Thứ Hai, 9 tháng 10, 2023

ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY

 


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng là chính, tích cực chủ động phòng, chống là quan trọng; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta khẳng định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng”. Trong quá trình cách mạng, Đảng ta thường xuyên cảnh giác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng; đồng thời cũng đặt ra yêu cầu nâng cao nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, nên đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống quan điểm, nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường, biện pháp tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và là cơ sở vững chắc để Đảng đề ra chủ trương, đường lối lãnh đạo; là kim chỉ nam định hướng cho mọi hành động của mình. Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được cấu thành bởi hai thành tố có mối quan hệchặt chẽ, khăng khít với nhau là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thế giới mà chúng ta sống đang diễn ra những quá trình, những xu hướng quá độ mà sự vận động của nó là điều rất khó dự lường, tác động mạnh mẽ và sâu sắc, làm thay đổi toàn bộ đời sống nhân loại. Thế giới hiện nay vẫn đang quá độ từ trật tự thế giới cũ của thời kỳ chiến tranh lạnh sang trật tự thế giới mới, nhưng vẫn chưa được định hình rõ nét, đặc biệt trở nên rất khó đoán lường sau khi ông Joe Biden làm Tổng thống Mỹ. Thế giới cũng bắt đầu bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, (cách mạng công nghiệp 4.0), với sự phát triển vô cùng nhanh chóng, mà hiện nay chúng ta chưa có thể nắm bắt và tiên lượng hết mọi điều sẽ diễn tiến và hệ quả của nó đối với cuộc sống con người, mọi quốc gia dân tộc và cộng đồng nhân loại. Thế giới hiện nay lại đang chứng kiến sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc và dân túy, những nguy cơ phá vỡ nhiều luật lệ và tổ chức, thiết chế quốc tế tưởng như đã phát triển ổn định, bền vững của thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Thế giới vẫn đang phải đối mặt với sự gia tăng sức mạnh quốc phòng, quân sự, đặc biệt là sự ra đời nhiều loại vũ khí trang bị mới, kể cả vũ khí hạt nhân với những chính sách cực đoan của nhiều nước, đặc biệt là các nước lớn, các nước phát triển, treo lơ lửng trên đầu nhân loại nguy cơ xung đột, chiến tranh quy mô lớn, có thể bùng phát vào bất kỳ ở đâu và thời điểm nào.

Toàn bộ những quá trình, những xu hướng quá độ nêu trên đang vận động, biến đổi và phát triển nhanh chóng trong điều kiện mới của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa phát triển hết sức mạnh mẽ và sâu rộng; phản ánh sâu sắc tính chất gay go, phức tạp mới của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu trong bối cảnh lịch sử mới. Những quá trình, những xu hướng đó tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng vừa gián tiếp vừa trực tiếp đến nền tảng tư tưởng  và hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Sự phát triển của mạng xã hội và sự lợi dụng không gian mạng chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay... Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam, gây nhiều khó khăn đối với các đơn vị cung cấp thông tin, quản lý mạng xã hội hiện nay./.

TBQL 17

 

tỉnh táo nhận diện âm mưu xuyên tạc của các thê lực thù địch phản động về chính sách đối ngoại của Đảng

 Thời gian qua trên mạng xã hội xuất hiện những bài viết mang quan điểm sai trái của các đối tượng thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, chúng tìm mọi cách phủ nhận những thành tựu của công tác đối ngoại, xuyên tạc quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và quan hệ của Việt Nam với các nước đối tác; xuyên tạc đường lối, phương châm đối ngoại, hòng gây nghi kỵ trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới, hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

 

.Những động thái trên không có gì mới và không nhằm mục đích nào khác ngoài việc tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, đi ngược lại lợi ích quốc gia dân tộc, chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước đối tác, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng, phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước của chúng ta.

Những năm qua, đặc biệt là trong 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng trong công tác đối ngoại. Quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Công tác đối ngoại của Đảng cùng ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân kết hợp hài hòa đã tạo nên những thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, góp phần tạo nên môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Việt Nam là rất rõ ràng, nhất quán là độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập quốc tế. Mục đích của Việt Nam là tạo được lợi ích chung với các nước, đó là duy trì hòa bình, ổn định. Chủ trương và cách giải quyết đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân cũng như toàn xã hội, được dư luận quốc tế đồng tình, ủng hộ.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong thời gian tới là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi” (Văn kiện Đại hội XIII, tập 1, trang 161,162).

Nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Như vậy chúng ta có thể khẳng định rằng, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là rất rõ ràng, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Mỗi người chúng ta cần phải cảnh giác và chủ động phản bác đối với các luận điệu sai trái, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng mà các thế lực thù địch, phản động đang rêu rao trên các trang mạng xã hội nhằm phá vỡ sự ổn định và phát triển của đất nước.

Quân đội nhân dân Việt Nam đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận

 Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận của quân đội đã có bước trưởng thành, đạt được những thành tựu to lớn. Quân đội đã nhận thức sâu sắc nghị Quyết số 35 của TW về  tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới. Nâng cao cảnh giác cách mạng; định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức, củng cố lòng tin cho cán bộ, chiến sĩ vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đề xuất với Đảng những chủ trương biện pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái thù địch, nhất là trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; xây dựng vững chắc trận địa tư tưởng trong quân đội, bảo đảm quân đội luôn kiên định, vững mạnh về chính trị trong mọi tình huống. 

    Tuy nhiên, với âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, cơ hội là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là "mũi đột phá" hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những "khoảng trống" để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên, nhân dân nhằm chuyển hoá, xoá bỏ tư tưởng XHCN.

     Vì vậy, trong thời gian tới cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở Việt Nam chắc chắn diễn ra ngày càng quyết liệt, vẫn là mặt trận nóng bỏng hàng đầu.

     Điều này cũng đòi hỏi quân đội không chỉ giỏi tác chiến trên mặt trận đấu tranh vũ trang mà còn phải giỏi tác chiến trên mặt trận chính trị - tư tưởng, đấu tranh chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Quân đội không những phải xây dựng vững chắc trận địa tư tưởng, chống mưu đồ "phi chính trị hoá" quân đội, mà còn phải góp phần đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch, nâng cao cảnh giác cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những âm mưu thủ đoạn phá hoại nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong tình hình mới.

     Nhằm làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn Quân đội nhân dân Việt Nam đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay, góp phần cung cấp cơ sở khoa học để Đảng, Nhà nước, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng và các cơ quan, đơn vị trong toàn quân xác định chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo để quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự tổ chức biên soạn cuốn sách "Quân đội đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay”.

Nhận diện và đấu tranh làm thất bại âm mưu xuyên tạc chính sách đối ngoại của Đảng

 Những ý kiến xuyên tạc lạc lõng, ác ý

Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.

Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Kiên trì, kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại tiến bộ, nhân văn

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. 

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...

Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta.

Các giải pháp phòng ngừa tham nhũng

 Văn kiện Đại hội  VIII, IX, X, XI, XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định tình trạng suy thoái là nghiêm trọng. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức. Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ, cơ quan, đơn vị còn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”.

    Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là một trong những nguyên nhân dẫn đến tham nhũng. Vì vậy, đấu tranh chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống được xem là giải pháp trọng yếu ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng tham nhũng ở nước ta hiện nay. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:

    Một là, tăng cường công tác lý luận và giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng theo định hướng Đại hội XII của Đảng đặt ra.

    Hai là, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ.

    Ba là, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước cùng với thực hiện dân chủ XHCN. 

    Bốn là, coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra trong Đảng và Nhà nước, xử lý nghiêm minh, kịp thời những vi phạm. 

    Năm là, kịp thời đấu tranh với những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch. 

    Sáu là, gắn chặt đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền gắn với đấu tranh chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống 

    Bảy là, nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược

Lợi ích quốc gia - dân tộc phải được đặt lên trên hết

 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” và “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Như vậy, đối với Việt Nam, lợi ích quốc gia gắn với lợi ích của Nhân dân và việc xác định lợi ích quốc gia sẽ do Nhân dân quyết định, trong đó liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là nền tảng.


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lợi ích quốc gia - dân tộc quan trọng nhất, thiêng liêng nhất của Việt Nam chính là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Sinh thời, Người luôn khẳng định “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945, Bác đã khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” và trong suốt cuộc đời cách mạng của mình Bác luôn đấu tranh cho các quyền dân tộc cơ bản ấy.

Kế thừa giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm “lấy dân làm gốc” và theo quan điểm của Người thì độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia là để mang lại sự tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Người cho rằng: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì” và Người luôn khát khao: “Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta

 Thời gian qua, các thế lực thù địch tiếp tục có những hành động chống phá và có những giọng điệu bôi nhọ, nhằm tạo nên hình ảnh sai lệch về Việt Nam hay đưa ra những thông tin trái ngược với đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước nhằm gây hoang mang trong Nhân dân. Tuy nhiên, thực tế khác hẳn những luận điệu xuyên tạc như các thế lực thù địch, vị thế và vai trò của Việt Nam ngày càng được khẳng định trên thế giới.

Tại Đại hội VII, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra khẩu hiệu “Việt Nam mong muốn là bạn với các nước trong cộng đồng thế giới”. Đến Đại hội IX, Đảng mới chuyển thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn” - từ “muốn” sang “sẵn sàng”. Đến Đại hội IX, Trung ương quyết định công tác đối ngoại phải linh hoạt, phải thiết thực, phải hiệu quả, phải thật sự vì lợi ích quốc gia dân tộc. Chúng ta đã nhìn nhận vấn đề, tư duy các vấn đề quốc tế một cách độc lập, tự chủ, đứng trên đôi chân của mình để suy nghĩ. Chúng ta tiếp tục giữ vững chính sách đối ngoại tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ. Không đứng về bên nào, quan hệ cân bằng với tất cả các nước lớn, chúng ta quan hệ hòa hiếu với tất cả các nước láng giềng cũng như có quan hệ tốt đẹp với tất cả các nước bạn bè, nhất là các nước bạn bè truyền thống trên thế giới.

Lần đầu tiên mục tiêu đối ngoại vì lợi ích quốc gia dân tộc được nêu trong văn kiện Đại hội XI, sau đó văn kiện Đại hội XII làm rõ hơn, phát triển thành bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Tại hội nghị đối ngoại triển khai Đại hội toàn quốc lần thứ XIII, mục tiêu này lại lần nữa được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh khi kêu gọi quyết tâm xây dựng một nền đối ngoại đậm đà bản sắc dân tộc “Chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, đó là một trường phái riêng của ta, ngoại giao của chúng ta là ngoại giao cây tre Việt Nam. Đó là mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách khó khăn, vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân, đoàn kết nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, biết nhu, biết cương, biết thời, biết thế, biết mình, biết người để biết tiến, biết thoái, tùy cơ ứng biến, lạt mềm buộc chặt”.

Hiện nay, bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp, cạnh tranh giữa các nước lớn, cạnh tranh các nguồn lực phát triển, các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống nổi lên ngày càng gay gắt. Đường lối đối ngoại của Việt Nam luôn kiên định mục tiêu chiến lược là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, với giải pháp mang tính chủ động, linh hoạt, khôn khéo nhằm biến các thách thức thành cơ hội, đồng thời tận dụng được các xu hướng hòa bình, hợp tác, đem lại lợi thế cho sự nghiệp phát triển đất nước, vì lợi ích quốc gia dân tộc. Đó là đường lối đối ngoại đúng đắn, kế thừa những thành tựu đạt được, linh hoạt, sáng tạo đã và đang phát huy những giá trị, bản sắc ngoại giao trong thời đại Hồ Chí Minh.

Kết quả đạt được trong thực hiện đường lối đối ngoại Việt Nam thời gian qua là một chặng đường dài, mang bản sắc Việt Nam đó là: Từ thế bị bao vây cấm vận tới những bước chân đầu tiên ra thế giới, đến nay là thành viên tích cực có trách nhiệm đóng góp cho thế giới, được thế giới tôn trọng. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 189 trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế, có quan hệ thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ. Trong đại dịch COVID-19, nhờ đường lối ngoại giao đúng đắn mà Việt Nam đã trở thành quốc gia đi sau về trước trong chiến dịch bao phủ vắc-xin cho toàn dân.

Với đường lối đối ngoại đúng đắn và sáng tạo, Việt Nam đã xử lý hài hòa, hợp lý các mối quan hệ trên nguyên tắc nhất quán, giữ vững độc lập tự chủ và chủ quyền quốc gia, đảm bảo lợi ích quốc gia dân tộc. Vẫn có những luận điệu cho rằng trong bối cảnh phức tạp tình hình thế giới hiện nay, Việt Nam đang ngả theo nước này, chạy theo nước kia để được an toàn, phát triển. Xin thưa, chuyện đó không bao giờ xảy ra! Nhận xét ấy nếu không xuất phát từ những kẻ không hiểu gì về lịch sử thì cũng là chiêu trò chọc gậy bánh xe nhằm phá hoại đất nước!

Quyết tâm đấu tranh chống tham nhũng hiện nay

     Tham nhũng ở Việt Nam xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân nguồn cội, nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến tham nhũng là quá trình tha hóa của những người thực hiện hành vi này bắt đầu từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ góp phần giảm thiểu, ngăn ngừa tệ nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay.

    Văn kiện Đại hội  VIII, IX, X, XI, XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định tình trạng suy thoái là nghiêm trọng. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức. Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ, cơ quan, đơn vị còn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”.

    Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là một trong những nguyên nhân dẫn đến tham nhũng. Vì vậy, đấu tranh chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống được xem là giải pháp trọng yếu ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng tham nhũng ở nước ta hiện nay. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:

    Một là, tăng cường công tác lý luận và giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng theo định hướng Đại hội XII của Đảng đặt ra.

    Hai là, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ.

    Ba là, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước cùng với thực hiện dân chủ XHCN. 

    Bốn là, coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra trong Đảng và Nhà nước, xử lý nghiêm minh, kịp thời những vi phạm. 

    Năm là, kịp thời đấu tranh với những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch. 

    Sáu là, gắn chặt đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền gắn với đấu tranh chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống 

    Bảy là, nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược


Một số giải pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch

     Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên để góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là nhiệm vụ rất quan trọng trong giai đoạn các bộ, ngành, địa phương đang tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. 

    Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các cấp ủy đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

    Một là, thường xuyên nâng cao nhận thức, trách nhiệm về cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. 

    Hai là, chủ động bám sát các vấn đề, sự kiện, cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo thế chủ động trong mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội.

    Ba là, thường xuyên đổi mới phương thức, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, chủ động đấu tranh phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.

    Bốn là, tăng cường quản lý, chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách hiệu quả.

    Thực hiện tốt những nội dung, định hướng cơ bản trên sẽ góp phần ngăn chặn hiệu quả, giảm tác hại từ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động trên internet, mạng xã hội và các phương tiện truyền thông, góp phần bảo vệ Đảng bảo vệ chế độ Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.


VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN HIỆN NAY

     Hiện nay đấu tranh tư tưởng, lý luận là một vấn đề có tính quy luật của cách mạng nước ta. Nhận thức đúng vai trò của đấu tranh tư tưởng, lý luận trong những năm đất nước đổi mới, Đảng ta đã tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo mặt trận đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái thù địch. Nhờ đó nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, góp phần quan trọng vào việc đổi mới tư duy lý luận, định hướng tư tưởng, nâng cao cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

     Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận của quân đội đã có bước trưởng thành, đạt được những thành tựu to lớn. Quân đội đã nhận thức sâu sắc nghị Quyết số 35 của TW về  tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới. Nâng cao cảnh giác cách mạng; định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức, củng cố lòng tin cho cán bộ, chiến sĩ vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đề xuất với Đảng những chủ trương biện pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái thù địch, nhất là trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; xây dựng vững chắc trận địa tư tưởng trong quân đội, bảo đảm quân đội luôn kiên định, vững mạnh về chính trị trong mọi tình huống. 

    Tuy nhiên, với âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, cơ hội là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là "mũi đột phá" hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những "khoảng trống" để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên, nhân dân nhằm chuyển hoá, xoá bỏ tư tưởng XHCN.

     Vì vậy, trong thời gian tới cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở Việt Nam chắc chắn diễn ra ngày càng quyết liệt, vẫn là mặt trận nóng bỏng hàng đầu.

     Điều này cũng đòi hỏi quân đội không chỉ giỏi tác chiến trên mặt trận đấu tranh vũ trang mà còn phải giỏi tác chiến trên mặt trận chính trị - tư tưởng, đấu tranh chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Quân đội không những phải xây dựng vững chắc trận địa tư tưởng, chống mưu đồ "phi chính trị hoá" quân đội, mà còn phải góp phần đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch, nâng cao cảnh giác cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những âm mưu thủ đoạn phá hoại nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong tình hình mới.

     Nhằm làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn Quân đội nhân dân Việt Nam đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay, góp phần cung cấp cơ sở khoa học để Đảng, Nhà nước, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng và các cơ quan, đơn vị trong toàn quân xác định chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo để quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự tổ chức biên soạn cuốn sách "Quân đội đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay”.


Sự cần thiết quân đội tham gia đấu tranh trên không gian mạng

     Hiện nay, trên mạng xã hội đã và đang xuất hiện nhiều luận điệu xuyên tạc nhắm vào việc đấu tranh trên không gian mạng nhằm làm trong sạch môi trường internet. Chúng cố ý xuyên tạc, bóp méo sự thật khi trích dẫn không đầy đủ Điều 65, Hiến pháp năm 2013: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng, Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”. Vì vậy, chúng cho rằng quân đội tham gia đấu tranh trên mạng xã hội, làm trong sạch môi trường internet chính là đang tham gia vào lĩnh vực dân sự, như vậy là vi hiến.

    Theo chúng, quân đội chỉ cần làm tốt nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là đủ, còn việc đấu tranh trên không gian mạng đã có lực lượng khác đảm nhiệm, không phải chức năng của quân đội. Vì vậy, quân đội tham gia đấu tranh trên không gian mạng là lấn sân, lạm quyền, sai chức năng nhiệm vụ, đụng chạm đến chức năng của các bộ, ngành khác. Hay ấu trĩ hơn, chúng còn cho rằng quân đội làm gì có đủ lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất mà đòi tham gia đấu tranh trên mạng xã hội. Tất cả luận điệu này là hết sức phi lý, trơ trẽn, xuyên tạc, hòng phủ nhận vai trò tác chiến của quân đội nhân dân Việt Nam

    Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái đó, không để cho chúng lợi dụng không gian mạng để bôi nhọ quân đội ta. Vì vậy, Quân đội tham gia đấu tranh trên không gian mạng  làm sạch môi trường internet ở Việt Nam là hết sức cần thiết hiện nay, phù hợp Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Việc đấu tranh trên không gian mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an toàn thông tin, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, từng bước làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động../


Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng

 Một số vấn đề đặt ra

Từ thực tiễn bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong thời gian qua đặt ra cho chúng ta những vấn đề mới cần tiếp tục được quan tâm và giải quyết thấu đáo, nhằm thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ quan trọng này.

Trước hết, việc bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc lâu dài, cam go, phức tạp, lấy con người và trí tuệ của con người làm chính trên cơ sở pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế. Nhiệm vụ này đòi hỏi phải có chiến lược, sách lược đúng đắn; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ; lực lượng chuyên trách tinh thông nghiệp vụ, nhạy bén về chính trị, hiểu biết pháp luật; đặc biệt, phải huy động được sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, trên thực tế, nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng bảo vệ của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Điều đó đặt ra cho thời gian tới, cùng với tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, sự vào cuộc chủ động, quyết liệt, hiệu quả các cấp, các ngành để huy động tốt mọi nguồn lực, chúng ta cần nâng cao hơn nữa nhận thức, trách nhiệm, kỹ năng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Vấn đề này cần phải được tiến hành thường xuyên, với nội dung, biện pháp phù hợp, hiệu quả.

Hai là, cùng với sự phát triển của không gian mạng, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, thì nguy cơ tấn công mạng, gián điệp mạng, chiến tranh mạng, mất an toàn thông tin mạng cũng ngày càng gia tăng. Bởi vì, đi cùng với phát triển chính phủ điện tử là việc sử dụng internet và hệ thống máy tính kết nối, điện thoại thông minh sẽ ngày càng rộng rãi; mọi hoạt động của xã hội di chuyển ngày càng nhiều lên không gian mạng. Đây là cơ hội để phát triển, nhưng cũng tạo nhiều kẽ hở để các thế lực thù địch, phản động, tội phạm tăng cường chống phá, xâm hại đến quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức trên không gian mạng. Theo thống kê, hiện nay, các tổ chức phản động đã và đang sử dụng khoảng 1.236 trang Web, trên 200 kênh youtube, hơn 2.000 fanpage, lập ra gần 1.000 hội nhóm trên mạng xã hội để tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước10. Đáng chú ý, một số quốc gia vẫn đang bí mật triển khai các hoạt động trinh sát, giám sát, tình báo, bố trí hệ thống vũ khí mạng, sẵn sàng tiến công, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên không gian mạng11; các thế lực thù địch, phản động cũng đang đẩy mạnh các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, tuyên truyền chống phá chế độ, kích động biểu tình, bạo loạn, hòng thực hiện “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” đối với nước ta12. Các hoạt động cài cắm mã độc, phần mềm độc hại vào hệ thống thông tin quan trọng quốc gia, quân sự, quốc phòng diễn ra ngày càng thường xuyên và tinh vi hơn. Tình hình đó đặt ra cho chúng ta phải giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa phát triển, khai thác với bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng.

Ba là, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là nhiệm vụ mới, rất phức tạp, đòi hỏi phải có hệ thống cơ sở pháp lý đồng bộ, lực lượng chuyên sâu, vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, trong khi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này của ta còn thiếu và chưa đồng bộ. Các quy định về việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng còn phân tán, có hành vi chưa có quy định rõ ràng, do đó lực lượng chức năng thiếu căn cứ để kiểm tra, xử lý một cách triệt để. Cùng với đó, lực lượng chuyên trách của ta tuy đã được thành lập và bước đầu hoạt động có hiệu quả nhưng kinh nghiệm tác chiến, đấu tranh trên không gian mạng còn chưa nhiều; trang bị kỹ thuật còn hạn chế, chưa đồng bộ; nguồn nhân lực chất lượng cao về lĩnh vực công nghệ thông tin, an ninh mạng còn thiếu, v.v. Đó cũng là những vấn đề cấp thiết đặt ra trong thời gian tới.

Bốn là, hạ tầng không gian mạng của ta hiện nay còn hạn chế, nhất là hạ tầng công nghệ phần cứng, từ các hạ tầng lõi cho đến các thiết bị điện tử cá nhân cơ bản đều nhập từ nước ngoài; nhiều trang thiết bị mạng được sử dụng trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp cũng có nguồn gốc từ nước ngoài. Các hãng bảo mật và cơ quan chức năng nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã chứng minh và cảnh báo về các mã độc, “cửa hậu” được cài sẵn trong các thiết bị trước khi xuất xưởng, cho phép đối phương có thể truy cập, kiểm soát từ xa. Bên cạnh đó, các trang mạng xã hội được người Việt Nam dùng nhiều cũng chủ yếu do nước ngoài quản lý và đặt máy chủ ở nước ngoài; trong khi, chúng ta còn thiếu nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, nhất là những chuyên gia giỏi về an ninh mạng, tác chiến mạng. Đây cũng là một trong những vấn đề hết sức khó khăn trong đảm bảo an ninh, an toàn cho tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động trên không gian mạng.

Không gian mạng ở Việt Nam là một bộ phận cấu thành Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Từ thực tiễn, kinh nghiệm, kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra trong thời gian qua đòi hỏi chúng ta tiếp tục nâng cao nhận thức, xây dựng quyết tâm và có nhiều giải pháp đồng bộ, hiệu quả, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc “vùng lãnh thổ đặc biệt” của Tổ quốc.

Bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan hiện nay


Tín ngưỡng là niềm tin thiêng liêng của con người gửi gắm vào thần thánh, vào những biểu tượng thần bí mà các cộng đồng nhân loại sáng tạo ra trong cuộc sống của mình. Vì thế, thực hành tín ngưỡng là hành động thực tế của con người để cụ thể hóa niềm tin tinh thần đó thành các hành vi, sinh hoạt, nghi thức, sự truyền bá, sự phát triển,… trong đời sống của mình.

Với các điều kiện về tự nhiên, địa lý, xã hội, Việt Nam có một không gian đa dạng, phong phú nhưng cũng rất phức tạp về tín ngưỡng. Theo thời gian, cùng với những biến thiên của lịch sử, tín ngưỡng luôn phát triển, đồng hành cùng văn hóa dân tộc. Tuy nhiên đã và đang xuất hiện tình trạng một số người lợi dụng hoạt động tín ngưỡng để thực hiện các hành vi phản văn hóa, lệch chuẩn mà biểu hiện rõ nhất là các hành vi mê tín dị đoan, "buôn thần bán thánh", gửi gắm niềm tin vào những điều mê lầm với tâm lý mê muội và những cách thực hành bất thường, đem đến những hậu quả tiêu cực, phản giá trị cho bản thân và xã hội. Mê tín dị đoan là môi trường thuận lợi cho nạn buôn thần bán thánh tồn tại mang danh thực hành tín ngưỡng hoặc nghi quỹ (luật lệ tín ngưỡng truyền thống) trong tôn giáo. Và đó là phản lại sự văn minh, phản lại tính nhân văn, bản chất của tín ngưỡng.

Mê tín dị đoan đã gây ra những hậu quả tiêu cực, thậm chí rất xót xa mà chúng ta từng gặp, từng biết trong cuộc sống ngày nay. Song nguy hại không kém là những biểu hiện mê tín dị đoan dưới nhiều hình thức đa dạng, tinh vi khác vẫn đang diễn ra mọi lúc, mọi nơi trong xã hội. Cùng với đó là tình trạng lợi dụng mạng xã hội để đề cập các dịch vụ tâm linh nhưng thực chất là mê tín dị đoan cũng được quảng bá, công khai chào mời. Mê tín dị đoan là một tệ nạn xã hội nghiêm trọng, đang có nguy cơ bùng phát, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả khó lường cho xã hội.

Để ngăn chặn và loại bỏ những biểu hiện mê tín dị đoan trong đời sống hôm nay, giúp tạo môi trường và các giá trị tốt đẹp trong đời sống, cần xác định tốt các giải pháp Xây dựng một nền giáo dục có hiệu quả, nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân về tác hại của mê tín dị đoan. quảng bá các giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng, đồng thời lên án, phê phán những biểu hiện của mê tín dị đoan.

Mỗi tổ chức, cá nhân hiểu và thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình giúp loại bỏ nạn mê tín dị đoan trong đời sống hàng ngày.


Giải pháp chủ yếu phòng tránh bạo lực gia đình

     Ngày nay, khi chúng ta đang chung tay xây dựng xã hội văn minh tiến bộ, gia đình hạnh phúc nhưng tình trạng bạo lực gia đình vẫn còn tồn tại và diễn ra phức tạp dưới nhiều hình thức, do đó chúng ta cần phải đấu tranh để hạn chế và từng bước xóa bỏ nó trong đời sống xã hội.

Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là: “hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” (Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007).

- Thứ nhất: Tăng cường hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới nhằm nâng cao nhận thức tiến tới chuyển đổi hành vi của các tầng lớp nhân dân về bạo lực gia đình.

- Thứ hai: phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình; vai trò của họ hàng. Duy trì sự ổn định, đoàn kết và êm ấm trong gia đình; làm tốt công tác hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình.

-  Thứ ba: đẩy mạnh thực hiện phong trào xây dựng gia đình văn hóa, nếp sống văn minh; cần quan tâm xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá trong đó đưa tiêu chí không có bạo lực gia đình, không lạm dụng rượu bia, không có tệ nạn cờ bạc, ma tuý để công nhận gia đình văn hóa.

-  Thứ tư: phải xử lý nghiêm người có hành vi bạo lực gia đình theo đúng quy định của Nghị định số 110/2009/NĐ-CP của Chính phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình.

- Thứ năm: thực hiện việc lồng ghép chương trình phòng chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới trong chương trình kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của các cấp, các ngành.

Việc phòng chống bạo lực gia đình, bảo vệ người phụ nữ không phải là chuyện một sớm một chiều có thể giải quyết ngay được. Nó đòi hỏi phải có thời gian, mà điều tiên quyết là phải nâng cao dân trí, tích cực tuyên truyền đi đôi với việc thực hiện bình đẳng giới, thi hành luật và các chế tài nghiêm minh. Phòng chống bạo lực gia đình không phải là việc của một cá nhân hay một tổ chức độc lập mà là công việc chung, cần có sự kết hợp đồng bộ, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan và cả hệ thống chính trị, cả xã hội vào cuộc mới mang lại hiệu quả thiết thực nhằm xây dựng xã hội văn minh tiến bộ, gia đình hạnh phúc./.


Kết quả từ những nỗ lực, cố gắng

 Kết quả từ những nỗ lực, cố gắng

Ngay sau khi Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng được ban hành, cấp ủy, chính quyền các cấp đã tổ chức quán triệt sâu sắc, chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình hành động và quyết liệt trong triển khai thực hiện. Theo đó, để Nghị quyết số 29-NQ/TW của Đảng thực sự đi vào cuộc sống, cùng với tăng cường giáo dục, quán triệt, tạo sự đoàn kết, thống nhất cả về nhận thức và hành động, các cấp ủy, tổ chức đảng đã chủ động ra nghị quyết lãnh đạo chuyên đề, tổ chức phân công cụ thể; trong đó, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp chịu trách nhiệm và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, xác định rõ những vấn đề trọng tâm, trọng điểm để triển khai thực hiện; đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng chung sức, đồng lòng tích cực tham gia bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và đạt nhiều kết quả nổi bật.

Hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước đối với các loại hình dịch vụ viễn thông, internet, bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng không gian mạng tiếp tục được xác lập và ngày càng được củng cố, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng từng bước được bổ sung, hoàn thiện, như: Luật An ninh mạng 2018; Luật An toàn thông tin mạng (sửa đổi, bổ sung năm 2018); Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước 2018; Chỉ thị số 14/CT-TTg, ngày 25/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao năng lực phòng chống phần mềm độc hại; Chỉ thị số 02/CT-TTg, ngày 04/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng; Nghị quyết số 22/NQ-CP, ngày 18/10/2019 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị; cùng các kế hoạch, chương trình hành động thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Chính phủ và cấp ủy, chính quyền các cấp, v.v. Đây là những văn bản quan trọng, tạo hành lang pháp lý cơ bản để các cấp, ngành, lực lượng, địa phương triển khai bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.

Cùng với đó, cơ sở hạ tầng không gian mạng cũng được đầu tư xây dựng, phát triển mạnh, phục vụ đắc lực cho hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng, Nhà nước, đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật bảo đảm an toàn, an ninh mạng ngày càng được đầu tư, củng cố. Chúng ta đã xây dựng được kết cấu hạ tầng viễn thông khá đồng bộ, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi từ Trung ương đến địa phương; xây dựng và duy trì một hệ thống mạng quốc gia an toàn và bảo mật, ngăn chặn được hiểm họa từ các cuộc tấn công, đánh cắp thông tin và tạo ra một môi trường trực tuyến khá an toàn. Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia được triển khai xây dựng, bước đầu phục vụ tốt cho phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Đặc biệt, hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư - “trái tim” của chính phủ số đã được vận hành, tạo động lực để phát triển kinh tế số, xã hội số, công dân số. Chúng ta cũng đã xây dựng được mối quan hệ hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và tối ưu hóa các biện pháp bảo vệ không gian mạng; tham gia vào các cơ chế hợp tác quốc tế để đối phó với các mối đe dọa trực tuyến.

Cùng với phát huy sức mạnh của toàn dân, lực lượng chuyên trách cũng được quan tâm xây dựng, tiến thẳng lên hiện đại, như: Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng (thuộc Bộ Quốc phòng); Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (thuộc Bộ Công an); Cục An toàn thông tin (thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông); Ban chỉ đạo 35, Lực lượng 47 các cấp, v.v. Thời gian qua, các lực lượng chuyên trách đã thực hiện tốt chức năng tham mưu, chủ động phối hợp, dự báo đúng tình hình; kịp thời phát hiện, đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động cài cắm gián điệp, tấn công mạng, triển khai các giải pháp bảo vệ hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia; vô hiệu hóa các hoạt động chống phá trên không gian mạng; xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng mạng internet và thông tin trên mạng, v.v. Lực lượng tác chiến không gian mạng tiếp tục được điều chỉnh, bố trí ngày càng khoa học, phù hợp với phương án, quyết tâm, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ trinh sát, phòng thủ, phản công mạng trên các hướng chiến lược.

Có thể khẳng định, với những chủ trương đúng đắn, hành động quyết liệt, chúng ta đã “chủ động phát hiện, có các phương án, đối sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa và kiểm soát tốt các nhân tố có thể gây bất lợi đột biến,... Bước đầu hình thành hệ thống pháp luật và cơ sở vật chất cho việc bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin quốc gia, không gian mạng quốc gia,… Chủ động đấu tranh kịp thời, hiệu quả, từng bước đẩy lùi các loại tội phạm;… làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động”1. “Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng xã hội được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đạt kết quả rõ rệt”2. “Từng bước hoàn thiện và phát triển tư duy lý luận, chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và tổ chức thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc theo hướng: Tăng cường thế trận lòng dân; chủ động, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa;... Tiếp tục củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, v.v. Chủ động, tích cực đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động”3, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng. Theo đánh giá liên tục trong 3 kỳ gần đây của Liên minh Viễn thông quốc tế, chỉ số an toàn, an ninh mạng toàn cầu - GCI của Việt Nam đã tăng từ 100 lên 50 và hiện xếp thứ 25/194 quốc gia và vùng lãnh thổ; hệ sinh thái sản phẩm an toàn, an ninh mạng Việt Nam cũng đã được thúc đẩy phát triển

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

        Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thực chất là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với nền tảng tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân Việt Nam không chỉ bằng lý luận, lời nói hay nghị quyết mà phải hành động thực tiễn, “nói đi đôi với làm”, xây dựng, chỉnh đốn Đảng thành công để Đảng ta thực sự là một chính đảng, khoa học, cách mạng và nhân văn, của giai cấp công nhân Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

Vì vậy , hơn bao giờ hết, chúng ta phải chủ động, nhạy bén, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; các biểu hiện cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác; không để suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ ./.



Vun đắp sức mạnh nội sinh

 Vun đắp sức mạnh nội sinh

Đảng ta khẳng định: Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải phản ánh được nguyện vọng, quyền lợi của đại đa số dân chúng để có thể tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng cho cách mạng. Bởi thế, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, về đại đoàn kết toàn dân tộc, về dân tộc, tôn giáo, về Mặt trận và các đoàn thể nhân dân...

Đặc biệt, ngày 12-3-2003, Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW, xác định mục tiêu: Củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng; được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức; trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đạt được trên tất cả lĩnh vực là kết quả đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng với sự quyết tâm, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Ngày 18-11 hằng năm trở thành Ngày hội đại đoàn kết toàn dân, góp phần củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết; giáo dục truyền thống yêu nước, tăng cường đồng thuận xã hội; góp phần xây dựng, phát triển quê hương, đất nước.

Những kết quả đạt được là vô cùng to lớn, tuy nhiên, những hạn chế, bất cập dù được chỉ ra cách đây 20 năm trước trong Nghị quyết 23, thì đến nay vẫn có mặt chưa khắc phục triệt để. Đặc biệt, lòng tin vào đội ngũ cán bộ, đảng viên và của một bộ phận nhân dân vào Đảng, vào chế độ chưa thật vững chắc, phần vì đời sống còn nhiều khó khăn, phần vì bất bình trước những bất công xã hội và tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí vẫn diễn ra khá nghiêm trọng; kỷ cương phép nước nhiều lúc, nhiều nơi không nghiêm; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; trật tự, an toàn xã hội còn phức tạp...

Sức mạnh liên minh công, nông, trí chưa được phát huy đúng mức; vai trò của công nhân và nông dân ít được khẳng định trong điều kiện xã hội tri thức, xã hội số; việc phát huy vai trò, đóng góp của kiều bào Việt Nam vào công cuộc đổi mới đất nước vẫn chưa có giải pháp đồng bộ, căn cơ... Đặc biệt, việc xuất hiện những “điểm nóng” ở Tây Nguyên (2001, 2004), Bình Thuận (2018), các vụ việc ở Tây Bắc, Tây Nam Bộ, Tây Nghệ An, hay mới nhất là vụ việc ở Đắk Lắk đều nhằm mưu đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong bối cảnh mới, nhất là sự phát triển của yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, thì việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải là một trong những ưu tiên hàng đầu. Để làm được điều đó, cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, trên cơ sở thực hiện tốt cả hai vai trò: Vai trò thành viên và vai trò lãnh đạo. Xác lập đúng hơn nữa vị trí, vai trò của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị để bảo đảm cho MTTQ Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ xây dựng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đảng, Nhà nước tiếp tục nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách và quy định pháp luật để MTTQ Việt Nam độc lập về tổ chức, chủ động về hoạt động; cơ chế, chính sách bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng, hỗ trợ lẫn nhau trong mối quan hệ giữa Nhà nước và MTTQ Việt Nam. 

Cùng với đó, toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội phải nhất quán vận hành phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, xem đó không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh nhân dân trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống. Hướng về cơ sở, tăng cường đối thoại với nhân dân nhằm giải quyết những vướng mắc giữa chính quyền và nhân dân, đồng thời tạo niềm tin, khuyến khích người dân tham gia góp ý xây dựng Ðảng, chính quyền.

Giá trị truyền thống quý báu

 Giá trị truyền thống quý báu

Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam, với những giá trị, triết lý đạo đức và nhân sinh: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”, “Lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”...

Tư tưởng “Chúng chí thành thành” (ý chí quần chúng làm nên bức thành kiên cố) đã quy tụ sức mạnh người dân, đứng chung chiến lũy đánh đuổi quân thù xâm lược, đứng vững trước thiên tai, cùng nhau dựng nước và giữ nước.

Thực hiện đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Đảng chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nếu biết tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi chống kẻ thù chung và xây dựng đất nước”.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế đồng minh, hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, đánh dấu sự phát triển về chất của phong trào yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ đó đến nay, trải qua các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán chủ trương chăm lo khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xem đó là "việc gốc rễ" cho mỗi thắng lợi cách mạng, đúng như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”.

Càng trong khó khăn, thử thách, sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam càng được khẳng định; được bạn bè thế giới ghi nhận, tán dương, bày tỏ sự cảm phục. Ví như, dù số đảng viên không lớn, với khoảng 5.000 đảng viên, trong khi Quân đội vừa mới thành lập, nhưng Đảng ta đã tập hợp quần chúng thành một khối thống nhất vững chắc, nhất tề đứng dậy giành chính quyền, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc chiến tranh nhân dân đã đánh bại những thế lực ngoại xâm hùng mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giành độc lập, thống nhất non sông. Bước vào xây dựng xã hội mới, khi đất nước bị bao vây, cấm vận, khủng hoảng... nhưng nhân dân vẫn tin theo Đảng, cùng Đảng tìm tòi đổi mới, tìm cách tháo gỡ khó khăn. Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng (năm 1986) xác định cũng chính là kết quả của “ý Đảng, lòng dân”.

Rõ ràng, chỉ khi đứng trước gian khó mới kiểm nghiệm được giá trị to lớn của thực hành đoàn kết. Đó là nguồn sức mạnh nội sinh để dân tộc trường tồn, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam”.

Ngăn chặn tệ mê tín dị đoan trong cán bộ, đảng viên

             Hiện nay, tệ nạn mê tín dị đoan và lễ hội phản cảm đã trở thành lực cản không nhỏ với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan và lễ hội phản cảm là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trực tiếp tham gia, hoặc gián tiếp bao che, dung túng cho tệ nạn này.

Xã hội ngày càng tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, nhưng tệ nạn mê tín dị đoan lại có chiều hướng gia tăng, lan rộng. Tuy chưa phải là nguy cơ trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ, nhưng mê tín dị đoan ảnh hưởng tiêu cực đối với nhiều lĩnh vực xã hội, từ tư tưởng, chính trị, đạo đức đến kinh tế, đời sống. Tệ nạn mê tín dị đoan đã gây ra những thiệt hại lớn và hậu quả xấu cả về sức khỏe, thời gian, tiền bạc, tính mạng cho cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội. 

Đặc biệt, khi mà các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị phản động lợi dụng mê tín dị đoan để chống phá thì nó còn gây ra những rối ren về an ninh trật tự, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần xã hội, đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên tham gia vào các hoạt động mê tín dị đoan và các lễ hội phản cảm là biểu hiện cụ thể về suy thoái đạo đức, lối sống, gây bức xúc trong dư luận, làm suy giảm sức chiến đấu và uy tín lãnh đạo của Đảng trong nhân dân, trở thành một lực cản không nhỏ cho cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn này trong xã hội. Do vậy, trước hết phải ngăn chặn mê tín dị đoan trong cán bộ, đảng viên và xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh, văn minh. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức cũng phải là những người đi đầu trong việc quán triệt, triển khai những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và những giải pháp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn mê tín dị đoan./.  

 

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

 Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết Trung ương đã nhất trí cao ban hành Nghị quyết về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Nghị quyết này có nhiều nội dung kế thừa và đổi mới, bổ sung, phát triển quan trọng so với Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI.
Khái quát những điểm nổi bật, Tổng Bí thư chỉ rõ về phạm vi và cách tiếp cận, nếu như Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI chỉ đề cập đến một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, Nghị quyết mới đã mở rộng ra toàn bộ các chính sách xã hội.
Trong đó, theo Tổng Bí thư, các chính sách này tập trung vào đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ngoài ra, Tổng Bí thư cho biết cách tiếp cận cũng được điều chỉnh từ bảo đảm và ổn định sang ổn định và phát triển; gắn với quản lý phát triển xã hội bền vững, nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người, an ninh xã hội.
Về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, Hội nghị Trung ương 8 đã bổ sung, phát triển, làm rõ hơn những nhận thức mới trong bối cảnh tình hình mới, yêu cầu nhiệm vụ mới.
Tổng Bí thư nhấn mạnh tinh thần Trung ương khẳng định là xây dựng và thực hiện chính sách xã hội phải luôn lấy con người là trung tâm; coi đầu tư cho thực hiện các mục tiêu chính sách xã hội là đầu tư cho phát triển.
Theo đó, cần huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm hiện thực hóa các mục tiêu chính sách xã hội, trong đó nguồn lực Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, nguồn lực của xã hội là quan trọng; kết hợp nội lực với ngoại lực thông qua việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế.
"Chính sách xã hội phải hướng tới toàn dân, bảo đảm toàn diện, công bằng, hiện đại, bao trùm, bền vững; an sinh xã hội phải được chú trọng hơn nữa và bảo đảm sự linh hoạt, thích ứng với các tình huống xấu xảy ra trên diện rộng", theo lời Tổng Bí thư.
Lãnh đạo Đảng nhấn mạnh chính sách xã hội cần được đặt trong tổng thể việc quản lý phát triển xã hội bền vững, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Về mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, Trung ương đã thống nhất cao xác định mục tiêu đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045, theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đồng thời, nghị quyết đề ra 10 nhóm nhiệm vụ giải pháp mới, sát với tình hình thực tế và có tính khả thi cao.
Báo Dân trí

Tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội ma phạm túy hiện nay

     Tội phạm về ma túy là tội phạm bao gồm hành vi vi phạm quy định về quản lí, sử dụng các chất ma túy do Bộ luật hình sự quy định. Tội phạm về ma túy bao gồm nhiều loại hành vi phạm tội khác nhau nhưng đều có chung hai đặc điểm cơ bản: tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm về ma túy thể hiện ở sự đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của con người cũng như đến hạnh phúc gia đình và trật tự công cộng nói chung; các tội phạm về ma túy đều có chung đối tượng là các chất ma túy (hoặc các chất liên quan tới các chất ma túy).

Trong những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn về ma túy nói riêng đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy vẫn diễn biến phức tạp, nhất là trên tuyến biên giới và các địa bàn trọng điểm, số người nghiện ma túy trên địa bàn các tỉnh trong cả nước còn nhiều, chiều hướng gia tăng và tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng cao đến an ninh, trật tự. 

Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy yêu cầu lực lượng Công an, Hải quan, Biên phòng tăng cường công tác nắm tình hình tập trung vào các địa bàn, tuyến, đối tượng trọng điểm, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng MT thẩm lậu từ nước ngoài và từ các tỉnh, đẩy mạnh việc điều tra, triệt phá các tổ chức, đường dây tội phạm mua bán, vận chuyển đấu tranh triệt phá, kiên quyết không để hình thành các điểm, tụ điểm phức tạp về MT.

Các tổ chức đoàn thể, trọng tâm là Đoàn thanh niên, Nhà trường cần tăng cường chỉ đạo tuyên truyền, giáo dục phòng, chống tội phạm ma tuý tại cộng đồng dân cư với hình thức phù hợp, nội dung phải cụ thể, thiết thực với từng địa bàn. Phát động phong trào phòng, chống ma tuý; phòng, chống tệ nạn xã hội gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dụng đời sống văn hoá ở khu dân cư". Đồng thời cần phát động phong trào toàn dân phòng, chống ma túy với những nội dung thiết thực và hiệu quả...


Giải pháp đấu tranh với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ và toàn diện

    - Trước hết, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng: "Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh”(4). Theo đó, phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện công bằng xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe của nhân dân, tăng cường quốc phòng và an ninh... là những vấn đề cơ bản tạo nền tảng vững chắc cho việc đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

- Nâng cao ý thức cho mọi tầng lớp nhân dân về bảo vệ Tổ quốc theo yêu cầu của thời kỳ mới. Quán triệt và giáo dục sâu rộng mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần của Đại hội XI của Đảng cho toàn xã hội, đặc biệt là cho cán bộ, đảng viên. Tổ chức nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các mối đe dọa an ninh phi truyền thống; tăng cường tuyên truyền, trao đổi thông tin về các mối đe dọa an ninh, quốc phòng. Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm xã hội, trách nhiệm cộng đồng của chính quyền các cấp, của các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

- Mở rộng quan hệ đối ngoại, "tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, và nhất là tình trạng biến đổi khí hậu. đẩy mạnh hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế, các cơ quan an ninh, cảnh sát của các nước trong vấn đề an ninh phi truyền thống, đấu tranh chống khủng bố, phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; thiết lập hành lang pháp lý, xây dựng cơ chế hợp tác với các nước trong khu vực và quốc tế, với các tổ chức quốc tế có liên quan; chú trọng tăng cường quan hệ hợp tác với các nước ASEAN trong đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, đặc biệt trong phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, bảo đảm an ninh biển, đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu, thảm họa thiên nhiên, với các chương trình, kế hoạch và cơ chế phù hợp.

Đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống vừa là yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc, vừa là điều kiện quan trọng để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi sự đồng thuận và nỗ lực của toàn xã hội, sự quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, với những giải pháp, biện pháp phù hợp và hiệu quả./.


Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ

     Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ được đưa ra trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội, là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền”. (Điều này thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng nhằm xây dựng một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả đối với công tác cán bộ, trong đó có cả kiểm soát chặt chẽ người làm công tác cán bộ. Thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định chặt chẽ, đồng bộ ở tất cả các khâu trong công tác cán bộ; gắn kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhằm quy rõ trách nhiệm của từng cán bộ, từng khâu trong công tác cán bộ; bảo đảm tính đồng bộ, lô-gíc, khoa học, chặt chẽ cả về nguyên tắc, đối tượng và hình thức kiểm soát trong công tác cán bộ./.