Thứ Tư, 4 tháng 10, 2023

THƯ GỬI CON GÁI VÕ HỒNG ANH - Kỷ niệm 10 năm ngày mất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (04/10/2013-04/10/2023)

Con gái yêu, cha có lỗi thật nhiều

Mẹ hy sinh con mất tình mẫu tử

Làm cách mạng buộc cha rời xa xứ

Tuổi ấu thơ con gắn bó bên bà

Bên vành nôi đã nuôi dưỡng mẹ cha

Đất quê nghèo mãi là nơi bến đậu

Bà yêu con- Một tình yêu thẩm thấu

Quyện trộn hòa của cả mẹ lẫn cha

Thương con gái nhiều đêm mắt lệ nhòa

Mỗi lá thư con chấp lời bà gửi

Là niềm đau khiến lòng cha buốt nhói

"Nhà mình nghèo bạc ít lắm cha ơi!"

Con thèm ăn cứ năn nỉ nài vòi

Bà nói vậy nên con thời hiểu ý

Câu nói bà mãi theo cha âm ỷ

Đất nước mình trước mối họa xâm lăng....

Nhân dân mình sống đói khổ lầm than

Đè lên cổ bởi hai tròng áp bức

Nhận thư cha lòng con vui sáng rực

Chữ ngoài bì gửi Hồng Anh con gái quý anh Văn

Khi cha về con chẳng chịu nói năng

Cứ lặng thinh khiến lòng cha buồn lắm

Cha kiên trì bế con ra chỗ vắng

Hồng Anh ơi con có nhớ cha không?

Có thương cha con hãy tỏ nỗi lòng

Cha kể con nghe về chuyện tình với mẹ

Ánh mắt sáng bừng con nuốt từng lời lẽ

Cha mẹ yêu nhau tha thiết nồng nàn

Mẹ đẹp,thông minh,đôi mắt to tròn

Con giống mẹ như khuôn hình vừa đúc

Ngắm con yêu tiếp truyền thêm nghị lực

Quyết đập tan quân khát máu tham tàn

Mẹ kiên cường lòng dũng cảm hiên ngang

Phút hy sinh muốn nhìn con lần cuối

Nhưng không kịp nỗi niềm đau vời vợi

Cha con mình mẹ khắc trọn trong tim

Suốt cuộc đời cha mang nặng công ơn

Trái tim cha lửa căm hờn rực cháy

Thôi thúc cha như biển trào sóng dậy

Trong những năm cách mạng gặp gian nguy

Mẹ luôn bên cha che chở thầm thì

Phút tuyệt cùng tư duy bừng lóe sáng

Trong đầu cha tỏa muôn ngàn ánh rạng

Đưa cha đến quyết định đầy táo bạo bất ngờ

Đem thắng lợi về mà cứ ngỡ trong mơ

Hình bóng mẹ luôn ngập tràn sáng tỏa

Trên mọi bước đường thăng trầm lịch sử

Với bao sóng ngầm, bão dữ chông gai

Cha đều vững tâm trong cuộc chiến lâu dài

Con gái yêu lấy tấm gương của mẹ

Học giỏi chăm ngoan không phí hoài tuổi trẻ

Khi Hồng Anh nhận giải thưởng vang danh

Giải cao nhất quốc tế chị đã giành

Môn vật lý chuyên ngành năng lượng

Ông cùng con dâng vòng hoa thắp nén hương hồi tưởng

Các hương hồn liệt sĩ đã hy sinh

Cho quê hương cho tổ quốc hòa bình

Từ đáy lòng mình xin tạc ghi nhớ mãi

Các đồng chí cùng anh linh Quang Thái

Người vợ anh hùng, người mẹ kính yêu.


💕 Đại tướng Võ Nguyên Giáp có người con gái duy nhất với người vợ đầu là Liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái (Em gái của liệt sĩ, Nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai) tên là Võ Hồng Anh mồ côi mẹ khi còn quá nhỏ. Đại tướng vì việc nước không thể chăm sóc con thơ nên ông luôn day dứt, dành tình yêu thương vô bờ bến cho con


Tác giả thơ : Nguyễn Thị Tính 

Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐỂ "GIANG HỒ MẠNG" MẶC PHẢN CẢM TRAO QUÀ TRUNG THU, NHÀ TRƯỜNG PHẢI GIẢI TRÌNH!

     Lãnh đạo UBND huyện Trạm Tấu, Yên Bái chỉ đạo Phòng GD&ĐT cùng nhà trường làm báo cáo giải trình việc "giang hồ mạng" ăn mặc phản cảm trong đêm Trung thu.

Ngày 3/10, UBND huyện Trạm Tấu và lãnh đạo Phòng GD&ĐT huyện Trạm Tấu (Yên Bái) thông tin liên quan việc “giang hồ mạng" Phú Lê ăn mặc như vua chúa nhảy múa, hát hò trong chương trình "Đêm hội trăng rằm" tổ chức tại Trường Tiểu học và THCS Làng Nhì (xã Làng Nhì, huyện Trạm Tấu), dịp Tết Trung thu vừa qua.

Chủ tịch UBND huyện Trạm Tấu Lê Chung Anh cho biết, huyện đã chỉ đạo Phòng GD&ĐT cùng đơn vị nhà trường báo cáo giải trình về tất cả các việc liên quan khi tổ chức chương trình.

Chiều cùng ngày, trả lời PV VTC News, bà Nguyễn Thị Hà, Trưởng phòng GD&ĐT huyện Trạm Tấu cho biết, Phòng GD&ĐT đã yêu cầu nhà trường báo cáo, rút kinh nghiệm khi để cá nhân mặc trang phục không đúng với văn hóa Việt xuất hiện trong chương trình, đồng thời chỉ đạo tất cả các đơn vị nhà trường lưu ý trong công tác tổ chức.

Về công tác xử lý cá nhân ăn mặc phản cảm, không đúng thuần phong mỹ tục, bà Hà cho biết, trước mắt Phòng đã báo cáo nội dung với các cấp quản lý và rút kinh nghiệm trong đơn vị.

“Trong báo cáo giải trình của thầy giáo, do nhận thức chưa nắm rõ hết về các thành phần của đoàn, dẫn tới quá trình tổ chức không kiểm soát được hết các nội dung dẫn tới việc này”, bà Hà thông tin.

Bà Hà thông tin thêm, hôm tổ chức Tết Trung thu tại Trường Tiểu học và THCS Làng Nhì, đoàn trao tặng khoảng 500 suất quà, mỗi cháu được một chiếc đèn ông sao, một túi bánh trung thu và tổ chức bữa cơm chiều cho học sinh, tổng trị giá khoảng trên 90 triệu đồng.

Trước đó, trên một số diễn đàn mạng chia sẻ hình ảnh về "Đêm hội trăng rằm" có sự xuất hiện của "giang hồ mạng" Phú Lê biểu diễn.

Đáng chú ý, Phú Lê xuất hiện trong bộ trang phục của vua chúa nước ngoài, say sưa ca hát trên sân khấu, khán giả bên dưới là các em thiếu nhi trong trang phục của đồng bào dân tộc.

Việc "giang hồ mạng Phú Lê" sử dụng trang phục giống như của những vị hoàng đế ngoại quốc để trò chuyện, ca hát và phát quà Trung thu cho thiếu nhi vùng cao khiến dư luận bức xúc, cho rằng hành động này quá phản cảm, kệch cỡm và lố lăng.

Phú Lê tên thật là Lê Văn Phú (SN 1980, quê ở Yên Bái). Nhân vật này nổi tiếng trên mạng xã hội, từng tham gia một số phim ngắn, video ca nhạc về đề tài giang hồ với nhiều cảnh quay bạo lực, phản cảm.

Phú Lê thường chia sẻ về sự giàu có, khoe khoang, nói đạo lý về tình nghĩa anh em, giang hồ... 

Tháng 8/2020, Phú Lê bị Công an TP Hà Nội bắt giữ để điều tra về hành vi "Cố ý gây thương tích", do có liên quan đến vụ hành hung hai người phụ nữ lớn tuổi xảy ra tại Hà Nội. Thời điểm bị bắt giữ, Phú Lê được xác định chính là kẻ cầm đầu, là chủ mưu trong vụ việc./.
Ảnh: Phú Lê mặc trang phục phản cảm để biểu diễn, trao quà trong đêm Trung thu cho học sinh.
Yêu nước ST.

VIỆT NAM -THẾ GIỚI: VIỆT NAM CÙNG CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ CÁC QUYỀN CỦA PHỤ NỮ!

     Ngày 3/10, Ủy ban Các vấn đề xã hội, nhân đạo và văn hóa của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 78 đã thảo luận vấn đề thúc đẩy tiến bộ của phụ nữ.

Tại phiên họp, đa số các nước nhận định việc thúc đẩy vai trò và sự tham gia của phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội đang có dấu hiệu thụt lùi. Phụ nữ vẫn là đối tượng chịu ảnh hưởng lớn của các khủng hoảng đan xen và đa chiều hiện nay.

Phát biểu tại phiên thảo luận, Tham tán Công sứ Lê Thị Minh Thoa, Phó Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc chia sẻ nhận định cho rằng phụ nữ ở nhiều nơi trên thế giới đang phải đối mặt với các vấn đề về sức khỏe, mất hoặc giảm thu nhập, tụt hậu về tiếp cận tri thức, các cơ hội việc làm và hội nhập, là nạn nhân của bạo lực giới.

Trong khi đó, chuyển đổi số và các xu thế kinh tế toàn cầu một mặt vừa là giải pháp, mặt khác đặt ra nguy cơ làm trầm trọng các tổn thương đối với phụ nữ.

Về khuyến nghị giải pháp, đại diện Việt Nam cho rằng cần thúc đẩy hợp tác quốc tế để hỗ trợ các nước thực hiện các cam kết quốc tế bảo đảm sự tham gia đầy đủ, bình đẳng và có ý nghĩa của phụ nữ và trẻ em gái trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần ngăn ngừa bạo lực và phân biệt đối xử. Trong bối cảnh chuyển đổi số, cũng cần tập trung nâng cao chất lượng lao động nữ về kỹ năng số, thúc đẩy vai trò của phụ nữ trong phát triển nền kinh tế số. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ và trẻ em gái phát triển sự nghiệp trong các ngành khoa học và công nghệ, bảo vệ các quyền của phụ nữ trong môi trường số.

Nhân dịp này, đại diện Việt Nam nêu bật những kết quả và thành tựu Việt Nam đạt được trong bảo đảm quyền của phụ nữ và bình đẳng giới trong hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật và chiến lược phát triển. Nổi bật là Việt Nam có tỷ lệ đại biểu quốc hội nữ và lãnh đạo nữ cao, bảo đảm việc làm cho phụ nữ, cân bằng giới trong kỹ năng số. Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục hợp tác với cộng đồng quốc tế nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ./.

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “CÁN BỘ CẤP CHIẾN LƯỢC PHẢI LO TRƯỚC THIÊN HẠ, VUI SAU THIÊN HẠ”!

     GS. TS Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội nhấn mạnh: cán bộ cấp chiến lược là phải "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ".

Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 8 vào sáng 02/10, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt của công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược và đề nghị Trung ương phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự khách quan, công tâm, thể hiện chính kiến của mình đối với Tờ trình và dự kiến Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá khóa XIV. Cán bộ, đảng viên và nhân dân cho rằng, việc lựa chọn, giới thiệu nhân sự Quy hoạch Ban chấp hành Trung ương khóa XIV, trước hết phải coi trọng tiêu chuẩn về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, sự gương mẫu... Đồng thời kỳ vọng đây là bước quan trọng chuẩn bị nguồn cán bộ cho nhiệm kỳ khóa XIV của Đảng.

Trong tháng 8 và 9 vừa qua, các tỉnh, thành ủy cùng các ban Đảng, Ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc trung ương ...đã triển khai quy trình giới thiệu Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 14. Sau quy trình 4 bước để lựa chọn, giới thiệu nhân sự, nhiều Phó Bí thư, Chủ tịch các tỉnh, cùng Thứ trưởng các Bộ, ban, ngành được xác định đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy hoạch Ủy viên Trung ương khóa 14.

Trên cơ sở phát hiện, giới thiệu của các cấp uỷ, tổ chức đảng trong toàn hệ thống chính trị, Ban Chỉ đạo xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã khẩn trương, nghiêm túc phối hợp với các cơ quan chức năng ở Trung ương rà soát, thẩm định, báo cáo Bộ Chính trị xem xét, cho định hướng hoàn thiện thêm một bước dự kiến quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV để trình Trung ương cho ý kiến. 

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai cho biết, hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương tiến hành lập công tác Quy hoạch ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Đến nay đã có hơn 200 hồ sơ được gửi về Ban Tổ chức Trung ương, tổ giúp việc và báo cáo Bộ Chính trị. Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương sẽ bỏ phiếu theo quy trình số lượng mà dự kiến quy hoạch vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV. Sau đó Bộ Chính trị trên cơ sở bỏ phiếu của Trung ương sẽ bỏ phiếu chính thức để phê duyệt danh sách Quy hoạch ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Bày tỏ tin tưởng những đồng chí được giới thiệu nhân sự quy hoạch Ban chấp hành Trung ương lần này sẽ là nguồn cán bộ quan trọng chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Châu Nam Long, nguyên Giảng viên Học viện An ninh Nhân dân kỳ vọng những đồng chí được giới thiệu sẽ tự soi xét lại mình, tiếp tục phấn đấu để đáp ứng yêu cầu của Đảng và nhân dân giao phó.

 "Theo dõi tình hình Trung ương lần này tôi kỳ vọng lớn, nếu làm bài bản, chặt chẽ thì sẽ chọn lọc được các đồng chí xứng đáng vào Trung ương trong thời gian tới. Trước đây, gần đến đại hội mới lựa chọn, bình xét, không có đào tạo bài bản đối với các đồng chí Quy hoạch cấp chiến lược. Giờ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương xem xét rất thận trọng quy hoạch, tôi tin rằng lần này chúng ta làm bài bản kết quả sẽ rất tốt"- ông Châu Nam Long nêu ý kiến.

Cán bộ, đảng viên và Nhân dân cho rằng: Trong lựa chọn, giới thiệu nhân sự quy hoạch, trước hết phải coi trọng tiêu chuẩn về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, sự gương mẫu của bản thân và gia đình; năng lực công tác gắn với kết quả công tác, sản phẩm cụ thể ở lĩnh vực, địa bàn được phân công phụ trách. Đồng thời có hoài bão, khát vọng đổi mới, vì sự phát triển của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Ngọc, thành viên Câu Lạc Bộ Thăng Long, Hà Nội cho rằng, để 1 con người tròn trĩnh hôm nay vào đến cấp Trung ương và sắp tới vào Trung ương thì phải chọn người thực sự tài năng mới thay đổi được thời thế. Nhưng không có đạo đức thì không toát lên tài năng. Không có đạo đức thì không xứng đáng vào vị trí đó. Do đó, Trung ương phải tìm được người tài thực sự. Còn nhiệt huyết, nhiệt tình trong công tác, khi người ta có động cơ đúng đắn thì chắc chắn sẽ thể hiện tài năng đó.

Một trong những vấn đề quan trọng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tại nhiều hội nghị là phải giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ trong xem xét, quyết định nhân sự quy hoạch; không vì số lượng mà hạ thấp tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, cũng cần có cơ chế kiểm tra, kiểm soát không để "lọt" những người có các hạn chế, khuyết điểm vào quy hoạch cấp chiến lược như: Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; tham nhũng, tiêu cực; cơ hội chính trị, xu nịnh, chạy chức, chạy quyền; tham vọng cá nhân, không trong sáng; bản thân và gia đình không gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

GS. TS Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội nhấn mạnh: cán bộ cấp chiến lược là phải "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ": "Tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu của cán bộ cấp chiến lược là người có tầm nhìn xa. Bản thân hai chữ "chiến lược" đã là "tầm nhìn xa". Thứ hai, cán bộ cấp chiến lược phải có tài dùng người tài. Tôi cho rằng đối với cán bộ cấp chiến lược thì phải xem xem họ có năng lực, tài dùng người tài hay không. Không nâng đỡ, khuyến khích, chớ dùng vào cấp chiến lược".

Trước yêu cầu phát triển đất nước bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng, đòi hỏi tiêu chuẩn đối với cán bộ cấp chiến lược cao hơn, toàn diện hơn. Do đó, việc quy hoạch cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ 2026- 2031 là bước chuẩn bị quan trọng để có đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài. Từ đó để đào tạo, bồi dưỡng, thử thách, làm cơ sở cho công tác nhân sự Ðại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV./.

Yêu nước ST.

An ninh kinh tế: “Việt Nam có phải điều thần kỳ mới?”

An ninh con người và quyền con người có mối quan hệ mật thiết tác động và hỗ trợ lẫn nhau. Việc bảo đảm an ninh con người, về bản chất cũng chính là bảo đảm các quyền con người tương ứng. Ngược lại, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người cũng chính là nhằm thực hiện an ninh con người. Vì vậy, phân tích, làm rõ vấn đề an ninh con người để có cái nhìn khách quan, toàn diện đối với vấn đề quyền con người ở Việt Nam.

An ninh kinh tế

Khái niệm an ninh con người do Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đưa ra đầu tiên vào năm 1994 trong Báo cáo hàng năm về sự phát triển của con người. UNDP cho rằng: An ninh con người “là sự an toàn của con người trước những mối đe dọa kinh niên như nghèo đói, bệnh tật, đàn áp và những biến cố bất ngờ, bất lợi trong cuộc sống hằng ngày”. 

Theo UNDP, bảo đảm an ninh con người được thể hiện trên bảy phương diện: An ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị. Như vậy, an ninh con người được đặt ra trong sự hòa quyện và tương hỗ với những nội dung an ninh khác, an ninh con người có mối quan hệ với thời đại, xã hội và môi trường tự nhiên. Đến lượt mình, an ninh con người trở thành một nhân tố, điều kiện quan trọng để thực hiện cũng như bảo đảm an ninh xã hội, an ninh toàn cầu, hòa bình thế giới.

An ninh kinh tế, theo tài liệu của Liên hợp quốc, được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là bảo đảm mức thu nhập cơ bản của con người, trong đó, vấn đề việc làm đóng vai trò quan trọng. Thực trạng dân số thế giới tăng mạnh, trong khi sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học-công nghệ đã cho ra đời nhiều ngành sản xuất mới đòi hỏi trình độ và tay nghề của người lao động cao hơn rất nhiều mà người lao động bình thường không dễ tiếp cận công việc. Đặc biệt, Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo sẽ tạo ra sự thay đổi căn bản về sử dụng lao động. Các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động ngày càng bị thu hẹp khiến cho sức ép cạnh tranh việc làm ngày càng gia tăng, đe dọa trực tiếp tới an ninh kinh tế của mỗi con người cụ thể.

Việt Nam có phải điều thần kỳ mới?

“Is Vietnam the Next Asian Miracle?” (tạm dịch: Liệu Việt Nam có phải điều thần kỳ mới của châu Á?)  là nhan đề bài viết của Ruchir Sharma đăng trên tờ New York Times ngày 13-10-2020. Trong bài báo, tác giả cho rằng, sau Thế chiến II, “những điều thần kỳ châu Á”, đầu tiên là Nhật Bản, sau đó là vùng lãnh thổ Đài Loan, Hàn Quốc và gần đây nhất là Trung Quốc đã vươn lên thoát nghèo bằng cách mở cửa cho thương mại và đầu tư và trở thành các cường quốc sản xuất để xuất khẩu. Hiện nay, Việt Nam cũng đang làm những điều tương tự. Ngay cả khi thương mại toàn cầu sụt giảm trong những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, xuất khẩu của Việt Nam cũng đã tăng trưởng 16% mỗi năm. Cho đến nay, đây là tốc độ nhanh nhất trên thế giới và gấp ba lần mức trung bình của các nền kinh tế mới nổi. Tác giả cũng khẳng định, Việt Nam đã trở thành một điểm đến ưa thích đối với các nhà sản xuất xuất khẩu. Thu nhập bình quân đầu người hằng năm ở Việt Nam đã tăng gấp 5 lần kể từ cuối những năm 1980 lên mức gần 3.000 USD/người, nhưng chi phí lao động vẫn chỉ bằng một nửa so với Trung Quốc.

Còn theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 9 tháng năm 2020, tổng số người trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) khoảng 54,4 triệu người, trong đó, số người đang làm việc khoảng 53,1 triệu người. Tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi là 2,69%; tỷ lệ thất nghiệp là 2,48%. Nhìn chung, những năm qua, lao động có việc làm tiếp tục tăng, cơ cấu lao động chuyển dịch nhanh theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng trong công nghiệp và dịch vụ. Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp, lao động thiếu việc làm và lao động phi chính thức có chiều hướng giảm so với giai đoạn trước. Với sự chuyển dịch tích cực của nền kinh tế trong và ngoài nước, cùng sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, thị trường lao động cũng có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần sử dụng lao động giản đơn sang sử dụng nhóm lao động có kỹ năng và trình độ cao, chất lượng lao động được nâng cao; thu nhập của người lao động được đảm bảo.

Thách thức còn ở phía trước

Mặc dù đạt được những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực lao động, việc làm và nâng cao thu nhập của người dân nhưng Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Trước hết là hiệu suất lao động của Việt Nam đang ở mức thấp so với khu vực và thế giới. Tỷ lệ lao động có kỹ năng, được đào tạo còn thấp. Lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn còn chiếm tỷ lệ tương đối cao. Đặc biệt, từ đầu năm đến nay, đại dịch Covid-19 đã tác động sâu sắc đến vấn đề lao động và việc làm. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 9 năm 2020, cả nước có 31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập. Thu nhập bình quân tháng của người lao động trong 9 tháng năm 2020 giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó là vấn đề phân hóa giàu nghèo ngày càng phức tạp. Sự phân hóa giàu nghèo có thể nhận thấy rõ nét giữa thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân tộc chiếm đa số và thiểu số, hay giữa các vùng kinh tế. Chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng sẽ tạo ra nhiều tác động tiêu cực trong xã hội, mà hệ quả trực tiếp là gia tăng bất bình đẳng, nhất là bất bình đẳng cơ hội, từ đó ảnh hưởng tới khả năng dịch chuyển xã hội của người dân lên các thang bậc kinh tế cao hơn, tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo, cũng như gây tác động không tốt tới sự phát triển chung của toàn xã hội. Đó là những thách thức mà chúng ta cần phải có những giải pháp chiến lược nhằm bảo đảm an ninh kinh tế nói riêng, an ninh con người nói chung.

Con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển

An ninh con người và quyền con người

An ninh con người được cấu thành trên 7 phương diện: An ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị. Như vậy, an ninh con người và quyền con người là hai khái niệm có phạm trù, nội hàm khác nhau, không đồng nhất, song đều có mục tiêu chung là vì con người, lấy con người là trung tâm. Về bản chất, việc bảo đảm bảy dạng an ninh con người cũng chính là bảo đảm các quyền con người tương ứng. Ngược lại, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người tương ứng cũng chính là nhằm thực hiện, bảo đảm bảy dạng an ninh con người. Thêm vào đó, cả an ninh con người và quyền con người đều hướng vào việc thúc đẩy các nguyên tắc dân chủ và sự phát triển về thể chế trong các xã hội như là những điều kiện để bảo đảm an ninh và các quyền của con người một cách bền vững.

Chẳng hạn như, bảo đảm an ninh kinh tế là điều kiện để thực hiện những quyền cơ bản của con người như quyền sống, quyền có việc làm, quyền được bảo trợ xã hội… Nếu như an ninh kinh tế không được bảo đảm, mất việc làm, thu nhập cá nhân giảm và hậu quả tất yếu là tình trạng đói nghèo tăng. Còn ở nghĩa rộng, để hiện thực hóa các quyền con người, đặc biệt là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, các nhà nước và cộng đồng quốc tế cần có những nguồn lực vật chất mà chỉ có thể có được nhờ sự tăng trưởng kinh tế. Theo nghĩa này, tăng trưởng kinh tế có thể coi là một phương tiện quan trọng để hiện thực hóa các quyền con người. Đổi lại, quyền con người cũng góp phần thúc đẩy và duy trì sự tăng trưởng kinh tế bền vững, bởi lẽ, quyền con người giúp kiến tạo và duy trì sự quản lý tốt-yếu tố nền tảng cho sự phát triển kinh tế. 

Còn bảo đảm an ninh lương thực, an ninh sức khỏe cũng là điều kiện tiên quyết để thực hiện quyền sống, quyền được chăm sóc y tế…, những quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người. An ninh lương thực không bảo đảm là tác nhân đầu tiên và quan trọng nhất dẫn đến đói nghèo, lạc hậu. Mà khi đói nghèo sẽ ngăn cản khả năng nhận biết và hưởng thụ các quyền con người. Đơn cử, những người mù chữ hoặc nghèo khổ, phải vật lộn hàng ngày với miếng cơm manh áo thì không thể có điều kiện để thực hiện một cách đầy đủ và hiệu quả các quyền được giáo dục, quyền được tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội… mà họ được ghi nhận.

Con người sống và mưu cầu hạnh phúc thường gắn với xã hội, thể chế chính trị-xã hội nhất định. Sự ổn định chính trị-xã hội là yếu tố cơ bản, là tiền đề để xã hội phát triển. Sự ổn định chính trị-xã hội cũng đồng nghĩa với an ninh chính trị-xã hội được giữ vững. Đó là tiền đề bảo đảm thực thi quyền con người, con người được an toàn, tự do, phát triển cả về thể chất và tinh thần.

An ninh con người ở Việt Nam

Vấn đề an ninh con người đã được Liên hợp quốc và nhiều nước trên thế giới tiếp nhận như một tư duy mới có sức thuyết phục và có giá trị thực tiễn cao. Con người đặt ở vị trí trung tâm của thời cuộc, của xã hội là hoàn toàn đúng. Xã hội suy cho cùng là xã hội của con người và vì con người. Thực hiện an ninh con người sẽ bổ sung và làm phong phú cho an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu.

So với quyền con người, vấn đề an ninh con người còn khá mới mẻ đối với Việt Nam. Tuy nhiên, đối với từng thành tố cấu thành an ninh con người đã được đề cập nhiều trong các văn bản lãnh đạo của Đảng, hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thành tựu, kết quả và những thách thức trong bảo đảm an ninh con người (7 phương diện an ninh) đã được đề cập, phân tích trong các bài trước.

Trong văn kiện Đại hội XII, Đảng ta lần đầu tiên nêu ra quan điểm về bảo đảm an ninh con người với mức ưu tiên cao nhất, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của đất nước. Trong Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội XIII, một lần nữa, vấn đề an ninh con người lại được đề cập tới sâu sắc hơn. Dự thảo Báo cáo nêu rõ: “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh, văn minh; chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số, gắn dân số với phát triển; quan tâm đến mọi người dân, bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”.

Cùng với đó, Dự thảo văn kiện Đại hội XIII đưa ra phương hướng và những giải pháp nhằm bảo đảm an ninh con người. Đó là, giải quyết vấn đề lao động, việc làm và thu nhập, trong đó trọng tâm là “cải cách chính sách tiền lương”; “phát triển thị trường lao động, hướng đến việc làm bền vững”; đồng thời, đổi mới chính sách bảo hiểm thất nghiệp.

Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế. Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng-hưởng, chia sẻ-bền vững. Điều chỉnh chuẩn nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ cơ bản.

Bảo đảm tốt an ninh sức khỏe, trọng tâm là chăm sóc sức khỏe nhân dân. Xây dựng và thực hiện các chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ và tầm vóc người Việt Nam, bảo đảm toàn dân đều được quản lý, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ. Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em. Đổi mới cơ chế tài chính y tế, hệ thống quản lý và cung cấp dịch vụ y tế. Phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ y tế.

Cảnh giác với luận điệu “tách Đảng làm đôi”

Thực tiễn cho thấy, trong quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch rất quan tâm đến việc chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền, kích động, kêu gọi tán dương, cổ xúy cho quan điểm “đa nguyên, đa đảng”, “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Mục tiêu của những luận điệu hô hào, cổ xúy đòi "đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập" không gì khác là hạ thấp và đi tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam, bằng những lời lẽ hết sức mị dân. Họ cho rằng chỉ có thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng” thì “xã hội Việt Nam mới nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo”; chỉ có "đa nguyên, đa đảng" thì xã hội mới có dân chủ thực sự... Thực chất của luận điểm trên là muốn gây ra những khó khăn trong quá trình phát triển của xã hội Việt Nam, nhất là làm cho chính trị-xã hội không ổn định, kinh tế suy giảm, văn hóa xuống cấp, các mâu thuẫn và xung đột xã hội nảy sinh và ngày càng gia tăng, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Có thể thấy, các luận điệu trên đã cũ rích, được nhai đi, nhai lại trước mỗi kỳ Đại hội của Đảng ta. Cùng với những điệp khúc trên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị “sáng tạo” thêm luận điệu mới, mong “Đảng Cộng sản dân chủ hóa, thậm chí đa đảng” hay “có những giải pháp tạm thời để đẩy mạnh dân chủ hóa là Đảng Cộng sản cầm quyền có thể tính tới việc tự tách đôi”. Chúng lập luận kiểu lừa bịp, mị dân rằng "nên tách đôi đảng có hai quan điểm khác nhau: Một quan điểm cấp tiến, một quan điểm muốn giữ mãi chủ nghĩa Mac-Lenin rồi tư tưởng Hồ Chí Minh...”. Chúng cho rằng, "một quan điểm khác kiểu như là dân chủ xã hội kiểu phương Tây chẳng hạn, cứ tách đôi ra và có những nguyên tắc ban đầu để họ tránh những cái gọi là xung đột quá mức mà đến mức độ có thể xảy ra chính biến”…

Những luận điệu trên mang nặng tính chất mị dân, rất dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những người nhận thức có phần còn hạn chế, từ đó có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, có thể dẫn tới sự dao động về tư tưởng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam; gây nên sự phân tâm trong xã hội; làm suy giảm và có thể đi đến mất dần niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực hiện chế độ nhất nguyên chính trị, một Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo xã hội Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử cách mạng Việt Nam. Đó cũng là sự lựa chọn đúng đắn của chính nhân dân Việt Nam trong quá trình đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một hiện tượng hoàn toàn hợp quy luật, phản ánh những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đã chín muồi trong quá trình vận động của cách mạng Việt Nam.

Đảng Cộng sản ngay từ khi ra đời và đến nay đã lựa chọn nguyên tắc tập trung dân chủ, coi đây là nguyên tắc cơ bản để xây dựng tổ chức và chỉ đạo hoạt động của mình. Mặc dù trong mỗi tổ chức và trong từng thời kỳ khác nhau, nội dung chi tiết của nguyên tắc tập trung dân chủ có sự điều chỉnh nhất định nhưng bản chất và nội dung cơ bản của nguyên tắc thì không bao giờ thay đổi. Tập trung là thống nhất về tư tưởng, tổ chức, hành động, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Những phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng, mọi đảng viên nhất định phải chấp hành. Kỷ luật của Đảng, mọi đảng viên phải tuân theo. Thế là tập trung”. Dân chủ trong Đảng tức là mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề nghị, tham gia giải quyết vấn đề: “Phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng đều do quần chúng đảng viên tập trung kinh nghiệm và ý kiến lại mà thành”. “Các cơ quan lãnh đạo đều do quần chúng đảng viên bầu cử ra”. Bởi vậy, quyền lực của các cơ quan lãnh đạo đó cũng là do đảng viên giao phó cho, chứ không tự ai tranh giành được.

Học tập là làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong những năm gần đây đã có những bước tiến mới, đạt được kết quả hết sức quan trọng. Bản lĩnh, trình độ, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng được nâng lên. Công tác tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từng bước được đổi mới và đạt được kết quả bước đầu. Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được thực hiện quyết liệt. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được đổi mới, sắp xếp tinh gọn hơn; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền ngày càng cao. Kỷ luật, kỷ cương trong Đảng được siết chặt, pháp luật Nhà nước được đề cao. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng đạt kết quả quan trọng; tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn. Những kết quả trên góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng ta đoàn kết hơn, vững mạnh hơn, trong sạch hơn, niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố và tăng cường hơn. 

Có thể nói các thế lực thù địch càng chống phá quyết liệt với những thủ đoạn nham hiểm, thâm độc hơn. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Không được núp bóng tôn giáo để chống phá đất nước

“Hội đồng liên tôn Việt Nam”, tổ chức được thành lập trên cơ sở liên kết của một bộ phận chức sắc có tham vọng chính trị trong các tôn giáo bao gồm: Công giáo, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo...Thời gian gần đây, tổ chức này có nhiều hoạt động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Gần đây nhất, tổ chức này đã ra cái gọi là “Tuyên bố về tình hình Việt Nam và thế giới”, trong đó, xuyên tạc trắng trợn tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo cùng tồn tại, trong đó có một số tôn giáo du nhập từ bên ngoài như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo,... và một số tôn giáo ra đời trong nước như Cao Đài, Hòa Hảo... Dù đức tin, sự thờ phụng của đồng bào theo các tôn giáo khác nhau nhưng cùng có điểm tương đồng ở tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước. Chính vì thế, trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng đồng thời giành tự do cho nhân dân, trong đó có đông đảo đồng bào theo các tôn giáo, theo nguyên lý đất nước có độc lập thì tôn giáo mới tự do. Cuộc đấu tranh chung đã gắn kết đồng bào các tôn giáo với cả dân tộc. Và đồng bào các tôn giáo đã đồng hành cùng dân tộc, tăng thêm sức mạnh cho khối đại đoàn kết toàn dân.

Ngày nay, trên đất nước ta, từ Bắc vào Nam, từ thành thị, nông thôn đến miền núi, ở đâu cũng có đền, chùa, tháp chuông, nhà nguyện, tòa thánh,… được xây dựng khang trang, cùng với các nghi lễ mang đậm bản sắc tôn giáo ở mỗi vùng miền. Quan trọng hơn, các tôn giáo được tự do hành lễ, dù ở nhà riêng hay các nơi thờ tự; được tạo điều kiện mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của Giáo hội… Không chỉ chăm lo cho đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày một tốt hơn, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng hết sức có trách nhiệm đối với các hoạt động tôn giáo quốc tế. Việt Nam từng 3 lần tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak). Đặc biệt, đã tổ chức rất thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2019 tại Chùa Tam Chúc (Kim Bảng, Hà Nam), với sự tham dự của hàng nghìn đại biểu quốc tế thuộc 570 phái đoàn đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ… được bạn bè quốc tế đánh giá hết sức tích cực.

Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Hội đồng liên tôn Việt Nam” là một tổ chức như vậy.

Tổ chức này được lập ra với danh nghĩa tranh đấu cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền, trụ sở hiện nay tại chùa Giác Hoa, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, do Thích Không Tánh trụ trì. Nghe tên “Hội đồng liên tôn Việt Nam” có vẻ rất mỹ miều nhưng thực chất tổ chức này lại bao gồm số tu sỹ bất mãn, biến chất trong các tôn giáo ở Việt Nam, có thể liệt kê một số đối tượng cầm đầu, cốt cán như: Thích Không Tánh, Thích Vĩnh Phước (Phật giáo); Linh mục Nguyễn Văn Lý, Đinh Hữu Thoại (Công giáo); Hứa Phi, Nguyễn Kim Lân (Cao Đài); Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, Nguyễn Mạnh Hùng (Tin Lành); Lê Quảng Hiển, Lê Văn Sóc (Phật giáo Hòa Hảo)… 

Gần đây, “Hội đồng liên tôn Việt Nam” luôn tìm cách để gặp gỡ các quan chức phương Tây, các tổ chức quốc tế để cung cấp các thông tin xuyên tạc về tình hình chính trị của đất nước, các vụ việc nhạy cảm, vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”,“tự do tôn giáo”, qua đó vẽ nên một bức tranh méo mó, phản cảm về vấn đề tôn giáo tại Việt Nam. Hồi tháng 1-2020, “Hội đồng liên tôn” đã gặp gỡ với các đoàn lâm thời như đoàn Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ (USCIRF), phái đoàn ngoại giao của các quốc gia như Mỹ, Canada, Pháp, Anh, Tây Ban Nha… tại chùa Giác Hoa. Tại buổi gặp gỡ, các đối tượng đã cung cấp những thông tin xuyên tạc về vấn đề tự do tôn giáo, vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. 

Gần đây nhất, tổ chức này ra cái gọi là “Tuyên bố tình hình Việt Nam và thế giới”. Tổ chức này xuyên tạc trắng trợn rằng: “Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã đàn áp tôn giáo có hệ thống. Vì không thể tiêu diệt được, họ đã tìm cách khống chế. Những tôn giáo độc lập bị chính quyền sách nhiễu, cô lập, khử trừ bằng mọi cách. Các chức sắc “Hội đồng liên tôn” lúc nào cũng bị theo dõi”. Về nhân quyền, tổ chức này cũng xuyên tạc: “Nhà cầm quyền gia tăng bắt bớ, giam cầm, xử án bất công đối với những công dân ôn hòa lên tiếng bênh vực cho công bằng xã hội, cho tự do dân chủ và nhân quyền, chống tham nhũng bất công và chống Trung Cộng bành trướng”. 

Như vậy, có thể thấy, hành động của số chức sắc cực đoan trong “Hội đồng liên tôn Việt Nam” là hành động của những nhân vật không muốn đất nước được bình an. Còn dưới góc độ tôn giáo, các chính đạo đều coi trọng việc tu luyện loại bỏ nhân tâm, dục vọng, đề cao tâm tính làm căn bản để hướng tới chân-thiện-mỹ, tức là đến những giá trị tốt đẹp nhất của con người. Giáo luật Công giáo khẳng định: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhấn mạnh: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là điều hòa, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương phật pháp và tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Vậy mà hoạt động của “Hội đồng liên tôn” lại vì động cơ chính trị không trong sáng, làm trái lời dạy của các đức tin trong tôn giáo của mình, đi ngược lại những giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc Việt Nam. 

Nhận thức rõ bản chất của “Hội đồng liên tôn” để chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của tổ chức này là việc làm cần thiết đối với mỗi người dân Việt Nam.

Mối nguy hại từ căn bệnh ba hoa: “Nhất ta nhì người”

Cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) mắc phải căn bệnh ba hoa thường tỏ ra “cái gì cũng biết”. Nhưng thực tế, đây là bộ phận CB, ĐV thiếu kiến thức, kinh nghiệm, thiếu lý luận chính trị, tự trói mình vào tầm nhìn phiến diện, xa rời thực tế khách quan. Nguy hiểm hơn nó còn là nguồn cơn của sự mất đoàn kết nội bộ, vì những CB, ĐV này thích khai thác hạn chế của người khác để làm điểm mạnh cho mình, tôn thờ chủ nghĩa cá nhân.

Thích khoe khoang dẫn đến “tự cao, tự đại”

Để các chỉ thị, nghị quyết, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến được với quần chúng nhân dân, thì công tác tuyên truyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vai trò trách nhiệm của CB, ĐV trong công tác tuyên truyền ấy được thể hiện qua cách nói và viết. Nói và viết là hai kỹ năng cơ bản mà mỗi CB, ĐV sử dụng để tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới người dân. Trong từng giai đoạn cách mạng, mà nhiệm vụ chính trị khác nhau, trình độ nhận thức của nhân dân có sự phát triển khác, vì vậy đòi hỏi cách nói, cách viết của CB, ĐV phải không ngừng đổi mới. 

Tuy nhiên, ở đâu đó chúng ta vẫn dễ dàng bắt gặp, như trong các buổi học tập, quán triệt nghị quyết, hay hội nghị tổng kết công tác năm, những người chủ trì hoặc báo cáo viên được phân công phụ trách khi đứng lên bục là bắt đầu “thao thao bất tuyệt” khéo léo khoe khoang đủ thứ, nào là trình độ học vấn bản thân, gia đình, dòng họ, quen biết người này người kia, đi đây đi đó; sưu tầm đủ chuyện đông tây kim cổ, kể lể dông dài, miễn sao mọi người biết đến mình, nhất mình là được. Còn nội dung cần truyền đạt thì chuẩn bị qua loa, đại khái, truyền đạt dài dòng ru ngủ, thiếu thực tiễn. Kết quả nhiều CB, ĐV và quần chúng nhân dân khi học xong, hỏi hôm nay học gì cũng không nắm được, giỏi lắm cũng chỉ nắm lơ mơ. Còn trong cuộc sống hằng ngày, nhất là lúc “trà dư tửu hậu” những CB, ĐV này lại lấy điểm yếu của người khác làm câu chuyện của mình, ném đá, phát ngôn tùy tiện, dẫn tới nghi ngờ, chia rẽ mất đoàn kết nội bộ. 

Ông cha ta thường nói “thùng rỗng kêu to” để ám chỉ, phê phán những người trình độ hiểu biết, năng lực hạn chế nhưng lại thích khoe khoang, huênh hoang, khoác loác, làm như ta đây giỏi lắm. Những CB, ĐV mắc căn bệnh ba hoa, họ luôn tỏ ra vẻ ta đây cái gì cũng biết, hễ làm được việc gì có chút thành công thì khoe khoang vênh váo, ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi người khác, không muốn cho người khác phê bình góp ý, tự cho mình là nhất. Từ đó sinh ra bảo thủ, trì trệ, không chịu đổi mới, không muốn đổi mới. CB, ĐV mà ba hoa thường tập hợp quanh mình nhiều người nịnh bợ và tán dương sự hào nhoáng bề ngoài dẫn tới hình thành “cánh hẩu-lợi ích nhóm” tham ô, tham nhũng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã thẳng thắn chỉ ra rất nhiều biểu hiện suy thoái liên quan tới bệnh ba hoa trong cách nói, cách viết, cách làm: Trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít. Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi. 

Chữa bệnh ba hoa theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1947 có 6 nội dung chính: “Phê bình và sửa chữa”, “Mấy điều kinh nghiệm”, “Tư cách và đạo đức cách mạng”, “Vấn đề cán bộ”, “Cách lãnh đạo” và cuối cùng là nội dung “Chống thói ba hoa”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Khuyết điểm có nhiều thứ. Chúng ta có thể chia tất cả các khuyết điểm vào ba hạng: Khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan. Khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng với ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi. Khuyết điểm về cách nói và cách viết, tức là ba hoa. Đó là ba chứng bệnh rất nguy hiểm”. Khuyết điểm về tư tưởng, thuộc phạm trù nhận thức. Còn hẹp hòi và ba hoa, như cách phân tích của Bác, thuộc về hành động. Ba hoa không chỉ là bệnh mang màu sắc cá nhân chủ nghĩa, mà còn là mối đe dọa tới sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức Đảng.

Bác cũng đưa ra “liều thuốc chữa thói ba hoa” và yêu cầu mỗi CB, ĐV phải hiểu, phải nhớ và phải thực hành. Đó là: Phải học cách nói của quần chúng. Chớ nói như cách giảng sách. Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước an của quần chúng. Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu. Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: “Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết. Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Sau khi viết rồi, phải xem đi xem lại ba, bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng, phải xem đi xem lại chín, mười lần. Làm được như thế thì thói ba hoa sẽ bớt dần dần cho đến khi hoàn toàn hết sạch mà công việc của Đảng, tư cách của cán bộ và đảng viên sẽ do đó mà tăng thêm.

Vì vậy, trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay, đối với mỗi CB, ĐV cần nêu cao tinh thần khiêm tốn, thật thà, chân thành, luôn tôn trọng người khác, coi trọng việc học tập để nâng cao trình độ hiểu biết mọi mặt, đáp ứng yêu cầu công việc và vị trí công tác của bản thân. Nhất là học cách tư duy, cách nói, cách viết sao cho khi truyền đạt quần chúng nhân dân nắm nhanh, hiểu sâu, nhớ lâu những gì mình cần truyền đạt. Đối với cấp ủy, tổ chức Đảng cần tăng cường quản lý, giao nhiệm vụ cho CB, ĐV theo hướng đúng người đúng việc, khắc phục kiểu làm việc không thiết thực, qua loa, làm cho xong, làm ít nói nhiều. Thường xuyên kiểm tra, giám sát, thực hiện nghiêm quy định về kỷ luật phát ngôn đối với CB, ĐV, đi đôi với xử lý nghiêm những trường hợp nói, viết không đúng với Chỉ thị, Nghị quyết, đường lối lãnh đạo của Đảng.

Luôn xứng đáng dưới màu cờ của Đảng

Từ khi thành lập Đảng đến nay, việc phát triển đảng viên mới diễn ra thường xuyên ở tất cả các tổ chức Đảng. Đó là quy luật, không những tăng thêm sinh lực, sức chiến đấu mà còn bảo đảm tính kế thừa và phát triển của Đảng ta. Vì vậy, để đứng trong hàng ngũ của Đảng, đòi hỏi người xin vào Đảng phải có động cơ phấn đấu đúng đắn, trong sáng, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì lợi ích của nhân dân.

Sáng động cơ, hồng chân lý

Hàng năm, vào các dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng (3/2), ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5), Quốc khánh (2/9) và ngày Cách mạng tháng 10 Nga (7/11) là các tổ chức Đảng lại tiến hành xem xét, lựa chọn những quần chúng ưu tú để phát triển đứng trong hàng ngũ của Đảng. Là đảng viên, ai cũng vui mừng trước những thông tin Đảng phát triển được nhiều đảng viên mới ở mọi lĩnh vực, như: Trí thức, sinh viên, lực lượng vũ trang, người lao động trực tiếp sản xuất… Ngược lại, chúng ta thật đau lòng khi nghe nơi này nơi kia đảng viên bị kỷ luật, thậm chí bị khai trừ khỏi Đảng, hoặc bị xử lý hình sự.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Vì sao chúng ta vào Đảng? Phải chăng để thăng quan, phát tài? Không phải! Trước đây Đảng còn hoạt động bí mật, các đồng chí chúng ta vào Đảng, chỉ một lòng một dạ làm cách mạng. Bọn đế quốc, phong kiến bắt bớ, cầm tù, xử tử rất nhiều cán bộ, đảng viên của Đảng, nhưng các đồng chí chúng ta vẫn hăng hái hoạt động. Có những đồng chí như: Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Thụ và rất nhiều đồng chí khác đã anh dũng hi sinh cho Đảng, cho cách mạng. Chúng ta vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên…”. Tự nguyện phấn đấu vào Đảng chính là tự nguyện dấn thân theo lý tưởng cách mạng, chấp nhận hy sinh, không sợ khó, sợ khổ, quyết tâm theo đuổi đến cùng con đường dẫn đến mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Do đó, xây dựng động cơ vào Đảng đúng đắn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết, quyết định đến sự trưởng thành lớn mạnh của tổ chức Đảng và đảng viên. Nuôi dưỡng động cơ phấn đấu để mỗi người hiểu rõ hơn, vào Đảng là để đứng trong một tổ chức tự nguyện của những người cùng chung một chí hướng, đấu tranh xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng thì trước tiên mỗi quần chúng ưu tú cần phải tự nguyện, không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, dù trong bất kỳ tình huống khó khăn nào cũng không dao động, giảm sút niềm tin và ý chí chiến đấu, phải trung thành với lợi ích của Đảng, với lợi ích của nhân dân, suốt đời trung thành, tận tâm, tận lực phục vụ cho Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Thực tiễn cho thấy, với những người vào Đảng có động cơ không trong sáng thì khi đã đứng trong hàng ngũ của Đảng chắc chắn sẽ "quay lưng", phản bội lại Đảng khi có cơ hội. Điều đó là hết sức nguy hiểm cho sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Nên ngay từ khi hình thành động cơ phấn đấu, phải thể hiện rõ khí tiết của người cách mạng là “giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Đây chính là nét nổi bật của người đảng viên chân chính, mẫu mực không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ mà phải gương mẫu đi đầu trong mọi điều kiện hoàn cảnh cuộc sống. 

Tạo nguồn phát triển Đảng

Đối với công tác tạo nguồn phát triển Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các tổ chức Đảng phải có kế hoạch trong từng thời kỳ, bảo đảm đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng của Đảng; phải tiến hành thật tích cực, chủ động, không bị động, ỷ lại ngồi chờ người có đủ điều kiện rồi kết nạp theo lối ăn sẵn, phải gây dựng, đẩy mạnh phong trào cách mạng để trên cơ sở đó mà phát hiện, tìm hiểu, tuyên truyền, giáo dục và rèn luyện các phần tử tích cực, nâng cao dần trình độ của họ từ thấp đến cao, tạo cho họ có đủ điều kiện trở thành người đảng viên. 

Vậy nên, để công tác tạo nguồn, bồi dưỡng kết nạp đảng viên hiện nay đạt hiệu quả, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần căn cứ quy định của Đảng và tình hình cụ thể, đề ra chiến lược phát triển Đảng lâu dài. Thường xuyên làm tốt công tác lãnh đạo các đoàn thể, nhất là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thực hiện tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, xây dựng động cơ, ý thức trách nhiệm cho đoàn viên, hội viên phấn đấu để được đứng vào hàng ngũ của Đảng; phát động các phong trào thi đua yêu nước, phong trào thi đua quyết thắng ở các đơn vị, địa phương để lựa chọn những cá nhân ưu tú giới thiệu cho tổ chức Đảng xem xét kết nạp vào Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thẩm tra, xác minh các hồ sơ có liên quan đến lịch sử chính trị hiện nay của quần chúng phục vụ cho công tác phát triển đảng viên. Mặt khác, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần phân công những đảng viên có kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, xây dựng Đảng, cũng như giàu kinh nghiệm trong công tác, lĩnh vực chuyên môn, kèm cặp, bồi dưỡng, giúp đỡ quần chúng ưu tú, tạo động lực để quần chúng ưu tú rèn luyện, phấn đấu vào Đảng. Trong quá trình bồi dưỡng, giúp đỡ, chi bộ cần xác định rõ trách nhiệm cho những đảng viên làm nhiệm vụ giới thiệu người vào Đảng ngay từ trước khi kết nạp, để người giúp đỡ đó có đủ thời gian xem xét lý lịch người mình giới thiệu, bồi dưỡng cho họ nhận thức về Đảng và trong cả thời gian dự bị, người giới thiệu vẫn có trách nhiệm giáo dục, giúp đỡ đảng viên mới trở thành đảng viên chính thức.

Đối với những chi bộ, đảng bộ gặp khó khăn trong phát triển Đảng, như khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, các khu công nghiệp, khu chế xuất, cần quan tâm, tạo việc làm tại chỗ cho lao động trẻ tại địa phương, để thanh niên tham gia làm kinh tế, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, các phong trào thi đua nhằm thu hút đoàn viên thanh niên, từ đó phát hiện những nhân tố tích cực để bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển Đảng. Có như vậy, công tác phát triển Đảng mới ngày càng đi vào chiều sâu và chất lượng.

Không nêu gương, cán bộ, đảng viên sẽ tự suy thoái

Chống tự suy thoái theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó, để tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng; được quần chúng tin tưởng, sẵn sàng tham gia và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng thì người đảng viên, người cán bộ lãnh đạo phải nêu gương. Muốn thu hút, lôi kéo, động viên được quần chúng theo mình, người lãnh đạo không chỉ đi tiên phong, mà còn là người nêu gương cho những người đi theo. Người nhấn mạnh: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình thì người đảng viên từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu.

Vậy nên, để thực hiện trách nhiệm nêu gương, trong công tác xây dựng Đảng, các tổ chức đảng, bí thư cấp ủy cần xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, kiên trì, kiên quyết với những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra, có tư duy đổi mới, có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Tích cực mở rộng dân chủ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, thực hiện nghiêm túc, có nền nếp chế độ sinh hoạt đảng. Phải có chương trình, kế hoạch thực hiện đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng, gương mẫu trong đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tiếp tục cụ thể hóa các quy định về trách nhiệm nêu gương thành các tiêu chí cụ thể ở từng cơ quan, đơn vị để thực hiện, kiểm tra, đánh giá và giám sát, tạo sự chuyển biến rõ nét trong thực hiện trách nhiệm nêu gương của CB, ĐV. Thực tiễn cho thấy, ở nơi nào, người đứng đầu cấp ủy, đứng đầu cơ quan, đơn vị thực hiện tốt tự giác nêu gương, chủ động, tích cực phối hợp công tác vì công việc chung, ở nơi đó nội bộ đoàn kết, không khí dân chủ, sức mạnh của tập thể trong thực hiện nhiệm vụ chính trị là hợp lực từ tinh thần trách nhiệm, sức mạnh của mỗi thành viên.

Đối với mỗi CB, ĐV phải nghiêm túc học tập, quán triệt đầy đủ các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về nêu gương. Sự nêu gương của CB, ĐV phải toàn diện về mọi mặt, nêu gương về phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong công tác, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân; nêu gương về quan hệ với nhân dân, đồng chí, đồng nghiệp, bạn bè, người thân, gia đình… nêu gương từ việc lớn đến việc nhỏ, thể hiện trong những việc làm cụ thể. Để thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, vấn đề cốt lõi hàng đầu là CB, ĐV phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, phải nghiêm khắc với mình, luôn tự nhìn nhận, xem xét, đánh giá bản thân một cách nghiêm túc theo chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, rút ra những bài học cần thiết trong công tác và trong cuộc sống, thấy được cái tốt, cái đúng để phát huy, nhất là thấy được những tồn tại, hạn chế khuyết điểm để tự đề ra biện pháp khắc phục.