn kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong suốt quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước một cách cơ bản và thống nhất trên phạm vi cả nước và từng địa phương, phải tiếp tục hoàn thiện chiến lược tổng thể quốc gia, các quy hoạch và kế hoạch về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Đây cần được coi là một trong những căn cứ quan trọng hàng đầu để lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động quản lý nhà nước hiệu lực, hiệu quả. Trong hoàn thiện chiến lược tổng thể, quy hoạch, kế hoạch về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thời kỳ mới, phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương từ khâu khảo sát, đánh giá các nguồn lực (cả bên trong và bên ngoài), trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, phương hướng phát triển và đề ra các giải pháp chính sách, như: Chính sách khai thác các nguồn lực; chính sách đầu tư và phân bổ đầu tư; chính sách điều động nhân lực, bố trí dân cư; chính sách ưu đãi khoa học và công nghệ lưỡng dụng.

         Thứ tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp trong kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh.

         Trước hết, mỗi ngành, mỗi cấp phải làm đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và Nghị định số 119/2004/NĐ-CP của Chính phủ); đồng thời, nghiên cứu xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định này cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới (sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ; sự xuất hiện của các vấn đề quốc phòng, an ninh phi truyền thống). Xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt các quy hoạch, kế hoạch kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ở ngành, địa phương, cơ sở. Đổi mới phương pháp quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch đến công tác nắm tình hình, thu thập xử lý thông tin, định hướng hoạt động, tổ chức hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra ở mọi khâu, mọi bước của quá trình thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, xã hội.

         Thứ năm, đổi mới, nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cho công chức, đặc biệt là công chức lãnh đạo quản lý các cấp.

         Căn cứ vào đối tượng bồi dưỡng, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra để chọn lựa nội dung, chương trình bồi dưỡng cho phù hợp và thiết thực nhằm nâng cao cả kiến thức, kinh nghiệm và năng lực thực tiễn sát với cương vị đảm nhiệm với từng loại đối tượng cán bộ. Kết hợp bồi dưỡng kiến thức lý luận với thực hành thông qua các cuộc diễn tập thực nghiệm, thực tế ở các bộ, ngành, địa phương, cơ sở để nâng cao hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ và của toàn dân, toàn quân về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

           Thứ sáu, củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò tham mưu của cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh các cấp.

         Cần nghiên cứu, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh nói chung và về kết hợp phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh nói riêng. Kết hợp giữa chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức với chăm lo bồi dưỡng, nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ chuyên trách làm công tác tham mưu về thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới./.

 

QUYẾT TÂM GIỮ VỮNG VÀ PHÁT HUY NIỀM TIN CHÍNH TRỊ CỦA NHÂN DÂN THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 

         Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân, phục vụ cho lợi ích của Nhân dân lao động. Để thực hiện tốt niềm tin chính trị của Nhân dân theo tinh thần đại hội XIII của Đảng cần thực hẹn tốt một số vấn để đó là:

        Một là, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đại biểu trung thành cho lợi ích của toàn thể dân tộc.

        Đây là nhiệm vụ quan trọng để giữ vững và phát huy niềm tin chính trị của nhân dân với Đảng. Đảng là tổ chức đại diện và bảo vệ cho quyền lợi của toàn thể nhân dân, vì thế tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện để thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó. Muốn vậy, Đảng phải đề ra được đường lối, chủ trương đúng đắn, đồng thời lãnh đạo hiệu quả việc thực hiện có kết quả đường lối, chủ trương đó trong thực tiễn cách mạng. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận được Đảng ta coi trọng và đẩy mạnh, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, giúp nâng cao chất lượng việc xây dựng các nghị quyết, quy định…, để cấp ủy các cấp sớm đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống, thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị ở mỗi địa phương, ngành, lĩnh vực. “Các cấp ủy, tổ chức đảng đã kịp thời cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành các nghị quyết, chỉ thị, đề án, kế hoạch, chương trình hành động sát với tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng đã ban hành các nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá; khắc phục điểm yếu, giải quyết kịp thời những vấn đề phức tạp của địa phương, cơ quan, đơn vị(10). Những nỗ lực đó của cấp ủy các cấp thể hiện ở kết quả của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị qua mỗi nhiệm kỳ đại hội đảng bộ mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; qua đó, góp phần vào thành công chung của sự nghiệp đổi mới, nâng cao toàn diện đời sống của các tầng lớp nhân dân. Công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ đều đạt được những kết quả quan trọng. Đặc biệt, thời gian qua, “công tác xây dựng Đảng về đạo đức được Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng đề cao, nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý có chuyển biến tích cực”; “việc thực hiện trách nhiệm nêu gương và chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên có chuyển biến tích cực, nhất là vai trò tiền phonggương mẫu của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Việc xử lý kỷ luật nghiêm những đảng viên vi phạm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cả cán bộ đương chức và nghỉ hưu đã giúp mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh hành vi, tích cực rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong công tác(11); qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy các cấp, nâng cao đạo đức đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm trong sạch và vững mạnh tổ chức, góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Để tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, thời gian tới, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đại biểu trung thành cho lợi ích của toàn thể dân tộc đã được Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước… Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên;…Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí”(12).

        Hai là, tiếp tục phát huy hơn nữa tinh thần tự giác, lòng nhiệt tình cách mạng của nhân dân.

        Để phát huy hơn nữa vai trò chủ động, tích cực của các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cần hiện thực hóa mục tiêu dân được thụ hưởng trong phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” của Đại hội XIII của Đảng. “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội”. Bên cạnh đó, cần “giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

       Ba là, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

        Chỉ khi giữ vững được mối quan hệ mật thiết với nhân dân, Đảng ta mới có thể tiến hành thành công sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Mỗi tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên khi thực hiện nhiệm vụ cần khắc sâu điều đó trong mỗi quyết sách chính trị của mình. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng, thước đo để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên. Thời gian qua, với sự nỗ lực của các cấp ủy và tổ chức đảng các cấp, “công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường”. Để thắt chặt hơn nữa mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, Đại hội XIII của Đảng chỉ ra nhiệm vụ thời gian tới của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên là: “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”… Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và chính quyền các cấp… phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”. Muốn hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ nói trên, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên cần nâng cao năng lực lãnh đạo, giữ vững tư cách, phẩm chất người đảng viên cộng sản; lãnh đạo các đoàn thể nhân dân hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị; thực hành dân chủ rộng rãi và thực chất, đi đôi với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương, thượng tôn pháp luật; tổ chức tốt các phong trào hành động cách mạng có sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân; khơi dậy lòng nhiệt tình và chủ động của nhân dân tham gia, hưởng ứng tích cực các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Qua những hoạt động đó, Đảng phát huy vai trò lãnh đạo nhân dân thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị; dựa vào nhân dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

 

Hãy là người Hà Nội văn minh thanh lịch

 

Nỗ lực của chính quyền và người dân Thủ đô trong nhiều năm qua đã mang lại những thành tựu đáng kể trong phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh là điều không thể phủ nhận. Vậy nhưng trong cuộc sống hằng ngày vẫn còn không ít ứng xử chưa đẹp, gọi chính xác là thiếu văn hóa. Ngoài chuyện vứt rác bừa bãi, không đúng nơi quy định, tình trạng người dân thiếu ý thức khi tham gia giao thông cũng khá phổ biến. Chỉ vì muốn nhanh cho mình mà nhiều người sẵn sàng vượt đèn đỏ, lấn làn…, thế là xảy ra va chạm, dẫn đến cãi vã, chửi bới, thậm chí đánh lộn, cuối cùng thì tắc đường và ai cũng bị chậm. Như một tác giả đã nhận định, vấn đề nằm ở chỗ ai cũng muốn giành thuận lợi cho mình mà đổ khó khăn cho người khác, và đó chính là một biểu hiện lệch lạc trong nếp sống, lối sống của một bộ phận cư dân, đáng buồn là dường như không ai cảm thấy xấu hổ vì điều đó. Hay như trong những đợt dịch vừa qua, bên cạnh đa số nghiêm túc chấp hành vẫn có không ít người không đeo khẩu trang, “thông chốt”, tụ tập ăn uống, phớt lờ quy định “5K”... Nguyên nhân của những "nếp sống", "lối sống" kiểu này phải chăng là vì vẫn có không ít người, nhất là lớp trẻ, cho rằng “cái tôi” của mình quá lớn, thậm chí đến mức tự cho phép khác biệt với số đông, trái với các quy định pháp luật và chuẩn mực xã hội? Song dù lý do là gì thì những hành vi, ứng xử phản cảm, thiếu văn hóa như vậy đã khiến Hà Nội ít nhiều trở nên xô bồ, nhếch nhác.

 

Một trong những hạn chế, yếu kém mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XVI đã thẳng thắn chỉ ra là “quảng bá văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh chưa đạt kết quả như mong muốn. Văn hóa ứng xử của người dân trong gia đình và nơi công cộng chuyển biến chưa đồng đều, thiếu bền vững”. Vì vậy, để xây dựng Hà Nội trở thành đô thị văn minh, hiện đại, thanh bình và đáng sống, để văn hóa thực sự trở thành nguồn sức mạnh nội sinh, động lực phát triển Thủ đô thì phải chấn hưng văn hóa, và "xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, phát triển toàn diện với những giá trị nhân văn và tinh thần yêu nước, yêu Hà Nội sâu sắc” là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Phải làm sao để người sống ở Thủ đô, dù là bất cứ ai, từ đâu đến, đều nhận thức được tình yêu, niềm tự hào và ứng xử trách nhiệm với danh xưng “công dân Hà Nội”. Để làm được điều đó, ngoài biện pháp tăng cường quản lý, giám sát, đặc biệt là tăng cường chế tài xử lý vi phạm, còn rất cần đến vai trò tuyên truyền, giáo dục của mỗi nhà trường, mỗi gia đình cũng như cộng đồng xã hội.

Hà Nội cần rút kinh nghiệm từ đợt dịch trước

 

    • Số người mắc Covid-19 mới trong 1 tuần gần đây tại TP Hà Nội bình quân đã tăng lên hơn 750 ca/ngày, trong khi 1 tuần trước khoảng 460 ca/ngày. Đỉnh điểm ngày 15-12, số ca mắc Covid-19 đã lên tới 1.357 ca. Dự báo thời gian tới, số ca bệnh có thể tiếp tục tăng.
    • Phân tích về nguyên nhân số ca mắc Covid-19 ở TP Hà Nội tăng cao, PGS-TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế, cho rằng khi Hà Nội thực hiện nới lỏng các hoạt động, người dân đi lại bình thường, thậm chí có nhiều hoạt động tập trung đông người thì nguy cơ tiếp xúc giữa người nhiễm SARS-CoV-2 nhưng không có biểu hiện bệnh là khó tránh khỏi. Thời gian qua, ghi nhận nhiều trường hợp là F0 nhưng không có triệu chứng. Do đó, tại những nơi đông người, nơi công sở, nếu không thực hiện tốt 5K thì nguy cơ lây nhiễm bệnh rất cao, khi đó sẽ xuất hiện nhiều ổ dịch mới.
    •  
    • "Việc số ca mắc ở Hà Nội tăng cao trong thời điểm này là điều đương nhiên và có thể trong những ngày tới sẽ còn tiếp tục tăng. Khi F0 tăng cao sẽ kéo theo các ca nặng tăng lên, dễ dẫn đến quá tải tại các cơ sở điều trị, thậm chí tăng nguy cơ tử vong" - PGS-TS Trần Đắc Phu nhận định.
    •  
    • TP Hà Nội cần có biện pháp kiểm soát lại tình hình để hạn chế việc tăng F0 một cách thấp nhất. Trong bối cảnh này, cần hạn chế các hoạt động đông người, những cơ sở kinh doanh như nhà hàng, quán cà phê cần thực hiện nghiêm quy định giãn cách khi ăn, uống.
    •  
    • Chuyên gia này cũng dẫn chứng Hà Nội đã phát hiện ổ dịch là những người dự đám cưới, tham gia tập trung đông người. Đặc biệt, người dân Hà Nội cũng như các địa phương đang có dịch cần cảnh giác trước những thời điểm nghỉ lễ dài ngày hay sự kiện tập trung đông người như: đón Giáng sinh, Tết dương lịch, Tết Nguyên đán.
    •  
    • Hà Nội cần rút kinh nghiệm từ đợt dịch trước - Ảnh 1.
    • Lực lượng chức năng lập hàng rào hạn chế người dân di chuyển vào phố Nguyễn Công Trứ, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội Ảnh: NGÔ NHUNG
    •  
    •  
    • "Hà Nội cần rút kinh nghiệm từ đợt bùng phát dịch sau lễ 30-4 và 1-5 vừa qua, tốt nhất không đi lại khi không thật cần thiết. Chúng ta xác định sống chung với Covid-19 không có nghĩa là cho phép chủ quan, lơ là phòng dịch" - PGS-TS Trần Đắc Phu nói.
    •  
    • Để kiểm soát tình hình dịch Covid-19, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng vừa yêu cầu từng quận, huyện, thị xã phải chỉ đạo đánh giá và xác định nhu cầu bố trí các trạm y tế lưu động theo số dân và từng cấp độ dịch. Chẳng hạn phường Hoàng Liệt (quận Hoàng Mai) với số dân lên tới 90.000 người mà chỉ có 1 trạm y tế phường thì có thể phải tính toán sẵn sàng bố trí thêm nhiều trạm y tế lưu động khi cần thiết.
    •  
    • Bí thư Thành ủy Hà Nội giao Ban Cán sự Đảng UBND thành phố chỉ đạo toàn diện việc tổ chức phương án bố trí trạm y tế lưu động, tăng cường năng lực y tế cơ sở đáp ứng các cấp độ dịch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
    •  
    • Trước mắt, Ban Cán sự Đảng UBND thành phố và Đảng đoàn HĐND thành phố phối hợp tháo gỡ ngay những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách mua sắm vật tư, máy xét nghiệm, thiết bị y tế... để tăng cường cho bệnh viện cấp huyện nâng cao năng lực xét nghiệm, khắc phục việc trả mẫu chậm, quá tải; xây dựng cơ chế, chính sách trả thù lao cho y - bác sĩ về hưu, sinh viên ngành y được huy động... Cơ chế, chính sách phải đi trước một bước, là vấn đề mấu chốt phải triển khai ngay.
    •  
    • Ngọc Dung - Huy Thanh

Cần cảnh giác với một loại hình lừa đảo mới

 

Ngày 15/12, Công an thành phố Hà Nội cho biết, thời gian gần đây, nhiều người dân bỗng nhiên nhận được một khoản tiền chuyển đến tài khoản ngân hàng mà không rõ lý do. Tuy nhiên, đây chính là thủ đoạn của các đối tượng lừa đảo mà người dân cần lưu ý để tránh sập bẫy.

 Theo cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, sau khi có được một số thông tin cá nhân của người dùng như: tên, tuổi, số điện thoại hay địa chỉ, các đối tượng lừa đảo sẽ cố ý chuyển nhầm một khoản tiền đến cho con mồi. Kẻ lừa đảo sẽ giả danh là người thu hồi nợ của một công ty tài chính nào đó để liên hệ với con mồi, yêu cầu người dùng trả lại số tiền kia như một khoản vay cùng với một khoản lãi “cắt cổ”.

 Điển hình là trường hợp của một phụ nữ tên là A, trú tại quận Ba Đình, Hà Nội. Ngày 12/6, chia sẻ trên trang cá nhân, chị A cho biết, chị nhận được hơn 45 triệu đồng chuyển vào tài khoản ngân hàng với nội dung đính kèm khó hiểu. Đến cuối giờ chiều cùng ngày, một tài khoản zalo lạ kết bạn với chị và nói rằng: Công ty tài chính đã giải ngân số tiền của chị và theo cách nói của họ thì chị trở thành một người vay nợ.

 Tự thấy mình không thực hiện bất cứ thủ tục vay nợ nào trên mạng, chị A đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc. Trong lúc này, đối tượng chuyển nhầm tiền liên tục nhắn tin qua lại. Sau khi biết hành vi lừa đảo của mình không thành, đối tượng lập tức đổi thái độ, nhắn nhiều tin cho chị với nội dung hăm dọa. Chị A cho biết, chị đã thực hiện các thủ tục tra soát với ngân hàng, đồng thời giao toàn bộ số tiền cho Công an giải quyết.

 

Gần đây, một trường hợp khác tự nhiên nhận được số tiền 20 triệu đồng với nội dung “cô D mượn”. Đang băn khoăn không biết ai chuyển nhầm tiền thì chủ nhân của tài khoản này nhận được điện thoại của một người phụ nữ, nói là lỡ chuyển nhầm và xin lại. Theo chị này, đây là số tiền chị ta cần gấp để làm phẫu thuật cho con. Vì cần gấp nên người phụ nữ này liên tục gọi điện, nhắn tin thúc ép đòi phải chuyển lại cho chị ta số tiền chuyển nhầm đó.

 Bằng kiến thức ngân hàng có được, chủ tài khoản này yêu cầu người phụ nữ gọi điện đến đòi tiền có giấy xác nhận của ngân hàng rằng chị ta đúng là chủ tài khoản. Sau khi nghe yêu cầu, người phụ nữ tự nhận là chuyển nhầm tiền liền “lặn mất tăm”. Biết không ổn, chị D ra ngân hàng yêu cầu in sổ phụ để kiểm tra xem ai chuyển tiền cho mình, thì vỡ lẽ, đó là một người đàn ông tên Lương Văn Thành, chuyển tiền từ Vietcombank với nội dung: “Cho D vay với thời hạn 45 ngày”.

 Theo cách giải thích của ngân hàng, sau thời hạn 45 ngày, chủ tài khoản đó sẽ xuất hiện và đòi khoản tiền 20 triệu đồng cùng lãi xuất “trên trời”. Nếu không trả, họ sẽ cho người tới quấy phá vì có bằng chứng chuyển tiền cho vay trên điện thoại.

 Trước tình trạng trên, Công an thành phố Hà Nội khẳng định, việc chuyển tiền nhầm qua tài khoản là thủ đoạn lừa đảo khá tinh vi. Nếu người nhận được tiền vội vã trả tiền lại cho người gọi đến mà không xác minh rõ số tài khoản ngân hàng, chứng từ chuyển khoản thì sẽ rất phức tạp. Còn nếu đúng hạn trả nợ, chủ tài khoản đã chuyển nhầm tiền xuất hiện và yêu cầu bên nhận thanh toán thì họ cũng khó có thể từ chối vì thông tin chuyển khoản đã lưu trên điện thoại và có chứng từ ở ngân hàng.

 Theo điều 228, 230, 579 Bộ luật Dân sự 2015, khi tình cờ nhận được khoản tiền lạ từ người chưa từng có mối quan hệ với mình và cũng không có bất cứ giao dịch nào với họ liên quan đến số tiền này, người nhận được xem là người đang chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật. Vì vậy, người nhận phải hoàn trả cho chủ sở hữu hoặc giao nộp số tiền đó cho UBND hoặc Công an cấp xã, phường nơi gần nhất nhằm thông báo công khai cho chủ sở hữu biết để nhận lại.

Công an thành phố Hà Nội khuyến cáo, khi chủ tài khoản bỗng dưng nhận được một khoản tiền “chuyển nhầm” cho mình thì cần làm theo các bước sau: một là, không sử dụng số tiền ấy vào việc chi tiêu cá nhân. Nếu đó là tiền chuyển nhầm thật thì sẽ có đại diện ngân hàng liên hệ để làm việc hoặc người dân có thể chủ động liên hệ với ngân hàng để thông báo.

 Hai là, nếu là khoản tiền nhỏ thì chủ tài khoản có thể yêu cầu ngân hàng cung cấp sao kê rồi đối chiếu với những thông tin nhận được và tiến hành chuyển lại. Còn đối với số tiền lớn thì chủ tài khoản nên sắp xếp thời gian đến trực tiếp chi nhánh ngân hàng để thực hiện việc xác minh. Hoặc người dân cũng có thể liên hệ với cơ quan công an để giải quyết.

 Ba là, người dân tuyệt đối không chuyển lại tiền cho người lạ khi không có bên thứ 3 làm chứng, tránh bị phiền toái sau này. Đồng thời không chuyển hoàn vào một tài khoản khác với tài khoản đã chuyển cho mình, phải chờ ngân hàng giải quyết trước.

Bốn là, khi nhận được điện thoại từ ngân hàng, bạn cần kiểm tra xem đó có đúng là số của ngân hàng hay không. Để chắc chắn hơn, chủ tài khoản nên đến ngân hàng làm việc trực tiếp.

 Năm là, không bao giờ cung cấp mã OTP, tên đăng nhập, password của tài khoản ngân hàng cho bất cứ ai, kể cả họ có tự xưng là bạn bè nhân viên ngân hàng hay cơ quan chức năng.

 LÊ TÚ

Covid sáng 17-12: Hà Nội dịch diễn biến phức tạp; số ca mắc mới và tử vong ở TP Hồ Chí Minh tăng cao

 

Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Tại Cà Mau số ca mắc mới tăng vọt, trong khi đó số F0 và tử vong tại TP Hồ Chí Minh vẫn có xu hướng gia tăng.

Nỗ lực của Việt Nam trong tiến trình hiện thực hóa

 

Những cố gắng cao nhất của Việt Nam trong thực hiện quyền con người không phải để đối phó với các thế lực thù địch khi họ cố tình chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Bản chất của vấn đề quyền con người mà Việt Nam đang phấn đấu là vì giá trị tiến bộ của nhân loại, vì quyền lợi chính đáng của dân tộc, của mỗi người dân đất Việt.

Lộ chân tướng những kẻ rút gạch chân tường

 

Trong khi Việt Nam luôn nỗ lực để thực hiện tốt nhất những quyền chính đáng của con người, đồng thời ngày càng khẳng định là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế bởi những đề xuất, sáng kiến và thành tựu về nhân quyền được cộng đồng quốc tế tôn trọng và thừa nhận thì các thế lực thù địch, phản động lại thường xuyên sử dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam. Vậy mục đích của sự chống phá này là gì?

Quyền con người-khát vọng của nhân loại tiến bộ

 

Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người (UDHR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 khẳng định: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi".

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ QUẢNG TRƯỜNG BA ĐÌNH!

      Chuyện thú vị không phải ai cũng biết về quảng trường Ba Đình lịch sử. 

  Ba Đình không chỉ là một địa danh nổi tiếng của thủ đô, chứng nhân lịch sử cho ngày khai sinh nước Việt Nam độc lập cách đây hơn 7 thập kỷ. Đó còn là nơi Bác Hồ kính yêu yên giấc ngàn thu, là niềm tự hào, xúc động của hàng triệu trái tim người Việt Nam.

  

  76 năm trước, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mỗi khi đi qua quảng trường Ba Đình lịch sử, ai cũng thấy lòng lâng lâng một cảm xúc khó tả. Phía sau công trình rộng lớn mang nhiều dấu ấn quan trọng này, là những điều thú vị nho nhỏ không phải ai cũng rõ?

  

* Địa danh Ba Đình xuất phát từ đâu?

 Địa danh Ba Đình gắn liền với hai danh tướng Trần Xuân Soạn và Đinh Công Tráng, hưởng ứng phong trào Cần Vương chống Pháp theo hịch của vua Hàm Nghi. Họ chọn căn cứ kháng chiến là vùng đất thuộc 3 làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê (vì mỗi làng có một ngôi đình, từ làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia) nên gọi là căn cứ Ba Đình, nay thuộc xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Sáng 21/7/1887, quân Pháp chiếm được cứ điểm Ba Đình. Sau khi ra sức tàn phá, chúng còn bắt triều đình nhà Nguyễn phải xóa tên 3 ngôi làng trên bản đồ hành chính.

 

* Ai đặt tên quảng trường Ba Đình?

Nhiều người lâu nay vẫn lầm tưởng quảng trường Ba Đình là do Bác Hồ đặt tên. Nhưng người đặt tên Ba Đình đầu tiên lại là một nhân vật khác. Đó là bác sĩ Trần Văn Lai, Thị trưởng (Đốc lý) đầu tiên và duy nhất của thành phố Hà Nội thời chính phủ Trần Trọng Kim. Trong một tháng cầm quyền ngắn ngủi, ông đã làm được hai công việc vĩ đại là dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ hành chính và thay tên Việt cho hầu hết các địa danh ở Hà Nội, trong đó có việc đặt tên cho quảng trường Ba Đình trước Lăng Bác.

 Quảng trường Ba Đình là quảng trường lớn nhất Việt Nam, nằm trên đường Hùng Vương và ở trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quảng trường Ba Đình ngày nay có chiều dài 320m, rộng 100m, với nhiều ô cỏ lớn, xen giữa là lối đi rộng 1,4m. Giữa quảng trường là cột cờ cao 25m.


* Quảng trường có bao nhiêu ô cỏ? 

 Có một điều thú vị là lâu nay nhiều người vẫn tranh cãi chuyện quảng trường Ba Đình thực chất có bao nhiêu ô cỏ? 240, 168, 169, hay 176? Mỗi tài liệu khác nhau lại đưa ra số liệu khác nhau. Quảng trường Ba Đình ngày nay có khuôn viên với chiều dài 320 m và rộng 100 m, có 210 ô cỏ (7 hàng dọc x 30 hàng ngang) trước đây là 240 ô nhưng sau cắt 1 hàng ngang nhằm phục vụ xây dựng toà nhà Quốc hội, xen giữa là lối đi rộng 1,4 m. Giữa quảng trường là cột cờ cao 25 m.

* Cỏ do Ai cung ứng và phụ trách trồng.

 Tổng diện tích ô cỏ 20.000 m2 ở quảng trường Ba Đình (Hà Nội) đã được trồng lại trên quy mô lớn. Hàng triệu lượt khách đến viếng Lăng Bác đã được chiêm ngưỡng một màu xanh mát mắt của giống cỏ lá gừng nội địa, nhưng ít ai biết người cung ứng toàn bộ cỏ và phụ trách kỹ thuật trồng cho công trình là một nghệ nhân cây cảnh miền Nam: ông Nguyễn Văn Hòa, chủ cơ sở hoa kiểng Xuân Hòa (phường Phú Hòa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương). "Ông tâm sự được trồng cỏ cho Lăng Bác là một vinh dự cao quý, tôi đã dốc hết tâm lực để có được hiệu quả tốt nhất. Tôi cảm thấy rất vinh dự vì đã đóng góp công sức của mình vào một công trình lịch sử giàu ý nghĩa của đất nước"./.


Môi Trường ST.

XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Dựng nước đi đôi với giữ nước là vấn đề có tính quy luật xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, là điều kiện đảm bảo cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai mặt của quá trình thống nhất có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời, vừa là tiền đề, vừa là điều kiện của nhau, thúc đẩy lẫn nhau.

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã họi chủ nghĩa là trách nhiệm của toàn dân tộc, là nghĩa vụ quyền lợi, vinh dự của mọi người Việt Nam. Để làm tròn nhiệm vụ đó, trước hết mỗi người Việt Nam cần phải có ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đầy đủ và sâu sắc.

Ý thức bảo vệ tổ quốc xã họi chủ nghĩa của mọi người Việt Nam trong thời kỳ mới là tổng hòa nhận thức, tình cảm, thái độ, niềm tin và ý chí quyết tâm biểu hiện ở hành vi của mỗi cá nhân và cả cộng động dân tộc đối với sự nghiệp bảo vệ vững chắcđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nền tảng của ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là là sự kế thừa, phát huy chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam với chủ nghia yêu nước theo lập trường giai cấp công nhân. Đó là sự hòa quyện giữa ý thức dân tộc với ý thức giai cấp, giữa truyền thống với hiện đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Việt Na m xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là yêu nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, yêu nước chân chính gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, tình yêu giai cấp gắn với tình yêu dân tộc và tình yêu nhân loại, yêu thương con người.

Ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa  của mọi người Việt Nam trong thời kỳ mới là sự kế thừa và phát huy, nâng lên tầm cao mới, chất lượng mới của ý thức dân tộ, ti h thần yêu nước, tự tôn dân tộc, ý thức bảo vệ lợi ích quốc gia, bản sắc văn hóa dân tộc, ý thức kiên cường, bất khuất không cam chịu nô lệ và cúi đầu trước mọi kẻ thù, quân cướp nước và bè lũ bán nước; là sự khát vọng vươn lên xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Đây là cơ sở xã hội rất sâu xa, bền vững cho sự hình thành, phát triển ý thức bảo vệ tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa của mọi người dân hiện nay. Song, ý thức bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa không hình thành tự phát, mà nó là kết quả của quá trình giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng mang tính chủ động, tích cực, tự giác của toàn bộ hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản  lãnh đạo và mỗi người thông qua nhận thức và hoạt động thực tiễn tạo dựng nên.

Làm chuyển hóa ý thức dân tộc, ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, nội dung chủ yếu, cốt lõi của việc xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho mọi người Việt Nam trong thời kỳ mới, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Thực hiện mục tiêu đó, trong điều kiện hiện nay xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cần quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau:

Một là, vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hai là, phải thường xuyên bám sát thực tiễn đất nước, khu vực, thế giới, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới…

Ba là, sử dụng tổng hợp và đổi mới toàn diện nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phù hợp với các tầng lớp nhân dân.

Bốn là, tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong hệ thống chính trị các cấp, các ngành, các địa phương, cơ sở trong xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Năm là, kết hợp công tác giáo dục với công tác tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Biện pháp xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tập trung vào:

-  Chăm lo xây dựng sức mạnh tổng hợp của đất nước  và kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại làm cơ sở  hiện thực, nền tảng vất chất để phát triển ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

-  Bằng công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách; thông qua giáo dục và tổ chức các phong trào cách mạng của nhân dân để xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội  chủ nghĩa cho mọi người Việt Nam trong thời kỳ mới.!

 

TĂNG CƯỜNG BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN CỦA QUÂN ĐỘI – BIỆN PHÁP QUAN TRỌNG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỀ CHÍNH TRỊ

 


Bản chat giai cấp công nhân của quân đội là một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm cho quân đội hoàn thành suất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trải qua hơn 77 năm xây dựng và chiến đấu trưởng thành, quân đội nhân dân Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân chăm lo xây dựng, giáo dục và rèn luyện, nhờ đó, bản chất giai cấp công nhân của Quân đội không ngừng được bối đắp, tạo thành nền tảng chính trị vững chắc để quân đội chiến đấu và chiến thắng.

Hiện nay, trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, sự đan xen giữa thời cơ và nguy cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức, đòi hỏi phải không ngừng củng cố, phát triển bản chất giai cấp công nhân của quân đội, đảm bảo cho quân đội luôn luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Để đáp ứng có hiệu quả những yêu cầu đó, cần quan tâm đến một số vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp thiết sau đây:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, trong đó phải đặc biệt chăm lo xây dựng Đảng bộ quân đội trong sạch, vững mạnh, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Hai là, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với quân đội; phải coi việc thường xuyên chăm lo giáo dục, rèn luyện, tăng cường, củng cố bản chất giai cấp công nhân của quân đội là trách nhiệm của mỗi ngành, mỗi tổ chức, mỗi cơ quan, đơn vị trong bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở.

Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, vai trò của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc Việt Nam trong việc chăm lo giáo dục, rèn luyện, củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của quân đội.

Bốn là, phát huy vai trò của các tổ chức, con người trong quân đội, nhất là vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp, trước hết là đội ngũ cán bộ chính trị; tăng cường công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị nói chung, xây dựng, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của quân đội nói riêng.