Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

 NHÂN RỘNG ĐIỂN HÌNH TIÊN TIẾN, CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng ĐHTT, gương người tốt, việc tốt. Bác từng căn dặn: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” và “Người tốt, việc tốt nhiều lắm, ở đâu cũng có. Ngành, giới nào, địa phương nào, lứa tuổi nào cũng có”; “Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp, cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”. Vì vậy, "lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Ðảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới". Để khích lệ, nhân rộng ĐHTT, gương người tốt, việc tốt, Bác thường xuyên quan tâm đến những việc nhỏ, việc bình thường nhưng ích nước, lợi dân. Người nói: “Đối với anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua được Đảng và Nhà nước khen thưởng thì phải qua nhiều cấp, nhiều ngành cân nhắc, xét duyệt. Còn với người tốt làm những việc tốt, thì việc khen thưởng có thể đơn giản hơn. Nếu Trung ương cho phép Bác làm, thì Bác nghe báo cáo, đọc báo và chỉ cần điều tra một chút cho đúng sự thật, là Bác có thể thưởng huy hiệu”.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải qua các giai đoạn xây dựng, chiến đấu và phát triển, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội đã triển khai thực hiện có hiệu quả công tác thi đua-khen thưởng và phong trào thi đua yêu nước. Từ Phong trào thi đua “Giết giặc lập công” thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” đến Phong trào Thi đua Quyết thắng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã có hàng vạn đơn vị anh hùng, đơn vị quyết thắng, cùng các anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua... làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trở thành một biểu tượng sáng đẹp của dân tộc. Đặc biệt, Phong trào Thi đua Quyết thắng hiện nay đang được cấp ủy, chỉ huy các cấp tổ chức thường xuyên, liên tục với nhiều hình thức phong phú, có chiều sâu và sức lan tỏa rộng. Gắn kết chặt chẽ giữa thi đua thường xuyên với các đợt thi đua cao điểm, đột kích, các phong trào, các cuộc vận động của các cấp, các ngành, tạo thành phong trào hành động cách mạng sôi nổi, rộng khắp trong toàn quân. Càng khó khăn, gian khó phong trào thi đua càng được phát huy, khơi dậy mạnh mẽ phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong từng tập thể, cá nhân. Đại dịch Covid-19 một lần nữa như “lửa thử vàng”. Trước khó khăn, gian nguy của hàng vạn đồng bào, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng phát động phong trào thi đua đặc biệt với chủ đề “Quân đội cùng cả nước chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch Covid-19”; những tấm gương cán bộ, chiến sĩ quân đội quên mình trên tuyến đầu chống dịch, tự giác nhận việc khó, việc nguy hiểm để nhân dân có cuộc sống bình yên, hạnh phúc đã chạm đến trái tim của mọi người dân.

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW xác định: Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân phải gắn với thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” và các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động của các cấp, các ngành và địa phương; “...Kịp thời phát hiện, nhân rộng các ĐHTT, gương người tốt, việc tốt...”.

Thực chất, ĐHTT, gương người tốt, việc tốt là biểu hiện cao nhất, sinh động nhất phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Càng phát hiện, nhân rộng được nhiều điển hình, gương người tốt, việc tốt thì phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ càng lan tỏa, tạo hiệu ứng sâu rộng, lôi cuốn, cổ vũ để cái tốt ngày càng sinh sôi nảy nở, phát triển, hòa quyện với thực tiễn hoạt động của cán bộ, chiến sĩ; làm cho chủ nghĩa cá nhân không còn “đất” tồn tại trong quân đội.

LAN TỎA PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ

ĐHTT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của phong trào thi đua và lan tỏa phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, song vẫn còn những đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến việc phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng điển hình, gương người tốt, việc tốt..., làm cho phong trào thi đua mất sức sống, thiếu động lực và đi vào lối mòn, hình thức. Nguyên nhân là do vai trò lãnh đạo, tổ chức thực hiện của cấp ủy, chỉ huy chưa được phát huy; phương pháp, hình thức phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng ĐHTT còn cứng nhắc và có biểu hiện hạ thấp tiêu chí nên điển hình chưa thực sự rõ nét, tính thuyết phục, sức lan tỏa hạn chế.

Phát hiện ĐHTT là việc làm hết sức công phu, đòi hỏi cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải đi sâu, đi sát phong trào thi đua, tìm hiểu kỹ kinh nghiệm, thành tích của từng tập thể, cá nhân; phải thông qua phong trào thi đua thực hiện những việc khó, việc mới để phát hiện và tạo điều kiện cho điển hình sớm xuất hiện. Để có cơ sở phát hiện, lựa chọn điển hình, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc rằng: ĐHTT là những tập thể, cá nhân có ý chí quyết tâm cao, có hành động tích cực, có thành tích tiêu biểu, sáng kiến hay, kinh nghiệm tốt trên một mặt hoặc nhiều mặt, có thể nêu gương cho mọi người và đơn vị học tập, áp dụng, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua phát triển mạnh mẽ hơn. Trong đó, cơ sở và tiêu chí được đặt lên hàng đầu là trách nhiệm chính trị và động cơ phấn đấu. Cũng có thể chọn điển hình về một mặt, một lĩnh vực mà đơn vị đang cần nhân rộng... Mặt khác, điển hình phải được rèn luyện, kiểm nghiệm trong thực tiễn và được soi chiếu với 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ theo Nghị quyết 847, nhằm loại bỏ tình trạng "hiện tượng đánh lừa bản chất"; những kẻ cơ hội hoặc bè phái, cục bộ trong lựa chọn...

Phát hiện ĐHTT phải căn cứ vào những cá nhân, tập thể có khả năng hoàn thành sớm, hoàn thành tốt các chỉ tiêu thi đua, hoặc một mặt nổi trội so với cá nhân, tập thể khác trong đơn vị thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ: Trực sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật, hoạt động phong trào văn hóa-văn nghệ, thể dục-thể thao và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác... Do đó, trong quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị phải thường xuyên yêu cầu cấp dưới, cán bộ chủ trì, các tổ, ban, hội đồng thi đua bám sát thực tiễn với phương châm “cơ quan bám đơn vị, cán bộ bám thao trường”. Tiến hành chấm điểm, nhận xét và thông báo thi đua chặt chẽ, làm cơ sở phát hiện, đánh giá, nhận xét đúng thực trạng, khả năng phát triển của từng tổ chức, từng con người cụ thể trong thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu thi đua, trên cơ sở đó tìm ra ĐHTT. Việc bồi dưỡng, xây dựng ĐHTT có ý nghĩa quyết định đến phát huy, lan tỏa phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Cấp ủy, chỉ huy các cấp phải căn cứ vào đặc điểm, nhiệm vụ và những mặt tích cực của điển hình để xác định nội dung bồi dưỡng phù hợp, có hiệu quả đối với từng tập thể, cá nhân. Nội dung bồi dưỡng có thể toàn diện hoặc một mặt. Song, chủ yếu tập trung vào bồi dưỡng động cơ, thái độ, ý thức trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong thực hiện nhiệm vụ; bồi dưỡng những kinh nghiệm, những cách làm hay để ĐHTT khắc phục khó khăn, phấn đấu, rèn luyện, trở thành điển hình toàn diện hơn, xứng đáng với sự tôn vinh của tập thể.

Nhân rộng, phát huy tác dụng của ĐHTT là một yêu cầu trong tổ chức phong trào thi đua, là nghệ thuật lấy phong trào chỉ đạo phong trào. Nhân rộng ĐHTT cần tiến hành đồng bộ các biện pháp như: Sử dụng các thiết chế văn hóa, hoạt động văn hóa, văn nghệ, diễn đàn, tọa đàm để tuyên truyền, phổ biến sâu rộng những kết quả, thành tích, kinh nghiệm, cách làm hay của điển hình. Tổ chức phát động Phong trào “Học tập, làm theo, đuổi kịp và đuổi vượt các ĐHTT” trong toàn đơn vị để động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ học tập, làm theo. Hằng tháng, quý, năm và kết thúc một phong trào, một đợt thi đua, cấp ủy, chỉ huy các cấp đánh giá kết quả lãnh đạo, tổ chức thực hiện công tác phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng, nhân rộng ĐHTT một cách nghiêm túc, thực chất. Tôn vinh, khen thưởng bằng những chính sách, phần thưởng tương xứng nhằm khích lệ và tạo hiệu ứng, dư luận tích cực trong đơn vị...

Phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng, nhân rộng ĐHTT là trách nhiệm của mọi tổ chức, lực lượng và cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, trước hết là của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp; là một trong những biện pháp để thực hiện thắng lợi Nghị quyết 847; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, giao phó.

 

 CẢNH GIÁC TRÁNH “SẬP BẪY” NHỮNG TRANG MẠNG GIẢ MẠO

 

Tình hình tội phạm lừa đảo nói chung, lừa đảo trên không gian mạng nói riêng vẫn diễn biến phức tạp, với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây bức xúc dư luận. Đặc biệt, trong thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch triệt để khai thác công nghệ thông tin, nhất là Internet, mạng xã hội để bóp méo, xuyên tạc làm sai lệch bản chất các vấn đề, sự kiện nhằm chống phá Việt Nam. 

Các thế lực thù địch chống phá ta trên mọi phương diện, ở mọi lĩnh vực nhưng tư tưởng, văn hóa là lĩnh vực chúng đặc biệt quan tâm. Nhiều chiêu thức tinh vi, thâm độc, nguy hiểm được họ áp dụng. Một trong những chiêu thức ấy là chúng lập ra nhiều website, Fanpage Facebook, Youtube… giả danh cơ quan chức năng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và cán bộ có chức vụ cao ở một số bộ, ngành… hoặc núp dưới danh nghĩa: “Tuổi trẻ yêu nước”; “Bảo vệ nhân quyền”; “Vì biển đảo Việt Nam”; “Chống tham nhũng, tiêu cực”; “Sáng kiến pháp lý Việt Nam”; “Kết nối yêu thương”… để qua đó móc nối, tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những sự kiện, vấn đề nhạy cảm. 

Để tạo dựng lòng tin, trên những website, Fanpage Facebook, Youtube… ấy thỉnh thoảng cũng có những bài viết, những thông tin đúng, nhưng đa phần là xuyên tạc sự thật, kích động chia rẽ nội bộ, gieo rắc sự hoài nghi… Nhưng cái khéo ở những bài viết trên các website này là họ không nói trực diện, hướng dư luận theo kiểu “phải trái phân minh” một cách rõ ràng mà thường lập lờ để dư luận tự phán xét, bày tỏ thái độ, quan điểm. Lối chống phá của chúng cũng rất công phu và kiên trì. Có khi cùng một bài viết, hầu hết thông tin là chính xác, họ chỉ cài vào trong đó một vài thông tin thiên lệch dễ khiến người đọc tin là thật và như vậy đã được chúng xem là thành công. Chúng thực hiện “mưa dầm thấm lâu”, nói một lần chưa tin thì nói nhiều lần ắt phải tin; bài trước lái một chút, bài sau lái một chút… nếu người đọc không tỉnh táo dễ dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. 

Bằng chiêu thức trên ít nhiều các thế lực thù địch đã gây cho chúng ta những khó khăn, phức tạp nhất định trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đáng chú ý đã có một số người, trong đó phần lớn là thanh niên bị kẻ xấu câu móc, mua chuộc thông qua các trang mạng giả mạo dẫn đến lầm đường, lạc lối vi phạm pháp luật. Một số đối tượng bị khởi tố, phạt tù về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” gần đây đã cho thấy rõ điều này.

Vẫn biết rằng, sự thật và lòng tin của nhân dân ta không dễ bị tác động, lung lạc. Chúng ta không phủ nhận công tác điều tra, xử lý số đối tượng phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bóc gỡ những trang website, Fanpage Facebook, Youtube và các trang mạng xã hội giả mạo, xấu, độc khác đã góp phần rất quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Nhưng để phòng, chống những âm mưu, thủ đoạn như đã nêu trên nếu chúng ta chỉ tập trung vào việc điều tra, làm rõ, xử lý, bóc gỡ các trang website, Fanpage Facebook, Youtube… giả mạo và những người lợi dụng các trang mạng ấy để xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta bằng các biện pháp hành chính hay kỹ thuật thì chưa đủ. 

Biện pháp căn cơ, lâu dài vẫn là phải thường xuyên đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, giáo dục giúp cho người dân nắm chắc các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng; nâng cao cảnh giác cho người dân trước những âm mưu, thủ đoạn, chiêu thức tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch, phản động. Người dân cần được trang bị những kiến thức, kinh nghiệm cần thiết khi tham gia mạng xã hội và tiếp cận với các thông tin từ mạng xã hội, đặc biệt là kỹ năng nhận diện các âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá trên mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động. Mỗi chúng ta cần thận trọng tìm hiểu các website, Fanpage Facebook, Youtube và các trang mạng xã hội khác khi truy cập; kiểm chứng kỹ khi tiếp cận với các thông tin đăng tải trên Internet và mạng xã hội… Nhận thức chính trị đúng đắn, thị hiếu lành mạnh, cẩn trọng kỹ lưỡng, tỉnh táo, sáng suốt trên không gian mạng, đó là cơ sở để người dân, nhất là thanh niên sàng lọc, tiếp nhận, xử lý thông tin một cách chuẩn xác để không mắc mưu, “sập bẫy” kẻ xấu; không bị lôi kéo, kích động tự biến mình thành “con rối” trong tay các thế lực thù địch, phản động./.

VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI


"Việt Nam trên đường chúng ta đi

Nghe gió thổi đồng xanh quê ta đó

Nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời

Nghe ấm lòng những khi đang dồn bước

Mà vui sao ta chẳng nói nên lời". 


Mỗi lần nghe bài hát "Đường chúng ta đi" của nhạc sĩ Huy Du, lòng tôi lại xao xuyến lạ thường. Đó cũng là cảm xúc chung của hàng triệu con Lạc cháu Hồng mang trong trái tim mình tình yêu đất nước.


Tôi yêu đất nước tôi, bởi đất nước Việt Nam ở đâu cũng “non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Bao danh lam thắng cảnh đã quyến rũ hàng triệu bước chân du khách năm châu. Từ vịnh Hạ Long đến đảo Phú Quốc, từ cố đô Huế trầm tích đến TP Đà Lạt sương mây huyền ảo, cứ nhắc đến lòng thêm rạo rực, ước mình hóa cánh chim bay khắp mọi miền đất nước.


Tôi yêu đất nước tôi, bởi nước Việt Nam đi lên từ nền văn minh lúa nước thuở hồng hoang. Bởi nước Việt Nam đều chung một dòng máu Lạc Hồng. Hằng năm đi đâu, làm đâu vẫn không quên tìm về nguồn cội, hướng về ngày Giỗ Tổ Vua Hùng - người đã có công dựng nước.


Tôi yêu đất nước tôi, bởi Việt Nam có một nền văn hóa ngàn đời. Tình yêu từ nét hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ - nền văn hóa ấy đã xuyên suốt thời gian, vượt qua không gian. Văn hóa Việt Nam chảy trong lời ru con của mẹ từ thuở nằm nôi. Văn hóa Việt Nam chảy trong ca dao, cổ tích do Nhân dân sáng tạo nên.


Tôi yêu đất nước tôi, bởi tôi yêu Nhân dân tôi. Nhân dân cần cù, thông minh, sáng tạo. Họ là chủ thể cho mọi đề tài của thơ, ca, nhạc, họa… Nhân dân không chỉ tạo ra giá trị lịch sử hùng tráng, mà còn tạo ra những giá trị văn hóa xuyên suốt mọi thời đại.


Dẫu rằng Việt Nam hôm nay đang hội nhập với nhiều nền văn hóa, văn minh hiện đại của thế giới, hòa nhập với cuộc cách mạng chuyển đổi số, nhưng những làn dân ca quan họ, những điệu hát xoan, hát then, hát dân ca ví, giặm, điệu hò Huế, vọng cổ Nam Bộ... vẫn thắm mãi trên môi người. Và tôi hiểu rằng, những đứa con khi xa Tổ quốc, nghe những làn điệu này đều sẽ không khỏi bồi hồi, xao xuyến.


Tôi yêu đất nước tôi, bởi đất nước tôi có “Nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng”. Bằng ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng. Đảng của tôi ơi cảm ơn Người dạy dỗ. Từ đó lòng tôi sướng vui, đau khổ. Và tình yêu, c.ă.m g.i.ậ.n hóa lời ca. Đảng cho tôi màu sắc nước non nhà” (Thơ L.aragon, Tố Hữu dịch).


Tôi hiểu Đảng không phải thiên thần, Đảng không phải thánh nhân mà Đảng là con đẻ của Nhân dân, được Bác Hồ sáng lập, rèn luyện và cùng với Nhân dân làm nên sức mạnh thánh thần. Đất nước trường tồn và phát triển, khi Đảng mình có đôi mắt sáng ngời, nhìn xa trông rộng, có bộ óc thông minh tuyệt đỉnh, có bản lĩnh vững vàng, có lập trường kiên định để chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi bão tố, cuồng phong.


Mùa thu này, đất nước tôi tròn 77 năm tuổi. Trong trái tim người Việt những ngày này đang ngân lên lời Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập. Tất cả như đang tái hiện lại Quảng trường Ba Đình rười rượi nắng thu xanh, trời mây lồng lộng. Mùa thu “Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ”. Mùa thu hàng nghìn người vẫy tay reo lên, lần đầu tiên nhìn thấy vị Cha già và vỡ òa hạnh phúc.


Đã 77 mùa thu, nhưng tiếng của Người vẫn vọng mãi với non sông: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Vâng theo lời Người, cả dân tộc đều đứng lên, với hào khí cha ông “Sông núi nước Nam vua Nam ở. Rành rành định phận ở sách trời. Cớ sao lũ g.i.ặ.c sang x.â.m p.h.ạ.m. Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!” (bản dịch bài thơ “Nam quốc sơn hà” - Lý Thường Kiệt của Trần Trọng Kim)


Giành và giữ tự do, độc lập cho Tổ quốc, suốt bốn ngàn năm binh lửa, chúng ta phải hy sinh nhiều xương máu, bởi một lẽ Tổ quốc còn thì gia đình còn. Chúng ta đã đi suốt dặm dài lịch sử. Chúng ta đã đi qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ để thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Đảng và Nhân dân đời đời ghi nhớ công ơn của những chiến sỹ đã ngã xuống ở chiến trường và những người lính trở về sau cuộc chiến mang trên mình những vết thương. Đảng và Nhân dân đời đời ghi nhớ công ơn của những người mẹ “Ba lần tiễn con đi. Hai lần khóc thầm lặng lẽ”.


Việt Nam trên đường chúng ta đi hôm nay vẫn hiên ngang, hừng hực như anh giải phóng quân năm nào. Từ “đất bom đào đã lên màu cỏ mới”, chúng ta lại đi “qua xóm, qua làng” để một lần nữa ta thấy “Nước non mình đâu cũng đẹp như tranh. Gương mặt người, ai cũng sáng long lanh. Những đôi mắt trong lành vui ấm lạ” (bài thơ Trên đường thiên lý của Tố Hữu), trong không khí rạo rực mỗi vùng quê chung lòng, chung sức xây dựng nông thôn mới. Việt Nam lại bước tiếp trên con đường sáng tuyệt vời. Hàng triệu người lại nắm tay nhau, cất cao tiếng hát “Việt Nam! Ôi Tổ quốc vinh quang”.

Phan Thế Cải

HÒA BÌNH KHÔNG BAO GIỜ ĐẾN DỄ DÀNG

Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc tới trường của các em học sinh miền Bắc trước năm 1975. Những chiếc mũ mà các em đội trên đầu được làm bằng rơm khô đan dày và chặt và thường có nhiều tầng lớp... Những chiếc mũ này có công dụng như những chiếc mũ chống bom, đạn nhưng ở một phiên bản giá rẻ, tự cung tự cấp... Trước năm 1973, những thế hệ cha anh của chúng ta đã từng có những giây phút sống và học tập trong làn đạn như vậy... 

Ngoài sách vở, bút thước, những học sinh thời ấy còn phải mang theo những chiếc mũ rơm như trên, ngoài ra còn là bông băng, thuốc đỏ để có thể tự cứu thương cho nhau khi bị không kích... 

Trong những năm tháng chiến tranh, đã có hàng ngàn em học sinh Việt Nam ở khắp mọi miền Tổ Quốc bị thiệt mạng do bom đạn, khói lửa, sự li tán... Có những ngôi trường bị không kích nát bấy, có những ngôi trường hình thành ở trong hầm hào, có những ngôi trường đổ sập rồi lại được trát vách dựng lên... Bom đạn có thể đánh gục một ngôi trường, nhưng không thể đánh gục tinh thần của thầy và trò ngày ấy.

Tôi nhớ trong một vài tập Doraemon truyện ngắn có mô tả tại cuộc sống của học sinh Nhật Bản trong thời chiến. Trong đó những việc như di tản khẩn cấp khỏi bom đạn không kích của quân đồng minh, tăng gia sản xuất quên ngày quên tháng, rồi di tản thất lạc cả gia đình và bạn bè...  Và lặng người nghĩ rằng, những thế hệ đi trước của chúng ta cũng trải qua những giờ khắc như vậy... 

Sống, học tập và chiến đấu trong những thời khách sinh tử như vậy, mà có biết bao nhiêu anh hùng, những người con ưu tú đã ra đời chiến đấu cho Tổ Quốc... Đúng là "vàng thử lửa", khi đã sống với những khó khăn đủ lâu thì người ta sẽ không còn sợ hãi nữa... 

Ngày nay, không còn những chiếc mũ rơi như vậy nữa, không còn những hầm hào công sự nữa, cũng không còn lo bom đạn rơi xuống từ trên trời, không còn phải nghe tiếng còi hú báo động... 

Từ quá khứ đến hiện tại, đúng là chẳng bao giờ hòa bình đến một cách dễ dàng... 

---

Nguồn: tifosi

ây dựng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên - từ nhận thức đến hành động

 

ây dựng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên - từ nhận thức đến hành động

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Đảng coi đó là nội dung cốt lõi của công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do có nhiều chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”. Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các Nghị quyết của Đảng qua các nhiệm kỳ Đại hội đều khẳng định: “Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên”; “Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”; “đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam”…

Tìm hiểu về: Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá: “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng đảng còn thấp, nhất là việc tổ chức thực hiện nghị quyết và khả năng phát hiện, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo giải quyết những vấn đề phát sinh ở cơ sở”.

Tại kỳ họp Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII diễn ra từ ngày 4 đến ngày 10/5/2022, Trung ương đã dành 1 ngày làm việc để thảo luận Đề án xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên (trong đó có thảo luận tại Tổ và thảo luận tại Hội trường).

Trung ương đã thảo luận và thống nhất cao về sự cần thiết phải tạo cho được sự chuyển biến mạnh mẽ và thực chất hơn nữa trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị ở nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện từ gốc, từ cơ sở; xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên, nhất là bí thư cấp uỷ có đủ năng lực, uy tín lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị; nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên và chất lượng đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Trung ương cũng chỉ ra cần phải nâng cao hơn nữa sự thống nhất về nhận thức và đổi mới, hành động quyết liệt hơn nữa, cụ thể là:

Về nhận thứcphải xác định rõ tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Đội ngũ đảng viên có vai trò trực tiếp và là nhân tố cơ bản quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, đảng viên, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng phải gắn liền với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phải lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ sở và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Quá trình thực hiện phải thường xuyên kết hợp giữa xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh với củng cố, chấn chỉnh cơ sở đảng yếu kém; coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đi đôi với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, vai trò tiên phong, gương mẫu trong sinh hoạt đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng thời, cần tạo môi trường để đảng viên rèn luyện, phấn đấu, nâng cao bản lĩnh chính trị, tính tiên phong, gương mẫu, thực hiện nghiêm các nguyên tắc về sinh hoạt đảng và lời thề của đảng viên khi vào Đảng. Phát huy thật tốt dân chủ trong Đảng và trong xã hội; tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và rèn luyện đảng viên. Coi trọng chất lượng phát triển đảng viên, chú trọng hơn nữa đến việc rèn luyện, bồi dưỡng quần chúng, đối tượng cảm tình đảng, trước khi vào Đảng phải thực sự là những quần chúng ưu tú không chỉ về năng lực công tác mà phải thực sự tiêu biểu về phẩm chất, đạo đức, lối sống, có động cơ trong sáng với phương châm "quý hồ tinh bất quý hồ đa". Thường xuyên rà soát, sàng lọc, kịp thời và kiên quyết đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng.

Về hành độngcần khẩn trương, nghiêm túc xây dựng và tổ chức thực hiện thật tốt các chương trình, kế hoạch hành động liên quan đến việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết lần này của Trung ương đã đề ra, như: Đổi mới, hoàn thiện tổ chức của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; rà soát, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác cho phù hợp với từng loại hình tổ chức cơ sở đảng. Xác định rõ những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt của đảng bộ, chi bộ; bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cấp uỷ viên các cấp...

Để thực hiện thành công mục tiêu, yêu cầu và các nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết đề ra trong quá trình thực hiện, cần hết sức coi trọng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, qua đó kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến; kịp thời củng cố các tổ chức đảng yếu kém; xử lý nghiêm các đảng viên thoái hoá, biến chất, vi phạm pháp luật và kỷ luật đảng, Trung ương giao:  

Đối với Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương và các Ban Đảng, các cơ quan tham mưu, giúp việc ở Trung ương xây dựng hướng dẫn tổ chức thực hiện;

Đối với Các tỉnh, thành uỷ, các đảng bộ trực thuộc Trung ương chủ động cụ thể hoá các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết của Trung ương đã đề ra, sao cho thật sát hợp với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị và đặc điểm của địa phương mình, ngành mình, cơ quan, đơn vị mình;

Đối với từng tổ chức cơ sở đảng phải đề ra và tổ chức thực hiện thật nghiêm, thật tốt những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phù hợp với cơ sở mình;  

Và với từng đảng viên phải xác định rõ bổn phận và trách nhiệm thiêng liêng và cao cả của mình khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng, không ngừng phấn đấu và rèn luyện bản lĩnh chính trị, tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, lối sống; thường xuyên tự phê bình và phê bình, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh. Chỉ có như vậy thì tổ chức đảng và đảng viên mới thật sự trong sạch, vững mạnh, có uy tín với quần chúng nhân dân.

Giao Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội thông qua các hoạt động của mình, phát huy vai trò của đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh./.


Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh có tính cấp thiết hơn bao giờ

 

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh có tính cấp thiết hơn bao giờ

 16/09/2016 |  853

Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ thường xuyên, cốt lõi để Đảng có đủ uy tín, đủ năng lực lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước. Đây là nguyên nhân của thành công.

Hơn 86 năm qua, từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm tròn một cách xuất sắc nhiệm vụ lịch sử mà dân tộc Việt Nam giao phó cho mình: Đảng đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám, lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc hùng mạnh hơn gấp bội. Kỳ tích được cả thế giới nể phục, đưa vị thế Việt Nam lên cao trên trường quốc tế. 

Sau khi giải phóng đất nước, giành độc lập, tự do và thống nhất, bước vào giai đoạn xây dựng, bảo vệ và phát triển, Đảng đứng trước những nhiệm vụ mới, phức tạp, đầy khó khăn, thử thách. Kinh nghiệm hơn 40 năm qua đã chỉ cho chúng ta thấy, giành độc lập dân tộc là rất khó khăn, gian khổ, nhưng xây dựng đất nước thật sự độc lập, nhân dân được thật sự tự do và hạnh phúc còn khó khăn hơn vạn lần. Đặc biệt khi chúng ta đi vào phát triển đất nước trong lúc bối cảnh thế giới hết sức phức tạp, sự cạnh tranh kinh tế quyết liệt... Nếu có đường lối đi đúng sẽ có cơ hội, nếu không thì sẽ tụt hậu, bị đẩy lùi.

Giai đoạn mới đòi hỏi phải có tư duy mới, phải biết nhìn thẳng vào thực tế... mà quyết định đường lối, chính sách.

Đến năm 1986, hơn 10 năm sau ngày đất nước thống nhất, từ những bài học thực tiễn, Đảng ta đã “nhìn thẳng vào sự thật”, đề ra đường lối đổi mới. Đường lối đổi mới của Đại hội VI đã đem lại cho nhân dân ta những thành tựu quan trọng, làm cho cuộc sống có rất nhiều thay đổi. Tuy nhiên, đường lối đổi mới đó chủ yếu ở một số mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, cho nên đổi mới chưa toàn diện, chưa đồng bộ. Đó là nguyên nhân của những yếu kém, chậm phát triển của chúng ta hiện nay.

Đảng lãnh đạo, trước hết bằng đường lối chính trị. Vì vậy, để xây dựng Đảng trước hết phải quan tâm đến xây dựng đường lối chính sách chính trị trong các lĩnh vực. Trong nhiều nghị quyết, Đảng nhấn mạnh phải nâng cao trình độ lý luận, đi sát vào thực tiễn để ngày càng hoàn chỉnh đường lối, chính sách, là hết sức đúng. Thí dụ cần phải làm rõ hơn nữa vấn đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề kinh tế nhà nước là chủ đạo, vai trò sở hữu đất đai, v.v. Có làm rõ những điều trên thì mới có thể “hoàn thiện thể chế” phù hợp với tình hình hội nhập quốc tế. Trước hết phải nhận thức được là chúng ta ở trong thế giới toàn cầu hóa, chi phối bởi chủ nghĩa tư bản và mục tiêu trước mắt chúng ta là phải giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đó là yêu cầu của vận mệnh đất nước và cũng là cơ sở để nhân dân ta phấn đấu đi lên.

Trong xây dựng Đảng, việc xác định đường lối chính trị là quyết định, là vô cùng quan trọng. Nhưng là Đảng cầm quyền nên Đảng cũng phải là người xác định đường lối tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ để thực hiện đường lối của mình đề ra. Điều đó cuối cùng là quan trọng nhất và quyết định sự thành công hay thất bại của Đảng.

Hiện nay, có thể nói chúng ta đang ở giai đoạn có nhiều sự biến đổi, phức tạp cả về chính trị cũng như giá trị đạo đức xã hội, vấn đề tổ chức - cán bộ trong xây dựng Đảng càng phải đặc biệt nhấn mạnh.

Xét trong thực tế tình hình của đất nước, cũng thấy rõ một số thành tựu về kinh tế - xã hội đạt được là nhờ sự cố gắng phấn đấu của những cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhưng những sai lầm, thất bại cũng do một số cán bộ, không phải nhỏ, tiêu cực, trong đó có cả cán bộ cấp cao, đã thiếu trách nhiệm, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy theo tôi có thể nói mọi sự yếu kém, chậm phát triển trước hết là do chủ quan, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước còn nhiều mặt bất cập, thiếu hiệu lực. Đó là nguyên nhân của các nguyên nhân như nhiều cuộc tổng kết đã chỉ ra. Chính vì lý do đó, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng đưa ra, và bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư sau Hội nghị đã được toàn Đảng, toàn dân hưởng ứng rất mạnh mẽ. Nghị quyết đã đặt vấn đề phải chỉnh đốn Đảng, nâng cao sức chiến đấu của cán bộ, đảng viên, loại trừ những cán bộ, đảng viên mất phẩm chất, thoái hóa về tư tưởng, về lối sống, chỉ nghĩ lợi ích cá nhân, không quan tâm lợi ích của nhân dân, của đất nước; phải chống “nhóm lợi ích”, “tư tưởng địa phương cục bộ”, “tư duy nhiệm kỳ” làm suy yếu Đảng, Nhà nước. Nghị quyết nêu việc đặc biệt phải coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chiến lược, chủ chốt, đầu ngành, v.v.

Rất tiếc, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng vẫn còn một số hạn chế, khuyết điểm; so với yêu cầu đề ra và so với mong đợi của cán bộ, đảng viên cũng chưa thật sự đáp ứng như mong muốn và qua một số vụ việc đang xảy ra, càng thấy vấn đề chính sách cán bộ của Đảng còn nhiều điểm phải rà soát và tăng cường.

Hiện nay, Bộ Chính trị và Ban Tổ chức Trung ương đang rất quan tâm vấn đề này. Làm sao tổ chức Đảng, Nhà nước vừa gọn, vừa hiệu lực, các cán bộ, đặc biệt là cán bộ ở cấp chiến lược, chủ chốt, đầu ngành, đầu địa phương là những cán bộ lãnh đạo xứng đáng, không ngừng nâng cao trình độ và bản lĩnh, đồng thời phải loại bỏ những phần tử cơ hội, những cán bộ hư hỏng, làm hại đất nước, làm hại nhân dân? Trước hết phải có chính sách và kế hoạch cụ thể để thu hút nhân tài, mặt khác, phải ngăn chặn không cho những người không xứng đáng vào hàng ngũ của Đảng, vào bộ máy chính quyền, đặc biệt không để những người không xứng đáng vào những vị trí lãnh đạo. Ta phải trả lời câu hỏi rất bức thiết: Tại sao có tệ nạn chạy chức, chạy quyền? Phải chăng nguyên nhân chính là chạy theo lợi ích cá nhân, coi đồng tiền là trên hết. Lấy “tiền” để mua “quyền lực”, rồi từ “quyền lực” lại kiếm ra “tiền”.

Để làm được việc này, trước hết và trên hết, Đảng cần đặt vấn đề tăng cường công tác giáo dục đảng viên về đạo đức cách mạng, luôn luôn đặt lợi ích của đất nước, của nhân dân lên trên hết. Đồng thời về tổ chức, phải ngăn chặn cho được tệ nạn “chạy chức, chạy quyền” và cả “chạy biên chế”. Không cho phép mọi hành vi dùng các hình thức mua chuộc, “ưu ái” vô nguyên tắc như dư luận thường nói “nhất tiền tệ, nhì hậu duệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ”...

Việc đánh giá cán bộ hết sức quan trọng, tiêu chuẩn đức-tài phải rất rõ ràng, cụ thể, phải dựa trên thực tế, từ ý thức trách nhiệm đến kết quả công tác. Học vị, quá trình công tác chỉ để tham khảo, vấn đề đánh giá con người, lựa chọn cán bộ là cả vấn đề khoa học. Không phải anh đã là cấp ủy thì việc gì anh cũng có thể làm được. Cán bộ lãnh đạo phải tương đối toàn diện, cần có trình độ chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, đồng thời phải có trình độ chuyên môn cần thiết. Một nhà khoa học giỏi không có nghĩa là một nhà quản lý giỏi.

Một điểm quan trọng mà bấy lâu nay công tác tổ chức - cán bộ thiếu sót là một khi đã đề bạt một cán bộ thì dù họ không làm được việc hoặc vi phạm nhiều sai lầm, lại không có quy định phải “thay”, mà phải chờ hết nhiệm kỳ. Công việc của đất nước bộn bề, phức tạp nên có trường hợp việc bố trí vị trí việc làm chưa chính xác, không phát huy được tác dụng của cán bộ thì cần có quy định cho phép một cán bộ thấy mình không đảm trách công việc được giao xin từ chức một cách đàng hoàng và chuyển sang làm việc khác phù hợp hơn.

Việc lập quy hoạch cán bộ để chuẩn bị cho lớp kế cận là rất cần thiết. Việc lựa chọn cán bộ cần tiến hành một cách dân chủ, công khai, minh bạch. Có người nói làm như vậy có thể có sự ganh tị, kèn cựa nhau. Nếu có tình hình đó, chứng tỏ sự lựa chọn của tổ chức không chính xác và nếu có những người có hành động kèn cựa, ganh ghét nhau, đó là những cán bộ cần phải loại ra trước hết.

Cũng có ý kiến để lựa chọn cho chính xác nên cho họ trình bày dự kiến của mình nếu được đề bạt, coi như một cuộc sát hạch.

Dư luận nói chung cho rằng chủ trương “thi công chức” hiện nay làm rất hình thức, không có tác dụng chọn lọc cán bộ.

Cần rà soát lại quy trình chọn cán bộ. Đến nay, quy trình trên văn bản đặt ra khá chặt chẽ. Nhưng trong thực tế, một số cán bộ không đủ tiêu chuẩn vẫn qua được tất cả các khâu trong quy trình tổ chức đó. Đến khi có vấn đề thì trách nhiệm không rõ. Một cán bộ, nhất là cấp cao, không tốt lọt vào cơ quan lãnh đạo, thì sẽ làm hại cho công việc chung, làm mất uy tín của Đảng và lòng tin của nhân dân.

Và cuối cùng, nên nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống cơ quan làm công tác tổ chức - cán bộ của Đảng. Cán bộ làm công tác này cần được lựa chọn đặc biệt. Đây là cơ quan tham mưu của Đảng, là người “gác cổng” của Đảng. Vấn đề hết sức quan trọng chính là lựa chọn cán bộ lãnh đạo của Đảng, đặc biệt ở các cấp cao, chủ chốt. Cán bộ làm công tác tổ chức không những cần trình độ chính trị vững, mà phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, trong sạch, công tâm. Ở đây cần chú ý chống tác động của “nhóm lợi ích”.

Nhưng đồng thời cũng đặt trách nhiệm về việc lựa chọn cán bộ, quản lý cán bộ đối với tất cả các đồng chí lãnh đạo Đảng, đặc biệt đồng chí đứng đầu đơn vị, đứng đầu ngành, địa phương. Đó là một nội dung về xây dựng Đảng tối quan trọng để bảo đảm Đảng được trong sạch, vững mạnh.

Nguyễn Thị Bình

Nguyên Phó Chủ tịch nước


Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Một buổi sinh hoạt chi bộ mẫu tại Chi bộ Kiểm tra nội bộ (Đảng bộ Cục Thuế tỉnh Lai Châu).


Tầm quan trọng của sinh hoạt chi bộ

Sinh hoạt chi bộ là hoạt động thường xuyên của chi bộ đảng. Bác Hồ viết: “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hăng hái và gương mẫu”(1). Chất lượng sinh hoạt chi bộ là một trong những yếu tố quan trong quyết định kết quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Sinh hoạt chi bộ là phương cách để phòng bệnh từ sớm, từ xa; chữa trị bệnh khi căn bệnh đó “còn trong trứng nước”. Sinh hoạt chi bộ là trường học để rèn luyện cấp ủy, rèn luyện bí thư cấp ủy và cũng là trường học để rèn luyện đảng viên. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của mỗi cấp ủy viên, đảng viên đều được biểu hiện và được rèn luyện, chỉnh sửa uốn nắn trong chi bộ. Chi bộ là tổ chức cơ sở, là hạt nhân hệ thống chính trị cơ sở, đồng thời cũng là nơi đảng viên sịnh hoạt nhiều nhất. Thông qua sinh hoạt chi bộ để thực hiện nhiệm vụ chính trị, đồng thời bộc lộ tính cách, sở trường, thế mạnh cũng như thiếu sót, khuyết điểm của đảng viên. Từ chi bộ, đảng viên có điều kiện để rèn luyện, phấn đấu, từng bước giữ gìn, nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh, lập trường cách mạng.

Còn nhiều băn khoăn

Sinh hoạt chi bộ là công việc định kỳ hằng tháng. Vì cứ mỗi tháng diễn ra một lần và khi so sánh nội dung sinh hoạt giữa các tháng, dường như gần giống nhau nên xuất hiện tình trạng coi nhẹ sinh hoạt chi bộ. Đánh giá chưa đúng mức tầm quan trọng, cũng như tác dụng của sinh hoạt chi bộ không chỉ xuất hiện ở một số đảng viên bình thường mà còn có thể có ở một số cấp ủy viên và đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo trong hệ thống chính trị, từ đó dẫn đến một số tình trạng: Coi trong công tác chuyên môn hơn sinh hoạt chi bộ, từ đó xếp lịch làm việc “ưu tiên” họp chuyên môn trước, họp chi bộ sau, hoặc “tiện thể” lồng ghép công tác đảng sau khi họp chính quyền. Chi ủy chuẩn bị nội dung không chu đáo, cẩn thận, đến khi họp chi bộ điều hành lúng túng, không rõ trọng tâm, chủ đề buổi sinh hoạt. Đảng viên không được thông tin trước về nội dung cụ thể nên không chuẩn bị ý kiến phát biểu, tham luận. Trong hội nghị chi bộ hoặc là không tham gia ý kiến, hoặc là phát biểu qua loa, chiếu lệ, thậm chí lan man không đúng chủ đề.

Tình trạng họp chi bộ không phát biểu ý kiến, “mũ ni che tai”  đang xảy ra ở mức độ rất đáng lo ngại ở một bộ phận đảng viên, nhất là đảng viên mắc bệnh “cơ hội”, đảng viên trẻ tuổi đời, ít tuổi đảng. Tình trạng không được nói (thời gian họp chi bộ không đủ, lãnh đạo độc đoán, chuyên quyền, hách dịch, thiếu dân chủ), không dám nói (người nói sợ mất lòng cấp trên) thì sinh hoạt chi bộ chỉ là hình thức mà không thực chất. Các “sản phẩm” của cuộc họp đầy đủ nhưng không có chất lượng. Nghị quyết thông qua trong phiên họp thiếu dân chủ, không ai dám nói lên ý kiến quan điểm cá nhân của minh, nhất là ý kiến khác với bí thư chi bộ thì văn kiện đó chỉ là sự “hợp thức hóa” ý chí của thiểu số. Đảng viên không dám nói cũng có nghĩa là không dám đấu tranh phê bình và tự phê bình. Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng ta. Có tự phê bình và phê bình mới tìm ra những căn bệnh đang phá hoại cơ thể của Đảng, bắt đúng bệnh sẽ tìm được đúng thuốc để chữa trị.

Những giải pháp căn bản

Để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xin đề xuất các cấp ủy quan tâm làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của sinh hoạt chi bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Kết luận là cần phải ra sức củng cố các chi bộ, để tất cả các chi bộ trở nên thật sự là hạt nhân lãnh đạo của Đảng ở mọi bộ, mọi ngành, mọi nghề, mọi nơi”(2). Ý thức tốt trong sinh hoạt chi bộ bắt nguồn từ nhận thức về vị trí của chi bộ trong bộ máy tổ chức và cơ chế vận hành của Đảng. Chi bộ là hạt nhân, hạt nhân tốt thì Đảng khỏe mạnh và hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo đất nước. Do đó, cần tuyên truyền, giáo dục cho đội ngũ đảng viên toàn Đảng thấy rõ nghĩa vụ, trách nhiệm trong sinh hoạt chi bộ. Thấy rõ tầm quan trọng của sinh hoạt chi bộ để sẵn sàng tâm thế, chuẩn bị nội dung phát biểu, góp ý thật xác đáng vào các quyết định của chi bộ. Nêu cao tinh thần tự giác và chủ động của cấp uỷ viên cũng như từng đảng viên. Việc nhớ lịch họp, chuẩn bị nội dung phát biểu, cân nhắc để biểu quyết tại hội nghị… là những việc bắt buộc phải nhớ, phải làm trước khi bước vào cuộc họp chi bộ.

Hai là, chuẩn bị tốt nội dung cuộc họp. Trước khi sinh hoạt chi bộ, chi ủy cần họp để chuẩn bị nội dung cho cuộc họp chi bộ, thông qua dự thảo nghị quyết của chi bộ. Phiên họp chi ủy thường chỉ có 3 hoặc 5 chi ủy viên, tất cả có thể “đặt lên bàn”, nói thẳng, nói thật; giải quyết những vướng mắc, những chỗ chưa thống nhất giữa các chi ủy viên. Khi chi ủy đã thống nhất, phát ngôn của chi ủy viên phải tuyệt đối chấp hành ý kiến tập thể chi ủy đã kết luận, không được nói, viết ý kiến cá nhân trái với ý kiến tập thể.

Chủ động thông báo lịch họp và chương trình nghị sự phiên họp. Đối với chi bộ lãnh đạo nhiệm vụ chính trị ở những địa bàn ổn định, đảng viên tập trung, đặc biệt là chi bộ “hưu trí” có thể định kỳ một ngày cố định trong tháng để họp chi bộ. Cố định ngày họp chi bộ để đảng viên chủ động công việc chuyên môn và sinh hoạt gia đình để tham gia đầy đủ, đúng giờ và chuẩn bị nội dung phát biểu chu đáo. Đối với những chi bộ mà đối tượng lãnh đạo là những đơn vị công tác hợp thành bởi nhiều chuyên môn khác nhau, địa bàn trải dài nhiều địa phương, thậm chí ở ngoài nước… thì cần lựa chọn ngày “tối ưu” để đảng số cao nhất, nội dung thảo luận kỹ nhất và quyết nghị chuẩn xác nhất.

Ba là, chú trọng công tác điều hành của người đứng đầu chi bộ, bởi điều hành linh hoạt, giải quyết các phần việc gọn gàng, đúng quy định, khơi gợi được nhiều ý kiến cá nhân, thảo luận kỹ lưỡng, kết luận chuẩn xác và biểu quyết thông qua nghị quyết là những nhân tố quyết định thành công tốt đẹp của một cuộc sinh hoạt chi bộ. Quá trình điều hành sinh hoạt chi bộ cần bảo đảm đúng quy định và hướng dẫn của cấp trên, đúng chương trình nghị sự đã thông báo; đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; các quyết nghị của chi bộ phải đúng trình tự, thủ tục. Người chủ trì cần nắm chắc, vững nguyên tắc, có kiến thức về xây dựng Đảng. Đối với những bí thư chi bộ mới được bầu giữ chức vụ thường chưa có nhiều kinh nghiệm cũng như kiến thức về Đảng nên dễ lúng túng, bị động trong điều hành cuộc họp. Theo đó, cần tích cực học tập, nghiên cứu và rèn luyện trong thực tiễn.

Bốn là,
 phát huy dân chủ, tôn trọng và bảo lưu ý kiến đảng viên và ý kiến thuộc về thiểu số. Nguyên tắc quan trọng nhất trong tổ chức, sinh hoạt đảng là nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong những nội dung chính yếu của nguyên tắc này có nội dung: “trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình, đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên”(3) . Việc phát biểu ý kiến tại cuộc họp chi bộ vừa quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của đảng viên, nghị quyết của phiên họp, cũng như các quyết định của chi bộ sẽ đúng đắn nhất khi chúng ta phát huy được quyền dân chủ của đảng viên. Chất lượng sinh hoạt chi bộ tốt, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, cộng với tình thương yêu đồng chí lẫn nhau là liều “vắc-xin” hiệu quả để phòng và chống nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong Đảng ta hiện nay.

-------------

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG-ST, H, 2011, tập 13, tr.29.

(2). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG-ST, H, 2011, tập 13, tr.30.

(3). Điều lệ Đảng, Nxb CTQG-ST, H, 2020, tr.18.

   

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

Tuyên ngôn độc lập bất hủ và sáng mãi tư tưởng nhân văn của dân tộc Việt Nam

 Tuyên ngôn độc lập bất hủ và sáng mãi tư tưởng nhân văn của dân tộc Việt Nam

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập.

Sự ra đời và nội dung cao cả của bản Tuyên ngôn lịch sử

Lúc đó, mặc dù còn mệt do bệnh chưa khỏi hẳn, nhưng ngay sáng 26-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng. Trong cuộc họp này, ngoài việc bàn những vấn đề trọng yếu của quốc gia, Người cho biết sẽ chuẩn bị để biên soạn bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tại cuộc họp của Ủy ban Dân tộc giải phóng, ngày 27-8, Người được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Liên tiếp trong hai ngày 28 và 29-8, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành phần lớn thời gian để soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập. Ngày 30-8, Người đã mời một số đồng chí ở Trung ương Đảng đến trao đổi, góp ý kiến thêm cho bản dự thảo Tuyên ngôn độc lập. Sau khi đọc bản thảo cho mọi người nghe và hỏi ý kiến, Người nói đại ý: Trong đời, Người đã viết nhiều nhưng đến bây giờ, mới viết được một văn bản cực kỳ quan trọng là bản Tuyên ngôn độc lập cho nước nhà vừa giành độc lập.

Tiếp đó, ngày 31-8, vẫn tại ngôi nhà 48 Hàng Ngang, Hồ Chí Minh đã bổ sung một số điểm vào bản thảo bản Tuyên ngôn độc lập; đồng thời, hỏi Ban Tổ chức về tình hình cụ thể của việc chuẩn bị ngày Lễ Độc lập sẽ diễn ra tại quảng trường Ba Đình vào chiều ngày 2-9-1945, khi nước nhà vừa giành độc lập hơn 1 tuần lễ (Nam Bộ đến 25-8-1945 mới hoàn thành việc giành chính quyền). 

Đúng 13 giờ 30 phút ngày 2-9-1945, đoàn xe chở các thành viên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi đến quảng trường Ba Đình. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị Bộ trưởng vừa bước lên lễ đài thì cả rừng người vỗ tay hoan nghênh kéo dài. Giờ chào cờ đã đến. Đội kèn đồng của Vệ quốc quân vang lên bài Quốc ca “Tiến quân ca” hùng tráng. Tiếp đó, lá cờ đỏ sao vàng được hai chiến sĩ giải phóng quân là Đàm Thị Loan và Lê Thi đã từ từ kéo lên đỉnh cao nhất của cột cờ quảng trường Ba Đình. Lúc này, một nỗi trang nghiêm đang chờ đón những thời khắc đáng nhớ nhất của dân tộc ta qua gần 100 năm kéo dài trong cảnh nô lệ, lầm than.

Và đúng 14 giờ tại Quảng trường (nay gọi là quảng trường Ba Đình) Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ tối cao của dân tộc, đã trịnh trọng đứng trên lễ đài đọc Tuyên ngôn độc lập. Người trong bộ quần áo kaki giản dị, với giọng nói ấm áp, rõ ràng, mang âm hưởng chất giọng xứ Nghệ quê hương Người đã vang lên Quảng trường. Tại bản Tuyên ngôn độc lập, Người đã nêu lên quyền dân tộc cơ bản của các dân tộc trên thế giới, khẳng định quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của nhân dân ta là quyền độc lập, tự do; và đó cũng là quyền con người mà nhân dân ta đã anh dũng đấu tranh, giành lấy từ tay phát-xít Nhật, bởi lẽ không thể có được quyền con người khi quyền độc lập của dân tộc bị chà đạp; nói cách khác, dân tộc có được độc lập thì con người mới được hưởng quyền con người một cách đích thực, hữu hiệu.

Đó là tư tưởng bất hủ của Hồ Chí Minh về sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền dân tộc và quyền con người, khi Người nêu rõ: “Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do mưu cầu hạnh phúc. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập; Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Tư tưởng bất hủ đó là sự kết tinh hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, mà hơn ai hết Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấu hiểu rất rõ và sâu sắc về điều đó.

Ý nghĩa mang tính thời đại to lớn của Tuyên ngôn độc lập

1. Tuyên ngôn độc lập là bản “Thiên cổ hùng văn” kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của cả dân tộc, là bản anh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập tự do cho các dân tộc trên thế giới, trong đó nước ta lần đầu tiên tại Đông Nam Á đã giành được quyền độc lập và quyền tự do.

2. Tuyên ngôn độc lập bất hủ ngay từ những khổ đầu đã lấy tư tưởng cao cả của Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Pháp, tư tưởng “Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do mưu cầu hạnh phúc”. Đó là những ý tưởng cao cả của loài người tiến bộ trong cuộc đấu tranh giành lại sự sống ấm no đi tới tự do. Vận dụng những tư tưởng lớn của loài người từ hai quốc gia Mỹ và Pháp để nhận định những lý tưởng cao đẹp, sáng ngời của ý chí độc lập, tự do mà bất cứ quốc gia nào, dân tộc nào cũng đều có quyền dành cho con người được hưởng tự do và độc lập.    

3. Tuyên ngôn đã chỉ ra một chính quyền cách mạng mới của nhân dân Việt Nam được xây dựng và trưởng thành theo đúng ý nguyện của mọi tầng lớp nhân dân và cả dân tộc. Tuyên ngôn khẳng định ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi và là triết lý nhân sinh vĩnh hằng của dân tộc Việt Nam đang phấn đấu, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

4. Bản Tuyên ngôn là sản phẩm của sự kết hợp các giá trị của truyền thống anh hùng, bất khuất và ý chí kiên cường vì độc lập dân tộc của Việt Nam với sứ mệnh cao cả của giai cấp vô sản được đề cập trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (năm 1848). Tuyên ngôn đã thể hiện rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận hữu cơ của cách mạng thế giới và giai cấp vô sản Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của giai cấp vô sản thế giới có sứ mệnh lịch sử cao cả và vĩ đại là giải phóng dân tộc và nhân loại.

5. Tuyên ngôn độc lập 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và công bố trước toàn thế giới cho thấy trí tuệ sắc sảo và lỗi lạc của Người. Đây là kết quả của một quá trình tư duy khoa học độc đáo và thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đó càng khẳng định rõ ràng và nhất quán một chân lý hết sức giản dị nhưng có tầm khái quát cao là tư tưởng và tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cũng như trí tuệ sắc sảo của Người đã và vẫn mãi mãi soi sáng con đường dân tộc Việt Nam.

   

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 06 THÁNG 9 NĂM 1967!

         “Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta. Bản Cương lĩnh chính trị của Mặt trận là ngọn cờ đại đoàn kết toàn thể nhân dân miền Nam để cùng nhau chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi cuối cùng. Nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ hơn nữa!”.
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư gửi đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng đồng bào, chiến sĩ miền Nam ngày 06 tháng 9 năm 1967, nhân dịp Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công bố bản Cương lĩnh chính trị. Bức thư được đăng trên Báo Nhân dân, số 4903, ra ngày 13 tháng 9 năm 1967.
     Đây là thời điểm quân và dân cả nước đang tích cực đẩy mạnh kháng chiến, từng bước đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ xâm lược. Ở miền Nam, cuộc kháng chiến có bước phát triển mạnh mẽ, giành được nhiều thắng lợi quan trọng, uy tín và vai trò của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng được nâng cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và đánh giá cao vai trò của đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng, đó chính là sức mạnh vô địch để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Lời của Bác là sự động viên, khích lệ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta ở miền Nam, đồng thời là động lực tinh thần to lớn, có tác dụng phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻ thù.
     Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, để Đảng, Nhà nước quán triệt và cụ thể hoá trong lãnh đạo tốt việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là cội nguồn sức mạnh để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế. Những thành tựu bước đầu của hơn 30 năm đổi mới có ý nghĩa quan trọng đặt nền móng và tạo đà cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tiếp tục củng cố và tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo nhằm phát huy những thành tựu trong giai đoạn mới, đưa đất nước ngày càng phát triển, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
     Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, đoàn kết thống nhất là nét đặc sắc trong bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp, trở thành một trong 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, không ngừng được củng cố và phát huy. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, quân đội là công cụ sắc bén để chiến đấu bảo vệ Đảng, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Để tăng cường sức mạnh chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn quán triệt và xây dựng khối đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng. Trên cơ sở đoàn kết thống nhất trong nội bộ, không ngừng tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; tăng cường củng cố mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân; đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.
Môi trường ST.

"CÁCH MẠNG MÀU" TRÊN QUÊ HƯƠNG CỦA "CÁCH MẠNG MÀU"?

         Sự khủng hoảng khí đốt ở châu Âu hôm nay đã gọi tên thêm một quốc gia khác. Hơn 70 ngàn người dân CH Séc đã xuống đường biểu tình, đòi khí đốt thiên nhiên giá rẻ. Họ nêu khẩu hiệu “ Nước Séc là trên hết”. Giá khí đốt rẻ, tức “ trước hết là từ Nga”….
     Có vẻ như dù không thích Nga nhưng người dân của các nước châu Âu phải thừa nhận một điều “dầu và khí đốt của Nga rất đáng yêu".
     Phương Tây là nơi sản sinh chiêu bài "cách mạng sắc màu", "cách mạng đường phố", tức là lợi dụng những bất ổn về kinh tế, xã hội để kích động biểu tình, bạo loạn chính trị dẫn đến lật đổ chế độ chính trị ở quốc gia không phục tùng lợi ích của họ, thì giờ đây có vẻ như đang bị chính gậy ông đập lưng ông. Có vẻ nước Nga đã tính trước từ lâu nước cờ này, họ đã sử dụng chiêu "dĩ độc trị độc". Nếu không điều hoà quyền lợi của dân chúng, cụ thể ở đây là cố theo Mỹ chống Nga, để giá dầu, khí đốt, lương thực thực phẩm, giá cả nhu yếu phẩm tăng chóng mặt...thì "cách mạng màu" trở lại quê hương của nó là điều khó tránh khỏi. Chỉ khác là không có thế lực nào bên ngoài châu Âu, không có tổ chức phi chính phủ núp bóng nào bên ngoài châu Âu hậu thuẫn nó, nó sẽ tự phát sinh từ chính giai cấp cần lao trong lòng mỗi nước EU, có chăng là do liên minh các đảng cánh tả hô hào mà thôi.
     Thế mới thấm cho việc không biết trân trọng độc lập tự chủ, chịu sự lãnh đạo hoặc theo đuôi ngoạ.i bang thì bất ổn là điều không tránh khỏi.
     Xem những hình ảnh dưới đây mình lại nghĩ đến bài hát QUỐC TẾ CA. “Vùng lên hỡi các n.ô l.ệ ở thế gian , vùng lên hỡi ai cực kh.ổ bầ.n hàn….”./.


Môi trường ST.