Thứ Hai, 2 tháng 10, 2023

Lý tưởng của thanh niên Việt Nam hôm nay

 


Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc, là người chủ tương lai của đất nước…Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”(1). Thanh niên luôn có hoài bão lớn, có ước mơ cháy bỏng. Giàu nghị lực, sống với lý tưởng mãnh liệt và dám xả thân vì nghĩa lớn, thanh niên rất năng động, sáng tạo, dám khám phá cái mới và đủ sức khỏe, đủ thời gian thực hiện những hoài bão cao đẹp của mình. Trong bất cứ thời đại nào, lực lượng thanh niên chính là nguồn xung lực mạnh mẽ nhất của đất nước, là đại biểu cho tinh thần tự tôn và sự đi lên của cả dân tộc.

Đầu thế kỷ XX, đất nước ta đã bị thực dân Pháp xâm lược và đặt ách đô hộ. Nhân dân ta muốn rửa vết nhơ nô lệ nhưng không được, rửa hận cũng không xong, không phải vì thiếu tinh thần và ý chí kiên cường dũng cảm, mà chính là thiếu phương hướng và đường lối đúng đắn, thiếu lý tưởng, thiếu người lãnh đạo. Những thử thách mới lại đòi hỏi lớp lớp người trẻ tuổi bước vào cuộc chiến đấu mới. Ngay trong bối cảnh đó, chính lớp thanh niên đã tìm ra chân lý, tìm ra con đường cho dân tộc đi theo và đảm nhận vai trò lãnh đạo toàn dân, đưa Việt Nam thoát khỏ ách nô lệ.

Năm 1911, mặc dù tại thời điểm này ở Việt Nam đang tồn tại đồng thời ba sự lựa chọn từ ba giải pháp cứu nước (đó là con đường đấu tranh theo khuynh hướng phong kiến và con đường theo khuynh hướng tư sản với 2 xu hướng bạo động và cải cách), nhưng người thanh niên Nguyễn Tất Thành lúc này mới 21 tuổi, đã sớm nhận ra các giải pháp đó đều không phù hợp và không thể đáp ứng được yêu cầu của lịch sử dân tộc. Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã quyết tìm một hướng đi mới. Từ trải nghiệm của bản thân, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của lịch sử dân tộc đồng thời phù hợp với xu thế của thời đại mới. Đó là con đường giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp và giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với xã hội chủ nghĩa.

Trong thế kỷ XX, với chính sách nô dịch và kìm hãm kinh tế - xã hội và văn hóa với việc “gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát”(2) của thực dân thì những người Việt Nam, đặc biệt là thanh niên, “mặc dù bị người phương Tây coi là lạc hậu, vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết của một cuộc cải cách toàn bộ xã hội” và sự tồn vong của dân tộc phụ thuộc vào thanh niên. Vị lãnh tụ trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc đã rung lên hồi chuông đối với những người cùng trang lứa: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại. Người sẽ chết mất, nếu thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh!”(3).

Giữa vòng nô lệ, nhiều thanh niên mà trước hết là những thanh niên trí thức đã tìm đường “vượt ngục”. Họ cho rằng, việc xuất dương là một khám phá mới, bởi việc xuất dương không đặt các thanh niên trí thức vào tình trạng bên ngoài cuộc đấu tranh. Trong đó, con đường sang phương Tây, sang Pháp cũng là một con đường chống Pháp. Nếu không sang Pháp thì theo đường “Đông Du” đến Nhật hoặc vượt biên sang Trung Quốc, Thái Lan…. Họ ra đi mang theo một bầu nhiệt huyết đặng cứu giống nòi. Tiêu biểu như Lê Duy Doãn, Lê Văn Phan và Phạm Đài, là ba thanh niên cùng quê Xứ Nghệ. Họ nguyện ra đi để xứng với dòng máu Lạc Hồng, làm rạng danh vùng đất sông Lam núi Hồng, nên cả ba người cùng lấy tên mới với chữ “Hồng” làm tên lót: Lê Duy Doãn là Lê Hồng Phong; Lê Văn Phan là Lê Hồng Sơn và Phạm Đài là Phạm Hồng Thái. “Thái - Sơn - Phong có nghĩa là ngọn gió núi Thái Sơn, nhất định sẽ mạnh, nhất định sẽ thổi bay tất cả quân xâm lược”(4).

Trong thế kỷ XX, con đường tìm kiếm lý tưởng của thanh niên là con đường đầy khó khăn gian khổ. Không phải chỉ cần một trái tim nhiệt tình cháy bỏng, mà còn cần cả sự thông minh của khối óc; không phải chỉ bằng quan sát, chiêm nghiệm với một nghị lực phi thường, mà còn phải lăn lộn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mới có thể đến được với lý tưởng cao đẹp. Thanh niên Việt Nam biết rằng, “Dấn thân vô là phải bị tù đày - Là gươm kề tận cổ súng kề tai - Là thân sống coi như còn một nửa”(5). Những thanh niên Việt Nam vẫn chấp nhận hy sinh để trở thành nòng cốt, thành những cơn “Sóng Hồng”(6) trong phong trào cách mạng. Họ luôn trau dồi bản thân, luôn “Tự chỉ trích”(7) để vươn lên. Họ xác định phải chiến đấu vì dân tộc, vì nhân dân. Nguyện “Là con của vạn nhà - Là em của vạn kiếp phôi pha - Là anh của vạn đầu em nhỏ…”(8) để hiến dâng tuổi thanh xuân, kể cả tính mạng nếu cần, trong cuộc “Trường Chinh”(9) giành độc lập, tự do cho dân tộc. Hãy nghe câu nói của Hà Huy Tập trước họng súng kẻ thù: “Tôi không có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống tôi sẽ tiếp tục hoạt động”(10); còn Lý Tự Trọng, ở tuổi 16, cái tuổi thần tiên của cuộc đời, đã khẳng định lý tưởng của mình: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không thể là con đường nào khác”(11). Những câu nói đầy khảng khái đó đã thể hiện lẽ sống của phần lớn thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ.

Trong thế kỷ XX, thanh niên Việt Nam là những người rất sớm xa rời chủ nghĩa quốc gia cải lương mà các lãnh tụ đã lên án việc bất hợp tác ở các trường. Có thể nói, thanh niên Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX đã tự tin đón nhận cuộc “chuyển giao thế hệ”, “họ lao vào một loại tìm kiếm không ngừng về tư tưởng và đến với chủ nghĩa Mác”(12). Trên thực tế, những thanh niên trì thức cấp tiến, đã nhanh chóng gia nhập tổ chức của thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập: Tổ chức Việt Nam cách mạng thanh niên và sau đó là gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện hoài bão, lý tưởng của mình ở độ tuổi mười chín hai mươi tiêu biểu như: Lê Hồng Phong (23 tuổi); Lê Hồng Sơn (24 tuổi); Hồ Tùng Mậu (29 tuổi); Trần Phú (21 tuổi); Hà Huy Tập (22 tuổi); Nguyễn Văn Cừ (17 tuổi); Võ Nguyên Giáp (29 tuổi); Trường Chinh (20 tuổi); Phạm Văn Đồng (20 tuổi); Nguyễn Văn Linh (14 tuổi); Lê Duẩn (22 tuổi); Nguyễn Thị Minh Khai (20 tuổi); Nguyễn Đức Cảnh (18 tuổi); Ngô Gia Tự (18 tuổi)….Thế hệ thanh niên đầu thế kỷ XX đã trở thành lực lượng xung kích của cách mạng Việt Nam.

Trong thế kỷ XX, thanh niên Việt Nam đã nhận thức rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(13). Đây là lý tưởng cao đẹp nhất, là niềm tin, lẽ sống của lớp thanh niên, sau đó đã trở thành lý tưởng cho cả dân tộc Việt Nam.

Thế kỷ XX là thế kỷ của lớp lớp thanh niên Việt Nam thực hiện những lời thề, đó là lời thề giành lại độc lập dân tộc “…dù phải hy sinh đến đâu, dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được độc lập dân tộc” và sẵn sàng “…đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền độc lập ấy”, “…thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; là lời thề chiến đấu cho Tổ quốc và cho cả nhân loại với chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”!

Sự nghiệp đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc và xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng lâu dài, gian khổ và quyết liệt nhất, triệt để và vinh quang nhất. Trong cuộc “trường chinh” này, thế hệ thanh niên thế kỷ trước đã tìm ra chân lý, tìm thấy lý tưởng chiến đấu và đồng thời thực hiện được một phần công cuộc ấy. Thế hệ đó đã giành lại độc lập dân tộc, tự do cho dân tộc. Nó cũng nói lên một điều rằng, thế hệ ngày nay sẽ bước tiếp con đường ấy, xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa - xã hội mà hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta đang định hướng và từng bước định hình mà thanh niên sẽ là lực lượng quan trọng nhất quyết định sự thắng lợi này.

          Một thế kỷ là quãng thời gian đủ để chúng ta nhìn lại quá khứ với ý niệm “ôn cố tri tân” trong quy luật tất yếu của dòng chảy truyền thống. Bởi lịch sử phát triển của dân tộc là kết quả sự kế tục từ các thế hệ nối tiếp nhau. Nếu không biết trân trọng truyền thống thì chỉ có thể là những người không có trái tim. Nhưng nếu chúng ta không tiếp nối truyền thống để vươn lên thì chúng ta không có khối óc. Chúng ta không thể ăn bằng truyền thống, sống bằng tiềm năng, nhưng không thể thiếu những điều đó. Thực tiễn lịch sử diễn ra một thế kỷ trước cho thấy, tương lai của một đất nước, một sự nghiệp cách mạng không chỉ thể hiện ở chỗ nó giải quyết đúng đắn hay không về mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp mà còn tùy thuộc vào việc có chuẩn bị tốt về con người hay không. Thế hệ thanh niên Việt Nam trong thế kỷ XX đã cống hiến trọn đời vì lý tưởng cao đẹp, hoàn thành sứ mệnh cao cả của lịch sử. Họ đã làm nên một tấm gương sáng về con đường đi tìm lý tưởng sống cho thế hệ thanh niên ngày này và mai sau noi theo tiếp bước. Chính sức trẻ của các thế hệ thanh thiếu niên ở mọi thời đại trong lịch sử đã mang lại sức mạnh cho dân tộc ta vượt qua mọi thử thách. Lý tưởng của thế hệ thanh niên ngày nay vẫn là ra sức lao động, học tập và rèn đức luyện tài để trở thành “những con người xã hội chủ nghĩa”

Một số vấn đề mang tính lý luận về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy

 


Dựng nước đi đôi với giữ nước là kết tinh kinh nghiệm quý báu lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta. Nói về giữ nước từ sớm, từ xa, Trần Quang Khải (1241 - 1294) nhà chính trị, quân sự thời Trần đã từng nói: “Thái bình tu trí lực. Vạn cổ thử giang san” (Thái bình nên tu dưỡng trí lực, vận lực. Đất nước vững nghìn thu). Hay Vua Lê Thái Tổ (1385 - 1433) căn dặn con cháu, muôn dân trăm họ: “Biên phòng hảo vị trù phương lược. Xã tắc ung tu kế cửu an” (Biên phòng cần có phương án, chiến lược tốt. Đất nước phải có kế lâu dài), “Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”. Cùng với đó, tổ tiên ta đã thực hiện nhiều chính sách làm cho “quốc phú, binh cường”, khi đất nước thanh bình thì khuyến khích nhân dân tích cực tham gia lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, chuẩn bị tốt các điều kiện, có lực lượng đánh giặc, bảo vệ đất nước khi lâm nguy, coi trọng nuôi dưỡng lòng dân, “lấy dân làm gốc”. Cũng chính vì vậy, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn từng nói: “Thời bình, phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốcĐó là thượng sách giữ nước…”. Tư tưởng, triết lý, kinh nghiệm quý báu của cha ông kết tinh từ lịch sử được kế thừa, vận dụng trong tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo nên giá trị văn hóa, nghệ thuật dựng nước, giữ nước Việt Nam. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là mối quan hệ gắn bó “máu thịt”, phát triển đất nước về mọi mặt không tách rời với nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.

Các nhà kinh điển mácxít, đặc biệt là V.I. Lênin đã đặt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phải đi đôi với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngay sau khi Cách mạng tháng Mười thắng lợi, Người yêu cầu: “Một khi chúng ta bắt tay vào công cuộc hòa bình kiến thiết thì chúng ta phải đem hết sức mình để tiến hành công cuộc đó không ngừng. Đồng thời, hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của chúng ta như chăm lo con ngươi của mắt mình[1]. Người nhấn mạnh, giành được chính quyền đã khó, giữ được chính quyền càng khó hơn, giai cấp bóc lột, các lực lượng thù địch với giai cấp công nhân không bao giờ tự nguyện rút khỏi vũ đài lịch sử; ngược lại, chúng tìm mọi cách, điên cuồng phản kích để khôi phục lại “thiên đường” đã mất. Đúng như V.I. Lênin đã kết luận: “Không có và không thể có cách mạng mà lại không có phản cách mạng[2]. Vì vậy, lãnh đạo cuộc đấu tranh trấn áp các hoạt động chống phá của các thế lực phản cách mạng, bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của đảng cộng sản cầm quyền. Hàm ý của Người là hết sức tranh thủ thời gian hòa bình, tận dụng mọi điều kiện thuận lợi, ra sức xây dựng các tiềm lực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tinh thần, khoa học - kỹ thuật, tiềm lực quân sự…chuẩn bị để đất nước sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy tiếp tục được kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” và căn dặn toàn dân, toàn quân ta: “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”; “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững, chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. Tư tưởng này được vận dụng góp phần làm nên cách mạng giải phóng dân tộc, đất nước ta giành được những thắng lợi to lớn, dân tộc được độc lập, nhân dân tự do, có cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc; là nguồn cảm hứng thôi thúc, cổ vũ phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới.

 Trong thời kỳ đổi mới, kế thừa bài học kinh nghiệm quý báu lịch sử dân tộc, thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không để bị động, bất ngờ. Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về quốc phòng, an ninh đã xác định những vấn đề cơ bản về bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục phát triển, hoàn thiện đường lối về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa, từ khi “nước chưa nguy”, trở thành tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công cuộc đối mới đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới: “Chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”, “có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến[3]Thực hiện dĩ bất biến, ứng vạn biến, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến, kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt;... giữ trong ấm, ngoài êm, giữ nước “từ sớm, từ xa”, từ khi nước chưa nguy”.

Lý tưởng sống của thanh niên Việt nam trong thời đại hiện nay là gì?

 


“Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác” - lời nói đó đã trở thành lý tưởng sống, mệnh lệnh hành động thôi thúc biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam.

Tuổi 18, trước toà đại hình do bọn thực dân Pháp lập ra để xét xử tù chính trị ngày 17/4/1931, Lý Tự Trọng – người đoàn viên thuộc lớp đầu tiên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác”. Lời nói đó đã trở thành lý tưởng sống, mệnh lệnh hành động thôi thúc biết bao thế hệ thanh niên “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” trong thời kỳ chiến tranh với một mục tiêu – lý tưởng tất cả vì tiền tuyến, vì độc lập tự do của đất nước.

Bước vào thế kỷ XXI, đất nước ta đang trên đà hội nhập với nền kinh tế quốc tế với rất nhiều thời cơ và thách thức được mở ra. Và thanh niên Việt Nam chúng ta, những người chủ tương lai của đất nước phải góp một phần sức cho quê hương của mình. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và xem lại cách sống của mình, và một câu hỏi lớn được đặt ra:  Lý tưởng sống của thanh niên Việt Nam ngày nay là gì?

Một thế kỷ là quãng thời gian đủ để chúng ta nhìn lại quá khứ với ý niệm “ôn cố tri tân” trong quy luật tất yếu của dòng chảy truyền thống. Bởi lịch sử phát triển của dân tộc là kết quả sự kế tục từ các thế hệ nối tiếp nhau. Nếu không biết trân trọng truyền thống thì chỉ có thể là những người không có trái tim. Nhưng nếu chúng ta không tiếp nối truyền thống để vươn lên thì chúng ta không có khối óc. Chúng ta không thể ăn bằng truyền thống, sống bằng tiềm năng, nhưng không thể thiếu những điều đó. Thực tiễn lịch sử diễn ra một thế kỷ trước cho thấy, tương lai của một đất nước, một sự nghiệp cách mạng không chỉ thể hiện ở chỗ nó giải quyết đúng đắn hay không về mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp mà còn tùy thuộc vào việc có chuẩn bị tốt về con người hay không. Thế hệ thanh niên Việt Nam trong thế kỷ XX đã cống hiến trọn đời vì lý tưởng cao đẹp, hoàn thành sứ mệnh cao cả của lịch sử. Họ đã làm nên một tấm gương sáng về con đường đi tìm lý tưởng sống cho thế hệ thanh niên ngày này và mai sau noi theo tiếp bước. Chính sức trẻ của các thế hệ thanh thiếu niên ở mọi thời đại trong lịch sử đã mang lại sức mạnh cho dân tộc ta vượt qua mọi thử thách. Lý tưởng của thế hệ thanh niên ngày nay vẫn là ra sức lao động, học tập và rèn đức luyện tài để trở thành “những con người xã hội chủ nghĩa”

Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội hiện nay

Cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội là lực lượng nòng cốt, có vai trò rất quan trọng trong lãnh đạo, chỉ huy đơn vị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Để hoàn thành trọng trách, nhiệm vụ của mình trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, một trong những yêu cầu khách quan và là biện pháp quan trọng để cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội nâng cao uy tín, vị thế của mình là nêu gương và phát huy vai trò nêu gương trước tập thể, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Thực tiễn hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta khẳng định, nếu cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội phát huy tốt vai trò, trách nhiệm nêu gương, mẫu mực trong mọi hoạt động của đơn vị, từ lời nói đến việc làm, thì cán bộ ấy tự mình đã tỏa sáng, được mọi người tôn trọng, yêu quý, tin tưởng và ủng hộ; nhờ đó, có tác dụng động viên, cổ vũ, khích lệ cán bộ, chiến sĩ bằng niềm tin, sự yêu mến, kính trọng, học tập và noi theo. Ngược lại, nếu cán bộ chủ trì đơn vị không thực hiện tốt việc nêu gương, chưa nỗ lực phấn đấu vươn lên trong tu dưỡng, rèn luyện, công tác, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, không giữ được “mực thước” trong quan hệ, giao tiếp, ứng xử trong đời sống, sinh hoạt xã hội và công tác thì cán bộ ấy không thể đem lại hình ảnh tốt đẹp, uy tín và vị thế của cá nhân đối với tập thể mà còn làm giảm sút niềm tin của cán bộ, chiến sĩ với đơn vị và Quân đội. Nêu gương là phương thức giáo dục có sức thuyết phục tốt nhất, hiệu quả nhất, đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta, Quân đội ta. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “… các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”1; “Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”2. Vì vậy, Người đặc biệt coi trọng nêu gương, làm gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp trong thực hiện nhiệm vụ được giao, ở những thời điểm khó khăn, thử thách của cách mạng. Kế thừa truyền thống dân tộc, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương của cán bộ, đảng viên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đặc biệt quan tâm, chăm lo giáo dục, rèn luyện, đề cao tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Trong thời kỳ đổi mới đất nước, với vị thế của một Đảng cầm quyền, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có nhiều chủ trương, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) đã ban hành Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 về những điều đảng viên không được làm. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), Ban Bí thư đã ban hành Quy định 101-QĐ/TW, ngày 07-6-2012 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Bộ Chính trị đã ban hành Quy định 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Ngày 25-10-2018, Hội nghị Trung ương 8 (khóa XII) đã ban hành Quy định 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Sự ra đời của Quy định 08-QĐi/TW nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Một lần nữa, Đảng ta khẳng định nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và là đạo lý của người cán bộ, đảng viên của Đảng trước nhân dân. Trách nhiệm gương mẫu, tự giác đi đầu thể hiện từ trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự phê bình, phê bình đến trong quan hệ với quần chúng, trách nhiệm trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết nội bộ. Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Quân đội đã nghiêm túc triển khai thực hiện. Thông qua đó, ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong Quân đội, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp đã được nâng lên rõ rệt, tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, quan liêu và mọi biểu hiện tiêu cực trong đơn vị, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Quân đội và quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Quân ủy Trung ương, sự quản lý của Nhà nước và Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, việc quán triệt, thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng, Quân ủy Trung ương về trách nhiệm nêu gương và vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên ở một số đơn vị còn có hạn chế nhất định. Một bộ phận cán bộ, đảng viên trong Quân đội chưa quán triệt đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò, yêu cầu và nội dung, biện pháp nêu gương, dẫn đến xác định chưa rõ trách nhiệm và nghĩa vụ nêu gương; chưa thật sự mẫu mực trong lời nói, việc làm, trong rèn luyện, tu dưỡng, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, sinh hoạt; còn có những biểu hiện nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, lợi dụng chức quyền để trục lợi, có hành vi tham nhũng; cá biệt đã có cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội, gây dư luận không tốt trong cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân. Hiện nay, đất nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ và vận hội, song vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghệ, mặt trái của kinh tế thị trường, những tiêu cực, tệ nạn xã hội để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, truyền bá các sản phẩm văn hóa phương Tây, đề cao lối sống vật chất, sùng bái đồng tiền, quên tình nghĩa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của Quân đội; làm cho một số cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng. Đáng chú ý là, thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” Quân đội ta, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đẩy mạnh chống phá công tác cán bộ của Đảng trong Quân đội; dùng nhiều thủ đoạn để mua chuộc, lôi kéo cán bộ nhằm tạo ra lớp cán bộ “đỏ vỏ, xanh lòng” để chống Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân. Tình hình hiện nay đặt ra những yêu cầu mới về xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, phải tiếp tục xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, trước hết là cán bộ chủ trì, có vai trò đặc biệt quan trọng. Điều đó đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Quân đội phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan đơn vị. Để phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội, cần thực hiện tốt các yêu cầu sau: Thứ nhất, nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự giác, tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với việc thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phương châm nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội là cấp trên nêu gương trước cấp dưới; cán bộ chủ trì đơn vị nêu gương trước cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, tạo hình ảnh tốt đẹp trước tập thể đơn vị, sự tin yêu, kính trọng và tin tưởng học tập, làm theo của cán bộ, chiến sĩ. Thứ hai, cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội phải nêu gương trong lời nói, bài viết và phát ngôn. Ở đâu, lúc nào cũng vậy, phải luôn nhất quán lời nói, bài viết, phát ngôn đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh và các quy định của Quân đội. Mỗi lời nói, bài viết phải thể hiện rõ sự mẫu mực về tính đảng, tính khoa học, tính thực tiễn và tính giáo dục. Đồng thời, thể hiện rõ niềm tin yêu, lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; quan tâm chăm lo đến lợi ích, đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Thứ ba, cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội phải nêu gương trong việc làm, “nói đi đôi với làm” thông qua chất lượng, hiệu quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ, làm việc công tâm, khách quan, đúng nguyên tắc, thấu tình, đạt lý; có nền nếp, kỷ cương, đúng quy định của Đảng, điều lệnh của Quân đội. Chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tận tụy, tâm huyết với công việc; hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; luôn luôn là người đi đầu trong mọi hoạt động của đơn vị, chuẩn mực trong quan hệ giao tiếp, ứng xử, có thái độ, hành vi, tác phong quân nhân, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”, được cán bộ, chiến sĩ tin tưởng, yêu mến, coi đó là mực thước, khuôn mẫu để học tập, noi theo, làm theo. Thứ tư, cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội phải gương mẫu trong tuyên truyền, vận động gia đình chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương nơi cư trú. Thứ năm, cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội phải kiên quyết đấu tranh, phê phán, khắc phục mọi biểu hiện thiếu gương mẫu, nói không đi với làm, nói nhiều làm ít, nói một đường làm một nẻo; phải có dũng khí vượt qua mọi cám dỗ, những khó khăn, thử thách, chiến thắng chính mình và giúp đỡ cấp dưới khi mắc sai lầm, khuyết điểm để tiến bộ, trưởng thành. Kiên quyết chống lại mọi hiện tượng tiêu cực xảy ra trong đơn vị. Để phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, cần thực hiện tốt những nội dung giải pháp cơ bản sau: Một là, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc tư tưởng Hồ Chí Minh; các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của Quân ủy Trung ương và của cấp ủy, tổ chức đảng về nêu gương. Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp cần nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương và các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng về nêu gương. Tiếp tục quán triệt và xây dựng kế hoạch thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Quy định 47-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm; Quy định 101-QĐ/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định 55-QĐ/TW về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và các quy định của Quân ủy Trung ương về nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội. Qua đó, chỉ rõ những nội dung mà bản thân cán bộ chủ trì cần phải nêu gương với giải pháp phù hợp, hiệu quả nhất. Phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, nhất là các cơ quan thông tấn, báo chí trong và ngoài Quân đội nhằm tuyên truyền, giáo dục làm cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ nhận thức đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa của việc nêu gương, vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Trên cơ sở đó, tích cực nhân rộng điển hình tiên tiến thành các phong trào hành động cách mạng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, chiến sĩ trong xây dựng đơn vị, thực hiện mọi nhiệm vụ được giao. Chống việc quán triệt sơ sài, nhận thức không đầy đủ của cấp ủy, tổ chức đảng về phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ trong phạm vi từng cơ quan, đơn vị. Hai là, cụ thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng, Quân ủy Trung ương thành các tiêu chí, quy định về nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội phù hợp với thực tiễn đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của cán bộ từng cấp. Đây là việc làm cần thiết để tạo cơ sở, hành lang pháp lý cho cán bộ chủ trì tự soi để tự sửa, phát huy vai trò nêu gương trong từng hoạt động cụ thể; làm cơ sở để giám sát việc nêu gương của cán bộ, đảng viên; cơ sở trong việc đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ chủ trì các cấp. Đồng thời, là căn cứ để các cấp ủy, cơ quan chức năng và mọi cán bộ, chiến sĩ theo dõi, giúp đỡ và kiểm tra, giám sát cán bộ chủ trì phát huy vai trò nêu gương. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng các cấp cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn được giao, bám sát các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng, của Quân ủy Trung ương về nêu gương và phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; căn cứ vào tình hình thực tiễn đơn vị, chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ chủ trì từng cấp để xây dựng các tiêu chí cụ thể về nêu gương và phát huy vai trò của cán bộ chủ trì trong lời nói, việc làm, trong tu dưỡng, rèn luyện bản thân về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, xứng đáng là tấm gương cho cán bộ, chiến sĩ học tập, noi theo. Trong quá trình triển khai thực hiện, cấp ủy, cơ quan chức năng và cán bộ chủ trì các cấp cần coi trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nêu gương của cán bộ chủ trì để kịp thời bổ sung, điều chỉnh các tiêu chí, quy định, bảo đảm cho quá trình thực hiện nêu gương có hiệu lực, hiệu quả thiết thực. Bản thân cán bộ chủ trì các cấp phải thường xuyên dựa chắc vào các tiêu chí, quy định nêu gương; xây dựng cam kết thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng để tự soi, tự sửa, từ lời nói, việc làm đến tự tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt; lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ và sự tín nhiệm của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân để tiếp tục thực hiện tốt hơn sự nêu gương. Chống việc làm hình thức hoặc không căn cứ vào tình hình cụ thể của cơ quan, đơn vị, sao chép nguyên các tiêu chí, quy định của trên, khó cho việc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện. Ba là, tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện thắng lợi Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong toàn quân. Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội là sự thể hiện sinh động việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Do đó, cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng, cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội cần tiếp tục giáo dục, làm cho cán bộ, chiến sĩ, trước hết là cán bộ chủ trì nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, tích cực phát động các phong trào hành động cách mạng, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu vào từng hoạt động của mỗi cơ quan, đơn vị bằng hành động, lời nói, việc làm cụ thể từng tuần, từng tháng, từng quý của cán bộ chủ trì các cấp. Các cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chức năng, đội ngũ chính ủy, chính trị viên cần nêu cao vai trò, trách nhiệm, tăng cường kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, làm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành hoạt động thường xuyên, liên tục của cán bộ chủ trì các cấp trong toàn quân. Bốn là, thường xuyên tự phê bình và phê bình; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp. Tự phê bình và phê bình, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” là vấn đề có tính quy luật trong xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng. Thực tiễn chứng minh rằng, nhờ thường xuyên làm tốt tự phê bình và phê bình, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” nên trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, Đảng ta, Quân ủy Trung ương vẫn giữ vững sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đủ sức lãnh đạo và đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thành công. Vì vậy, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội hiện nay chỉ thực sự đạt chất lượng, hiệu quả tốt nhất khi công tác tự phê bình và phê bình được thực hiện nghiêm túc; đồng thời, thực hiện tốt việc kết hợp chặt chẽ giữa “xây” đi đôi với “chống”. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng, đội ngũ chính ủy, chính trị viên phải thường xuyên coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa phát huy vai trò cán bộ chủ trì gắn với tự phê bình và phê bình trong cấp ủy, chỉ huy đơn vị. Thường xuyên có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc tự phê bình và phê bình với việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ chủ trì các cấp. Hằng tháng, hằng quý và hằng năm, các cấp ủy cần phải có nghị quyết lãnh đạo, xác định rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp kiểm điểm tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì. Gắn việc kiểm điểm đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên và nhận xét, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, sắp xếp cán bộ hằng năm với kiểm điểm tự phê bình và phê bình việc phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp. Nêu gương thì trước hết phải làm gương từ việc nhỏ đến việc lớn, thể hiện thường xuyên về mọi mặt, phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; nói phải đi đôi với làm. Đồng thời, lấy gương người tốt, việc tốt để tuyên truyền, thuyết phục, cảm hóa, lôi cuốn quần chúng. Do vậy, cấp ủy, cơ quan chức năng và cán bộ chủ trì các cấp, nhất là đội ngũ chính ủy, chính trị viên, người đứng đầu cấp ủy cơ quan, đơn vị cần kết hợp chặt chẽ việc tuyên truyền, nhân rộng gương “người tốt, việc tốt”, những điển hình tiên tiến về nêu gương của cán bộ, chiến sĩ trong các đơn vị; đồng thời, phê phán mọi biểu hiện, hành vi thiếu gương mẫu trong lời nói, việc làm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Kiên quyết phê phán những cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, không dám nói, không dám hành động, hoặc “nói nhiều, làm ít”, “nói mà không làm”, “nói một đằng, làm một nẻo”, thậm chí thụ động, ngồi chờ, sợ trách nhiệm. Năm là, thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định nêu gương của cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “…kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân”3; “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”4. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát. Về nội dung, kiểm tra, giám sát toàn diện, song cần có kế hoạch kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là sự gương mẫu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, thái độ, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, v.v. Quá trình kiểm tra, giám sát phải thực hiện đúng nguyên tắc, quy trình, phương châm, phương pháp, phát huy tốt vai trò của cấp ủy, chi bộ, ủy ban kiểm tra các cấp, của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đơn vị. Lấy kết quả thực hiện quy định nêu gương là một tiêu chí đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên, lấy phiếu tín nhiệm; đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm những người vi phạm. Trong số nhiều giải pháp quan trọng nhằm xây dựng Đảng luôn “trong sạch, vững mạnh” ngang tầm nhiệm vụ, Đảng ta luôn đề cao vai trò “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì, người đứng đầu cấp ủy cơ quan, đơn vị. Đây là phương pháp đúng đắn, hiệu quả và là yêu cầu bức thiết trong tình hình hiện nay. Thực hiện tốt các quy định nêu gương không chỉ là tình cảm, trách nhiệm đối với Đảng, mà còn góp phần giáo dục, rèn luyện cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội “vừa hồng, vừa chuyên”, tô thắm thêm phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, nhân lên nhiều việc làm tốt, tấm gương tốt ở mỗi cơ quan, đơn vị. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

VIỆT NAM - ĐIỂM HẸN HOÀ BÌNH

 

    Yêu chuộng hòa bình là nét văn hóa tốt đẹp, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong thời kỳ mới, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã không ngừng gìn giữ, bồi đắp, phát huy để giá trị thiêng liêng, cao quý đó càng tỏa sáng, vững bền.

    1. Những năm qua, trong xu thế hội nhập quốc tế, hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam diễn ra phong phú, đa dạng trên các trụ cột và nhiều phương diện, bình diện. Công tác đối ngoại đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, cũng trong quá trình đó, những đối tượng hiềm khích và lực lượng chống phá cách mạng Việt Nam không ngừng tung ra các chiêu trò, thủ đoạn bôi nhọ, bẻ cong sự thật. Đã có nhiều bài viết, bài báo đăng trên các diễn đàn, website, cơ quan báo chí địa chỉ ở nước ngoài... chủ ý bịa đặt nhiều thông tin, cố tình quy chụp, cho rằng Việt Nam đang tăng cường quan hệ với nước này nhằm chống nước kia, hoặc dựa vào nước này để tránh sức ép từ nước khác, cố tình gây dựng đồng minh, phe cánh... Cùng với đó, chúng cố gắng xuyên tạc, bôi nhọ những giá trị truyền thống và giá trị văn hóa yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

    Những luận điệu nêu trên tuy không mới nhưng xuất hiện dày đặc ở những thời điểm diễn ra các hoạt động đối ngoại quan trọng của Việt Nam, cũng ít nhiều gây xáo trộn, nhiễu loạn thông tin. Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với mưu đồ gây bất hòa trong mối quan hệ giữa Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới... Mặc dù chỉ là những luận điệu vô căn cứ, bịa đặt, là tiếng nói lạc lõng, yếu ớt của một số cá nhân... nhưng hệ quả của nó sẽ hết sức nguy hại, nếu không sớm được nhận diện, đấu tranh phủ nhận, bóc gỡ kịp thời.

    2. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của Việt Nam cho thấy: Dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Dù trải qua các cuộc trường kỳ kháng chiến, đối đầu với những kẻ thù hùng mạnh, nhưng dân tộc Việt Nam luôn khẳng định tính chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình bất diệt. Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động nhất cho khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, hòa bình là lợi ích của tất cả các dân tộc, do đó phải đấu tranh cho hòa bình trên thế giới được bền vững, “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí”. Cũng theo Người, trừ những người đi bóc lột, còn lại đều là bạn bè, là anh em, những người chung cảnh bị bóc lột. Người là hiện thân của tinh thần “Quan san muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” và lý tưởng “người với người là bạn”.

    Thực tiễn cách mạng cho thấy, mỗi người dân Việt Nam khi bước ra chiến trường là vì độc lập, hòa bình của dân tộc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân và thực hiện tinh thần quốc tế cao cả. Họ luôn anh dũng, kiên cường chiến đấu bằng tinh thần "sẵn sàng hy sinh khi Tổ quốc cần", thế nhưng đến lúc giành thắng lợi cuối cùng, người dân lại hồn hậu, lạc quan đón nhận cuộc sống thái hòa bình dị, sẵn sàng "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai", đúng như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã đúc kết trong bài "Việt Nam quê hương ta": Đất nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên/ Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa- Đây là sự khái quát đầy đủ, sinh động về tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

    3. Đã có không ít lãnh đạo của các cường quốc trên thế giới và tổ chức quốc tế ghi nhận, bày tỏ cảm phục về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình và hành động vì hòa bình thế giới. Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres từng khẳng định với lãnh đạo cấp cao Việt Nam trong một cuộc điện đàm: “Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới”. Đại sứ Barbara Woodward, Trưởng phái đoàn thường trực Anh tại Liên hợp quốc từng đánh giá: “... Những đóng góp của Việt Nam có giá trị cao, giúp giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với hòa bình và an ninh quốc tế”. Phát biểu khi đến thăm Việt Nam (năm 2016), Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama khẳng định: “Đối với các bạn, xung đột trong quá khứ là một ký ức không vui. Nhưng ngày hôm nay, Việt Nam và Mỹ đã cho thế giới thấy rằng, trái tim có thể thay đổi và hòa bình là điều có thể”. Đặc biệt, đã có đến 5 lần các Tổng thống Mỹ sang thăm Việt Nam và chứng kiến những đổi thay của mối quan hệ hai nước, song tình cảm thân thiện, yêu chuộng hòa bình của người dân Việt Nam là giá trị bền vững làm lay động trái tim của những chính khách, như Tổng thống Obama gửi lời cảm ơn trước lúc rời Việt Nam trong chuyến thăm năm 2016: “Sự thân thiện của các bạn đã chạm đến trái tim tôi”.

    Đã từ lâu, Thủ đô Hà Nội được bạn bè quốc tế biết đến là điểm đến hòa bình, thân thiện, mến khách. Hình ảnh lãnh đạo cấp cao của các quốc gia trên thế giới đi dạo trên phố phường Việt Nam thanh bình, thưởng thức ẩm thực đường phố, uống cà phê vỉa hè... từ lâu đã không có gì mới mẻ hay lạ lẫm với người dân Việt Nam, cũng trở nên rất đỗi thân quen với truyền thông quốc tế. Đặc biệt, không phải tự dưng mà cách đây mấy năm, lãnh đạo của hai nước Mỹ và Triều Tiên đều đề nghị Việt Nam đứng ra làm nước chủ nhà tổ chức Hội nghị thượng đỉnh lần hai (năm 2019). Hội nghị diễn ra an toàn tuyệt đối không chỉ đối với phái đoàn hai nước mà còn với gần 3.000 phóng viên đến từ hơn 200 hãng thông tấn, báo chí quốc tế từ nhiều châu lục đến đưa tin về sự kiện này. Việt Nam đã rất nỗ lực, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối cho hội nghị, thể hiện rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Cả hai nguyên thủ trước khi rời Việt Nam đều gửi lời cảm ơn Việt Nam vì sự tiếp đón ân cần, chu đáo, thịnh tình và vì trách nhiệm chung với cộng đồng quốc tế.

    Trong những năm gần đây, khi tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến mới, nhanh chóng và phức tạp, gây không ít khó khăn, thách thức lớn hơn so với dự báo, nhưng Việt Nam luôn là quốc gia giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển, đổi mới đất nước. Môi trường sống ở Việt Nam không ngừng được cải thiện, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, trong đó có nhiều tiêu chí gây ấn tượng, ngang với những nước phát triển. Môi trường ổn định, yên bình cùng người dân thân thiện đã thu hút các nhà đầu tư quốc tế, đồng thời thuyết phục rất nhiều người nước ngoài lựa chọn sinh sống và làm việc tại Việt Nam.

    Không dừng lại ở đó, Việt Nam đã và đang mang khát vọng hòa bình vươn xa bằng cách tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Mỗi sĩ quan được cử đi làm nhiệm vụ đặc biệt này chính là đại sứ hòa bình, nắm trọng trách truyền đi khát vọng hòa bình của dân tộc. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện để cứu trợ nhân đạo, tái thiết cơ sở hạ tầng, rà phá bom, mìn, giúp nhân dân bản địa ổn định cuộc sống... đã trở thành biểu tượng cao đẹp, khiến hai tiếng Việt Nam được vang lên đầy tự hào ở những đất nước xa xôi.

    4. Mới đây, phát biểu tại Lễ kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 / 2-9-2023), Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định: Việt Nam là đất nước của hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, là điểm đến tươi đẹp, an toàn, thân thiện, giàu lòng mến khách. Việt Nam luôn nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối cho hợp tác và đối thoại, củng cố chủ nghĩa đa phương, thúc đẩy giải quyết bằng biện pháp hòa bình thông qua đối thoại về các tranh chấp trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; sẽ luôn là người bạn chân thành, thủy chung, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

    Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thiết lập quan hệ song phương, đa phương với các quốc gia trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 192 quốc gia trên thế giới. Trong đó, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước; bao gồm 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu (G7) và tất cả thành viên ASEAN. Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, trong đó 96 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Các tổ chức hữu nghị nhân dân có quan hệ với 1.200 tổ chức nhân dân và phi chính phủ nước ngoài. Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 220 đối tác, 71 nước đã công nhận quy chế kinh tế thị trường đối với Việt Nam. Việt Nam là thành viên của hơn 70 tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và toàn cầu... Kết quả đó cho thấy thành tích to lớn của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thế nhưng, điều đáng ghi nhận hơn là các đối tác đều tích cực, chủ động, bày tỏ lòng mong muốn hợp tác với Việt Nam; thể hiện sự cảm phục, tình yêu và sự trọng thị dành cho Việt Nam-một người bạn thủy chung-một đối tác tin cậy, luôn nỗ lực hợp tác vì lợi ích chung và vì hòa bình của thế giới.

    Để tiếp tục khẳng định vai trò và sứ mệnh của một quốc gia yêu chuộng hòa bình, thời gian tới, Việt Nam tiếp tục nỗ lực giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm tốt an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra môi trường kinh tế-xã hội hòa bình, năng động, thân thiện. Việt Nam kiên định chủ trương: “Thêm bạn bớt thù, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, đẩy mạnh công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước để không ngừng khẳng định uy tín, vị thế của dân tộc; đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình của cả dân tộc và mỗi người dân Việt Nam.

    Đặc biệt, triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) và thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc (tháng 12-2021), đối ngoại Việt Nam cần tiếp tục kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược; chú trọng triển khai hiệu quả, đồng bộ, toàn diện, linh hoạt trên cả 3 trụ cột (đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân); nỗ lực thực hiện vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; huy động mạnh mẽ các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước; nâng cao vai trò, vị thế, uy tín quốc tế của Đảng và đất nước. Hơn bao giờ hết, Việt Nam tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Đẩy mạnh thực hiện tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

Đẩy mạnh thực hiện tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng 1 Vấn đề nêu gương, gương mẫu của cán bộ, đảng viên luôn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm; là một trong những biện pháp quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh vấn đề “tự giác nêu gương” của cán bộ, đảng viên. images2842170-1-1-.jpg Ảnh minh họa. Nguồn: Internet Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc nêu gương, gương mẫu của cán bộ, đảng viên Trong 91 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, “nêu gương” luôn được Đảng ta xác định là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó cán bộ, đảng viên phải “tự giác nêu gương” là luận điểm nổi bật. Những thành tựu vĩ đại, to lớn, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo tới nay đã khẳng định một trong những phương thức lãnh đạo đúng đắn của Đảng là vấn đề “tự giác nêu gương” của cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh: “… mỗi cán bộ phải làm gương mẫu”(1) mà còn chỉ ra nội hàm của “gương mẫu”, cụ thể là: “Người đảng viên ở bất kỳ đâu, bất kỳ làm việc gì, bất kỳ địa vị nào và hoàn cảnh nào, cũng phải luôn luôn: đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải gần gũi dân chúng, thương yêu, giúp đỡ dân chúng, tổ chức và lãnh đạo dân chúng. Phải giữ vững đạo đức cách mệnh, là chí công vô tư”(2). Đảng ta cũng chỉ rõ: “Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(3), coi đó là một nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Đảng viên tự giác nêu gương chính là làm gương trong mọi hành động, việc làm và thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên luôn là chuẩn mực đạo đức để quần chúng soi rọi, noi theo. Nếu đảng viên không gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, rèn luyện đạo đức, lối sống, thì chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước khó trở thành hiện thực, thậm chí bị thực hiện sai, khiến cho Nhân dân thiếu tin tưởng vào chủ trương, chính sách, pháp luật; do đó công tác tư tưởng chính trị, thuyết phục, vận động của Đảng sẽ mất đi ý nghĩa thực tiễn. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ta có được như ngày nay không chỉ là do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, sự hy sinh quên mình và những tấm gương mẫu mực, trong sáng về tinh thần tận trung với nước, với Đảng, tận hiếu với dân của lớp lớp thế hệ cán bộ, đảng viên; mà còn do “thực hiện đồng bộ với các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”(4). Vì vậy, hầu hết cán bộ, đảng viên lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, các ngành và địa phương đã nêu gương về đổi mới tư duy, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ do tổ chức phân công, được quần chúng yêu mến, tín nhiệm. Tuy nhiên, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu”(5); chưa tự giác nêu gương, chưa thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu trước quần chúng nhân dân; có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa xác định rõ trách nhiệm và chưa thật sự gương mẫu trong rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong với những biểu hiện như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, có cán bộ còn trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; có cán bộ lãnh đạo cấp cao, cả đương chức và đã nghỉ hưu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Điều đó đã gây ra dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng đến thanh danh, uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân, tổn hại đến mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, giảm sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Giải pháp tiếp tục phát huy vai trò nêu gương, gương mẫu của cán bộ, đảng viên Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trong đó có vấn đề tăng cường phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua “tự giác nêu gương” của cán bộ, đảng viên, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau: Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp về việc “tự giác nêu gương” của cán bộ, đảng viên. Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên không tự nhiên mà có, mà phải thông qua quá trình tự phấn đấu, tự tu dưỡng, rèn luyện hàng ngày. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Đảng về vấn đề này, như: Quy định số 101-QÐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Đặc biệt là Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 09/3/2021 của Bộ Chính trị “Về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”. Trên cơ sở quy định của Đảng, cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp cần quán triệt, cụ thể hóa, xây dựng thành những quy định cụ thể về “tự giác nêu gương” phù hợp với chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên. Hai là, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng tiến lên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người chiến sĩ gương mẫu thì không bao giờ tự mãn tự túc, mà cố gắng tiến bộ mãi”(6). Đảng viên tự giác nêu gương không chỉ là một yêu cầu đối với vai trò và phương thức lãnh đạo của Đảng, mà còn được đặt ra như là một chuẩn mực đạo đức - “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”(7). Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu chính là để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu của Đảng, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên. Cán bộ, đảng viên “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”(8) bởi vì họ là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì thế, hơn ai hết, cán bộ, đảng viên phải đi trước, lo trước Nhân dân và vui sau Nhân dân để dẫn dắt quần chúng, tạo ra phong trào cách mạng rộng lớn. Trong cuộc sống hàng ngày, cán bộ, đảng viên phải tự giác nêu gương toàn diện, không chỉ về tư tưởng chính trị mà còn về đạo đức, lối sống; không chỉ trong lời nói mà trong cả việc làm trên mọi lĩnh vực, trong mọi hoàn cảnh, cả trong tổ chức, xã hội và ở gia đình một cách tự giác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”(9). Như vậy, nếu cán bộ, đảng viên không có uy tín với xóm làng, khối phố, khu dân cư thì không thể nói họ gương mẫu được; cũng không thể nói là nêu gương, nếu người cán bộ, đảng viên đó chỉ thuyết giáo và yêu cầu mọi người hãy chấp hành pháp luật, còn mình thì “đứng ngoài pháp luật, đứng trên pháp luật”. Ba là, cán bộ, đảng viên “tự giác nêu gương”trong học tập lý luận chính trị. Để cán bộ, đảng viên “tự giác nêu gương”, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần phải tích cực tổ chức tuyên truyền học tập lý luận chính trị, có như vậy mới nâng cao được chất lượng giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Các nhà kinh điển mác xít khẳng định lý luận cách mạng là điều kiện tiên quyết để hình thành và thúc đẩy phong trào cách mạng. Theo V.I.Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng và chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong”(10), và khi nhận thức (lý luận) đã thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất to lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: có học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững được lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm tốt công tác mà Đảng giao phó cho mình. Người chỉ rõ: “vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”(11). Do đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và cán bộ, đảng viên cần “tự giác nêu gương” về học tập lý luận chính trị. Trước hết từ trong nhận thức, trách nhiệm đến giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, nhất là mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tính tích cực, chủ động trong tự học tập, tự nghiên cứu lý luận chính trị. Đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp cả về phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn sư phạm đến thực hiện nghiêm quy định, chế độ học tập lý luận chính trị; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá; lấy kết quả học tập lý luận chính trị là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên hàng năm, qua đó góp phần nâng cao tinh thần “tự giác nêu gương” trong học tập lý luận cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Ban Tuyên giáo Trung ương đã xây dựng Chuyên đề toàn khóa về "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc". Trên cơ sở đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần cụ thể hóa việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể hàng ngày, gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương mình; từ đó sẽ nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình trong hệ thống chính trị, tự giác nêu gương về mọi mặt, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, đảng viên học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ mọi mặt; quan tâm giúp đỡ, động viên cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, tạo điều kiện để mỗi cán bộ, đảng viên xây dựng kế hoạch tự phấn đấu vươn lên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần tự giác tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao tính tiên phong, gương mẫu trong thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố”(12). Cán bộ, đảng viên không chỉ tự học qua sách, báo, qua các phương tiện thông tin đại chúng, mà phải tự học tập lẫn nhau và thông qua hoạt động thực tiễn để thâm nhập vào phong trào cách mạng của quần chúng, làm cho phong trào đó phát triển đúng định hướng chính trị và qua đó tự rèn luyện mình. Qua hoạt động thực tiễn sẽ cung cấp nhiều loại thông tin đa dạng hơn, đồng thời kiểm định lý luận và càng nâng cao tầm hiểu biết, có thêm nghị lực để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao hơn và thời gian ngắn hơn. Do đó, cán bộ, đảng viên phải thực sự sâu sát với quần chúng, quý trọng Nhân dân, gương mẫu về mọi mặt, có như vậy mới tổ chức, tuyên truyền và vận động Nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đạt hiệu quả cao. Năm là, tiếp tục đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Cán bộ, đảng viên phải “tự giác nêu gương” trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch một cách gương mẫu nhất. Phải kết hợp đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc, thù địch với chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm chính trị của cán bộ, đảng viên. Trước những thông tin xuyên tạc, các quan điểm sai trái, từng cán bộ, đảng viên cần khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có trình độ lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác lại những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Để thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng “Kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”(13) và phương châm “mỗi đảng viên là một tuyên truyền viên của Đảng”, bằng kiến thức và hiểu biết của mình, mỗi cán bộ, đảng viên phải là những người đi đầu trong tuyên truyền, giải thích cho quần chúng ở địa phương, đơn vị hiểu rõ bản chất sai trái, không nghe, không tin theo các thông tin xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch với cách mạng Việt Nam. Để thực hiện điều đó, cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp cần cung cấp thông tin đầy đủ, toàn diện về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mỗi cá nhân để họ nhận diện đúng đối tượng và bản chất, âm mưu, thủ đoạn luận điệu chống phá của các thế lực thù địch. Mặt khác, cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức cảnh giác, không nghe, không tin, không làm theo các thông tin xấu độc; tuân thủ quy tắc ứng xử trên không gian mạng. Đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác chính trị nội bộ; dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Tích cực, chủ động đấu tranh trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, chủ động định hướng dư luận xã hội. Tăng tường các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn, xử lý các thông tin xấu độc trên không gian mạng; đồng thời xử lý nghiêm minh trước pháp luật các đối tượng đưa thông tin xấu độc trên không gian mạng. Bên cạnh đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải thường xuyên cung cấp thông tin chính thống, cung cấp luận cứ khoa học, chứng cứ thực tiễn để cán bộ, đảng viên có cơ sở đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Sáu là, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cán bộ, đảng viên phải “tự giác nêu gương” trong chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ, giữ gìn đoàn kết nội bộ; việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ “lợi ích nhóm” và những tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm về phẩm chất đạo đức, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát huy vai trò người đứng đầu cấp ủy về giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, vai trò, trách nhiệm nêu gương. Đảng ta chỉ rõ cần: “Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(14). Điều đó đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để phát hiện, uốn nắn và phải “xử lý kịp thời, kiên quyết, triệt để, đồng bộ, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm”(15). Đồng thời, cần xây dựng quy định cụ thể để mỗi cán bộ, đảng viên tự giác chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp ủy, chi bộ nơi công tác, nơi cư trú; ngăn chặn việc tự đặt bản thân lên trên tổ chức, lên trên tập thể; kiên quyết khắc phục tình trạng nể nang, bao che, lảng tránh trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát. Bên cạnh đó, cần phát huy và đề cao trách nhiệm của Nhân dân trong kiểm tra, giám sát, đánh giá, nhận xét năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống, các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên. Hiện nay, chúng ta đang xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục đề cao trách nhiệm nêu gương và tự giác nêu gương đi đầu trên mọi lĩnh vực, trong mọi hoàn cảnh, mọi lúc, mọi nơi; tự giác học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị cả về nhận thức và hành động. Thực hiện tốt điều đó sẽ có sức lan tỏa rất lớn trong xã hội, góp phần vào xây dựng, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Đại biểu thanh niên Quân đội đóng góp nhiều nội dung thiết thực

Đoàn đại biểu thanh niên Quân đội có 22 gương mặt điển hình ưu tú tham dự Đại hội Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác toàn quốc lần thứ VII, năm 2023. Phát huy nhiệt huyết, tinh thần trách nhiệm, trí tuệ của tuổi trẻ, các đại biểu thanh niên Quân đội có nhiều ý kiến đóng góp, hiến kế với Đại hội những giải pháp thiết thực trong đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thiếu tá HOÀNG ĐỨC DANH, Trợ lý công tác quần chúng, Phòng Chính trị, Sư đoàn 5, Quân khu 7: Cán bộ Đoàn cần nêu gương từ những hành động nhỏ Đội ngũ cán bộ Đoàn có vai trò rất quan trọng, là những người trực tiếp tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác Đoàn và phong trào thanh niên ở đơn vị. Vì vậy, để nâng cao chất lượng công tác Đoàn, một vấn đề hết sức quan trọng là nâng cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ Đoàn các cấp. Thời gian qua, chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn từng bước được nâng lên, có sự chuyển biến tích cực, toàn diện về nhận thức và kỹ năng hoạt động thực tiễn, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận, trong quá trình hoạt động, vẫn còn một số cán bộ Đoàn chưa thật sự nhiệt huyết, năng lực còn hạn chế, chưa phát huy tối đa sức trẻ, sự sáng tạo trong công tác. Chính vì vậy, hiệu quả của các phong trào chưa cao. Thiếu tá Hoàng Đức Danh. Trước thực trạng nêu trên, tôi cho rằng việc phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Đoàn các cấp không có gì là quá cao siêu, mà chính xuất phát từ những hành động đẹp nhỏ nhất trong công việc và đời sống thường ngày. Bản thân xin đề xuất một số giải pháp sau: Một là, tạo sự thống nhất nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Đoàn. Đây là biện pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu tạo nền tảng ban đầu, định hướng tổ chức, chỉ đạo việc phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Đoàn. Hai là, bồi dưỡng, sử dụng các điển hình tiên tiến, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Đoàn. Những tấm gương thực tiễn sống động của cán bộ Đoàn có vai trò to lớn trong giáo dục đoàn viên, có sức hấp dẫn cuốn hút mạnh mẽ có thể làm chuyển hóa, thay đổi nhận thức, tình cảm, ý chí và hành vi, hành động của đoàn viên, thanh niên theo hướng tích cực. Ba là, tổ chức có hiệu quả công tác đoàn và phong trào thanh niên để phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Đoàn. Đây là hoạt động thiết thực đáp ứng được nhu cầu tâm sinh lý của thanh niên - lứa tuổi đầy nhiệt huyết cách mạng, ưa thích các hoạt động bề nổi, sẵn sàng xung kích đi đầu thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ. Qua các hoạt động phong trào sẽ tập hợp được đông đảo đoàn viên hăng hái tham gia, tạo bầu không khí sôi nổi, sự đoàn kết gắn bó, chung tay, chung sức hướng đến những mục tiêu chung. ------------------ Đại úy NGUYỄN NGỌC LUÂN, Bí thư Liên chi đoàn Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312, Quân đoàn 1: Nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vì ngày mai lập nghiệp Thanh niên là lực lượng vô cùng quan trọng, vì thanh niên là rường cột của nước nhà, là chủ nhân tương lai của đất nước. Chính vì vậy, việc nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng tuổi trẻ vì ngày mai lập nghiệp là vấn đề cấp thiết hiện nay. Phần lớn thanh niên Việt Nam có trách nhiệm cao đối với Tổ quốc; luôn xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đảm nhận những công việc khó khăn, gian khổ, cấp bách khi Tổ quốc cần; đồng thời luôn có khát vọng cống hiến, lập nghiệp, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận thanh niên sống mờ nhạt, chưa xác định rõ mục tiêu phấn đấu, hoài bão và khát vọng của bản thân; không chịu rèn luyện, không lo lập nghiệp mà chạy theo lối sống thực dụng, ăn chơi, hưởng thụ, lao vào các tệ nạn xã hội... Từ thực trạng đó đặt ra yêu cầu ngày càng cấp thiết đối với việc bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Đại úy Nguyễn Ngọc Luân. Theo tôi, cần không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng các cấp trong phát huy vai trò của tổ chức đoàn thanh niên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, tổ chức các chương trình, hoạt động hướng nghiệp, giới thiệu việc làm cho thanh niên. Phát huy tính tích cực, tự giác của thanh niên trong quá trình tự học tập, rèn luyện, luôn "dưỡng tâm trong", "rèn trí sáng", "xây hoài bão lớn" và hình thành tác phong "dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hành động vì lợi ích chung" trong học tập, công tác, lao động sản xuất. Đẩy mạnh các hoạt động đào tạo nghề và giải quyết việc làm, cần có sự quan tâm đúng mức của các cấp, ngành, địa phương để có những chương trình, chính sách đồng bộ hỗ trợ thanh niên lập nghiệp. Mỗi thanh niên luôn có quan điểm riêng về khát vọng, hoài bão, ước mơ tùy thuộc vào hoàn cảnh, trình độ, năng lực của mình, nhưng những ước mơ, hoài bão đó phải vì mục tiêu lý tưởng "Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH", vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. ----------------- Thượng úy NGUYỄN VĂN HÙNG, Bí thư Đoàn cơ sở Phòng Kỹ thuật, Vùng Cảnh sát biển 4: Tạo môi trường để thanh niên học tập, nâng cao trình độ Tôi nhận thấy một số cơ quan, đơn vị, địa phương vẫn chưa phát huy tối đa khả năng, thế mạnh của mình trong các hoạt động giáo dục, tạo môi trường học tập cho thanh niên, chưa có nhiều giải pháp thiết thực phát huy vai trò đồng hành của tổ chức Đoàn đối với thanh niên. Đồng thời, công tác hỗ trợ thanh niên sau các hoạt động giáo dục ở một vài nơi chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức, vẫn chỉ dừng lại ở các hoạt động tuyên dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu trong học tập hoặc đoạt giải cao trong việc tham gia giải thưởng các cấp. Thượng úy Nguyễn Văn Hùng. Thực tế triển khai hoạt động tuyên truyền, định hướng giáo dục cho thanh niên còn những tồn tại, hạn chế cần được khắc phục, rút kinh nghiệm, như: Nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền, định hướng giáo dục cho thanh niên chưa thực sự phong phú, đa dạng, chất lượng và hiệu quả; thanh niên sau khi được giáo dục về khởi nghiệp gặp rất nhiều khó khăn khi tìm kiếm thông tin về các chương trình, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, đặc biệt là thông tin về các chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước dành cho thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp. Sự mạnh mẽ tìm tòi và tư duy, quyết tâm khởi nghiệp, xây dựng mô hình kinh tế của một số thanh niên chưa thực sự rõ ràng. Bên cạnh đó, trình độ kiến thức, kỹ năng, phương pháp của một số cán bộ Đoàn, Hội còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong việc tuyên truyền, định hướng, giáo dục, hỗ trợ thanh niên… Từ đó, mà hiệu quả và chất lượng thực tế còn chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Công tác giáo dục cho đội ngũ thanh niên có lúc chưa được coi trọng đúng mức; nội dung, hình thức giáo dục còn xơ cứng, chưa thật phù hợp đặc điểm tâm, sinh lý thanh niên. Một số chương trình giáo dục của tổ chức đoàn thanh niên chậm đổi mới, chưa mạnh dạn sáng tạo đề xuất và thực hiện nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động, vì thế, còn thiếu chiều sâu, chưa thực sự hấp dẫn thu hút đoàn viên, thanh niên. Theo tôi, bài học kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn là tạo môi trường giáo dục tốt cho thanh niên, thúc đẩy phong trào học tập, sớm triển khai các chương trình giáo dục, định hướng, hỗ trợ thanh niên với nhiều nội dung, hình thức phong phú và đa dạng. Chính những hoạt động giáo dục tốt cho thanh niên sẽ là nhân tố quyết định đến việc sẽ ra đời nhiều loại hình câu lạc bộ, tổ hợp tác, hợp tác xã thanh niên phát triển kinh tế được thành lập và đi vào hoạt động có hiệu quả, những mô hình thanh niên làm kinh tế giỏi. --------------- Trung úy LƯƠNG BÁ HIẾU, Phó đại đội trưởng Đại đội Thông tin, Lữ đoàn 215, Binh chủng Tăng thiết giáp: Nâng cao trách nhiệm của thanh niên tham gia bảo vệ Tổ quốc Trước tác động của nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng tới nhận thức của một bộ phận thanh thiếu niên về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nên công tác tuyên truyền, giáo dục cho thanh niên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới được chú trọng ở các tổ chức trong cả nước, có nhiều cách làm hay sáng tạo, đổi mới về mặt hình thức và nội dung như giáo dục quốc phòng, an ninh trong các nhà trường, tổ chức diễn đàn, hoạt động câu lạc bộ, sử dụng các trang mạng xã hội… Tuyên truyền, giáo dục cho thanh niên hiểu rõ về lòng yêu nước, trách nhiệm của mỗi bản thân trong xây dựng quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Trung úy Lương Bá Hiếu. Song công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho thanh niên còn một số hạn chế như: Phương pháp giáo dục còn chưa đổi mới về nội dung và phương pháp; còn chung chung, chưa chỉ rõ cụ thể vai trò, trách nhiệm của mỗi thanh niên trong nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh; công tác giáo dục chưa gắn với thực tiễn việc làm, hành động của mỗi thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; một số đoàn viên, thanh niên chưa hiểu rõ trách nhiệm trong xây dựng quốc phòng, an ninh; một số thanh niên không chịu khó học tập, rèn luyện bản thân, có lối sống buông thả, thiếu tôn trọng pháp luật, bị các đối tượng xấu xúi giục gây ra các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng tới an ninh trật tự. Giải pháp cho vấn đề trên, theo tôi, cần giáo dục cho thanh niên hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; ngăn chặn, đẩy lùi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, chống biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, vai trò của các ban, ngành, đoàn thể, thường xuyên củng cố, kiện toàn, phát huy hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thanh niên đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh. Cần gắn vai trò, trách nhiệm của mỗi thanh niên trong nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bằng hành động và việc làm cụ thể tại cơ quan đơn vị, địa phương mình sinh sống, công tác. ------------------ Thiếu tá VÕ THÀNH NHÂN, Trợ lý công tác quần chúng, Phòng Chính trị, Sư đoàn 330, Quân khu 9: Nhân lên sức mạnh đoàn kết Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Lời dạy của Người ngày càng mang tính thời sự, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ để đón nhận những cơ hội cùng thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu rộng. Trong những năm qua, mặc dù đất nước có nhiều khó khăn, thách thức, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường. Tuy nhiên, có lúc, có nơi chưa phát huy được vai trò, sức mạnh của nhân dân. Bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước đan xen cả thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn đối với sự nghiệp đổi mới nói chung và đường lối xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói riêng. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động, chia rẽ dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thiếu tá Võ Thành Nhân. Trước tình hình đó, việc đẩy mạnh tuyên truyền để các cấp, ngành, lực lượng nhận thức sâu sắc về sự cần thiết phải tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay trở nên cấp thiết. Để làm tốt công tác này, trước hết, công tác tuyên truyền cần phải làm cho nhân dân thấm nhuần lời dạy của Người. Tuyên truyền chính xác, đầy đủ, kịp thời, phản bác các thông tin xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tổ chức hiệu quả việc nghiên cứu, quán triệt, học tập các chủ trương, nghị quyết của Đảng, tạo sự thống nhất, đồng thuận trong nhân dân. Bên cạnh đó, đổi mới phương thức tuyên truyền trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện để bảo đảm truyền tải nhanh nhất, kịp thời nhất các nội dung và định hướng tuyên truyền tới cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân. --------------------------- Học viên VƯƠNG HOÀNG ĐẾ, Trung đội 7, Đại đội 18, Tiểu đoàn 6, Trường Sĩ quan Lục quân 1: Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch Hiện nay, các thế lực thù địch không ngừng chống phá khối đại đoàn kết dân tộc dưới nhiều hình thức và thủ đoạn quyết liệt, phức tạp hơn, đặc biệt đối tượng mà chúng quan tâm hướng đến là học sinh, sinh viên, đoàn viên, thanh niên. Thực tế đã cho thấy có những thanh niên bị các thế lực thù địch lợi dụng vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết dân tộc. Chính vì lẽ đó đã đặt ra những vấn đề cấp thiết cho thanh niên Việt Nam, nhanh chóng đề ra các giải pháp căn cơ đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Học viên Vương Hoàng Đế. Việc rất cần thiết là tăng cường bồi dưỡng, giáo dục quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới đông đảo đoàn viên, thanh niên, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, giúp tuổi trẻ nhận thức đúng đắn, nhận diện được những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa đoàn viên, thanh niên các địa phương trong việc đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại. Thông qua đó vừa củng cố tinh thần đoàn kết giữa thanh niên các địa phương trong cả nước, vừa nâng cao kinh nghiệm, trình độ đấu tranh của tuổi trẻ. Cần tiếp tục quan tâm xây dựng các chính sách đối với thanh niên đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để thanh niên có điều kiện được học tập, phát triển, nhận thức đúng đắn trước các quan điểm sai trái, thù địch. Tận dụng tối đa nền tảng mạng xã hội và các hình thức tuyên truyền như video, clip, hình ảnh, bài viết để tiếp cận và lôi cuốn, thu hút thanh niên trong đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái. Kịp thời nắm bắt, định hướng tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên trước các sự kiện chính trị quốc tế, khu vực và trong nước.

QUAN TÂM, BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

 

    Đảng và Nhà nước ta, trước sau như một, đều nhất quán khẳng định sự quan tâm, chăm lo, bảo vệ quyền con người; luôn đề cao sự tôn vinh, tôn trọng quyền con người; đã, đang và sẽ làm hết sức mình để thực hiện quyền con người thông qua việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, thông qua việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, làm cho “dân no, dân yên, dân tin”. Điều đó thể hiện rất rõ ở sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta là phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thực hiện tốt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; tạo cơ sở vững chắc để thực hiện đầy đủ quyền con người trên đất nước Việt Nam.

    Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, nhân quyền là vấn đề rất nhạy cảm và hết sức phức tạp, vì nó gắn liền với bản chất chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

    Có thể khẳng định rằng, bản chất của nhân quyền ở Việt Nam là thực hiện quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền tồn tại và phát triển của mọi công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, tự do và bình đẳng là đặc trưng bản chất và là yêu cầu nội tại của nhân quyền ở Việt Nam, còn tồn tại và phát triển là mục tiêu của nhân quyền mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang hướng tới, quyết tâm đạt bằng được. Nói cách khác, tính ưu việt của chế độ xã hội ta thể hiện rõ ở việc bảo đảm cho mọi công dân quyền tự do và quyền bình đẳng, quyền tồn tại và quyền phát triển. Đó là điều khác biệt căn bản nhất giữa quan điểm của Đảng, Nhà nước ta với quan điểm nhân quyền của giai cấp tư sản. Việc bảo đảm và bảo vệ nhân quyền ở nước ta gắn liền với quyền và nghĩa vụ của công dân được Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận, bảo vệ. Vì vậy, bản chất và giá trị đích thực của nhân quyền ở Việt Nam là quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc và bình đẳng…

    Rõ ràng, ở nước ta, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện Hiến pháp, pháp luật là vì con người. Đảng, Nhà nước ta luôn đề cao tính nghiêm minh của pháp luật, song pháp luật của nước ta không phải là cứng nhắc, áp đặt mà nó luôn được kết hợp chặt chẽ với đạo đức, với tình yêu thương con người và sự khoan dung, nhân đạo. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về nhân quyền không chỉ thấm nhuần sâu sắc truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam mà còn hàm chứa nội dung rộng lớn, theo quan điểm khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin. Vì vậy, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân chính là nền móng vững chắc nhất để thực hiện và phát triển nhân quyền ở Việt Nam. Trong quá trình khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước ta rất coi trọng việc bảo đảm thực hiện và bảo vệ quyền con người.

    Vì vậy, nước ta đã thông qua và ban hành hàng chục bộ pháp luật là nhằm thực hiện tốt quyền con người ở Việt Nam. Vì lẽ đó, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 đã khẳng định: Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) đã dành rất nhiều điều khoản để khẳng định quyền con người và quyền công dân. Đây là cơ sở lý luận, thực tiễn để đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở nước ta hiện nay.

    Người ta vẫn thường nói: tư pháp là thành trì bảo vệ tự do, tức là bảo vệ con người với những quyền của họ, chính xác hơn “tư pháp- tòa án chính là thành trì của bảo vệ công lý”. Con người khác động vật ở chỗ phải sống thành xã hội, bên cạnh những thành công của việc con người sống với con người và việc luôn xảy ra những mâu thuẫn, cần phải có sự phân giải đúng sai, để gìn giữ cuộc sống bình an giữa họ. Quyền của tôi phải được bảo vệ, quyền của người nào đó phải bị tước bỏ, nếu anh ta vi phạm quyền của người khác. Đó là lẽ công bằng, công bằng tức là công lý. Xét xử vì công lý khác với xét xử không vì công lý.

    Vì vậy, một khi quyền con người đã được ghi nhận, thì quyền đó phải được bảo vệ. Thiết chế bảo vệ quyền con người là nhà nước, với một bộ phận chuyên biệt được gọi là tòa án đảm nhiệm việc phân xử các vụ việc.

    Với những kết quả đạt được trong việc thực thi pháp luật về quyền con người, cùng với môi trường thiên nhiên tươi đẹp, chế độ chính trị văn minh, văn hóa đặc sắc, xã hội ổn định, con người thân thiện, cởi mở, Việt Nam đã lọt vào top 10 danh sách những quốc gia đáng sống và làm việc nhất thế giới.

Quan hệ Việt Nam-Đức còn nhiều dư địa, tiềm năng phát triển Thủ tướng đánh giá cao tiềm năng hợp tác với Đức và bang Hạ Saxony khi kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và bang Hạ Saxony năm 2022 đạt 1,4 tỷ euro, tương đương 1/10 tổng kim ngạch thương mại 2 nước.

Chiều 2/10, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp ông Stephan Weil, Thủ hiến bang Hạ Saxony của Đức, nhân dịp sang thăm Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính hoan nghênh Thủ hiến bang Hạ Saxony lần đầu tiên sang thăm Việt Nam cùng đoàn doanh nghiệp đông đảo trong bối cảnh Quan hệ Đối tác Chiến lược Việt Nam-Đức phát triển tích cực. Hai bên duy trì thường xuyên tiếp xúc, trao đổi đoàn cấp cao, đặc biệt chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Đức Olaf Scholz diễn ra vào cuối năm 2022 thành công tốt đẹp, tạo động lực thúc đẩy quan hệ hai nước trên mọi lĩnh vực. Đức là đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam trong EU và quan hệ hai nước còn nhiều dư địa, tiềm năng phát triển trong nhiều lĩnh vực hợp tác. Trao đổi về tình hình phát triển kinh tế-xã hội và triển vọng hợp tác song phương, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh Việt Nam chủ trương kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa; là bạn bè tốt, đối tác tin cậy của tất cả các nước và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. [Thúc đẩy mối quan hệ giữa Quốc hội hai nước Việt Nam-Đức] Trên tinh thần đó, Thủ tướng mong muốn phát triển quan hệ Đối tác chiến lược sâu sắc hơn với Đức nói chung và với bang Hạ Saxony nói riêng. Nhân dịp này, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng bày tỏ cảm ơn tới Chính phủ và nhân dân Đức đã đồng hành cùng Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh dành độc lập, xây dựng và phát triển đất nước, cũng như thể hiện tình đoàn kết trong giai đoạn đại dịch COVID-19, giúp Việt Nam kiểm soát dịch bệnh sớm mở cửa nền kinh tế. Trong bối cảnh quan hệ hai nước phát triển tích cực, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá cao tiềm năng hợp tác với Đức và bang Hạ Saxony khi kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và bang Hạ Saxony năm 2022 đạt 1,4 tỷ euro, tương đương 1/10 tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Đức. Quan he Viet Nam-Duc con nhieu du dia, tiem nang phat trien hinh anh 2 Thủ tướng mong muốn phát triển quan hệ Đối tác chiến lược sâu sắc hơn với Đức nói chung và với bang Hạ Saxony. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN) Thủ tướng Chính phủ đề nghị hai bên thúc đẩy hợp tác về chính trị-ngoại giao, thương mại-đầu tư, ứng phó với biến đổi khí hậu, đào tạo nghề, du lịch, giao lưu nhân dân, nhằm đem lại lợi ích cho mỗi nước, tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước và đóng góp cho hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Trên tinh thần chân thành, cởi mở và tin cậy, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Chính quyền bang Hạ Saxony khuyến khích các doanh nghiệp của bang đầu tư vào Việt Nam trong những lĩnh vực thế mạnh và nhu cầu của hai bên như công nghệ cao, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chống biến đổi khí hậu; đồng thời ủng hộ Quốc hội Đức sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA); thúc đẩy Ủy ban châu Âu gỡ bỏ thẻ vàng với thủy sản Việt Nam. Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng khẳng định Chính phủ, các bộ ngành và địa phương Việt Nam luôn ủng hộ và sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có các doanh nghiệp của Đức tìm hiểu cơ hội hợp tác, tăng cường hoạt động kinh doanh, đầu tư tại Việt Nam trên tinh thần hợp tác lâu dài, hài hòa lợi ích. Bày tỏ ấn tượng lần đầu tiên sang thăm Việt Nam cùng đoàn hơn 40 doanh nghiệp của Bang, Thủ hiến bang Hạ Saxony Stephan Weil chúc mừng những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại mà Việt Nam đã đạt được; khẳng định Chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp bang Hạ Saxony đánh giá cao những tiềm năng hợp tác giữa hai bên mong muốn thiết lập quan hệ trao đổi đoàn và xây dựng quan hệ đối tác với các bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp Việt Nam. Thủ hiến Stephan Weil nhất trí với đánh giá của Thủ tướng Phạm Minh Chính về các lĩnh vực hợp tác ưu tiên mà nước Đức nói chung và bang Hạ Saxony có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu, nhất là trong lĩnh vực thương mại-đầu tư, ứng phó với biến đối khí hậu, năng lượng tái tạo, đào tạo lao động có tay nghề, du lịch... Thủ hiến Stephan Weil chia sẻ và bày tỏ với Thủ tướng Phạm Minh Chính những ấn tượng tốt đẹp về những đóng góp tích cực của cộng đồng khoảng 10 ngàn người Việt Nam tại Đức vào đời sống kinh tế xã hội sở tại, đồng thời đóng vai trò là cầu nối hữu nghị và hợp tác giữa hai quốc gia. Thủ hiến khẳng định sẽ nỗ lực để thúc đẩy Quan hệ Đối tác Chiến lược Việt Nam-Đức ngày càng phát triển thiết thực và hiệu quả./.

Khai mạc tập huấn tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử toàn quân năm 2023

Sáng 2-10, tại Trung tâm Huấn luyện Quốc gia 4, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tổ chức khai mạc tập huấn tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử toàn quân năm 2023. Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam dự và chỉ đạo khai mạc tập huấn.


Đợt tập huấn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động huấn luyện, đào tạo, diễn tập; trinh sát thu thập thông tin tác chiến điện tử; khai thác trang bị khí tài mới. Trong thời gian tập huấn, các lực lượng sẽ được nghiên cứu, bồi dưỡng về phương thức tác chiến hiện đại và vai trò của lực lượng tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử; chuyển đổi số

Phát biểu khai mạc tập huấn, Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa nhấn mạnh, trong tác chiến hiện đại, vai trò của lực lượng tác chiến không gian mạng và tác chiến điện tử rất quan trọng; do đó mỗi cán bộ, chiến sĩ của mỗi lực lượng phải không ngừng rèn luyện, nâng cao năng lực khai thác làm chủ khí tài, thuần thục kỹ, chiến thuật tác chiến hiện đại. Để tiếp tục nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống, Quân đội cần nâng cao toàn diện chất lượng huấn luyện chiến đấu, nhất là các lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa chỉ rõ, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin hiện nay thì bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng càng trở nên cấp thiết, đặt ra yêu cầu cao đối với việc thực hiện nhiệm vụ thường xuyên cũng như đột xuất của lực lượng tác chiến không gian mạng.

Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa yêu cầu đợt tập huấn lần này cần tập trung nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của lực lượng tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử toàn quân, làm cơ sở vận dụng trong chỉ đạo, điều hành huấn luyện, giáo dục, đào tạo và tổ chức thực hành chiến đấu.