Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

Làm cán bộ, đừng “đẽo cày giữa đường”

 

Thấy đúng không bảo vệ! Thấy sai lờ đấu tranh! Cấp trên nói gì cũng vâng! Cấp dưới, quần chúng ý kiến gì cũng gật! Khi cần đưa ra quyết định thì lừng chừng, đùn đẩy trách nhiệm cho tập thể...

Phong cách làm việc kiểu “đẽo cày giữa đường” khiến không ít cán bộ mắc sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, gây hậu quả nghiêm trọng. Những biểu hiện suy thoái ấy cần được nhận diện, kiên quyết đấu tranh để khắc phục, loại bỏ...

 “Đẽo cày giữa đường” và những hệ lụy

Phiên tòa do Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội mở, xét xử vụ án thâu tóm “đất vàng” tại tỉnh Bình Dương vừa khép lại. Đây được coi là một “đại án”, thu hút sự chú ý đặc biệt của công luận suốt thời gian dài, bởi số lượng bị cáo đông, lên đến 28 người, phạm tội có tổ chức, gây hậu quả nghiêm trọng cả về kinh tế, uy tín chính trị của cán bộ, ảnh hưởng tâm lý xã hội nặng nề. Trong vụ án này, cựu Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương Trần Văn Nam và cựu Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương Trần Thanh Liêm cùng bị tuyên phạt 7 năm tù. Theo dõi diễn biến quá trình điều tra, xét xử vụ án, dư luận xã hội thấy rõ quá trình phạm tội của hai cựu quan chức từng giữ cương vị lãnh đạo cao nhất tỉnh Bình Dương. Một trong những nguyên nhân mấu chốt khiến họ vướng vòng lao lý trong vụ án này chính là sự thiếu bản lĩnh, thiếu kiên quyết, thiếu tư duy độc lập, không thể hiện rõ chính kiến của người lãnh đạo, để cho doanh nghiệp, cấp dưới tham mưu sai, dẫn đến sai phạm kéo dài; khi xảy ra hậu quả lại hùa theo cấp dưới và doanh nghiệp, chỉ đạo xử lý văn bản trái pháp luật. Đó chính là kiểu “đẽo cày giữa đường”, biến cái sai này thành cái sai khác, đi từ sai phạm nhỏ đến sai phạm lớn, gây hậu quả rất nghiêm trọng. Chính bị cáo Trần Văn Nam khi tự bào chữa trước tòa đã thừa nhận điều này, rằng: "... Còn chậm trễ khi không quyết liệt và làm việc rõ ràng với Tổng công ty 3-2 để cho sai phạm kéo dài...". 

Làm cán bộ, đừng “đẽo cày giữa đường”
Các bị cáo tại phiên tòa. 

Nhìn lại các vụ án trọng điểm về tham nhũng, tiêu cực được các cấp đưa ra xét xử trong thời gian qua, chúng ta thấy, không ít cựu cán bộ vì kiểu làm việc “đẽo cày giữa đường” nên đã bị “lợi ích nhóm” chi phối, lũng đoạn, tự đánh mất vị thế, vai trò cá nhân. Một số bị cáo khi nhận bản án nghiêm khắc của pháp luật, được nói lời sau cùng trước tòa, đã rất ân hận bày tỏ, do thiếu bản lĩnh, thiếu kiên quyết, nể nang, nghe theo ý kiến tham mưu của cấp dưới và doanh nghiệp nên không nhận thức được hậu quả. Cũng từ kiểu làm việc đó mà rất nhiều dự án liên tục phải điều chỉnh, bổ sung, đội vốn, thi công sai thiết kế... và cuối cùng là “đắp chiếu”, vừa gây hậu quả nặng nề về kinh tế, vừa tạo hệ lụy cho môi trường và đời sống xã hội.

Trong công tác xây dựng Đảng cũng vậy. Không ít cán bộ vì nghe quá nhiều ý kiến, góp ý nên cứ phải “xoay như chong chóng”, “tiền hậu bất nhất”, không thể hiện chính kiến cá nhân, đùn đẩy trách nhiệm sang cho tập thể, tự đánh mất vai trò của người chủ trì, người đứng đầu. Tình trạng này gây ra những hệ lụy không nhỏ về tư tưởng chính trị, làm cho nội bộ cơ quan, đơn vị rối ren, cán bộ, đảng viên dè chừng lẫn nhau, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, dẫn đến chia bè kéo cánh, mất đoàn kết nội bộ.

Tuân thủ nguyên tắc, sử dụng “vũ khí” hiệu quả

Để xảy ra tình trạng “đẽo cày giữa đường” trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay có nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân đó là cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm. Trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái trong nội bộ, tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm càng dễ bộc lộ. Trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta đã chỉ rõ nguyên nhân của biểu hiện này, đó là: Lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài... Không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân... “Đẽo cày giữa đường”, tự đánh mất vai trò cá nhân cũng chính là biểu hiện của “đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức”.

Biết lắng nghe, phát huy dân chủ là một thuộc tính của khoa học lãnh đạo mà bất cứ cán bộ nào, ở cấp nào cũng cần có. Tuy nhiên, nếu lắng nghe mà không có chọn lọc, dân chủ mà thiếu tập trung thì sẽ dẫn đến quá tả hoặc quá hữu trong tư duy và phương pháp lãnh đạo. Trong lĩnh vực quản lý kinh tế, nếu cán bộ chủ trì có những biểu hiện này sẽ rất dễ bị các thành phần có tư tưởng cá nhân chủ nghĩa lợi dụng. Họ sẽ khoét sâu vào “gót chân Achilles” của cán bộ để duy trì lợi ích nhóm, nhằm thực hiện các hành vi tham ô, tham nhũng, tiêu cực. Những vụ án kinh tế lớn, nguyên nhân do cán bộ “thiếu trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng” trong thời gian qua là những dẫn chứng, bài học nhãn tiền. Trong công tác xây dựng Đảng, nhất là công tác cán bộ, nếu người đứng đầu “đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức”, không thể hiện được vai trò, chính kiến, uy tín cá nhân... thì rất khó để tạo ra một tập thể mạnh, rất khó duy trì đoàn kết thực chất.

Làm thế nào để cán bộ khắc phục, nói không với kiểu lãnh đạo, quản lý “đẽo cày giữa đường”? Bài học, vũ khí, phương tiện... của khoa học lãnh đạo, nghệ thuật lãnh đạo là không hề thiếu, nếu không muốn nói là hiện nay cán bộ đã được Đảng “vũ trang” đầy đủ. Vấn đề căn cốt vẫn là cách vận dụng trên thực tế. Nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách của Đảng chính là kim chỉ nam, là cơ sở bảo đảm cho cán bộ có tư duy đúng, hành động đúng, nhằm phát huy cao nhất trí tuệ tập thể, ý chí tập thể trước khi cá nhân đưa ra các quyết định.

Quy định số 08-QĐi/TW của Bộ Chính trị về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đã chỉ rõ, mỗi cán bộ phải luôn giữ vững nguyên tắc, dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch...; chủ động, tích cực phát hiện, thu hút, trọng dụng người có đức, có tài, khát khao cống hiến; bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp của Đảng, vì lợi ích quốc gia-dân tộc.

Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng diễn ra ngày 9-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: Thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn luôn có ý thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, làm "đúng vai, thuộc bài", thật sự có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý trọng. Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung ban hành trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa như là “tấm khiên”, “lá chắn” vững chắc để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm. Các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... của Đảng đang triển khai hiện nay chính là những loại “vũ khí”, phương tiện của phương pháp lãnh đạo, khoa học lãnh đạo, nghệ thuật lãnh đạo... bảo đảm cho cán bộ giữ vững nguyên tắc, phát huy vai trò cá nhân trong sức mạnh tập thể.

Như vậy, cán bộ dù ở cấp nào, trong hoàn cảnh nào cũng cần nhận thức đầy đủ, thấu đáo hai mặt của một vấn đề có tính biện chứng, đó là mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa người đứng đầu với cấp ủy, tổ chức Đảng, giữa cấp trên với cấp dưới, giữa người chủ trì với các cơ quan, bộ phận tham mưu, giữa dân chủ với tập trung... để không phải “đẽo cày giữa đường”.

Phát huy truyền thống hào hùng, xây dựng đội ngũ cán bộ Bộ Tổng Tham mưu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

 

Trải qua các giai đoạn cách mạng, Bộ Tổng Tham mưu (BTTM) Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn làm tốt công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng hoạch định đường lối, chiến lược quân sự, quốc phòng (QS, QP); tổ chức xây dựng QĐND và lực lượng dân quân tự vệ lớn mạnh, trưởng thành, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, với tầm nhìn chiến lược, ngày 7-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định tổ chức thành lập cơ quan tham mưu chiến lược của lực lượng vũ trang (LLVT) cách mạng và trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tổng Tham mưu trưởng. Tại buổi giao nhiệm vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “BTTM là cơ quan tham mưu quân sự cơ mật của Đoàn thể, là cơ quan đầu não của quân đội, có nhiệm vụ tổ chức huấn luyện quân sự cho giỏi, tổ chức nắm địch, nắm ta rõ ràng; bày mưu kế khôn khéo; tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ cách mạng”(1).

Phát huy truyền thống hào hùng, xây dựng đội ngũ cán bộ Bộ Tổng Tham mưu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

Thượng tướng Nguyễn Tân Cương kiểm tra kết quả bắn của thí sinh tại Hội thi Xạ thủ bắn tỉa toàn quân năm 2022. Ảnh: VĂN CHIỂN 

 

Được thành lập trong hoàn cảnh đất nước vừa tuyên bố độc lập nhưng đang phải đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ của BTTM hết sức nặng nề. Quán triệt sâu sắc chỉ huấn của Người: “Phải cố gắng vừa làm, vừa học, có quyết tâm thì khó mấy cũng làm được... Thế nào ta cũng xây dựng được một ngành tham mưu vững mạnh, tài cán, xứng đáng với dân tộc Việt Nam mưu trí, sáng tạo và anh hùng bất khuất để bảo vệ độc lập của Tổ quốc, tự do của dân tộc”(2), BTTM vừa từng bước củng cố tổ chức, bổ sung lực lượng, vừa hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan; đội ngũ cán bộ từng bước kiện toàn, không ngừng vượt khó, sáng tạo, nỗ lực trau dồi kiến thức, đạo đức, rèn luyện phương pháp, tác phong, triển khai thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao.

Khi thực dân Pháp núp bóng quân Anh quay trở lại xâm lược nước ta, với việc đánh chiếm Sài Gòn và từng bước mở rộng ra các tỉnh, thành ở Nam Bộ, BTTM đã tập trung chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng đối phó với cuộc gây hấn quân sự của Pháp ở Nam Bộ ngày 23-9-1945. Tiếp đó, BTTM tổ chức cho các đơn vị từ miền Bắc hành quân vào cùng quân và dân Nam Bộ chặn đánh quyết liệt các cuộc tiến công của giặc Pháp, làm cho chúng không thể mở rộng cuộc chiến ra miền Bắc, tạo điều kiện cho quân và dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng mọi mặt. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng, BTTM đã tham mưu, đề xuất kế hoạch đánh địch trên cả hai mặt trận (chính diện và sau lưng địch); tổ chức lực lượng, xây dựng căn cứ địa kháng chiến; kết hợp nhiều hình thức, biện pháp đánh địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích; tham mưu chỉ đạo liên tiếp mở nhiều chiến dịch vừa và lớn, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển vững chắc, giành thắng lợi ngày càng lớn hơn, mà đỉnh cao là thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, BTTM đã có bước trưởng thành, lớn mạnh về nhiều mặt. Tuy nhiên, trong cuộc đọ sức lần này, quân và dân ta phải đương đầu với một đội quân xâm lược nhà nghề, một siêu cường quốc, được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại hơn gấp nhiều lần, với những âm mưu, thủ đoạn vô cùng xảo quyệt. Trước đối thủ mới, BTTM nói chung, đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược nói riêng đã luôn chủ động, tích cực nghiên cứu, nắm chắc quy luật chiến tranh, nhận định, đánh giá chính xác, kịp thời âm mưu, thủ đoạn, quy luật hoạt động của kẻ thù, tham mưu với Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng hoạch định đường lối QS, QP, xây dựng các kế hoạch tác chiến chiến lược đúng đắn; đề xuất các kế hoạch về xây dựng LLVT ba thứ quân và vững vàng chỉ huy trên cả hai miền Nam-Bắc, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh đầy tham vọng của đế quốc Mỹ, với những thắng lợi to lớn, làm thay đổi cục diện chiến tranh, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27-1-1973). Đặc biệt, khi thời cơ xuất hiện, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Thực hiện nhiệm vụ cách mạng, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam Văn Tiến Dũng trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các chiến dịch: Tây Nguyên, Trị-Thiên-Huế, Đà Nẵng, đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Những chiến công đó đã ghi đậm dấu ấn của BTTM, của đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc.  

Phát huy truyền thống hào hùng, xây dựng đội ngũ cán bộ Bộ Tổng Tham mưu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
 

 

Phát huy truyền thống hào hùng, xây dựng đội ngũ cán bộ Bộ Tổng Tham mưu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
 

 

Phát huy truyền thống hào hùng, xây dựng đội ngũ cán bộ Bộ Tổng Tham mưu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

Thượng tướng Nguyễn Tân Cương và các đại biểu tham quan sáng kiến cải tiến huấn luyện của Quân đoàn 1. 

 

Đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, BTTM tiếp tục hoàn thành tốt chức năng tham mưu với Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân, toàn dân lập những chiến công mới; chỉ huy chiến đấu giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc; giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, hồi sinh đất nước và làm tròn nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào. Cùng với đó, BTTM nghiên cứu, đề xuất kế hoạch củng cố, phát triển LLVT theo quan điểm chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân, kết hợp xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh (QP, AN); chủ động phòng, chống, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, BTTM luôn đề cao cảnh giác, dự báo, đánh giá chính xác âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch; kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các đối sách hợp lý để giải quyết tốt các vấn đề phức tạp, nhạy cảm liên quan trực tiếp đến QP, AN của đất nước, cũng như các sự cố thiên tai, dịch bệnh, nhất là dịch Covid-19, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống...

Những thành công trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại và trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa có sự đóng góp to lớn, mang dấu ấn đậm nét, thể hiện tài mưu lược, sáng suốt, nhạy bén, kịp thời của BTTM; là kết quả của quá trình xây dựng cơ quan tham mưu chiến lược từ 8 cán bộ đầu tiên “chưa có kinh nghiệm, chưa hiểu biết về công tác tham mưu”(3), phát triển thành các cục, phòng, ban chức năng và các đơn vị, nhà trường, đảm đương từng nhiệm vụ cụ thể qua các giai đoạn của cách mạng; từ 3 đảng viên của 1 tổ đảng đầu tiên phát triển thành Đảng bộ BTTM-Cơ quan Bộ Quốc phòng có 5 đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở và 30 đảng bộ cơ sở trực thuộc thường xuyên đạt trong sạch, vững mạnh.

Hiện nay, thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến nhanh, phức tạp, khó đoán định, đặt ra nhiều vấn đề mới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kích động, chia rẽ, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”. Mục tiêu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là nhiệm vụ rất nặng nề. Với vị trí, vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược về QS, QP của Đảng, Nhà nước; cơ quan chỉ huy cao nhất của QĐND và Dân quân tự vệ Việt Nam, cần tập trung xây dựng Đảng bộ BTTM-Cơ quan Bộ Quốc phòng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, BTTM vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, trong đó cần đặc biệt quan tâm, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược “vừa hồng, vừa chuyên”, ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng, với một số nội dung, giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, phải nhận thức đúng đắn, đề cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và đội ngũ cán bộ chủ trì đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ chiến lược của BTTM QĐND Việt Nam.

Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt của then chốt”. Do đó, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ quan tham mưu chiến lược về QS, QP, cùng với kế thừa những tinh hoa và giá trị nhân văn, khoa học về xây dựng đội ngũ cán bộ của quân đội, nhất là cán bộ tham mưu chiến lược của BTTM trong 77 năm qua, các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp cần quán triệt sâu sắc quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, chủ trương, nội dung, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Nghị quyết số 109-NQ/QUTW ngày 11-02-2019 của Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Cùng với đó, luôn bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, BTTM và thực tiễn hoạt động của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân; trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đối với đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược trong tình hình mới để cấp ủy, tổ chức đảng các cấp xác định chủ trương, nội dung, biện pháp tiến hành phù hợp, bảo đảm công tác cán bộ được thực hiện đúng nguyên tắc, quy chế, quy trình, chặt chẽ, chất lượng, hiệu quả.

Phát huy truyền thống hào hùng, xây dựng đội ngũ cán bộ Bộ Tổng Tham mưu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

Thượng tướng Nguyễn Tân Cương kiểm tra nội dung thi xây dựng quyết tâm chiến đấu của thí sinh tại Hội thi cán bộ chủ trì bộ CHQS các tỉnh, thành phố toàn quân năm 2022. 

 

Hai là, tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, cán bộ cấp chiến lược; làm tốt công tác tuyển chọn, sử dụng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược. 

Công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quân đội nói chung, cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược của BTTM nói riêng phải quán triệt quan điểm, nguyên tắc, phương châm, nội dung và phương pháp công tác quy hoạch cán bộ của Đảng “bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới, phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, bảo đảm số lượng và cơ cấu hợp lý”(4). Đồng thời, lấy việc phục vụ nhiệm vụ chính trị của cách mạng, quân đội, của BTTM để xây dựng đội ngũ; thông qua thực tiễn hoạt động và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị để phát hiện những cán bộ có đủ phẩm chất, có năng lực tư duy sáng tạo, khả năng tham mưu đề xuất, khái quát tổng hợp ở tầm vĩ mô và năng lực chỉ đạo thực tiễn, làm việc năng động, sáng tạo, hiệu quả. “Đánh giá chính xác, sàng lọc chặt chẽ, lựa chọn những cán bộ tiêu biểu, xuất sắc, được kiểm nghiệm trong thực tiễn để đưa vào nguồn quy hoạch các chức danh cấp chiến dịch, chiến lược”(5). Việc xây dựng về số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ tham mưu cấp chiến lược ở BTTM hướng vào việc hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu, đề xuất và chỉ đạo toàn quân; đồng thời, thực hiện kiện toàn tổ chức biên chế theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, đồng bộ, chính quy, từng bước hiện đại theo mục tiêu Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đã xác định.

Ba là, tiến hành đồng bộ các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ở BTTM, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì và đội ngũ chuyên gia tham mưu chiến lược.

Đối với cơ quan tham mưu chiến lược, trình độ đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì và đội ngũ chuyên gia quyết định trực tiếp đến chất lượng nghiên cứu, tham mưu, đề xuất giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành QĐND và lực lượng dân quân tự vệ hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống. “Người chỉ đạo phải thấy trước vấn đề, cấp chỉ đạo càng cao thì càng phải nhìn xa trông rộng; nếu không, người chỉ đạo sẽ đưa cấp dưới và bản thân mình vào ngõ cụt, lâm vào tình thế bị động”(6). Vì thế, đội ngũ cán bộ phải hội tụ đầy đủ về trí tuệ, mưu lược, năng lực chỉ huy tham mưu hiệp đồng tác chiến (nhất là trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, vũ khí, trang bị hiện đại) để tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện giỏi, gương mẫu, đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ.

Để nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, cần triển khai đồng bộ các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện; chú trọng đổi mới nội dung, chương trình đào tạo cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa”, bám sát mục tiêu, yêu cầu, định hướng của chiến lược cán bộ gắn với sự phát triển của tình hình trong nước và thế giới cũng như thực tiễn quân đội và BTTM QĐND Việt Nam, phù hợp với sự phát triển của lý luận, nghệ thuật quân sự, khoa học kỹ thuật quân sự. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải toàn diện; thực hiện có hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chức vụ, có trình độ học vấn, lý luận chính trị tương ứng; tập trung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu;  khuyến khích và tạo điều kiện để cán bộ tự học tập, nghiên cứu, nâng cao năng lực thực tiễn, trình độ ngoại ngữ, tin học và kiến thức tổng hợp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phát huy truyền thống hào hùng, xây dựng đội ngũ cán bộ Bộ Tổng Tham mưu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

Thượng tướng Nguyễn Tân Cương theo dõi phần thi bắn súng ngắn K54 tại đợt kiểm tra sư đoàn trưởng, chính ủy sư đoàn bộ binh; chỉ huy trưởng, chính ủy Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh (thành phố) năm 2022. 

 

Phát huy truyền thống hào hùng, xây dựng đội ngũ cán bộ Bộ Tổng Tham mưu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

Máy bay Su-22 của Trung đoàn 929 (Sư đoàn 372, Quân chủng Phòng không-Không quân) thực hành công kích mục tiêu mặt đất.  

 

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống trong sạch, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh.

Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược cũng phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ Tổ quốc. Muốn có được lập trường kiên định, bản lĩnh chính trị vững vàng, đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược phải tích cực học tập, trau dồi, nắm vững và quán triệt sâu sắc những nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 và Kết luận số 21 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Phát huy truyền thống hào hùng, xây dựng đội ngũ cán bộ Bộ Tổng Tham mưu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

Máy bay Su-27 của Trung đoàn 925 (Sư đoàn 372, Quân chủng Phòng không-Không quân) thực hành đánh mục tiêu mặt đất bằng rốc két.

 

Trước những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo của của tình hình thế giới; các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước câu kết với nhau tăng cường hoạt động “diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội với những thủ đoạn, phương thức chống phá mới ngày càng tinh vi, công khai và trực diện hơn, đội ngũ cán bộ chiến lược phải có nhận thức đúng đắn, phân biệt rõ đúng, sai, không hoài nghi, dao động. Đồng thời, cần chủ động, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch; các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, phải có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh; tuyệt đối giữ gìn bí mật quân sự, bí mật quốc gia; có lối sống trong sạch, lành mạnh, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, thẳng thắn, gương mẫu; không cục bộ địa phương, không tham vọng cá nhân, không tham nhũng, tiêu cực...

Năm là, đổi mới phương pháp, tác phong công tác, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ chiến lược BTTM.

Cùng với trình độ, năng lực, đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược phải có phương pháp xem xét khách quan, biện chứng, thận trọng, độc lập, sáng tạo, gắn lý luận với thực tiễn; có nền nếp làm việc khoa học, theo kế hoạch; tác phong khẩn trương, nghiêm túc, chủ động, sáng tạo, quyết đoán trong công việc; sâu sát cơ sở, tận tụy với nhiệm vụ; biết phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến tập thể và từ cơ sở. Thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, loại bỏ những biểu hiện thiếu chặt chẽ trong nghiên cứu; tùy tiện, giản đơn, chủ quan, nóng vội trong chỉ đạo, hướng dẫn; những biểu hiện tập trung quan liêu, gia trưởng, độc đoán, không tôn trọng cấp dưới, không phát huy trí tuệ tập thể, áp đặt, thiếu dân chủ, vi phạm nguyên tắc công tác trong quản lý, chỉ huy.

 Đặc biệt, đội ngũ cán bộ chiến lược của BTTM phải coi trọng phát huy vai trò nêu gương theo yêu cầu của Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Việc phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên ở cơ quan chiến lược, nhất là cán bộ chủ trì các cấp là vô cùng quan trọng, tác động trực tiếp đến hiệu quả thực hiện công tác tham mưu, chỉ đạo. Vì vậy, cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp của BTTM cần quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng về nêu gương, kết hợp chặt chẽ với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Mỗi cán bộ, đảng viên ở BTTM phải phấn đấu, mẫu mực nêu gương, nhất là về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, nêu gương; thường xuyên đổi mới phương pháp, tác phong công tác, đẩy mạnh thực hiện “tự soi, tự sửa”, tự rèn, tự phê bình và phê bình; nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vì lợi ích chung.

Trải qua 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh mà thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; được sự thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ tận tình của cấp ủy, chính quyền, nhân dân cả nước; kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của QĐND, của dân tộc Việt Nam anh hùng, các thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ của BTTM đã tích cực xây đắp và không ngừng tô thắm thêm truyền thống “Trung thành-mưu lược, tận tụy-sáng tạo, đoàn kết-hiệp đồng, quyết chiến-quyết thắng”. Tiếp nối lịch sử vẻ vang và truyền thống hào hùng đó, việc chăm lo, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ quan tham mưu chiến lược về QS, QP vững mạnh toàn diện là nhân tố đặc biệt quan trọng để BTTM tiếp tục hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao trong tình hình mới.

------------------------------------

(1) Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr.10-11

(2), (3) Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- -1954), Sđd, tr.11

(4) Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Hà Nội, 2021, tr.2

(5) Quân ủy Trung ương: Nghị quyết số 109-NQ/QUTW, ngày 11-02-2019 “Về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới”, Hà Nội, 2019, tr.2, 12

(6) Đại tướng Hoàng Văn Thái, Mấy vấn đề về chỉ huy và tham mưu, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr.47

GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY DỰNG, GIỮ GÌN VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

 (Tiếp theo)

Thứ tư, nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tạo điều kiện thu hút và khuyến khích các tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp và nghệ sĩ tham gia vào các hoạt động văn hóa nhằm đa dạng hóa nguồn lực vật chất và sáng tạo cho phát triển văn hóa, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Từng bước xây dựng cơ chế tự chịu trách nhiệm của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật khi sáng tạo và sản xuất sản phẩm văn hóa. Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển văn hóa. Tăng cường các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa.

Thứ năm, tiếp tục thực hiện hiệu quả các hoạt động tôn vinh, khen thưởng kịp thời gương “người tốt, việc tốt”; xây dựng những mô hình mang tính biểu tượng trong xã hội (cá nhân, tập thể, doanh nghiệp, đặc biệt là thế hệ trẻ...) với những phẩm chất tiêu biểu, tạo dựng được lòng tin cho mọi người, có sức chinh phục và lan tỏa trong xã hội, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước. Thực hiện chính sách đãi ngộ các nghệ sĩ, nghệ nhân tiêu biểu có công bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp; khuyến khích đội ngũ văn nghệ sĩ trong và ngoài nước phát huy tài năng, tâm huyết để sáng tạo, lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp trong xã hội.

Thứ sáu, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa củng cố, nâng cao ý thức quốc gia - dân tộc và tôn trọng ý thức dân tộc - tộc người; bảo đảm sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, tăng cường vị thế, sức mạnh tổng hợp quốc gia với phát huy lợi thế của tính đa dạng về mặt địa lý, văn hóa, xã hội và nhân văn của từng vùng, địa phương, địa vực; tăng cường giáo dục tình cảm, niềm tin, lòng tự hào đối với lãnh tụ của quốc gia - dân tộc, của chế độ chính trị, đi đôi với chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ ở các cấp, nhất là cán bộ địa phương là người dân tộc thiểu số và phát huy vai trò của già làng, trưởng bản; tăng cường vai trò của quốc ngữ (tiếng Việt) đi đôi với tôn trọng, phát huy tiếng mẹ đẻ các tộc người trong chính sách ngôn ngữ quốc gia; đẩy mạnh giáo dục để lan tỏa những giá trị có tính biểu tượng cao quý và thiêng liêng của quốc gia - dân tộc (quốc kỳ, quốc ca, quốc huy, quốc lễ, quốc phục, quốc hoa, quốc tửu, quốc yến...) đi đôi với tôn trọng, phát huy các loại hình văn hóa đa dạng của từng cộng đồng dân tộc, địa phương (như hệ thống lễ hội, di tích lịch sử - văn hóa, trang phục, nghề truyền thống, ẩm thực, kho tàng văn hóa dân gian, tri thức dân gian…); qua đó, bảo đảm tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY DỰNG, GIỮ GÌN VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

Trước những thời cơ và thách thức đặt ra trong thời kỳ mới, để thực hiện được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng nước ta là tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, tạo động lực thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tích cực đẩy mạnh và đa dạng hóa các biện pháp tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền (đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ công tác trong lĩnh vực văn hóa) và toàn dân về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của văn hóa, hệ giá trị văn hóa đối với việc bồi đắp dân khí và thúc đẩy khát vọng phát triển đất nước; từ đó xây dựng ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam trong mỗi công dân, tạo nguồn lực nội sinh và động lực đột phá để thực hiện thành công mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045 mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong việc phát huy giá trị văn hóa, đề cao vai trò chủ thể của nhân dân trong sáng tạo và hưởng thụ văn hóaĐấu tranh, ngăn ngừa kịp thời các hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Thứ hai, đổi mới thể chế văn hóa, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa. Gắn kết văn hóa với chính trị, với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, các ngành và địa phương; lồng ghép hoạt động bảo tồn và phát huy hệ giá trị văn hóa trong triển khai chiến lược phát triển văn hóa và du lịch Việt Nam. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội, hiệu quả hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Tiếp tục thực hiện hiệu quả cơ chế Nhà nước đặt hàng các doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội để đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ văn hóa, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, xây dựng hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia trong thời kỳ mới phù hợp với nhiệm vụ mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Thứ ba, triển khai hiệu quả “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển từng ngành công nghiệp văn hóa với những lộ trình, mục tiêu ưu tiên và giải pháp phù hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó chú trọng phát triển các ngành công nghiệp văn hóa theo hướng chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao và đồng bộ, khai thác mọi tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa đa dạng, hệ giá trị văn hóa Việt Nam để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh; nâng cao năng lực sản xuất và sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tạo ra các sản phẩm văn hóa đa dạng với hàm lượng tri thức cao, mang đậm giá trị văn hóa dân tộc; đổi mới hoạt động quảng bá thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa, thương hiệu doanh nghiệp văn hóa Việt Nam ra thế giới. 

MỘT SỐ THÀNH TỰU TRONG XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 9 KHÓA XI

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã bồi đắp nên bản lĩnh, trí tuệ, cốt cách của con người Việt Nam, kết tinh các giá trị văn hóa, tạo thành sức mạnh nội sinh giúp toàn dân ta vượt qua vô vàn khó khăn, thử thách khắc nghiệt để đi đến những thắng lợi vẻ vang. Hiện nay, trong bối cảnh mới, phát huy các giá trị văn hóa là yếu tố quan trọng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thời gian qua trên cả nước đã đạt được những kết quả nhất định. Nhận thức về văn hóa ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn trên các lĩnh vực.  Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa của dân tộc được kế thừa, bảo tồn và phát triển. Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tính đến hết năm 2018, Việt Nam có gần 3.500 di tích được xếp hạng quốc gia, 107 di tích quốc gia đặc biệt, 12 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Hơn 3 triệu di vật, cổ vật có giá trị đang được bảo quản, trưng bày tại hệ thống 166 bảo tàng; gần 8.000 lễ hội được lưu truyền gắn với nhiều phong tục, tập quán, nghệ thuật trình diễn, làng nghề thủ công, văn hóa ẩm thực, trang phục..., trong đó có nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng nhằm bảo đảm tính đa dạng, phong phú về sắc thái văn hóa của các vùng, miền trên cả nước. Văn hóa trong chính trị và trong kinh tế ngày càng được coi trọng và phát huy hiệu quả, tích cực. Công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa có bước khởi sắc. Các loại hình, các sản phẩm và dịch vụ văn hóa ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu mới, nhiều mặt của xã hội. Xây dựng con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú, giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành. Nhiều tấm gương sáng trong phong trào thi đua yêu nước, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã được biểu dương, lan tỏa các giá trị văn hóa tốt đẹp trong đời sống xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa nói riêng, xây dựng và phát triển đất nước nói chung. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn hóa từng bước hoàn thiện. Đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ có bước phát triển. Việc đấu tranh, phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, cái lạc hậu, chống các quan điểm, hành vi sai trái gây hại đến văn hóa, lối sống được chú trọng; qua đó vai trò điều tiết của văn hóa tiếp tục được phát huy. Hoạt động giao lưu, hợp tác và hội nhập quốc tế có bước phát triển mới, góp phần quảng bá các giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới, đồng thời thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa, tiếp thu tinh hoa và các giá trị tiến bộ của văn hóa nhân loại để bồi đắp và xây dựng nền văn hóa Việt Nam.

BẢO ĐẢM TÍNH THỐNG NHẤT TRONG ĐA DẠNG CỦA NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM LÀ MỘT NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC.

 Các giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi, là cơ sở quan trọng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII đã xác định những quan điểm cơ bản, như văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, Nghị quyết chỉ rõ đặc điểm của nền văn hóa mà đất nước ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Yếu tố “tiên tiến” ở đây bao hàm cả giá trị yêu nước và tiến bộ, trong đó, cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Bản sắc dân tộc được Nghị quyết xác định bao gồm những giá trị truyền thống tốt đẹp, bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Nghị quyết cũng xác định nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạngTính thống nhất và tính đa dạng phản ánh sâu sắc mối quan hệ giữa bản sắc văn hóa dân tộc (quốc gia) Việt Nam và sắc thái văn hóa các dân tộc (tộc người), văn hóa địa phương. Bản sắc văn hóa kết tinh ở hệ giá trị văn hóa dân tộc (quốc gia), thấm sâu vào mọi hoạt động vật chất, tinh thần, phong tục, tập quán, sinh hoạt cá nhân, mang diện mạo, trí tuệ, tâm hồn, phong cách của các dân tộc hay cộng đồng quốc gia - dân tộc và được tiếp nối, phát huy, phát triển trong các thời kỳ lịch sử. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1-4-2019 cho thấy, người Kinh ở nước ta chiếm đa số (chiếm 85,3% dân số cả nước); 53 dân tộc còn lại có 14,123 triệu người (chiếm 14,7% dân số cả nước). Đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú và sinh sống thành cộng đồng, chủ yếu ở miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa với nhiều sắc thái văn hóa phong phú, đa dạng. Các dân tộc trên lãnh thổ nước ta dù tiếng nói, phong tục, tập quán khác nhau, nhưng đều là những bộ phận của cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam, cùng chung lưng đấu cật, đoàn kết đấu tranh chống thiên tai, địch họa để dựng nước và giữ nước. Trên cơ sở “mẫu số chung” đó, những sắc thái văn hóa riêng biệt của từng dân tộc được định hình, phát triển và bổ sung cho nhau, tạo nên tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam.

Như vậy, có thể thấy, quan điểm “nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam” là tư tưởng tiến bộ và nhân văn, phù hợp với thực tiễn xây dựng và phát triển của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam và xu thế chung của cộng đồng quốc tế đang hướng tới với sự đa dạng văn hóa. Do đó, bảo đảm tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam là một nội dung cơ bản của xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI nhấn mạnh quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.

Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, trong đó nhấn mạnh: “Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loạiphấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao... Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới(1).

Trên cơ sở đó, nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế chính là xây dựng những giá trị, chuẩn mực con người Việt Nam phù hợp và gắn với giữ gìn, phát huy hệ giá trị văn hóa, giá trị của quốc gia - dân tộc; kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại, như yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Những giá trị ấy được nuôi dưỡng bởi văn hóa gia đình Việt Nam với những giá trị cốt lõi: Ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh; được bồi đắp, phát triển bởi nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với hệ giá trị: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; trên nền tảng của hệ giá trị quốc gia và cũng là mục tiêu phấn đấu cao cả của dân tộc ta: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc(2)Thông qua bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, có thể thấy rõ những giá trị văn hóa Việt Nam đã và đang xây dựng, củng cố là những giá trị tiến bộ, nhân văn, kết hợp truyền thống với hiện đại và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần hướng tới một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

 Giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, được con người sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Thông qua hệ giá trị, văn hóa thể hiện vai trò động lực và điều tiết sự phát triển của xã hội.

Các giá trị văn hóa được đúc kết, xây dựng và củng cố trong lịch sử phát triển lâu dài, được chiêm nghiệm, kiểm chứng, đi vào từng hành vi, nếp nghĩ của mỗi cá nhân cũng như trong tư duy, phương thức hành động của cả hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở mỗi quốc gia, dân tộc. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, chính những trầm tích văn hóa kết tinh ở hệ giá trị đã tạo nên sức mạnh nội sinh, giúp dân tộc ta giành được những thắng lợi trong quá trình dựng nước và giữ nước.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, các giá trị văn hóa Việt Nam đã khơi dậy khát vọng đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ trong toàn dân, thực sự trở thành động lực tinh thần to lớn, góp phần chuyển hóa thành sức mạnh vật chất để làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong hơn 35 năm đổi mới, tình hình trong nước và thế giới có những chuyển biến đa chiều, phức tạp. Ở trong nước, về kinh tế, đó là sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự phát triển của kinh tế tri thức; về xã hội, đó là sự chuyển đổi từng bước từ xã hội truyền thống nông nghiệp sang xã hội công nghiệp hiện đại. Về bối cảnh quốc tế, là xu thế toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ cùng nhiều thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống... Trong bối cảnh đó, hệ giá trị văn hóa Việt Nam đã có những biến đổi lớn. Một bộ phận có xu hướng chuyển từ đề cao các giá trị tinh thần, đạo đức sang đề cao các giá trị vật chất, kinh tế; xu hướng coi trọng các giá trị tình cảm sang coi trọng giá trị pháp lý; xu hướng dựa vào tập thể, đề cao cộng đồng chuyển sang khẳng định cái tôi, giá trị tài năng cá nhân; xu hướng tôn trọng kinh nghiệm, trọng lão sang đề cao tri thức khoa học, trọng tài năng, thực lực; xu hướng trọng tĩnh chuyển sang trọng động (trọng năng động, ưa đổi mới, sáng tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập); xu hướng sống theo tôn ti, trật tự chuyển sang đòi hỏi cuộc sống tự do, bình đẳng...

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” xác định 5 giá trị bền vững, tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống.

Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, trước yêu cầu mới của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã xác định xây dựng nền văn hóa Việt Nam với 4 đặc trưng là dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; chăm lo xây dựng con người với 7 đặc tính cơ bản là yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.

Như vậy, có thể thấy, cùng với sự biến đổi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội sau hơn 35 năm đổi mới, các giá trị văn hóa Việt Nam cũng có những biến đổi lớn, song các giá trị truyền thống, cốt lõi, như yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, đoàn kết... đã được định hình trong lịch sử và thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc tiếp tục được gìn giữ, phát huy. Văn hóa tiếp tục phát huy vai trò quan trọng, “là nền tảng tinh thần xã hội”, là “mục tiêu và động lực” trong xây dựng và phát triển đất nước, góp phần tạo nên sức mạnh dân tộc trong bối cảnh mới

ĐẤU TRANH VỚI TỘI PHẠM TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ

Với xu thế hội nhập của đất nước, nhiều tổ chức, cá nhân lợi dụng sự ưu đãi của Nhà nước để buôn lậu, sản xuất hàng giả và gian lận thương mại. Nhưng nhờ làm tốt công tác rà soát, nắm tình hình, dự báo tình hình tội phạm kinh tế, từ đó phòng Cảnh sát kinh tế Công an Đồng Tháp đã tham mưu tốt cho Ban Giám Đốc về công tác phòng chống tội phạm tham nhũng, kinh tế, buôn lậu trên địa bàn, không để xảy ra phức tạp về tội phạm trên lĩnh vực kinh tế, góp phần phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương. Trong những năm qua, tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên lĩnh vực kinh tế, buôn lậu vẫn còn xảy ra nhiều. Trong đó nổi lên tội phạm vận chuyển, mua bán hàng nhập lậu, hàng cấm, sản xuất, buôn bán hàng giả, lừa đảo chiếm đoạt tài sản và vi phạm các quy định về sử dụng đất đai, với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, khó phát hiện. Khó khăn là vậy, nhưng cán bộ chiến sĩ lực lượng Cảnh sát kinh tế chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nắm chắc tình hình, hoạt động của tội phạm tham nhũng, kinh tế, buôn lậu. Đồng thời triển khai đồng bộ kịp thời, hiệu quả công tác phòng chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại, không để xảy ra điểm nóng, phức tạp về tội phạm, vận chuyển hàng cấm, buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Phối hợp các lực lượng Công an địa phương đấu tranh, xử lý mạnh tội phạm trên lĩnh vực này, nhất là kiềm chế, kéo giảm tình hình người vận chuyển thuốc lá lậu chạy tốc độ cao trên tuyến quốc lộ 30. Đặc biệt là trong năm 2020, đơn vị đã phát hiện, xử lý 55 vụ, 11 đối tượng vi phạm, tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, với tổng thiệt hại trên 227 tỷ đồng, thu hồi 1,7 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, đơn vị đã khám phá thành công 04 chuyên án, bắt chuyển khởi tố 04 vụ, 11 đối tượng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mua bán hàng cấm và vi phạm các quy định về sử dụng đất đai. Đã phát hiện bắt giữ 249 vụ, 69 đối tượng về các hành vi vận chuyển hàng cấm, hàng nhập lậu, gian lận thương mại, tổng giá trị hàng hoá bắt giữ trên 2 tỷ đồng. Điển hình trong tháng 4 năm 2021, phòng Cảnh sát Kinh tế đã thi hành lệnh bắt tạm giam 01 đối tượng về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thông qua hình thức làm giả quyết định của UBND tỉnh về việc trúng thầu và giám sát gói thầu dự án nâng cấp mở rộng quốc lộ 30 với thiệt hại ban đầu xác định trên 800 triệu đồng. Hay vào ngày 20/6/2021, đã phối hợp Công an huyện Hồng Ngự bắt giữ 01 vụ, 01 đối tượng vận chuyển khoảng 374 gam vàng và 350 triệu đồng tiền mặt. Với phương châm: “phòng ngừa là chính”, trong những năm qua, ngoài công tác đấu tranh với tội phạm trên lĩnh vực kinh tế. Phòng còn tham mưu, hướng dẫn điều tra, xử lý các vụ án về tham nhũng, kinh tế trên địa bàn tỉnh, nhất là hướng dẫn tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác điều tra, xử lý các vụ án thuộc thẩm quyền. Trong quá trình điều tra, xử lý, cán bộ, chiến sĩ đơn vị luôn thực hiện đúng quy định pháp luật, không để oan sai, bỏ lọt tội phạm. Đồng thời làm tốt công tác tiếp nhận, giải quyết nguồn tin tội phạm, cùng với Công an địa phương tuyên truyền phòng chống buôn lậu, phòng ngừa đấu tranh với hành vi mua bán hàng gian, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Phối hợp đoàn liên ngành về giá, lĩnh vực kinh tế, vật tư nông nghiệp…nhằm chủ động phòng ngừa các hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá các loại khẩu trang, vật tư, thiết bị y tế phục vụ phòng chống dịch và các loại hàng hóa khác. Xác định rõ vai trò, vị trí của lực lượng Cảnh sát kinh tế trong thời kỳ mới, không chỉ làm tốt công tác nắm tình hình, chủ động đề ra các giải pháp phòng, chống tội phạm trên lĩnh vực tham nhũng, kinh tế, buôn lậu. Lại thêm hầu hết đối tượng thực hiện hành vi vi phạm về kinh tế, tham nhũng đa số là những người có nhiều mánh khóe, khi thực hiện hành vi phạm tội luôn có nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi để đối phó gặp khó khăn cho công tác điều tra khám phá án … Tuy khó khăn còn nhiều, nhưng thời gian tới từng cán bộ, chiến sĩ của phòng sẽ nỗ lực vượt qua khó khăn, đấu tranh mạnh với các loại tội phạm: buôn lậu, vận chuyển hàng cấm, hàng giả, hàng nhái, lừa đảo chiếm đoạt tài sản và vi phạm các quy định về sử dụng đất đai…Nhất là tội phạm lợi dụng tình hình khó khăn sau dịch bệnh Covid-19 để gia tăng hoạt động phạm tội. Với những thành tích đạt được, trong năm 2020, phòng Cảnh sát kinh tế đạt danh hiệu đơn vị quyết thắng, và cũng trong năm 2020 đơn vị 03 lần được UBND tỉnh tặng bằng khen về thành tích đấu tranh với các loại tội phạm trên lĩnh vực kinh tế./.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN

Trong bối cảnh quốc tế ngày nay, cuộc đấu tranh chống "diễn biến hòa bình", "Tự diễn biến" "Tự chuyển hóa " trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền đang diễn ra phức tạp. Đối với chúng ta, đó là cuộc đấu tranh có tầm quan trọng sống còn đối với chế độ xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng. Quyền con người (QCN) là một trong những thành quả của nền văn minh nhân loại, là giá trị lớn lao mà các quốc gia dân tộc có thể chia sẻ. Dân tộc ta trong thế kỷ XX đã có những đóng góp lớn lao, mang tính đột phá về tư tưởng nhân quyền, thể hiện tập trung trong Tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Trên bình diện nhân văn, QCN được xem là một phạm trù đạo đức. Hạt nhân của quan niệm này là sự tôn trọng nhân phẩm, và tinh thần nhân đạo, khoan dung đối với con người. Trên bình diện pháp lý, QCN là các nhu cầu, lợi ích (về vật chất và tinh thần) của tất cả mọi người - "không phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo... hoặc các điều kiện khác" được quy định trong pháp luật - được pháp luật bảo vệ. Khác với quyền công dân, QCN là quyền của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại. Đây chính là cơ sở lý luận và pháp lý mà các thế lực đế quốc và tay sai của chúng lợi dụng để can thiệp vào công việc của các quốc gia. Trên phạm vi quốc tế, chiến lược "diễn biến hòa bình" (DBHB), lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền của chủ nghĩa đế quốc diễn ra song song với cuộc đấu tranh vũ trang ngay từ khi Nhà nước công nông đầu tiên ra đời (1917). Từ giữa thập kỷ 80 (thế kỷ XX), lợi dụng cải tổ, cải cách, đổi mới, chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh chiến lược này kết hợp với bạo loạn, lật đổ hòng làm thay đổi chế độ xã hội ở các nước XHCN. Có thể nói các cuộc "cách mạng mầu" ở Đông Âu, "cách mạng hoa nhài" ở Trung Đông, Bắc Phi là những biến thể của chiến lược "diễn biến hòa bình". Chẳng thế mà ngày nay các thế lực thù địch đang mơ sẽ có "cách mạng hoa sen" ở Việt Nam. Đối với Việt Nam hiện nay, "các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn lật đổ, sử dụng chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta". Chủ nghĩa đế quốc cùng với lực lượng tay sai và những phần tử bất mãn, trở cờ, "xám hối" ở trong nước đòi "tự do ngôn luận", "tự do báo chí" phi pháp. Chúng tuyên truyền kích động các phần tử cực đoan trong tôn giáo, dân tộc ít người đòi "quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo", đòi quyền tự trị, quyền thành lập "nhà nước Đề-Ga", "nhà nước Khmer-Crom", "nhà nước H'Mông", phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Thâm độc và nguy hiểm hơn chúng tìm cách, tạo cớ cho các thế lực thù địch bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Lợi dụng đường lối đổi mới và những mặt trái của xã hội hiện nay, như tình trạng quan liêu, tham nhũng …, các thế lực thù địch đòi "đổi mới triệt để", đòi cải cách thể chế chính trị, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hạn chế sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đòi "đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập", đòi thực hiện "tam quyền phân lập"… Không phủ nhận rằng xã hội ta đang tồn tại nhiều vấn đề bức xúc, như tình trạng "tự diễn biến", "Tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; như tình trạng quan liêu, tham nhũng, sự phân hóa giàu - nghèo; những bất cập trong y tế, giáo dục; tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, ca sỹ "lộ hàng", nữ sinh "đánh hội đồng", bệnh "vô cảm", cơ chế "xin - cho", "lợi ích nhóm"… Song không phải vì thế mà có thể phủ nhận được đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta nhất quán tôn trọng và bảo vệ QCN. Cũng không thể phủ nhận được thành quả hơn 20 năm đổi mới, đã làm thay đổi căn bản đời sống chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam mà cộng đồng quốc tế đã ghi nhận. Trong bối cảnh quốc tế ngày nay, cuộc đấu tranh chống "diễn biến hòa bình", "Tự diễn biến" "Tự chuyển hóa " trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền đang diễn ra phức tạp. Đối với chúng ta, đó là cuộc đấu tranh có tầm quan trọng sống còn đối với chế độ xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng. Với niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa tốt đẹp, với bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng nhất định chúng ta sẽ đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, xây dựng một nước Việt Nam "Dân giàu, Nước mạnh, Dân chủ, Công bằng, Văn minh”

Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc này là vấn đề cấp thiết. Bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo. Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam được ví như “bảo tàng tôn giáo” của thế giới. Điều đó đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú và đặc sắc. Hiện nay, ở Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo. Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Điều đó đã quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật của nước ta. Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện, chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”. Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật”. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”. Các Hiến pháp của nước ta năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều thể hiện rõ quan điểm nhất quán và xuyên suốt là tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Năm 2016, Quốc hội ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Chính phủ có Nghị định hướng dẫn tổ chức thực hiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng phù hợp với yêu cầu của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ mới của đất nước, đồng thời thể hiện sự tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm hơn nữa quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Hiện 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Đặc biệt, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức thành công ở Việt Nam, trong đó có các sự kiện kỷ niệm 500 năm Cải chánh đạo Tin lành (năm 2017), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak (năm 2019), Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019)… Những nỗ lực này của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Chống lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chiêu bài của họ là đối lập tôn giáo với chế độ xã hội chủ nghĩa, tách các tôn giáo khỏi khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Để thực hiện điều đó, họ sử dụng các thủ đoạn xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, bịa đặt, vu cáo cấp chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo để kích động, chia rẽ trong nước và hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế… Họ coi các đối tượng cực đoan chống đối trong các tôn giáo là lực lượng nòng cốt để lôi kéo tập hợp quần chúng làm đối trọng với Đảng, Nhà nước và thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Cùng với việc hậu thuẫn cho các lực lượng này hoạt động chống phá đất nước, họ còn phối hợp chặt chẽ với các cá nhân, tổ chức quốc tế thiếu thiện chí để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam đàn áp mọi tôn giáo, thường bắt giữ những người biểu tình ôn hòa đòi hỏi "tự do" tín ngưỡng và "tự do" thờ phụng. Nhiều tổ chức tôn giáo không được Chính phủ công nhận và không cấp giấy phép sinh hoạt… Đây là những luận điệu bịa đặt cũ rích được lặp đi, lặp lại với ý đồ chính trị xấu xa. Điều đó không chỉ gây khó khăn cho công tác tôn giáo mà còn là nguyên nhân và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật để gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ, gây mất đoàn kết dân tộc và đe dọa ổn định chính trị - xã hội; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội. Nhà nước ta bên cạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng nghiêm cấm mọi hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Bất kỳ ai, nếu vi phạm pháp luật dù với bất cứ lý do gì đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật. Có thể khẳng định, những luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện của một số người thiếu thiện chí với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này không thể làm khó Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, mở rộng hợp tác, giao lưu trên trường quốc tế./.