Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

Tăng cường xây dựng Đảng, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

 


 

          Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất coi trọng công tác xây dựng Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Nội dung xây dựng Đảng bao gồm xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, phương thức lãnh đạo và phong cách công tác. Mục đích nhằm xây dựng Đảng trong sạch ,vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; đẩy mạnh nghiên cứu lý luận về Đảng cầm quyền, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình mới; phòng và chống những nguy cơ lớn đối với một Đảng cầm quyền: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu, mất dân chủ và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên. Đảng khẳng định phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định nguyên tắc tập  trung dân chủ, kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ hoặc chủ quan, nóng vội, cực đoan. Đảng tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn đổi mới; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, khắc phực suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; đấu tranh chống âm mưu  và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Tổ chức việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Đảng và nhân dân.

        Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm từng tổ chức, sáp nhập một số ban, bộ, ngành Trung ương để giảm bớt đầu mối, thực hiện cải cách hành chính trong Đảng, phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Chú trọng kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên, tăng cường công tác quản lý, phát triển đảng viên. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ đồng bộ các khâu của công tác cán bộ. Đổi mới và tăng cường công tác dân vận. Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

          Việt Nam đã đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công; phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã ban hành Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 và một loạt các bộ luật, luật và pháp lệnh theo hướng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đề cao vai trò tối cao của Hiến pháp, pháp luật trong đời sống xã hội. Trên cơ sở đó tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, các cơ quan tư pháp và chính quyền địa phương các cấp.

          Ở Việt Nam việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, là động lực của sự ngiệp đổi mới. Dân chủ  gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và được thể chế hóa bằng pháp luật,  được pháp luật bảo đảm.

BẢO ĐẢM AN NINH TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ HOẠI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Trong thời kỳ chiến tranh, thực dân đế quốc tìm cách lợi dụng tuyên truyền tôn giáo vào các vùng dân cư của ta để ''ru ngủ'' quần chúng cũng như phá hoại khối đoàn kết dân tộc. Hiện nay, chiêu bài này tiếp tục được sử dụng với nhiều hình thức tinh vi để phá hoại sự ổn định của xã hội.

Trong mối quan hệ với an ninh quốc gia, tôn giáo giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Để giải quyết tốt các vấn đề liên quan, Đảng, Nhà nước ta đã quy định rõ vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng trong Hiến pháp và các luật liên quan. Đồng thời, xác định rõ giữa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo với các hành vi lợi dụng, vi phạm pháp luật.

Để ngăn chặn hoạt động lợi dụng chống phá, chúng ta phải quan tâm đến đời sống của bà con, nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Đặc biệt, phải tập trung phát hiện các đối tượng lợi dụng tôn giáo để chống đối, nhanh chóng thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng để đưa ra xử lý trước pháp luật. Mặt khác, tiếp tục củng cố mối quan hệ với các tổ chức tôn giáo trên thế giới, vì sự phát triển lành mạnh, hài hoà giữa đời sống tôn giáo và các lợi ích quốc gia, công cộng.

                                                                                      PQ

Tăng cường mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế hiện nay

 


 

       Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới; phát huy được nội lực, tranh thủ ngoại lực, tiếp thu những thành tựu về khoa học- công nghệ, về kinh tế trí thức, kinh nghiệm quốc tế, văn minh của nhân loại để phát triển, hiện đại hóa lực lượng sản xuất, xây dựng đất nước, trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia các quan hệ song phương và tổ chức đa phương như ASEAN, APEC, ASEM, WTO…, thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài (FDI,ODA), xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng lên.

THỦ ĐOẠN TUYÊN TRUYỀN, XUYÊN TẠC CÁC VẤN ĐỀ SAI LỆCH VỀ TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC TA CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

 

Trong hàng ngũ chức sắc tôn giáo ở Việt Nam, bên cạnh đa số đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước thì có những cá nhân “nuôi” cái nhìn sai lệch về chế độ, thậm chí mang trong mình tư tưởng thù địch, chống đối với chính quyền.

Thông qua các buổi rao giảng giáo lý, giáo luật, các đối tượng núp dưới vỏ bọc tôn giáo, lồng ghép các tư tưởng, thông tin sai lệch, xuyên tạc vấn đề, kích động các tín đồ chống đối với chính quyền, chia rẽ mối đoàn kết dân tộc. Lướt qua các trang truyền thông, không khó để bắt gặp các video giảng đạo có nội dung đi ngược chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đi ngược giáo lý, giáo luật.

Tôn giáo là hệ thống niềm tin của con người. Nó tác động đến nhận thức, suy nghĩ, cách nhìn nhận của con người. Chính vì vậy, việc lợi dụng tôn giáo để chống phá vô cùng nguy hiểm. Từ việc nhận thức sai lầm, sẽ có những hành động sai lệch, xâm hại đến tình hình an ninh, trật tự cũng như lợi ích của xã hội.

                                                                                      PQ

Phát triển văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


 

Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng chính sách và từng bước phát triển. Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực, là nguồn lực nội sinh của phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa thế giới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, làm phong phú hơn đời sống văn hóa, con người Việt Nam. Phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ, coi phát triển giáo dục, đào tạo cùng với  khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu. Phát triển khoa học công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; nâng tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFT) vào tăng trưởng.

      Quan tâm thực hiện các chính sác xã hội vì hạnh phúc của con người, coi đây là thể hiện tính ưu việt, bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và cũng là khắc phục mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường; nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên xã hội về ăn, ở, đi lại, lao động, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất. Mỗi năm chúng ta tạo bình quân 1,5 đến 1,6 triệu việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,5-2%/ năm. Giảm nghèo của Việt Nam được Liên Hiệp quốc công nhận và đánh giá cao.

       Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, hệ thống cơ sở y tế được hình thành rộng khắp trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân tăng nhanh; hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp…

Liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan

 


Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lịch sử đặc biệt do chính trị đã chuyển trọng tâm sang chính trị trong lĩnh vực kinh tế. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ kinh tê trở thành nhiệm vụ trọng tâm đê xây dựng nền tảng vật chất - kỳ thuật cho chủ nghĩa xã hội, do vậy liên minh giữa các giai cấp tầng lớp trong xã hội là một vấn đề khách quan đặt ra. Khẳng định điều này, trong thư Gửi Đại hội quốc tế các sinh viên xã hội chủ nghĩa, Ph.Ăngghen đã từng viết: “Các cuộc cách mạng tư sản trước đây đòi hỏi các trường đại học chỉ đào tạo ra các trạng sư làm nguyên liệu tốt nhất để hình thành nên những nhà hoạt đọng chính trị của chúng; ngoài đòi hỏi đó, sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân còn cần phải có những bác sĩ, kỹ sư, nhà hóa học, nông học và các chuyên gia khác, vì vấn đề là phải nắm việc quản lý không phải chỉ bộ máy chính trị, mà còn cả toàn bộ nền sản xuất xã hội nữa, và ở đây cần đến những kiến thức vững chắc…”. Khi chỉ ra tính đặc biệt của kết cấu kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ lên chù nghĩa xã hội, V.I.Lênin chi rõ: thời kỳ này cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế khác nhau, tương ứng với cơ cấu kinh tế ấy là cơ cấu xã hội - giai cấp cùng với nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau.

Xét dưới góc độ kinh tế - kỳ thuật và phân công lao động, xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình sản xuất, trong xã hội tất yếu hình thành các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau: công nghiệp, nông nghiệp, khoa học và công nghệ, dịch vụ,... Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đặt ra yêu cầu khách quan phải gắn kết chặt chẽ các lĩnh vực này với nhau để hình thành nền kinh tế quốc dân thống nhất, hiệu quả cao nhằm tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết cho chủ nghĩa xã hội. Muốn vậy, lĩnh vực khoa học và công nghệ tất yếu đóng một vai trò rất quan trọng. Khăng định điêu này, V.I Lênin chỉ rõ: “Trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai câp vô sản và giới kỹ thuật, không một thế lực đen tối nào đứng vững được”.

Vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thời kỳ quá độ hiện nay, tất cả các nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội đều có nền nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học – công nghệ đã phát triển ở trình độ cao, tất yếu phải coi trọng phát triển nông nghiệp ứng dụng những thành tựu cùa khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ thông minh, hoạt động hiệu quả và xây dựng nền nông nghiệp sạch, phát triển bền vững. Muốn vậy, nông nghiệp phải được phát triển trong sự gắn bó khăng khít và hồ trợ đắc lực của công nghiệp, khoa học - công nghệ và dịch vụ. Đấn lượt mình, khoa học - công nghệ và dịch vụ cũng chi phát triển được khi hướng tới phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Vì vậy, nông nghiệp, công nghiệp, khoa học và công nghệ, dịch vụ,... phải liên kết chặt chẽ với nhau không thể tách rời để tạo thành nền cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, phát triển nhanh và bền vững. Theo đó, các chủ thể của các lĩnh vực là công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân... tất yếu phải liên minh, liên kết với nhau để cùng thực hiện những nhu cầu và lợi ích kinh tế chung của mỗi chủ thể.

Xét dưới góc độ chính trị - xã hội, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, liên minh giai cấp, tầng lớp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp để cải tạo xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nói cách khác, thực hiện khối liên minh này - trong đó giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức là lực lượng nòng cốt nhất, cơ bản nhất của khối liên minh – nhằm tập hợp các lực lượng trong xã hội để tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức không chi là ba lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, mà họ còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và trong đời sống chính trị. Do vậy, xây dựng khối liên minh nhằm tạo thành nền tàng cùa chế độ chính trị - xã hội, trên cơ sờ đó, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, liên kết, hợp tác rộng rãi với các tầng lớp khác trong xã hội để tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng khối liên minh này phải được tổ chức dưới sự lãnh đạo cùa Đảng cộng sản của giai câp công nhân nhằm đàm bào giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và giải quyết hài hòa lợi ích của các chủ thể trong khối liên minh. Do vậy, theo V.I. Lênin, liên minh là vấn đề mang tính nguyên tắc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. “Nguyên tắc cao nhất của chuyên chính là duy trì khối liên minh giữa giai cấp vô sản và nông dân để giai câp vô sản có thể giữ được vai trò lãnh đạo và chính quyền nhà nước”.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng tất yếu còn những giai cấp, tần lớp hoặc lao động và bóc lột, tiên tiến và lạc hậu… Các giai cấp bóc lột đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn, vẫn thường xuyên tìm cách giành lại địa vị thống trị của mình đã mất; những con người của xã hội cũ còn lại không chịu cải tạo để hòa mình với xã hội mới... Cho nên, đấu tranh giai cấp vẫn còn, thậm chí có lúc ác liệt. Vì vậy, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải liên minh chặt chẽ trong đấu tranh với những cái cũ và phát triển những cái mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thời kỳ quá độ là nhừng năm tháng đầu tiên của chủ nghĩa xã hội với những nhiệm vụ nặng nề, phong phú và phức tạp. Đó là quá trình cải biến cách mạng toàn diện để dần hình thành những đặc trưng của “chủ nghĩa xã hội thực thụ” (V.I.Lênin). Vì thế, rất cần phát huy nguồn lực con người, tập hợp và liên kết đông đảo các giai cấp, tầng lớp nhân dân cho xây dựng hội mới, thực hiện thành công những nhiệm vụ cùa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Lịch sử phong trào công nhân quốc tế ngày càng chứng minh trong thực tế rằng” “vận động là tự thân”, “cách mạng là ngày hội của quần chúng”. Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ phải do những con người, những giai cấp, tầng lớp có năng lực, trình độ ngày càng cao, được giáo dục, đào tạo trong chủ nghĩa xã hội thực hiện với tinh thần đoàn kết, hợp lực, hợp tác... sẽ nhân lên sức mạnh lớn hơn nhiều so với khả năng của giai cấp, tầng lớp một cách riêng biệt.

Vì thế, liên minh giai cấp, tầng lớp trong nước cùng với đoàn kết quốc tế là nội dung trọng yếu trong chiến lược - sách luợc mácxit suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đế xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là trong điều kiện phong phú và phức tạp của thế giới hiện nay.

MƯU ĐỒ HÌNH THÀNH CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP BẰNG VIỆC LỢI DỤNG VỎ BỌC TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG

 

Dưới bóng tổ chức tôn giáo, các đối tượng thù địch âm mưu tiến hành thành lập, xây dựng lực lượng, hình thành nên tổ chức chống đối. Đây là một con đường đang được kẻ địch triệt để lợi dụng. Tôn giáo được lấy ra làm cái cớ để tập hợp, thu hút mọi người tham gia. Đồng thời, vỏ bọc tôn giáo cũng như một tấm bùa “hộ mệnh” cho các tổ chức này. Âm mưu của các tổ chức phản động dưới vỏ bọc tôn giáo có thể thấy đang diễn biến phức tạp.

Thông qua sự quản lý, điều hành của các đối tượng chống đối, một số cơ sở tôn giáo nếu không quản lý tốt sẽ bị biến thành nơi để các đối tượng hội họp, bàn luận, chỉ đạo các hoạt động chống phá, rao giảng những luận điệu sai trái.  

Mặt khác, thông qua vỏ bọc tôn giáo, các đối tượng muốn “hợp pháp hoá” hoạt động của mình. Khi cơ quan chức năng phát hiện bản chất phía sau và không công nhận hoạt động, các đối tượng lại tiếp tục rêu rao, vu khống Việt Nam “vi phạm dân chủ, nhân quyền, không có tự do tôn giáo”.

                                                                                                PQ

THỦ ĐOẠN ĐƯA NHỮNG BẢN PHÚC TRÌNH, BÁO CÁO SAI LỆCH VỀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG


Thời gian qua, một số cơ quan, tổ chức như Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ, Nghị viện châu Âu, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá Quốc tế (AI)... đã đưa ra nhiều phúc trình có nội dung sai lệch về tình hình Việt Nam. Gần đây nhất, ngày 29-4, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa ra bản phúc trình về tự do tôn giáo. Khi nói về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra các nhận định, đánh giá chủ quan, phiến diện, không đúng sự thật.

Và vẫn như thường lệ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch như nêu trên. Qua việc nghiên cứu các bản phúc trình, báo cáo về tình hình tôn giáo ở Việt Nam của các tổ chức trên, không khó để chúng ta nhận thấy sự kỳ thị, thù địch của những người soạn thảo. Đặc biệt, nhiều nội dung trong đó vu khống, bóp méo vấn đề tôn giáo của nước ta.

Suy cho cùng, đằng sau ngọn cờ tôn giáo vẫn là các mưu đồ về chính trị. Tôn giáo đã bị biến thành công cụ, phương tiện, thậm chí, nó còn được coi là một “đòn hiểm” để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Với Việt Nam, các thế lực chống đối luôn tìm mọi cách để tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của nhà nước, từ đó dễ dàng khống chế và sử dụng tôn giáo vào mục đích chống phá.

Thực tế cho thấy, việc Bộ Ngoại giao Mỹ và nhiều quốc gia phương tây thường xuyên tiến hành các cuộc điều trần về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, cũng như xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia “không có tự do tôn giáo” cũng chỉ để tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta, từ đó làm thay đổi bản chất của chế độ, đưa Việt Nam đi vào sự lệ thuộc.

                                                                                      PQ

Liên minh giai cấp, tầng lớp mang tính phô biên và là một động lực của phát triển xã hội

 


Liên minh giai cấp, tầng lớp cũng giống như đấu tranh giai cấp tầng lớp, mang tính phổ biên và là một động lực của phát triển xã hội, hơn nữa, là động lực to lớn, không chi trong cách mạng xâ hội, mà trong sự vận động xã hội nói chung. Điều này được thể hiện cao nhất trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhất là trong xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Điều này đã được C.Mác khẳng định khi ông chỉ ra rằng: nhiều cuộc đấu trạnh của giai cấp công nhân (ở Anh và Pháp giữa vào cuối thế kỷ XIX) đã thất bại và chịu tổn thất to lớn chủ yếu là vì đã không tổ chức liên minh được với “người bạn đồng minh tự nhiên” của mình là giai cấp nông dân trong tất cả các quốc gia mà nền sản xuất nông nghiệp còn chiếm vị trí căn bản. Do vậy, các cuộc cách mạng vô sản này đã trờ thành những “bài ai điếu”. Từ đó, liên minh giai cấp, tầng lớp trở thành một trong những lý luận căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin khi các ông xem đây là một trong những vấn đề nguyên tắc của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở cả hai giai đoạn: giai đoạn đấu tranh giành chính quyền và giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đến nay, trên cơ sở những quan điêm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, các nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều tiếp tục vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện của mỗi nước.

SỨC MẠNH TỪ NHÂN DÂN - SỨC MẠNH CỦA THẮNG LỢI LỚN!

- Nếu địch: Có 1 triệu quân!
- Việt Nam: Có Thanh Hóa!
Vì sao?
     Tổng bí thư Lê Duẩn từng nói: "Nếu chiến tranh đến từ phương Bắc, thì các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa sẽ trở thành cơ sở cho toàn bộ đất nước. Các tỉnh là các căn cứ mạnh nhất, tốt nhất và hiệu quả nhất".
     Thanh Hóa có thể nói là chốt chặn trong trường hợp miền Bắc bị tấn công. Nếu các lá chắn thép phía Bắc bị chọc thủng, Thanh - Nghệ - Tĩnh sẽ trở thành thủ đô kháng chiến, nơi phòng thủ vững chắc và bàn đạp phản công.
     Ngược lại, nếu xảy ra biến ở phía Nam, đối phương cũng phải vượt qua yết hầu này nếu muốn tiến đến Hà Nội. Không phải tự nhiên mà khu vực Bắc Trung Bộ được bố trí nhiều đơn vị thiện chiến nhất, đóng quân ở các vị trí hiểm trợ có tính chiến lược, không chỉ mang tính phòng thủ mà có thể triển khai tấn công phủ đầu khi có yêu cầu.

Ấy là địa thế, tiếp đến xét về con người.
     Từ trước đến nay, binh lính thiện chiến nhất đa phần là dân Thanh - Nghệ - Tĩnh. Bắc Trung Bộ nổi tiếng là đất dụng binh, mộ lính thì chỉ kén dân xứ này vì thiên bẩm đánh trận, lỳ đòn và tính kỷ luật cao. Ngày xưa Quang Trung đánh quân Thanh cũng phải mộ đủ lính ở vùng này rồi mới tiến ra miền Bắc.
     Nhân dân ở đây tính tình cương trực, mạnh mẽ, không sợ khổ. Đó là chưa kể tới lòng yêu nước và tinh thần tương trợ lẫn nhau rất mạnh.
     Còn vụ "ăn rau má phá đường tàu" có lần chúng tôi cũng nói rồi. Câu nói xuất phát từ việc quân và dân Thanh Hóa giả vờ kiếm rau má rồi phá đường tàu của Pháp. Khi bị bắt, họ bảo quân Pháp rằng đói quá nên phải tìm rau má trên đường sắt.
     Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, riêng Thanh Hóa đã huy động hàng trăm nghìn dân công, gần 30 triệu ngày công, hơn một vạn phương tiện vận chuyển lương thực, vũ khí, thuốc men, đạn dược.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương chiến công của quân dân Thanh Hóa bằng câu nói: "Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó. Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có một phần vinh dự đến đó"./.
Môi trường ST.

CHÍNH, TÀ BẤT MINH - VÌ ĐÂU ĐẾN NỖI?

     Quá trình dựng nước, giữ nước hào hùng của dân tộc ta đã hình thành nên truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm. Bất kỳ ai, dù là đứa trẻ (Thánh Gióng) hay các cụ già (bô lão Diên Hồng) có ý chí chống giặc ngoại xâm đều được nhân dân biết ơn, tôn thờ! Ngược lại, bất kỳ kẻ nào theo giặc, tiếp tay cho giặc..., dù là vua quan hay phàm phu tục tử đều sẽ bị nhân dân nguyền rủa muôn đời. Vậy, tiêu chuẩn quan trọng nhất của yêu nước, được nhân dân biết ơn, tôn thờ là: CHỐNG NGOẠI XÂM.
     Đảng Cộng sản Việt Nam đã giữ gìn và phát huy vẻ vang truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Căn cứ vào bản chất chính trị, quan điểm, chủ trương của Đảng thì: YÊU NƯỚC, CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM cũng là tiêu chuẩn số 1.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài "Lịch sử nước ta" đã có đánh giá chính xác, khách quan về vua quan của triều đình nhà Nguyễn (tính từ thời Nguyễn Ánh - Gia Long):
"Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.
Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi với mình.
Vậy mà vua chúa triều đình,
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Năm Tự Đức thập nhất niên,
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
Hăm lăm năm sau trận này,
Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan,
Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng."
     Căn cứ vào truyền thống yêu nước; căn cứ vào chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam (lực lượng lãnh đạo toàn diện và xã hội) thì những nhân vật như: Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký... những tên vua quan hèn nhược, ích kỷ, gian ác... đã quỳ mọp gối cầu viện ngoại bang, hợp tác với giặc, bán non sông và tính mạng của đồng bào cho bọn ngoại bang giày xéo - Bọn chúng là lũ gian tà - TỘI ĐỒ CỦA DÂN TỘC!

     VẬY MÀ, thời gian gần đây bọn gian tà được trào lưu "xét lại" rửa tội, tôn vinh, thờ phụng, được đặt tên đường, tên trường. Như vậy là đã phủ nhận, đi ngược lại truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc, tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
     Nhân dân chúng tôi rất lo lắng và bất bình khi những nhân vật bị lịch sử lên án vì bán nước, hại dân, hợp tác với giặc, đầu hàng giặc nay lại được tôn vinh! Chúng tôi đặt câu hỏi:
     (1). Trào lưu "xét lại" và tôn vinh những nhân vật như: Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký... có đi ngược lại truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam? Có đi ngược lại lợi ích chính trị, chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam? Trào lưu xét lại này có phải là mối đe dọa đối với vai trò lãnh đạo của Đảng hay không?
     Ban Tuyên giáo Trung ương - Cơ quan "gác đền", bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có nắm bắt được trao lưu "xét lại lịch sử" tôn vinh những nhân vật gây tranh cãi về công, tội? Quan điểm, giải pháp định hướng, chấn chỉnh, uốn nắn đối với trào lưu "xét lại lịch sử" gây tranh cãi này trong thời gian tới?
     (2). Cấp ủy, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương "tôn vinh", đặt tên đường, tên trường cho những nhân vật gây tranh cãi như: Lê Văn Duyệt, Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản... đã nghiên cứu kỹ về vấn đề lịch sử? Nghiên cứu kỹ về chủ trương, quan điểm, lợi ích của Đảng? Đã "xin ý kiến" hoặc "tham vấn" ý kiến của các cơ quan Trung ương hay chưa? Đã cân nhắc về việc sẽ tạo làn sóng dư luận, gây tranh cãi, chia rẽ? Việc tôn vinh, đặt tên đường, tên trường cho những nhân vật "tai tiếng" này đem lại lợi ích gì cho nhân dân?

     Tôi mong muốn những ai tâm huyết với việc bảo vệ truyền thống yêu nước của dân tộc, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam hãy tiếp tục lên tiếng. Mong mọi người hãy phản ánh vấn đề này và nêu 2 câu hỏi ở trên trong các buổi tiếp xúc cử tri của đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp (nhất là các địa phương tôn vinh, đặt tên đường, tên trường cho các nhân vật lịch sử gây tranh cãi)./.





Yêu nước ST.

Những luận điệu xuyên tạc kệch cỡm

 Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy, sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan?


Để đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (viết tắt là Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC).

Đến nay, tất cả 63 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang xuyên tạc trắng trợn chủ trương đúng đắn này. Chúng nhận định bừa rằng "việc thành lập càng nhiều ban bệ thì càng tham nhũng hơn, thêm một cấp là thêm tham nhũng...". Thực tế đã cho thấy rõ những luận điệu trên của thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, kệch cỡm.

Nhận diện và đấu tranh chống âm mưu tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin

  Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá rất cao vai trò, tầm vóc của chủ nghĩa Mác-Lênin và luôn khẳng định là một người mácxít-lêninít. Trong âm mưu, thủ đoạn tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch, phản động đã rất tinh vi, xảo quyệt khi âm mưu tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin. Đấu tranh phản bác âm mưu này là một việc làm thiết thực để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

V.I. Lênin vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác vào xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực trong điều kiện cụ thể của nước Nga 

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) thông  qua đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đã minh chứng rằng, nhờ có chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đường, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc và đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn cách mạng cũng cho thấy, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hai cấu phần hợp thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và hai yếu tố này có quan hệ hữu cơ với nhau, không thể thiếu một yếu tố nào.

Thúc đẩy “Xã hội dân sự” ở Việt Nam - hình thức chống phá nguy hiểm của các thế lực thù địch

Xã hội dân sự đúng nghĩa là một bước tiến quan trọng của xã hội loài người trong tiến trình hướng tới một xã hội phi nhà nước. Tuy nhiên, một số tổ chức đã mượn danh “xã hội dân sự” nhằm làm phức tạp tình hình chính trị - xã hội, hướng đến mục tiêu thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam như đã từng xảy ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây. Vì vậy, cần đề cao cảnh giác, nhận diện đúng và vạch trần thủ đoạn chống phá nguy hiểm này.

Nhận diện về xã hội dân sự và tổ chức “xã hội dân sự”

Xét về bản chất, xã hội dân sự (Civil Society) là xã hội tự lập phi nhà nước, được hình thành, hoạt động trong không gian công cộng và tư nhân, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước. Không thể phủ nhận xã hội dân sự là một bước tiến của loài người trong tổ chức cộng đồng, bên cạnh sự tiến bộ của các thiết chế nhà nước ngày càng hợp lý (nhà nước chuyển từ cai trị sang phục vụ, nhà nước của dân, do dân, vì dân,…) thì xã hội cũng hình thành một loạt các thiết chế xã hội đa dạng, phong phú. “Điều này phù hợp với xu thế: nhà nước sẽ nhỏ đi và xã hội sẽ lớn lên, được C. Mác đề cập trong lý luận về chủ nghĩa xã hội”1. Theo đó, chặng đường tiến bộ đáng kể của nhân loại biểu hiện ở vai trò tự quản trong cộng đồng ngày càng mạnh lên. Vai trò tự quản ấy chính là nằm ở các tổ chức xã hội với các thiết chế riêng bên cạnh thiết chế nhà nước, đó là các bộ phận hợp thành của xã hội dân sự.

“Giá trị đáng ghi nhận của xã hội dân sự là những phát kiến, kiến nghị, đề xuất có cơ sở lý luận và thực tiễn, phù hợp với quan điểm, đường lối của đảng cầm quyền. Theo C. Mác: chủ quyền của nhân dân phải trở thành vấn đề trung tâm trong một xã hội dân sự đích thực, làm cơ sở cho một chế độ dân chủ và một nhà nước dân chủ chân chính”2. Đây là tư tưởng cách mạng sâu sắc, có tính định hướng cho việc nhìn nhận, đánh giá và xác định tính đúng đắn của một tổ chức được coi là xã hội dân sự đích thực hay giả danh để chống phá chính quyền nhân dân.

Hiện nay, xu hướng mang tính phổ biến trong quá trình phát triển của nhiều quốc gia là mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Theo đó, xã hội dân sự được cộng đồng quốc tế rất quan tâm, coi đó là một nhân tố của xã hội hiện đại, một tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của chế độ xã hội ở một quốc gia. Nhiều văn kiện của các tổ chức quốc tế và khu vực đã có các quy định về quyền con người, về xã hội dân sự, tổ chức “xã hội dân sự”. Nhiều tổ chức “xã hội dân sự” đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm thực thi dân chủ, nhân quyền; góp phần tích cực vào thúc đẩy dân chủ hóa và xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển các lĩnh vực giáo dục, y tế, v.v.

Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân là thành quả cách mạng được thể chế hóa và phát huy trên thực tế. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là sự kế thừa, phát triển những giá trị quyền con người, quyền công dân của nhân loại trong thời đại mới. Trong các bản Hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) đều thể hiện rõ bản chất của chế độ ta là tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; là chế độ dân chủ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đã quy định các điều kiện cụ thể để thành lập, hoạt động của tổ chức xã hội dân sự. Trên thực tế, bên cạnh các tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng, nhiều hội, tổ chức phi chính phủ đã và đang được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, hoạt động công khai, hợp pháp, mang lại những lợi ích đáng kể cho xã hội và cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn các hội, tổ chức quần chúng tự phát thành lập, không có tư cách pháp nhân, mang tính hình thức, chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần, hoạt động tùy tiện, kém hiệu quả, không phát huy được vai trò đại diện cho lợi ích của hội viên; cá biệt còn một số tổ chức có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, gây phương hại đến an ninh quốc gia, buộc các cơ quan chức năng phải chấn chỉnh, xử lý. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch đã xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. Đó là sự đơm đặt vô căn cứ, mang nặng tính thù địch.

“Xã hội dân sự” trá hình - tiền đề của chế độ đa nguyên, đa đảng

Thực tế cho thấy, ngay từ ý tưởng cho đến quá trình thành lập và hoạt động, do tính chất nhạy cảm về chính trị - xã hội, nhiều tổ chức đã trượt khỏi bản chất, hình ảnh tích cực của xã hội dân sự đích thực, trở thành công cụ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá chế độ. Các tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” này thường trá hình dưới danh nghĩa bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, nhằm hướng lái vào phê phán vai trò lãnh đạo của Đảng, họ cho rằng: chế độ độc đảng là “độc tài toàn trị”, là nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, sai lầm, v.v. Các thế lực thù địch còn tìm cách thao túng, lôi kéo, chi phối tổ chức “xã hội dân sự” cho mục tiêu của mình. Nhìn chung, các hoạt động chống phá dựa trên công cụ là tổ chức “xã hội dân sự” trá hình mà họ thường sử dụng, tập trung vào các thủ đoạn chủ yếu sau: Một là, đề cao vai trò “phản biện xã hội” của các tổ chức giả danh “xã hội dân sự”, hướng lái hoạt động của các tổ chức này dần đối lập về tư tưởng chính trị với Nhà nước ta. Hai là, thúc đẩy xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp. Một số tổ chức “xã hội dân sự” không đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; hướng lái mục tiêu hoạt động nhằm phục vụ lợi ích của một số nhóm người, đối lập với lợi ích của quốc gia, dân tộc. Ba là, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để hướng lái các tổ chức “xã hội dân sự” vào các hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích, vi phạm pháp luật. Bốn là, gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người “bất đồng chính kiến” trong nước hoạt động theo khuynh hướng “độc lập”, hình thành “xã hội dân sự” trái pháp luật, chống Nhà nước, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức chính trị đối lập, thiết lập chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm tiến tới mục tiêu thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cùng với đó, họ mượn cớ “phản biện xã hội”, “kiểm soát quyền lực”, nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền” để mị dân bằng các hoạt động xây dựng quan hệ thương mại và phát triển,... gây phương hại đến an ninh quốc gia.

Sử dụng công cụ tổ chức “xã hội dân sự” và chiêu bài “đa nguyên chính trị” làm mũi nhọn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng

Với “yêu sách”, đòi mở rộng quyền tự do, dân chủ vô chính phủ ở các nước xã hội chủ nghĩa, chống lại nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện chế độ đa đảng và các tổ chức chính trị đối lập, các thế lực thù địch đã, đang thực hiện mưu đồ thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Gần đây, họ tập trung tuyên truyền luận điệu: độc quyền, thủ tiêu dân chủ là nguyên nhân của những sai lầm và yếu kém trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Họ tăng cường tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức, “đảng phái chính trị” đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, như: “Đảng Dân chủ của thế kỷ XXI”, “Thanh niên dân chủ Sơn Hà”, “Liên đảng Lạc Hồng”, “Đảng Thăng tiến Việt Nam”,... với mưu đồ tác động, thiết lập chế độ đa nguyên, đa đảng, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho sự thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục núp bóng tổ chức “xã hội dân sự” trá hình làm công cụ quan trọng để chống phá Đảng, Nhà nước ta, với các hướng: Một là, gia tăng hoạt động truyền bá “xã hội dân sự” nhằm gây áp lực xã hội đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm tiền đề cho sự ra đời, phát triển của các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình ở Việt Nam. Hai là, tiếp tục tác động, can thiệp vào vấn đề “dân chủ“ “nhân quyền”, coi đó như động lực để thúc đẩy sự phát triển của “xã hội dân sự” trá hình. Ba là, tập trung tuyên truyền, tác động để phá hoại nội bộ, thúc đẩy quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhằm gây dựng, phát triển lực lượng cho các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị đối lập. Bốn là, gia tăng tác động nhằm chuyển hóa các tổ chức xã hội dân sự đích thực ở Việt Nam, nhất là các hội, các tổ chức phi chính phủ trở thành các tổ chức “xã hội dân sự” theo hướng đối lập với Nhà nước ta. Từ đó, trực tiếp chi phối, khích lệ các hoạt động chống phá chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Năm là, sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình làm công cụ tuyên truyền, tác động tư tưởng, kích động, lôi kéo, tập hợp một bộ phận quần chúng nhân dân, kết hợp với các hoạt động gây mất ổn định chính trị - xã hội nhằm chuẩn bị điều kiện để phát động các hoạt động gây rối, như: “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu”,... để thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam.

Kiên quyết đấu tranh với hoạt động thúc đẩy “xã hội dân sự” của các thế lực thù địch

Đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu trên, triệt tiêu mầm mống của các hoạt động gây rối, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Do đó, hệ thống chính trị và toàn xã hội cần thống nhất và nâng cao nhận thức, nhận diện đúng về “xã hội dân sự”; phân biệt và đánh giá đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự đích thực; không nhầm lẫn, đánh đồng với các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình. Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc cổ súy, lợi dụng, núp bóng tổ chức “xã hội dân sự” vào mục đích thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống âm mưu chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị.

Cùng với đó, các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác nắm tình hình, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung lãnh đạo, định hướng các tổ chức xã hội dân sự đích thực tuân thủ và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các tổ chức xã hội dân sự phát huy tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; thường xuyên đề cao cảnh giác trước âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị tác động, lôi kéo, kiên quyết bảo vệ Đảng, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đóng góp tích cực vào những thành tựu chung của đất nước trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế.

                                                      Nguồn: TS. BÙI THANH TUẤN, Viện Chiến lược Công an, Bộ Công an 

 Hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt - Lào nâng lên tầm cao mới

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc.

Phóng viên: Xin Chủ tịch nước đánh giá tầm quan trọng và ý nghĩa của quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào?

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng gần gũi bên nhau như anh em sinh đôi chỉ cách nhau một dãy núi, cùng chung dòng nước Mê Công, có mối quan hệ truyền thống và gắn bó lâu đời. Người dân hai nước coi nhau như anh em ruột thịt, thường xuyên chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh. 

Từ sự gắn kết do điều kiện tự nhiên cũng như lịch sử của hai dân tộc có cùng ước vọng giành độc lập, tự do và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào ngày nay, với ý chí cách mạng quật cường, Nhân dân Việt Nam và Lào đã đứng lên đấu tranh giành được chính quyền vào năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa vào ngày 2-9-1945 và Nhà nước Lào Ít-xa-la vào ngày 12-10-1945. 

Những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Lào nói riêng và liên minh chiến đấu Việt - Lào nói chung trong những năm tiếp theo dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào ngày 23-7-1962 công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Lào. Chỉ hai tháng sau đó, vào ngày 5-9-1962, Việt Nam và Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Đây là mốc son đánh dấu giai đoạn phát triển mới của quan hệ hai nước trong thời kỳ hiện đại. Kể từ đây, liên minh chiến đấu của quân và dân hai nước Việt - Lào ngày càng được thắt chặt, cả trên mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao. Tình đoàn kết gắn bó keo sơn, tinh thần “hạt gạo chia đôi, cọng rau bẻ nửa” đã đưa cách mạng hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, mà đỉnh cao là Đại thắng Mùa Xuân 30-4-1975 tại Việt Nam và Chiến thắng ngày 2-12-1975 tại Lào.

Bước sang giai đoạn mới, trước những đòi hỏi và thách thức của công cuộc xây dựng và phát triển ở mỗi Đất nước, trên cơ sở nhận thức sâu sắc về ý nghĩa và tầm quan trọng của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, ngày 18-7-1977, hai bên đã ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác, khẳng định tình đoàn kết bền chặt và cam kết mạnh mẽ về hợp tác, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước. 

Trong 45 năm qua, Hiệp ước này đã trở thành một tài sản quý giá và có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ sở pháp lý vững chắc để hai nước không ngừng mở rộng quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện. Hiệp ước cũng là tiền đề để hai nước ký kết hàng loạt văn kiện và thoả thuận hợp tác trên tất cả các lĩnh vực chính trị, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục đào tạo…

Có thể nói, mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào được các lãnh tụ vĩ đại của hai dân tộc là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản và Chủ tịch Xu-pha-nu-vông đặt nền móng, được vun đắp bằng mồ hôi, xương máu của biết bao thế hệ lãnh đạo, quân và Nhân dân hai nước và ngày càng được củng cố, không ngừng phát triển, trở thành một tấm gương mẫu mực về sự thủy chung, trong sáng, vững bền, “có một không hai” trong quan hệ giữa các dân tộc.

Lịch sử gắn bó của hai nước đã chứng minh: nếu không có liên minh chiến đấu và tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào, thì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của hai nước trước đây khó có thể giành được thắng lợi trọn vẹn, công cuộc bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, trong thời kỳ đổi mới và hội nhập ở mỗi nước, không thể có được những thành tựu to lớn như ngày nay.

Phóng viên: Xin Chủ tịch cho biết những thành tựu nổi bật nhất trong quan hệ hai nước và những điểm sáng đáng chú ý thời gian gần đây?

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Trong 60 năm qua, mặc dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, thuận lợi và thách thức đan xen, song có thể khẳng định Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt - Lào đã không ngừng phát triển vững chắc, ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả. 

Quan hệ chính trị - đối ngoại ngày càng gắn bó, tin cậy với trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao, thường xuyên trên tất cả các kênh. Hai bên nỗ lực duy trì, phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương các cấp ngành, địa phương, phối hợp triển khai tốt các Thoả thuận cấp cao và các cấp. Sự phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương đã góp phần bảo vệ lợi ích, nâng cao uy tín và vị thế mỗi nước ở khu vực và trên thế giới.

Hợp tác quốc phòng - an ninh không ngừng được đẩy mạnh, tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng trong mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, góp phần bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước, cũng như môi trường hoà bình, ổn định phục vụ phát triển và hợp tác. 

Hợp tác kinh tế đạt được nhiều kết quả tích cực, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp hai bên. Trao đổi thương mại hai chiều gần đây liên tục tăng trưởng hàng năm ở mức hai con số; kim ngạch hai chiều 8 tháng đầu năm 2022 đã đạt trên 1 tỷ USD, tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm trước. Việt Nam luôn là nước đầu tư lớn thứ ba vào Lào với hơn 200 dự án FDI đang hoạt động và tổng vốn hơn 5 tỷ USD. Hợp tác giáo dục đào tạo, là hợp tác chiến lược theo hướng chú trọng chất lượng cao. Hợp tác các lĩnh vực khác, như năng lượng, giao thông vận tải, văn hóa, y tế... không ngừng được củng cố đi vào chiều sâu. Hợp tác giữa các địa phương, nhất là giữa các tỉnh giáp biên, ngày càng gắn bó khăng khít. Mặc dù còn có những khiếm khuyết, nhưng tới nay, đã có hàng nghìn dự án hỗ trợ phát triển ODA, các dự án, chương trình hợp tác, các khoản viện trợ của các Bộ, cơ quan, địa phương Việt Nam được xây dựng, triển khai và phát huy hiệu quả giúp các bạn Lào. 

Đối mặt với dịch Covid-19, hai bên đã dành cho nhau sự giúp đỡ kịp thời, hiệu quả về tài chính, trang thiết bị, vật tư y tế, hỗ trợ cán bộ y tế phòng chống dịch..., là tinh thần luôn tương trợ, bên nhau trong mọi hoàn cảnh. 

Công trình Nhà Quốc hội mới của Lào, quà tặng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam dành cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân Lào được bàn giao và khánh thành năm 2021 đã trở thành một trong những biểu tượng của quan hệ đặc biệt Việt - Lào trong giai đoạn mới. Việc Cảng quốc tế Lào - Việt tại Vũng Áng, Hà Tĩnh bắt đầu đi vào khai thác gần đây góp phần giúp nước bạn Lào có đường ra biển. Cùng với đó, các công trình, dự án hợp tác mang dấu ấn của tình hữu nghị Việt - Lào đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều trên đất nước hoa Chăm-pa tươi đẹp... Nổi bật là Liên doanh viễn thông Unitel (Viettel) hoạt động từ 2009, hiện là nhà mạng  hiện đại lớn nhất, đáp ứng 57% thị trường Lào.

Phóng viên: Chủ tịch nước mong muốn nhìn thấy quan hệ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào trong thời gian tới phát triển như thế nào?

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Cá nhân tôi trên nhiều cương vị công tác đã có nhiều năm gắn bó, đóng góp vào phát triển của quan hệ hợp tác Việt - Lào. Với tình cảm sâu nặng dành cho nước bạn Lào anh em và quan hệ hai nước, tôi luôn mong muốn và tin tưởng mối Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt - Lào sẽ tiếp tục được các thế hệ lãnh đạo và Nhân dân hai nước tiếp tục, vun đắp phát triển, nở hoa thơm, kết trái ngọt, đem lại lợi ích cho Nhân dân hai nước. 

Với nền tảng quan hệ vững chắc đã được thử thách, Việt Nam và Lào có nhiều thuận lợi và tiềm năng to lớn để tăng mạnh quy mô hợp tác. Điều đó đòi hỏi hai bên có quyết tâm cao, nỗ lực mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả hợp tác.

Thứ nhất, tiếp nối truyền thống cách mạng hào hùng của các thế hệ đi trước, cùng nhau gìn giữ, không ngừng củng cố trụ cột quan hệ chính trị để định hướng tổng thể quan hệ đặc biệt Việt - Lào trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn. 

Thứ hai, cùng nỗ lực nâng tầm hợp tác kinh tế thành một trụ cột xứng tầm với quan hệ đặc biệt Việt - Lào, có tư duy hợp tác mới với nhiều biện pháp mạnh, đột phá, vừa phát huy nội lực, vừa mở rộng hợp tác quốc tế. Xây dựng nền kinh tế Lào độc lập tự chủ, hội nhập quốc tế rộng mở. Trọng tâm là thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư, kinh doanh; mở rộng kết nối về năng lượng, viễn thông, giao thông, hướng hàng hóa của Lào ra biển Việt Nam đi quốc tế; quan tâm và giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp...

Thứ ba, trên cơ sở nền tảng chính trị tin cậy, tiếp tục củng cố trụ cột hợp tác quốc phòng - an ninh để cùng giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, kịp thời ngăn chặn mọi âm mưu "diễn biến hoà bình", chống phá, chia rẽ quan hệ hai nước.

Thứ tư, hai bên tiếp tục coi giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là lĩnh vực hợp tác chiến lược, mang tính “đột phá”, không chỉ phục vụ nhu cầu phát triển của mỗi nước, mà còn góp phần thắt chặt tình cảm gắn bó và đoàn kết giữa hai nước; phối hợp chặt chẽ hơn nữa để nâng cao chất lượng tuyển sinh, giảng dạy và học tập nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường lao động Lào.

Cuối cùng, hai bên đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục về truyền thống quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện của hai nước, với các hình thức đa dạng, thiết thực, hiệu quả gắn với những kết quả hợp tác cụ thể trong cuộc sống, để các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hai nước, thêm vững niềm tin, chung tay giữ gìn, vun đắp phát triển và làm tươi mới quan hệ hữu nghị truyền thống hai nước. 

Trong bầu không khí phấn khởi của "Năm Đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 2022" và Ngày kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào anh em, mối Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt - Lào sẽ tiếp tục được củng cố và nâng lên tầm cao mới, phát triển tự chủ, phồn vinh vì Nhân dân hai nước, góp phần vào gìn giữ hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

                                                                                                        Nguồn: Xây dựng Đảng