Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

NGƯỜI CHỈ HUY VÀ CẤP DƯỚI !


-----
Quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ, ngoài mệnh lệnh hành chính, nếu người chỉ huy và cấp dưới đặt mình vào vị trí của nhau để cùng chia sẻ, thấu hiểu trách nhiệm ở mỗi cấp thì mới tạo được sự đoàn kết nhất trí cao, trên dưới một lòng và hiệu quả công việc sẽ cao hơn.
Trong "Binh thư yếu lược" Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn răn dạy các tướng phải coi lính như người thân: “Trong quân có người ốm, tướng phải thân hành đem thuốc đến chữa; trong quân có người chết, tướng phải thương xót đau buồn. Quân đi thú xa phải sai vợ con đến nhà thăm hỏi. Phàm có khao thưởng phải chia đều cho quan và quân. Khi cất đặt chức vị phải họp cả tướng tá lại bàn. Mưu đã định rồi mới đánh giặc. Tướng với quân có cái ân hòa rượu và hút máu”. Theo đó, đạo làm tướng cũng là đạo làm cha, thậm chí phải làm cha trước khi làm tướng, đúng như trật tự của diễn ngôn nói về sự chăm sóc lính trước rồi mới tới việc khao thưởng và đánh giặc sau. Điển tích được dùng rất đúng chỗ, cô đọng, hàm ý biểu cảm cao. Ngày xưa một vị tướng tài được biếu một vò rượu ngon, ông liền đem đổ xuống sông rồi cùng tướng sĩ múc nước mà uống. Thế là ai cũng cảm thấy như được uống rượu. Họ không say rượu nhưng say cái tình gia đình thiêng liêng, gắn kết. Sau này Nguyễn Trãi nhắc lại trong "Đại cáo Bình Ngô": “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” vừa là sự tiếp nối vừa là sự khẳng định tướng sĩ như cha con sức mạnh quân đội sẽ nhân lên bội phần...
Quân dân nhà Trần làm nên kỳ tích lịch sử 3 lần đánh bại đội quân xâm lược thiện chiến nhất thế giới có một nguyên nhân là tinh thần đoàn kết muôn người như một. “Đại Việt sử ký toàn thư” kể Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật “trong nhà không chứa roi vọt để đánh gia nô”, hơn thế còn coi họ như anh em nên luôn được tướng sĩ hết lòng phò tá. Tướng quân Phạm Ngũ Lão coi quân lính như “thủ túc” (chân tay), vui vẻ hoạn nạn đều có nhau nên không giặc nào địch nổi. Thu được chiến lợi phẩm gì Ngũ Lão đều phân minh chia cả cho lính. Chính sử khẳng định ngoài biệt tài về chỉ huy quân sự, ông còn là người có khả năng đoàn kết quân tướng nên đội quân luôn thống nhất, trên dưới như một, đồng lòng, gắng sức. Là chỉ huy cao nhất cũng là tấm gương sáng nhất, Ngũ Lão luyện tập, ăn uống, thậm chí ngủ cùng quân sĩ, ra trận thì luôn đi trước, rút quân thì luôn về sau cùng.
Câu chuyện Lê Lai cứu chúa được cổ tích hóa để thiêng liêng hóa mối quan hệ máu thịt chủ tướng. Tháng 4-1418, Lê Lợi thua trận ở Mường Một, chạy thoát về địa danh Trịnh Cao, quân Minh đuổi theo vây chặt các lối hiểm yếu. Tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Lê Lai xin được đóng giả Lê Lợi chịu giặc bắt để cứu cả nghĩa quân cũng là cứu cả sự nghiệp kháng chiến. Thành ngữ “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” nói về ngày giỗ của hai bậc đại danh tướng, thực ra đó là cách dân gian tôn vinh người xả thân cứu chủ tướng. Trong tâm thức văn hóa cộng đồng thiên về duy tình, sự kính trọng Lê Lai còn trước cả Lê Lợi!
Quân đội nhân dân Việt Nam trưởng thành lớn mạnh là nhờ tấm gương lãnh đạo, dìu dắt của Bác Hồ, của Đảng. Bác Hồ rất thương chiến sĩ, bài thơ “Tư chiến sĩ” (Nhớ chiến sĩ) chỉ là một biểu hiện nhỏ: “Đêm khuya sương xuống như trút/ Sáng sớm, sương dày như mưa mặt biển/ Mau gửi áo rét cho chiến sĩ/ Nắng ấm báo trước tin xuân sắp về”. Đúng là một tình thương cha con tiếp nối từ lịch sử “một lòng phụ tử”... Đạo làm tướng theo quan niệm của Bác thì cái gốc vẫn là tình thương yêu và sự gương mẫu: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng Tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên... Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”. Đó vừa là lời của vị Tổng Tư lệnh vừa là lời người cha nhắn người con cả phải yêu thương, gương mẫu, chăm sóc các em!
Mười Lời thề danh dự của quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay là sự kế thừa, kết tinh, phát triển và nâng cao các giá trị tinh hoa truyền thống trong lịch sử văn hóa quân sự Việt Nam. Lời thề thứ hai nói về trách nhiệm, nghĩa vụ cấp dưới: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”. Đây là một nguyên lý phổ biến ở tất cả mọi quân đội trong lịch sử, vì cấp trên là người toàn quyền chỉ huy, chịu mọi trách nhiệm. Cấp trên không chỉ hiểu quân địch, hiểu không gian, thời gian, địa hình, địa vật còn thấu hiểu sâu sắc cấp dưới, từng cá tính, từng hoàn cảnh. Vì trong chiến đấu, điều quyết định là tinh thần người lính. Thế nên giao nhiệm vụ gì, cho ai cấp trên cũng đã hết sức cân nhắc và luôn có những phương án bảo đảm đi cùng. Các chiến sĩ đều biết rõ điều ấy nên khi nhận nhiệm vụ đều thoải mái, tự tin. Do vậy quan hệ cấp trên cấp dưới luôn là sự thấu hiểu và thấu cảm, thấu hiểu công việc, vị trí của nhau, thấu cảm hoàn cảnh, tấm lòng nhau...
Từng là một người lính chiến, người viết bài này càng thấm thía vai trò tấm gương người chỉ huy. Thời gian giúp nhân dân Campuchia giải phóng khỏi nạn diệt chủng, khi hành quân, trong tình huống nguy hiểm, đại đội trưởng tôi luôn đi trước cùng bộ phận trinh sát. Nhờ có điểm tựa, cả đơn vị đều yên tâm. Trinh sát như được tin tưởng hơn, mọi người mạnh mẽ hơn. Là cấp trên, đã qua thử thách, có kinh nghiệm nên người chỉ huy đều thấm thía vai trò tư tưởng chiến sĩ. Mà muốn tư tưởng được “thông” thì chính người chỉ huy phải là tấm gương sáng nhất. Tinh thần ấy đã tỏa chiếu vào và kết lại ở Lời thề thứ bảy của Quân đội ta: “Đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt trên tình thương yêu giai cấp; hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận; thực hiện toàn quân một ý chí”...
Đại tá, PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ
Có thể là hình minh họa
Thích
Bình luận
Chia sẻ

VÌ PHONG TRÀO CÁCH MẠNG THẾ GIỚI


Một trong những lý do Mỹ cấm vận Cu Ba hơn nửa thế kỷ và CIA vô số lần ám sát Fidel Castro vì Fidel không chỉ chống Mỹ ở Cu Ba mà ông chống Mỹ, chống phương Tây, chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân trên mặt trận toàn cầu. Dưới thời của Fidel, Cu Ba trở thành nơi đón tiếp, đào tạo, bồi dưỡng tất cả những lực lượng nào muốn chống Mỹ. Ông cổ vũ, giúp đỡ cho các quốc gia chống Mỹ trên toàn thế giới. Giống như Mỹ sẵn sàng tài trợ cho lực lượng nào muốn chống Cộng vậy.
Cuba của Fidel Castro, trong thập niên 1960 đã là nơi cung cấp vũ khí, cố vấn quân sự, tiền bạc, chuyên gia y tế giáo dục cho những du kích quân ở Venezuela năm 1960, những người nổi dậy ở Algeri năm 1961, ở Achentina năm 1963. Với Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, Fidel đã có tuyên bố : Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu. Năm 1963, người Maroc bất ngờ thấy đối mặt với họ ở cuộc xung đột biên giới với Algeri là một lữ đoàn xe tăng với 2000 lính Cuba. Đó chính là kết quả của sự giúp đỡ quốc tế của La Habana với chính quyền Algeri vừa giành được độc lập từ thực dân Pháp, đang ngả theo Liên Xô để trở thành hạt nhân phong trào cách mạng dân tộc ở châu Phi.
Ngay từ năm 1965, các cơ quan tình báo của Bồ Đào Nha đã nhận thấy, cán bộ của các phong trào kháng chiến tại những nước thuộc địa của Bồ Đào Nha như Angola, Guiné Bissau đều được huấn luyện tại La Habana. Trong những năm 1960, thủ đô của Cuba có thể được coi như là "thánh địa" của những nhà cách mạng trên thế giới. Fidel sau này thừa nhận đã khuấy động "cách mạng" ở khắp nơi trên thế giới.
Với Fidel Castro, trang sử hoành tráng nhất của tinh thần quốc tế cộng sản chính là chiến trường Angola. Tại đó hơn 400.000 quân của Cuba đã tham gia trong 15 năm chiến đấu cho Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola (MPLA) chống lại lực lượng nổi dậy UNITA của Jonas Savimbi, được Nam Phi hậu thuẫn. Quân đội Cuba cũng đã để lại những dấu ấn trong các cuộc xung đột ngắn ở Ethiopia (1977-1978) hay tại Congo thuộc địa Bỉ năm (1965). Cuba thời Fidel Castro đã tham gia vào 17 cuộc cách mạng châu Phi, giành được chiến thắng vĩ đại ở Angola và tạo hiệu ứng suốt miền nam châu Phi. Những hình ảnh từ chuyến thăm Cuba của Nelson Mandela đến gặp Fidel Castro vào năm 1991, ngay sau khi rời khỏi nhà tù sau 27 năm, vẫn hình ảnh mang tính biểu tượng của lòng biết ơn tới Cuba đóng góp cho phong trào giải phóng ở các bộ phận khác nhau của châu Phi. Fidel từng nói "Angola rất giàu tài nguyên thiên nhiên. Một số đế quốc tự hỏi tại sao chúng tôi giúp người dân Angola, nhằm đạt những lợi ích gì. Chúng tôi không nhằm bất kỳ lợi ích vật chất nào cả, mà chúng tôi đang thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả" (sau này khi Fidel mất, Angola đã để quốc tang cho ông).
Hình ảnh minh họa ấn tượng nhất của sự cống hiến của ông cho cuộc tranh đấu của châu Phi là can thiệp của ông ở Namibia và Angola chống lại chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi được sự ủng hộ của Mỹ và các cường quốc thực dân Tây Âu khác nhằm khai thác và thống trị của châu lục này. Sự trợ giúp của Fidel cho các nước châu Phi vẫn tiếp tục cho đến nay. Minh chứng đậm nét là sự ​​hỗ trợ hào phóng của Cuba trong cuộc chiến chống lại đại dịch Ebola cho các nước Tây Phi vào năm 2014. Sau khi Namibia độc lập, Castro gửi giáo viên Cuba, kỹ sư và bác sĩ y khoa Cuba đến để giúp tái thiết Namibia và cho đến ngày nay người dân Namibia vẫn được hưởng sự chăm sóc và tư vấn của các bác sĩ Cuba ở đây, nhờ vào lòng hảo tâm và tầm nhìn xa rộng lớn của Castro. Sau chiến tranh, khi Angola không đủ khả năng trả nợ cho Cuba, Fidel từng nói "Chúng tôi làm Cách mạng không phải để các bạn trả tiền". Hơn 42% nhân viên y tế tại Angola là người Cuba, nhiều người quyết định ở lại sau chiến tranh. Fidel Castro được Ban lãnh đạo Liên đoàn phụ nữ dân chủ thế giới (FDIM) phong tặng là "Công dân Toàn cầu" vào ngày 5 tháng 12 năm 2006.
Trở về khu vực Trung Mỹ, tại Nicaragua năm 1979. Cuba đã đưa rất nhiều cố vấn hỗ trợ cho lực lượng, Mặt trận Sandino, mở cuộc tấn công cuối cùng vào thủ đô Managua đánh đổ chế độ độc tài Anastasio Somoza. Trong khi đó tại Salvador, các du kích quân ở đây thông qua Cuba đã nhận được không ít vũ khí để làm cách mạng.
Việt Nam những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ là một biểu tượng của các nước thuộc địa bị áp bức, nhiều quốc gia đã lấy cảm hứng từ Việt Nam, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ mà vươn lên giành độc lập. Khi đó chúng ta nhận được nhiều sự giúp đỡ từ bạn bè quốc tế, chúng ta cũng thường phản đối Mỹ khi can thiệp và quốc gia khác. Nhưng chúng ta chống Mỹ trên đất nước Việt Nam, chứ không chống Mỹ trên toàn cầu. Việt Nam đã nhanh chóng bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và ít thấy lên tiếng phản đối Hoa Kỳ trên thế giới như trước kia. Bạn bè, các lực lượng tiến bộ từng lên tiếng giúp ta nhưng nay ta lại khó lên tiếng lại. Được một điều Cu Ba giúp quân sự còn chúng ta cũng giúp đỡ các nước châu Phi làm nông nghiệp, y tế, viễn thông... Giống như món nợ với cố tổng thống Iraq Saddam Hussein mà bà Nguyễn Thị Bình nhắc đến, chúng ta hãy nhớ dù chiến tranh đã kết thúc tiếp tục đóng góp lại cho phong trào cách mạng thế giới, chống thực dân, đế quốc.St
Có thể là hình ảnh về 6 người
Thích
Bình luận
Chia sẻ

YÊU NƯỚC - KẾT TINH GIÁ TRỊ VĂN HOÁ DÂN TỘC


Quá khứ-hiện tại-tương lai là một dòng chảy bất tận mà kết chứa nhiều giá trị. “Yêu nước” chính là một trong nhiều giá trị văn hóa quốc gia-dân tộc Việt Nam, được kết tinh từ hàng ngàn năm trước, kể từ thời Hùng Vương dựng nước và mãi mãi cho đến mai sau.
Yêu nước biểu đạt trạng thái tâm lý tình cảm và hành động của con người, từ lòng yêu nước, tinh thần yêu nước rồi nói một cách "triết lý" thì thành chủ nghĩa yêu nước. Nó là giá trị văn hóa "muôn năm cũ" nhưng luôn tươi mới. Giá trị đó thật quý báu, cần được gìn giữ cho luôn đầy kho tàng văn hóa dân tộc và nhân lên, lan tỏa ra cuộc sống muôn màu tươi sắc.
Thời của chúng ta đang sống là mốc 77 năm kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2-9-1945 / 2-9-2022) với thắng lợi của 15 năm đấu tranh giành độc lập dân tộc, kết thúc bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám hiển danh tinh thần yêu nước vĩ đại của toàn dân Việt Nam. Bao vật đổi sao dời. Có xác lập được nội hàm của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện nay không vì thấy có muôn vàn sự biểu đạt về nó? Trừu tượng có, cụ thể có. Một người xa quê hương, đất nước nhiều lúc cảm thấy xao xuyến tâm hồn, nhớ, ôi sao mà da diết thế!-yêu nước đấy. Đọc những trang sách về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân mình, cảm thấy tự hào-yêu nước đấy. Mỗi khi làm được một việc tốt thì thấy vui vì đã học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh-yêu nước đấy. Vân vân và vân vân.
Thời buổi toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế cho thấy, thế giới và trong nước có những chuyển biến mạnh hơn và nhanh hơn. Nước nhà đang đứng trước vận hội mới và có cả thách thức, nguy cơ lớn trên đường phát triển để đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mỗi người có cảm nhận khác nhau về giữ gìn và phát huy chủ nghĩa yêu nước trong tình hình hiện nay. Khác gì thì khác vì có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng đều đi đến một đích chung là khát vọng làm cho đất nước Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu với mục tiêu đến năm 2030 trở thành một nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, như Đại hội XIII của Đảng đã nêu. Vậy là, mọi nghĩ suy và hành động của ai đó nếu nhằm tới những điều ấy, thì đích thị người đó là người yêu nước.
Cần diễn đạt một cách cụ thể, phải chăng là ở 5 điểm sau đây:
Trước tiên, hãy làm thật tốt trách nhiệm công dân của mình. Đơn giản vậy thôi. Nhưng điều có vẻ đơn giản ấy đòi hỏi mỗi người Việt Nam phải luôn có tinh thần đổi mới sáng tạo, thực hiện tốt Hiến pháp và pháp luật, phải trở thành công dân gương mẫu. Nếu là đảng viên thì người đó còn cần thực hiện thật tốt Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chủ trương, quy định của tổ chức đảng.
Luôn luôn tự tu dưỡng, rèn luyện mình trở thành người có đức, có tài. Đức-tài, hoặc "hồng-chuyên", hay phẩm chất-năng lực, những “cặp” đó là chỉnh thể làm nên “hình hài” của một con người Việt Nam yêu nước. Trong mối quan hệ đức-tài, Bác Hồ nêu rõ rằng, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Học cách nói của Bác, chúng ta có thể nói rằng, muốn thành đất nước phát triển trong phiên bản 4.0 thì phải có con người 4.0. Điều mà Bác nói vậy, một số người cho rằng, nói như thế thì duy ý chí, nhưng thực tế Bác đặt vấn đề như vậy là chính xác, bởi vì con người vừa là sản phẩm tự nhiên đồng thời là chủ thể để xây dựng một chế độ xã hội mới, nó vừa là kết quả khi đứng ở góc độ này mà nhìn, vừa là nguyên nhân khi đứng ở góc độ kia mà thấy. Nhưng dù đứng ở góc độ nào chăng nữa, con người vẫn chiếm vị trí trung tâm, là nhân tố quyết định tới việc xây dựng một xã hội mới.
Đương nhiên, có tài thì phải đi liền có đức, như Bác Hồ nêu: “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người”. Một trong những quan điểm điển hình về điều này của Bác là: “Cũng như­­ sông thì có nguồn mới có n­ước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Ngư­­ời cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo đư­­ợc nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài ngư­­ời là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.
Từ những điểm chốt trên đây, con người Việt Nam yêu nước phải luôn luôn nghĩ suy và hành động cho điều thiện, yêu điều thiện, làm điều thiện, ghét cái ác, chống cái ác. Đó là nói về mối quan hệ bên ngoài, còn đối với cá nhân thì có cả cái thiện và cái ác ở trong mỗi con người. Con người là “nhân chi sơ tính bản thiện” nhưng ai cũng có 7 trạng thái tâm lý tình cảm và 6 dục vọng. Trong tình hình hiện nay, những ai có chức quyền và chức quyền càng lớn thì chúng tác động càng mạnh, nhất là dục vọng tiền của, danh vọng và sắc dục. Do vậy, phải phòng và chống mọi tiêu cực trong xã hội và trong mỗi con người, để cho, nói như Bác Hồ, là làm cho mỗi phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi. Cần có chế định của xã hội, nhưng chủ yếu là tại mình, tức là nói đến sự tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng.
Con người yêu nước là phải nêu gương tốt, gương sáng cho xã hội. Bác Hồ cho rằng, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền, rằng, lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới. Tự soi, tự sửa hoặc tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất làm cho con người ta tốt lên, trở thành một con người thật sự có ích trong xã hội. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”-câu tục ngữ ấy muôn năm đúng, chứng tỏ cho tính một chiều của sự làm gương tốt, tức là từ người nhiều tuổi đến người ít tuổi hơn, từ thế hệ trước đến thế hệ sau, từ trên xuống, từ trong Đảng ra ngoài xã hội, chứ không ai làm ngược chiều bao giờ.
Yêu nước đi liền với yêu chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIII của Đảng nêu: “Tăng cường giáo dục... lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”. Với tình hình hiện nay, yêu nước đi liền với yêu chủ nghĩa xã hội, như Bác Hồ nói tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II ngày 7-5-1958: Yêu nước, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm. Điều này khác một trời một vực với những kẻ chống đối chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta nhưng cứ hay khoác áo dân chủ, yêu nước. Đó là yêu nước giả, giả 100%. Đừng lòe người khác!
Năm 1920, khi đang bên trời Âu, viết về thanh niên Đông Dương lúc đó, Bác Hồ than: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”. Đó là sự kích hoạt lòng yêu nước trong lớp trẻ của đất nước đang lầm than dưới ách thực dân và phong kiến tay sai hủ bại. Nhìn tới giữa thế kỷ 21 này, cụ thể là 23 năm nữa (vào năm 2045), thế hệ thanh thiếu niên năm 2022 sẽ là quân chủ lực đầy cường khí xung năng của đất nước “phát triển, có thu nhập cao” như Đại hội XIII của Đảng đã nêu. Yêu nước-giá trị văn hóa quý báu dành cho tất cả những ai trên dải đất hình chữ S này, đủ mọi lứa tuổi, gái hay trai, giàu hay nghèo, người dân tộc đa số hay thiểu số, người ở thành thị, nông thôn hay người ở xa miền biên ải, người có quá khứ như thế nào và cho cả người Việt Nam ở nước ngoài nữa, phấn đấu thể hiện bằng nhiều lĩnh vực cụ thể khác nhau, nhưng giá trị đó phải đặt niềm tin thật sâu sắc, vững bền vào lớp trẻ hiện nay.
Hãy khắc phục cho bằng được 4 biểu hiện của bệnh “nói-làm”: Nói nhiều nhưng làm ít; nói hay nhưng làm dở; nói mà không làm; nói một đằng làm một nẻo. Hãy “nói thì phải làm” như Bác đã viết ở trang đầu tiên "Tư cách của người cách mạng" trong cuốn "Đường Kách mệnh"; hoặc hãy “xắn tay áo làm đi” (trích "Hồ Chí Minh toàn tập", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.77)-lời của Bác nói với cán bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hóa khi về thăm vào tháng 2-1947, trước khi trở lại Việt Bắc cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
ST
2

HÒA BÌNH KHÔNG BAO GIỜ ĐẾN DỄ DÀNG


Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc tới tường của các em học sinh miền Bắc trước năm 1975. Những chiếc mũ mà các em đội trên đầu được làm bằng rơm khô đan dày và chặt và thường có nhiều tầng lớp... Những chiếc mũ này có công dụng như những chiếc mũ chống bom, đạn nhưng ở một phiên bản giá rẻ, tự cung tự cấp... Trước năm 1973, những thế hệ cha anh của chúng ta đã từng có những giây phút sống và học tập trong làn đạn như vậy...
Ngoài sách vở, bút thước, những học sinh thời ấy còn phải mang theo những chiếc mũ rơm như trên, ngoài ra còn là bông băng, thuốc đỏ để có thể tự cứu thương cho nhau khi bị không kích...
Trong những năm tháng chiến tranh, đã có hàng ngàn em học sinh Việt Nam ở khắp mọi miền Tổ Quốc bị thiệt mạng do bom đạn, khói lửa, sự li tán... Có những ngôi trường bị không kích nát bấy, có những ngôi trường hình thành ở trong hầm hào, có những ngôi trường đổ sập rồi lại được trát vách dựng lên... Bom đạn có thể đánh gục một ngôi trường, nhưng không thể đánh gục tinh thần của thầy và trò ngày ấy.
Tôi nhớ trong một vài tập Doraemon truyện ngắn có mô tả tại cuộc sống của học sinh Nhật Bản trong thời chiến. Trong đó những việc như di tản khẩn cấp khỏi bom đạn không kích của quân đồng minh, tăng gia sản xuất quên ngày quên tháng, rồi di tản thất lạc cả gia đình và bạn bè... Và lặng người nghĩ rằng, những thế hệ đi trước của chúng ta cũng trải qua những giờ khắc như vậy...
Sống, học tập và chiến đấu trong những thời khách sinh tử như vậy, mà có biết bao nhiêu anh hùng, những người con ưu tú đã ra đời chiến đấu cho Tổ Quốc... Đúng là "vàng thử lửa", khi đã sống với những khó khăn đủ lâu thì người ta sẽ không còn sợ hãi nữa...
Ngày nay, không còn những chiếc mũ rơi như vậy nữa, không còn những hầm hào công sự nữa, cũng không còn lo bom đạn rơi xuống từ trên trời, không còn phải nghe tiếng còi hú báo động...
Từ quá khứ đến hiện tại, đúng là chẳng bao giờ hòa bình đến một cách dễ dàng...
ST
Có thể là hình ảnh đen trắng về 4 người, trẻ em, mọi người đang đứng và ngoài trời