Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc

(LLCT) - Trên cơ sở kế thừa học thuyết quân sự Mác - Lênin, tinh hoa quân sự thế giới, truyền thống quân sự độc đáo của dân tộc và điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng đúng đắn và cách làm độc đáo, sáng tạo để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam rộng khắp và mạnh mẽ, góp phần to lớn đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn. Những chỉ dẫn của Người tiếp tục soi sáng cho sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc

Quân đội Việt Nam nỗ lực phấn đấu, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại - Ảnh: qdnd.vn

Thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc mà đỉnh cao là Tổng khởi nghĩa Tháng Tám (năm 1945), giành chính quyền về tay nhân dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; mở ra một kỷ nguyên mới - độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Thắng lợi đó là minh chứng xác đáng cho tính khoa học, đúng đắn và sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng về xây dựng lực lượng vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc là một trong những tư tưởng đặc sắc của Người, góp phần to lớn vào sự thành công của cách mạng và trở thành cơ sở, nền tảng cho đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng hiện nay.

1. Xây dựng lực lượng chính trị làm cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng

Ngay từ rất sớm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã khẳng định, các dân tộc bị áp bức muốn được giải phóng, trước hết phải trông cậy vào lực lượng của bản thân mình. Theo Người, lực lượng đó bao gồm hai lực lượng cơ bản là lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang. Trong đó, lực lượng chính trị không những là cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang, là cơ sở cho đấu tranh quân sự, mà còn là lực lượng trực tiếp tiến công đánh địch trên mặt trận chính trị, tư tưởng; đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ; chống địch khủng bố, cướp bóc; bảo vệ cơ sở cách mạng, bảo vệ quân chủ lực; tiến hành công tác địch vận làm tan rã hàng ngũ địch...

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta muốn có một đội võ trang mạnh, trước hết phải có một đội quân tuyên truyền mạnh, đội quân chính trị vững”(1). Người còn nhấn mạnh: “Ở nước ta hiện nay, muốn đánh Pháp, đuổi Nhật thì ai là người vác súng, ai là người tự giác, tự nguyện đứng dậy làm cách mạng. Đó là quảng đại quần chúng. Cho nên phải tuyên truyền vận động quần chúng. Có như vậy, cách mạng mới thắng được”(2).

Theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang thì trước tiên phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân giác ngộ chính trị, tự nguyện, tự giác ủng hộ cách mạng, đi theo cách mạng. Phải xây dựng được cơ sở chính trị vững chắc, phải làm cho nhân dân thấy được mục đích chính nghĩa của cách mạng để mà dốc sức cho cách mạng. Có như vậy, cách mạng mới có lực lượng, có sức mạnh để giành thắng lợi. Đồng thời, từ lực lượng chính trị, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang.

Thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, lãnh tụ  Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng và phát triển lực lượng chính trị làm cơ sở cho việc xây dựng lực lượng vũ trang. Người chú trọng công tác tuyên truyền, giác ngộ, cổ vũ quần chúng nhân dân tham gia cách mạng. Ngay từ năm 1923, trong Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Người đã nêu rõ ý định và quyết tâm của mình: “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(3). Đặc biệt, để quần chúng đến với cách mạng, đi theo cách mạng, Người chú trọng đào tạo, huấn luyện cán bộ làm nòng cốt cho công tác tuyên truyền, vận động quần chúng. Từ năm 1925 -1927, khi hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, Người không chỉ quan tâm lựa chọn, gửi một số thanh niên yêu nước Việt Nam vào học ở Trường Quân sự Hoàng Phố (Quảng Châu, Trung Quốc), mà còn trực tiếp mở các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ làm nguồn cho cách mạng. Sau này khi trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Người cũng đã cử nhiều đoàn cán bộ đi học quân sự ở nước ngoài. Đồng thời, Người cũng chú trọng mở các lớp huấn luyện chính trị và quân sự ở trong nước, rồi đưa họ về các địa phương để xây dựng cơ sở cách mạng(4). Theo Người, đây là những hạt giống tốt, phải làm cho nó nảy nở ra trăm ngàn hạt giống tốt khác.

Thực tế, khi trở về địa phương, các cán bộ cách mạng đã tích cực tuyên truyền, vận động, giác ngộ, tổ chức quần chúng tham gia đấu tranh cách mạng. Từ phong trào đấu tranh của lực lượng chính trị đã từng bước hình thành nên các đội vũ trang đầu tiên của cách mạng như: các Đội Tự vệ đỏ trong Xô viết Nghệ  - Tĩnh, rồi đến Đội du kích Bắc Sơn, các Trung đội Cứu quốc quân... Và sau này là Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Đây chính là lực lượng vũ trang chủ lực, chính quy đầu tiên, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân.

Sự trưởng thành và lớn mạnh của lực lượng vũ trang trong phong trào đấu tranh cách mạng là minh chứng sinh động cho quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng chính trị làm cơ sở vững chắc để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Đúng như Người đã chỉ dẫn: “Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hóa ra quân chính quy”(5).

2. Vũ trang toàn dân để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng

Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc là đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc. Thực hiện mục tiêu đó, theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chỉ có bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân được vũ trang thì mới đánh đổ được sự thống trị bằng bạo lực phản cách mạng của thực dân, đế quốc và tay sai. 

Người chỉ rõ: “Cách mạng vô luận vào thời đại nào, theo về hoàn cảnh nào, muốn cho thành công thì nhất định phải dùng vũ lực, bởi vì thống trị giai cấp nó đè nén mình, nó hà hiếp mình, là nó cậy nó có vũ lực của nó nên bây giờ cách mạng cũng phải có vũ lực của mình”(6). Vì thế, Người luôn quan tâm xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Người cho rằng, vũ trang toàn dân là cách tốt nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất. 

Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc là đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc. Thực hiện mục tiêu đó, theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chỉ có bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân được vũ trang thì mới đánh đổ được sự thống trị bằng bạo lực phản cách mạng của thực dân, đế quốc và tay sai.

Thực tế, ngay từ khi về nước trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã không ngừng hiện thực hóa tư tưởng khởi nghĩa vũ trang và vũ trang toàn dân. Người khẳng định: “Mục tiêu của ta là tiêu diệt bọn đế quốc, bọn phong kiến thống trị chứ không phải là giết một thằng là xong. Hôm nay chúng ta giết thằng này, ngày mai chúng lại đưa thằng khác lên. Chủ trương đúng đắn nhất của những người cách mạng chân chính là biết cách tổ chức quần chúng lại thành một khối thống nhất, vững chắc, đấu tranh tiêu diệt cả chế độ của chúng”(7).

Người nhấn mạnh: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”(8). Cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc, do toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành. Do đó, bên cạnh việc giáo dục, giác ngộ, tổ chức nhân dân tham gia cách mạng, cần phải coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang và vũ trang toàn dân để nhân dân trực tiếp đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Tháng 5-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8, quyết định nhiều vấn đề hệ trọng của cách mạng Việt Nam như: quyết định sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, khẳng định vấn đề giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam; đề ra chủ trương tổ chức Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, chuẩn bị đón thời cơ tiến hành tổng khởi nghĩa.

Trên cơ sở phân tích rõ tình hình cách mạng Việt Nam và quốc tế, Hội nghị đã khẳng định: “Cách mạng Việt Nam phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”(9). Đây là một chủ trương quan trọng, tiếp nối tư tưởng khởi nghĩa vũ trang và vũ trang toàn dân mà Người đã xác định trước đây.

Trên tinh thần đó, trong thư Kính cáo đồng bào (ngày 6-6-1941), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào cả nước: “Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng”(10). Người chỉ rõ, công việc cứu nước là công việc chung của cả dân tộc chứ không phải của một nhóm người, càng không phải của một số ít người. Chỉ có thể tập hợp được cả dân tộc vào khởi nghĩa vũ trang thì mới bảo đảm đưa cách mạng đến thắng lợi. Do đó, toàn thể dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo; từ các tầng lớp công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, trí thức, tiểu thương, đến các vị thân sỹ, phú hào, chức sắc tôn giáo, quan lại, công chức làm việc cho chính quyền thực dân, phong kiến, bất kỳ ai là người Việt Nam có lòng yêu nước thì hãy tham gia vào Mặt trận Việt Minh để cùng gánh vác công việc cứu nước, giành cho được độc lập dân tộc.

Thực hiện quan điểm đó, Mặt trận Việt Minh đã tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm cho lực lượng cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển, từ không đến có, từ yếu thành mạnh. Đây là bước chuẩn bị quan trọng nhất, là tiền đề để xây dựng các lực lượng vũ trang cách mạng sau này, đồng thời bảo đảm cho cách mạng giải phóng dân tộc nhanh chóng đi đến thắng lợi.

3. Xây dựng quân đội chủ lực làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang cách mạng

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cho rằng, muốn tiến hành thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc thì lẽ đương nhiên phải vũ trang cách mạng. Tức là phải vũ trang cho nhân dân để tiến hành cách mạng; phải thành lập các lực lượng vũ trang cách mạng, nhất là xây dựng quân đội chủ lực làm lực lượng nòng cốt. Người khẳng định: “Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”(11).

Người cũng chỉ rõ nhiệm vụ của quân chủ lực là: “dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên”(12), quân chủ lực là “đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác”(13).

Hồ Chí Minh quan tâm việc chuẩn bị mọi điều kiện cho việc thành lập quân đội chủ lực làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang cách mạng. Tháng 10-1941, Người đã chỉ đạo cho xây dựng thí điểm Đội du kích Pác Bó (còn gọi là Đội du kích Cao Bằng). Đội có nhiệm vụ: “Bảo vệ cơ quan và cán bộ đặc biệt; võ trang tuyên truyền cách mạng trong quần chúng; xây dựng nền nếp cho các lực lượng vũ trang sau này; công tác đặc biệt; giao thông liên lạc đặc biệt”(14). Đây là đội quân kiểu mới được thành lập nhằm bảo vệ căn cứ cách mạng, huấn luyện chính trị, quân sự cho các đội tự vệ, du kích ở địa phương, làm liên lạc nối căn cứ của Đảng với miền xuôi. Đồng thời, đây cũng là đội quân nòng cốt cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang của cách mạng sau này.

Thực tế, từ căn cứ địa Cao Bằng, phong trào cách mạng phát triển nhanh chóng ra các tỉnh lân cận như Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên dẫn đến sự hình thành chiến khu Việt Bắc.

Mặc dù phong trào cách mạng đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nơi, nhưng theo Hồ Chí Minh, nếu bây giờ chỉ hoạt động bằng hình thức vận động chính trị thì chưa đủ để đẩy phong trào đi tới, trong khi đó “Lực lượng nòng cốt còn ít và chưa vững vàng. Vũ khí ít ỏi lại không tập trung”(15). Do đó, tháng 12-1944, tại Cao Bằng, Người chỉ thị thành lập đội vũ trang chính quy mang tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Đội có nhiệm vụ hoạt động vũ trang tuyên truyền, kết hợp chính trị với quân sự, nhưng chính trị trọng hơn quân sự.

Trong Chỉ thị thành lập, Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đối với các đội vũ trang địa phương, đó là “đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến”(16). Tuy lực lượng còn mỏng, vũ khí trang bị vừa ít vừa thô sơ, nhưng theo Hồ Chí Minh, tương lai của Đội sẽ rất vẻ vang: “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(17).

Thật vậy, ngay sau khi thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã gây được tiếng vang lớn, nhờ những chiến công xuất sắc khi tiến công hai đồn giặc ở Phay Khắt và Nà Ngần (ngày 25 và ngày 26-12-1944), tiêu diệt, bắt sống toàn bộ sỹ quan, binh lính ở hai đồn này và thu nhiều vũ khí của chúng. Sự xuất hiện bất ngờ của Đội cùng với chiến thắng buổi đầu vang dội đó đã có tác động mạnh mẽ, gây hoang mang cho hàng ngũ địch; đồng thời, tạo dựng niềm tin, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cách mạng của quần chúng, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.

Những tư tưởng đúng đắn, sáng tạo và khoa học cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời trong thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xây dựng cho cách mạng Việt Nam một lực lượng vũ trang rộng khắp và mạnh mẽ, góp phần to lớn vào sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại độc lập dân tộc và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Thành công đó là minh chứng sinh động và đậm nét cho những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Đó cũng là những minh chứng thuyết phục cho giá trị và ý nghĩa sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang mà ngày nay chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào việc xây dựng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Qua hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đạt được những thành tựu rất quan trọng, rất đáng tự hào, nhưng cũng còn không ít khó khăn, thách thức. Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) chỉ rõ: “Các thế lực thù địch chống phá ngày càng quyết liệt. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều thách thức”(18). Đặc biệt, tình hình thế giới và khu vực đang có những thay đổi rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhất là “môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn diễn biến phức tạp”(19). Do đó, để chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, “kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(20), xây dựng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang hiện nay là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(21). Đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, đáp ứng kịp thời yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc vào thực hiện thắng lợi chủ trương trên của Đảng, xây dựng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình hiện nay, cần tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang

Đây là yếu tố hàng đầu quyết định đến chất lượng chính trị và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang; bảo đảm cho lực lượng vũ trang luôn là lực lượng chính trị tin cậy, trung thành; là công cụ bạo lực sắc bén để bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ. Đặc biệt, trước âm mưu thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an của các thế lực thù địch, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang hiện nay là vô cùng quan trọng, không chỉ bảo đảm cho lực lượng vũ trang phát triển đúng hướng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà còn góp phần làm thất bại âm mưu thâm độc của kẻ thù. Điều này được Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân”(22).

Hai là, xây dựng lực lượng vũ trang phát triển toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở

Sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố như số lượng, cơ cấu, tổ chức, biên chế; chính trị tinh thần và kỷ luật; vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự; khoa học và công nghệ quân sự; bản lĩnh, trình độ, năng lực lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ, sĩ quan... Vì vậy, việc xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, có sức mạnh chiến đấu cao, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, đòi hỏi phải quan tâm chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang một cách toàn diện cả về quân sự, chính trị, hậu cần và kỹ thuật. Trong đó, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở để phát huy sức mạnh của các yếu tố khác; bảo đảm cho lực lượng vũ trang luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời có quyết tâm và ý chí chiến đấu cao nhất để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Ba là, phát huy sức mạnh toàn dân trong xây dựng lực lượng vũ trang

Theo Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang cách mạng là lực lượng vũ trang nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Lực lượng vũ trang trưởng thành và lớn mạnh nhờ sự tin yêu, đùm bọc, che chở, giúp đỡ của nhân dân. Do đó, sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang hiện nay cần tiếp tục phát huy sức mạnh của toàn dân, dựa vào nhân dân để xây dựng và phát triển. Phát huy sức mạnh toàn dân trong xây dựng lực lượng vũ trang là phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội... Tự nguyện, tự giác thực hiện tốt đường lối, chính sách quốc phòng toàn dân của Đảng, Nhà nước; tích cực động viên con em tham gia nghĩa vụ quân sự, đóng góp sức người, sức của để giúp đỡ lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ.

Bốn là, chăm lo thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với lực lượng vũ trang

Chế độ, chính sách đối với lực lượng vũ trang thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với lĩnh vực đặc thù; bù đắp phần nào những khó khăn, vất vả, mất mát, hy sinh của họ. Đồng thời, trực tiếp góp phần bảo đảm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và thân nhân của họ; tạo động lực mạnh mẽ để họ yên tâm công tác và cống hiến hết mình cho đơn vị. Vì vậy, việc quan tâm, chăm lo thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với lực lượng vũ trang là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang hiện nay.


                                                                                                            Nguồn: TS PHẠM VĂN MINH

Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

NGUYỄN HỒNG NGUYÊN

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

 Kỷ niệm trọng thể 35 năm UNESCO ra Nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Quang cảnh Lễ kỷ niệm

Quang cảnh Lễ kỷ niệm.

Dự Lễ kỷ niệm có đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Võ Thị Ánh Xuân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước; Nguyễn Dy Niên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cùng đại diện các lãnh đạo, nguyên lãnh đạo bộ, ban, ngành đoàn thể Trung ương cùng điểm cầu từ cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài.

Về phía quốc tế có: Tổng Giám đốc Tổ chức UNESCO Audrey Azoulay cùng đại diện các cơ quan, tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ nêu rõ: Năm 1987, Đại hội đồng UNESCO đã ra Nghị quyết số 24C/18.65 về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghị quyết khẳng định Người “là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội” và “là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nhận xét, vào thời điểm đó, Việt Nam đứng trước vô vàn khó khăn. Việc UNESCO vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là nguồn cổ vũ, động viên tinh thần lớn lao, tiếp thêm sức mạnh để cả dân tộc Việt Nam quyết tâm, chung sức, đồng lòng khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thử thách, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra. Kết quả, sau hơn 35 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh, đối với dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, nhà ngoại giao lỗi lạc, là khởi nguồn cho niềm tin tất thắng của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và phồn vinh của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành những thắng lợi vĩ đại, vẻ vang, tiêu biểu là: Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc; hai cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân, thống nhất đất nước. Tư tưởng của Người cũng chính là nền tảng để Việt Nam bước vào sự nghiệp Đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

Đối với nhân dân thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người bạn thân thiết, mẫu mực, thủy chung; là biểu tượng của khát vọng hòa bình, đấu tranh chống áp bức, bất công; là sứ giả của hòa bình, của đoàn kết, hữu nghị, hợp tác và phát triển giữa các dân tộc trên thế giới. Người không chỉ là “Anh hùng giải phóng dân tộc”, đã truyền cảm hứng, cổ vũ cho các dân tộc bị áp bức, khát khao tự do, đứng lên đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, mà còn là “Nhà văn hóa kiệt xuất”, là hiện thân sinh động về việc coi trọng, gìn giữ, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tôn trọng sự khác biệt, đa dạng và thúc đẩy sự hiểu biết, đoàn kết. Như một số chuyên gia từng nhận xét: Cả diện mạo của Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, có lẽ là một nền văn hóa của tương lai. Hay “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay từ khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó”.

Vì lẽ đó, nhiều năm qua, với tình cảm yêu mến, kính trọng, bạn bè quốc tế đã tổ chức nhiều hoạt động tưởng niệm, nghiên cứu, tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp và tôn vinh những phẩm chất cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên khắp năm châu đều có những trường học, con đường, công viên, bảo tàng, tượng đài mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, những tác phẩm văn học, thơ ca, thước phim tư liệu… về Người đã, đang được chia sẻ, lan tỏa rộng rãi. Các hoạt động trên đã góp phần tăng cường sự kết nối, hiểu biết, đoàn kết, hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.

Nhớ về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nhắc lại câu thơ mà Nhà thơ Tố Hữu đã viết vào đúng ngày 6-9 cách đây 53 năm: “Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”. “Yêu Bác” chính là học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác một cách thực chất, thường xuyên, sáng tạo và khoa học.

Đồng chí Phạm Bình Minh tặng sách Tổng Giám đốc Tổ chức UNESCO Audrey Azoulay

Đồng chí Phạm Bình Minh tặng sách Tổng Giám đốc Tổ chức UNESCO Audrey Azoulay.

Tại Lễ kỷ niệm, bà Audrey Azoulay, Tổng Giám đốc Tổ chức UNESCO cho biết, vào năm 1987, Tổ chức UNESCO mới có 155 thành viên nhưng nay đã là 193 thành viên. Ở thời điểm đó, UNESCO đã xét quyết định vinh danh hai lãnh tụ là Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh tụ Jawaharlal Nehru với những giá trị trường tồn của di sản mà hai danh nhân này để lại cho thế giới.

Theo bà Audrey Azoulay, di sản lớn nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại chính là việc Người đã có tầm nhìn đúng đắn về giáo dục đối với toàn dân. Hiện nay, việc kế thừa và phát triển một cách hiệu quả nhất di sản tốt đẹp này của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sự hợp tác hiệu quả giữa UNESCO và Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị về bản sắc văn hóa dân tộc. Một lần nữa, bà Audrey Azoulay khẳng định cam kết, bằng những thành tựu hợp tác trước đó, UNESCO sẽ tích cực hơn nữa trong hợp tác với Việt Nam thời gian tới.

Nhân dịp này, cuốn sách song ngữ: “Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh” cũng được ra mắt với sự chào đón nồng nhiệt của những người dân yêu mến, kính trọng Người. Cuốn sách đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viết lời tựa, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn viết lời giới thiệu.

Các đại biểu dự Lễ kỷ niệm đã dành thời gian tham quan triển lãm ảnh và sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh; tham quan Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch.

* Chiều cùng ngày, Hội thảo quốc tế: “Di sản Hồ Chí Minh đối với nhân loại” đã được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến với hai phiên: Di sản Hồ Chí Minh đối với nhân loại; Các hoạt động lan tỏa di sản Hồ Chí Minh. Chủ trì Hội thảo có các đồng chí Nguyễn Dy Niên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Lê Hải Bình, Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Phương Nga, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam; Đỗ Hùng Việt, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Tại Hội thảo, các đại biểu đã thảo luận sôi nổi về sự nghiệp cách mạng và tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam nói riêng, với thế giới nói chung. Các đại biểu đều nhất trí cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, ấm no, hạnh phúc của nhân dân và để lại những giá trị tiêu biểu, cao quý cho nhân loại. Người là kết tinh cho trí tuệ, đạo đức, phẩm giá, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại, rạng ngời cốt cách của một vĩ nhân, có sức lan tỏa và tầm ảnh hưởng vượt không gian, thời gian. Trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống và sau hơn 50 năm kể từ khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn được nhân loại tiến bộ không ngừng tôn vinh và ngợi ca. Đến nay, ở 22 quốc gia trên thế giới đã có 36 tượng, tượng đài Hồ Chí Minh; 6 bia tưởng niệm, 14 khu tưởng niệm, 5 trường học, 6 đại lộ, 7 con đường trên thế giới mang tên Hồ Chí Minh. Ở Việt Nam, có khoảng 700 di tích và địa điểm lưu niệm Hồ Chí Minh, phân bố ở hơn 30 tỉnh, thành phố trên cả nước. Hàng ngàn nghiên cứu viết về Người. Tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh được ghi trong nhiều bộ bách khoa toàn thư, từ điển danh nhân lỗi lạc trên thế giới…

Các chuyên gia, nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước đểu khẳng định, di sản của Hồ Chí Minh đối với nhân loại luôn có giá trị trường tồn. Thế hệ ngày nay cần ghi nhớ, học tập và lan tỏa những giá trị cao quý này cho thế hệ mai sau. 

                                                                                                    Nguồn: Ngô Khiêm

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

Sự phát triển lý luận phương thức bảo vệ Tổ quốc trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Lý luận phương thức bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) là nội dung quan trọng trong hệ thống lý luận về BVTQ Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Đảng. Từ khi có Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX đến trước khi có Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã xác lập đa dạng những vấn đề cụ thể về phương thức BVTQ. Đến Đại hội XIII, Đảng đã bổ sung, phát triển thêm một số vấn đề mới về phương thức BVTQ, góp phần hoàn thiện thêm lý luận và chỉ đạo nhiệm vụ BVTQ trong thời kỳ mới.

Phương thức BVTQ là tổng thế các hình thức, phương pháp, biện pháp được áp dụng trên mọi lĩnh vực của quốc gia mà các chủ thể lãnh đạo, quản lý và tham gia sử dụng vào sự nghiệp quốc phòng để đạt được mục tiêu BVTQ. Đó là tổng thể những vấn đề: Kết hợp xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng đất nước mạnh lên làm phương thức bảo vệ hữu hiệu nhất; sử dụng các hình thức và biện pháp đấu tranh vũ trang để đánh bại các hành động vũ trang xâm lược; áp dụng các hình thức, biện pháp đấu tranh phi vũ trang để đánh bại các thủ đoạn tiến công phi vũ trang; kết hợp đấu tranh phi vũ trang và vũ trang, tạo sức mạnh tổng hợp đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; thực hành “tự bảo vệ”, nhất là bảo vệ từ bên trong để đánh bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”; khai thác và phát huy vai trò của đối ngoại vào BVTQ.

Từ khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và BVTQ XHCN. Trong thời kỳ tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã áp dụng tổng thể, có hiệu quả các phương thức BVTQ, đem lại những thành tựu quốc phòng quan trọng, góp phần vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Những thành tựu quan trọng đó, cùng với sự không ngừng sáng tạo bổ sung, phát triển lý luận BVTQ và những yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp BVTQ trước sự vận động phức tạp, khó lường, khó dự báo của tình hình thế giới đã trở thành cơ sở, tiền đề cho Đảng ta, nhất là Đại hội XIII của Đảng phát triển, làm sâu sắc thêm lý luận về phương thức BVTQ, góp phần chỉ đạo tiến hành sự nghiệp quốc phòng, công cuộc giữ nước trong thời kỳ mới. Sự phát triển lý luận phương thức BVTQ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng được thể hiện trên những vấn đề chủ yếu sau:

Một là, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại.

Đây là sự kế thừa, bổ sung, phát triển mới, nhằm tiến tới đồng bộ hóa, dần hoàn thiện lý luận phương thức BVTQ của Đảng, được ghi nhận, xác lập trong Văn kiện Đại hội XIII. Nếu như trước đây, Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX mới chỉ xác định “Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”; Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI đã bổ sung và làm rõ thêm bốn lĩnh vực cần phải kết hợp chặt chẽ với nhau là “kinh tế”, “xã hội”, “quốc phòng”, “an ninh”; và được Đại hội XII khẳng định lại vấn đề này,… thì đến Đại hội XIII, Văn kiện không chỉ bổ sung thêm hai lĩnh vực cần phải kết hợp là “văn hóa” và “đối ngoại”, mà còn kết cấu lại các lĩnh vực phải kết hợp theo một trật tự thống nhất, lần lượt là kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại… nhằm tạo nên sự thống nhất về nhận thức; đồng thời, quán triệt và cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo BVTQ đã được Đại hội XIII xác lập là: “gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” .

Cũng với sự bổ sung và kết cấu lại các lĩnh vực phải kết hợp trên đây để BVTQ, đó còn sự bổ sung về mục tiêu, yêu cầu đạt được của sự kết hợp. Nếu như trước đây các văn kiện, nghị quyết của Đảng đòi hỏi sự “kết hợp chặt chẽ” và “kết hợp tốt” một cách chung chung, thì nay Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đòi hỏi phải đạt được đến độ là “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả”, nhằm không chỉ thực hiện quan điểm về mục tiêu “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước”, mà còn đáp ứng đòi hỏi phát triển nhanh và bền vững của từng lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh của đất nước trong thời kỳ phát triển mới đến năm 2025, 2030 và giữa thế kỷ XXI.

Sự kế thừa, bổ sung, phát triển vấn đề kết hợp giữa các lĩnh vực cụ thể trong BVTQ của Văn kiện Đại hội XIII đã làm cho lý luận về phương thức BVTQ không ngừng hoàn thiện; tính chất phức hợp của sự gắn kết đồng thời giữa các lĩnh vực đòi hỏi được tăng lên, cùng tính trọng tâm, trọng điểm xác định đối với từng lĩnh vực trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ ngày càng được thể hiện rõ hơn. Nhờ sự bổ sung, phát triển này mà quán triệt, cụ thể hóa việc nắm vững và xử lý tốt một trong 10 mối quan hệ lớn mà Đại hội XIII đã xác định là “giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” đối với mọi lĩnh vực, chủ thể quốc gia trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.

Hai là, có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế.

Đây là sự kế thừa, bổ sung, phát triển mới một cách trực tiếp đối với một những vấn đề thuộc lý luận về phương thức BVTQ của Đảng đã được xác lập từ Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX đến nay, với tính mới là sự tổng hợp và đúc kết lý luận về phương thức BVTQ được xác định trong Văn kiện Đại hội XIII.

Phương thức chủ động giữ nước được Đảng liên tục quán triệt, bổ sung, phát triển trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đến đầu thế kỷ XXI, trước bối cảnh quốc tế và đất nước nổi lên những nguy cơ đặc biệt nguy hại cho sự nghiệp cách mạng, nhất là đối với nhiệm vụ BVTQ, Đảng đã xác lập nên quan điểm có tính chất xác định rõ hơn một trong những hình thức, phương pháp, biện pháp BVTQ là “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, nhằm quán triệt, phát huy truyền thống “Dựng nước đi đôi với giữ nước”, “Giữ nước từ khi nước chưa nguy” của cha ông ta trong thời kỳ mới. Vấn đề này được thể hiện sơ lược trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX; được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, đồng thời được Đại hội XII khẳng định lại và xác lập: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”. Đến Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định lại vấn đề này. Tuy nhiên, tính mới và đặc sắc nhất của lý luận về phương thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” ở Văn kiện Đại hội XIII là không còn chỉ thể hiện ở việc xác nhận lại, ghi lại ở riêng phần quốc phòng, an ninh nữa. Nghĩa là không còn xác lập và coi “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” chỉ thuộc về phần quốc phòng, an ninh và chỉ riêng thuộc về trách nhiệm của quốc phòng, an ninh nữa. Trái lại, nó đã được xác lập ở hầu khắp các phần khác, lĩnh vực khác và quy định các lĩnh vực khác cũng phải thực hành phương thức này. Cụ thể:

Trong “Định hướng các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025”, Văn kiện Đại hội XIII xác định: “Chủ động chuẩn bị các phương án để kịp thời thích ứng với những biến động của tình hình”. Trong 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, đã có ba định hướng xác định phương châm chủ động giữ nước như: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh”; “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”; “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả”. Trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, Văn kiện Đại hội XIII xác định “Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế”. Trên lĩnh vực văn hóa, Văn kiện còn xác định: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa”. Trên lĩnh vực y tế, đó còn là: “Nâng cao năng lực, chủ động phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới toàn diện hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng”. Với lĩnh vực quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường, biến đổi khí hậu, Văn kiện yêu cầu: “Chủ động, tích cực hợp tác quốc tế trong việc chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu, quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên, bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời giảm thiểu các tác động bất lợi từ quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”… Như vậy, ngay từ mục tiêu đến những định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và phương hướng, nhiệm vụ phát triển các ngành, lĩnh vực trong thời kỳ mới, Văn kiện Đại hội XIII đã quy định trách nhiệm cùng phải thực hiện phương thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” của các ngành, lĩnh vực khác.

Đặc biệt, phương châm BVTQ từ sớm, từ xa được Văn kiện Đại hội XIII cụ thể hóa bổ sung và phát triển thêm nội dung trên bốn lĩnh vực trọng yếu sau: Với quốc phòng, an ninh, đó là: “Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính, ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống”; “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ”; “Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”. Với đối ngoại, đó là: “Xây dựng nền ngoại giao hiện đại, trong đó chú trọng đẩy mạnh ngoại giao quốc phòng, an ninh để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”; “giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”. Với xây dựng Đảng, đó là: “Tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên”; “Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp để kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng”.

Rõ ràng, sự phát triển mới của phương thức BVTQ từ sớm, từ xa không còn được xác lập riêng cho lĩnh vực quốc phòng, an ninh nữa, mà đã xác lập ở hầu khắp mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, sự chủ động giữ nước đó còn phải khuôn theo nguyên tắc “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”, nghĩa là không phải sự chủ động chỉ xuất phát từ mỗi lĩnh vực theo ý muốn riêng của ngành, lĩnh vực mình, mà phải tiến hành bằng “biện pháp hòa bình” và “phù hợp” với luật pháp quốc tế… Đây chính là sự phát triển mới về lý luận, vừa mang tính khẳng định lại, vừa bổ sung và tổng hợp một cách khái quát, hệ thống nhất về phương thức BVTQ, đã được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII.

Sự bổ sung, phát triển lý luận phương thức BVTQ trong Văn kiện Đại hội XIII không chỉ trực tiếp góp phần bổ sung, ngày càng hoàn thiện thêm lý luận BVTQ Việt Nam XHCN của Đảng trong thời kỳ mới, mà còn góp phần vào thành công, cũng như khẳng định vị trí, tầm quan trọng của Đại hội XIII trong lịch sử phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giá trị thực tiễn của sự bổ sung, phát triển mới lý luận phương thức BVTQ đã và đang góp phần định hướng, chỉ đạo, quán triệt và tổ chức thực hiện nhiệm vụ BVTQ trong thời kỳ phát triển nhanh và bền vững của đất nước hiện nay. Nó trực tiếp giúp cho các ngành, lĩnh vực, đặc biệt là các chủ thể của các ngành, lĩnh vực này có nhận thức, thái độ và hành động đúng đắn đối với nhiệm vụ BVTQ đang diễn ra trong bối cảnh đất nước và quốc tế có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, khó dự báo hiện nay. Sự bổ sung, phát triển lý luận về phương thức BVTQ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn là một bước chuẩn bị hết sức quan trọng về lý luận và thực tiễn giúp cho Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Nhà nước ta thực hiện Đề án tổng kết Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 07 THÁNG 9 NĂM 1957!

     “Muốn cải tạo xã hội mà đảng viên không tự cải tạo mình, không tự nâng cao mình thì không thể được”.
     Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc”, ngày 07/9/1957.
     Thời điểm cách mạng nước ta đang bước vào thời kỳ mới sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Lúc này, miền Bắc đang trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, thực hiện cải tạo XHCN. Tình hình đó đặt ra phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên có trình độ và năng lực, đáp ứng được yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nhắc nhở đối với người đảng viên phải luôn cố gắng vươn lên, không ngừng tự hoàn thiện bản thân, tự nâng cao trình độ của mình. Đây cũng là yêu cầu của Bác, trước khi muốn cải tạo xã hội, tự thân người đảng viên phải tự cải tạo mình, tự học, tự rèn để không ngừng tiến bộ. Lời Bác dạy có tác dụng to lớn trong việc nâng cao nhận thức của người đảng viên, trước hết đối với việc xác định động cơ, thái độ phấn đấu đúng đắn, thường xuyên, liên tục, để không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực. Đồng thời, câu nói có ý nghĩa là phương châm hành động, mục tiêu phấn đấu cho mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.
     Ngày nay, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn, là sự định hướng cho quá trình học tập, tu dưỡng của mỗi cán bộ, đảng viên. Là người lãnh đạo, đảng viên phải là lực lượng xung kích, đi đầu, phải nêu gương về mọi mặt trong thực hiện nhiệm vụ. Muốn vậy, đảng viên cần không ngừng cải tạo mình, tự học, tự rèn để nâng cao trình độ, khắc phục những hạn chế, yếu kém để hoàn thiện bản thân. Điều kiện hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên chịu tác động nhiều chiều của đời sống xã hội, trong đó có những tác động tiêu cực, đòi hỏi người đảng viên phải nâng cao bản lĩnh, trình độ, để không bị chi phối bởi các yếu tố tiêu cực.
     Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải thực sự là một tấm gương tốt cho bộ đội học tập, noi theo, mẫu mực về phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn; thường xuyên có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện mình. Quá trình thực hiện nhiệm vụ phải luôn đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi cao, do vậy phải có động cơ, thái độ đúng đắn, rõ ràng. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức được ý nghĩa của việc “tự cải tạo”, “tự nâng cao”, coi đó là một nhu cầu tự thân. Không tự ti, giấu dốt, luôn có thái độ cầu tiến bộ, xóa bỏ tư tưởng chủ nghĩa cá nhân, vì tập thể, đặt lợi ích của tập thể lên trên, lên trước. Có như vậy, mỗi cán bộ, đảng viên mới thực sự mẫu mực về phẩm chất và năng lực, là tấm gương có sức lan tỏa rộng rãi, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị./.
Môi trường ST.

Chăm lo xây dựng lực lượng dự bị động viên

 

Thao trường của Trung đoàn Minh Đạm (Bộ CHQS tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) nắng nóng, oi bức, nhưng các sĩ quan dự bị Đại đội Cối 82 (Tiểu đoàn Sông Dinh, Ban CHQS TP Bà Rịa) vẫn hăng say luyện tập các tư thế vận động trên chiến trường.

Tiếp thêm động lực phấn đấu

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác thi đua, khen thưởng, Người từng dạy: “Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ”. Quán triệt sâu sắc lời huấn thị của Người, Trung đoàn 152 (Quân khu 9) và Trung đoàn 659 (Cục Hậu cần Quân khu 9) luôn chú trọng xây dựng động cơ phấn đấu cho từng cán bộ, chiến sĩ qua các phong trào thi đua.

Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn

 

Mới đây, khi ghé thăm một bạn đồng ngũ (cùng nhập ngũ ngày 21-8-1970 vào Tiểu đoàn 38, Bộ tư lệnh Thủ đô) là anh Nguyễn Quang Phấn ở quận Thanh Xuân (Hà Nội), tôi được anh tặng bản "Di chúc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh (diễn đạt bằng thơ) do anh chuyển thể thành bài thơ gồm 80 câu thơ (560 từ) theo thể thơ bảy chữ. Nhận được món quà tinh thần rất có ý nghĩa từ người bạn cựu chiến binh, tôi dành thời gian đọc bài thơ rồi đối chiếu với "Di chúc" của Bác và bị cuốn hút từ đầu đến cuối bài thơ.

Doanh trại khang trang, cốt cách, tâm hồn đẹp

 

Đến Trung đoàn Vận tải 654 (Cục Hậu cần, Quân khu 4), chúng tôi ấn tượng ngay từ khi bước chân vào cổng đơn vị chính là cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp của đơn vị. Hệ thống doanh trại khang trang với thảm cỏ xanh mướt, bồn hoa, cây cảnh được chăm sóc, cắt tỉa đẹp mắt. Đi sâu vào bên trong đơn vị, các pa nô, khẩu hiệu được bố trí trang trọng.

Thiết thực chăm lo đối tượng chính sách

 

Tỉnh Vĩnh Long có hơn 70.000 đối tượng chính sách, trong đó có hơn 16.300 liệt sĩ, 4.500 thương binh, 2.850 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Thời gian qua, cùng với các ban, ngành, đoàn thể, Bộ CHQS tỉnh Vĩnh Long đã thực hiện nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa, thể hiện trách nhiệm, khơi dậy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” trong lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh.