Thứ Ba, 10 tháng 10, 2023

 MỘT GIA ĐÌNH VÌ NON SÔNG ĐẤT NƯỚC

🌺✍️🌺✍️🌺✍️🌺✍️🌺

O ơi ! có điều này cháu xin được hỏi

Mong O hiểu và nói rõ ngọn nguồn

Tại sao ba chị em O không xây dựng gia đình ?

Có phải chăng có điều chi ẩn khuất

Bà Thanh lặng nhìn ra khu vườn xanh ngắt

Ngọn gió chiều lay tàu lá lao xao

Rặng tre vút cao nghe thổn thức rì rào

Đôi mắt bà trở nên buồn hoang vắng

Từ thẳm sâu biết bao điều trĩu nặng

Cứ rung lên mãnh liệt tái tê lòng

Nhà O nghèo cuộc sống khó long đong

Nói ra cháu không thể hình dung hết

Cậu Thành xuất dương tìm đường cứu nước

O và cậu Khiêm địch bắt tù đày

Cậu Khiêm bị tra tấn đến quắt quay

Rất dã man hòng triệt tiêu nòi giống

Hơn ác thú chúng tiêm toàn thuốc độc 

Khi ra tù thì tuổi cũng đã cao

Có những ưu tư, u uẩn nghẹn ngào

Trong tâm tưởng cậu,nói sao cho hết

Bà Thanh nghẹn lòng dâng trào nước mắt

O già rồi không dễ gì nói chuyện ngày xưa

Cũng như cậu Khiêm O thiếu chết sống thừa

Rất kinh khủng bởi những đòn tra tấn

Gây cho O nỗi đớn đau cùng tận

Một chiếc mâm đồng chúng nung đỏ rực lên

Chúng bắt O ngồi nhưng không một tiếng rên

Nỗi đớn đau thấm xuyên vào xương thịt

Xé nát tâm can O vẫn tròn khí tiết

Quyết không khai ra tổ chức của mình

Thề một lòng một dạ trung trinh

Những ngày sau O thân hình tàn tạ

Vết bỏng phá ra đỏ lòm tất cả

Biến dạng toàn thân xoắn vắt chặt tâm hồn

Vậy làm sao O xây dựng gia đình

Quá khứ hiện về khiến lòng bà đau buốt

Như vừa trải qua giấc mơ khủng khiếp

Giọng bà lại trầm trầm từng chữ từng câu

Bao năm trời gia đình chẳng gặp nhau

Trong thời gian O và cậu Khiêm vẫn còn quản thúc

Như sét đánh ngang tai nghẹn ngào thúc giục

Cha O qua đời tỉnh Sa Đéc Miền Nam 

Vượt bao khó khăn gian khổ ngập tràn

Vào trong ấy thọ tang cha lòng đau đớn

Gặp Lê Thị Huệ là học trò cụ Sắc

Cũng để tang và thương khóc cha O

Nhiều người quen và chủ yếu học trò

Lo cho cha những giờ phút cuối

O tạ ơn lòng buồn đau vời vợi

Khi thân tình Huệ kể chuyện em Thành 

Lúc ở Huế hai người đã kết thân

Chung cảnh ngộ cả hai cùng mất mẹ

O thương Huệ ngỏ lời khuyên cặn kẽ

Thành ra đi biền biệt khắp trời Tây

Huệ càng thương nỗi nhớ chất đong đày

Nghe O nói Huệ nghẹn ngào xúc động

Tình cảm chân thành Huệ không nao núng

Em quyết tâm nguyện chín đợi mười chờ

Nếu sau này chẳng trọn vẹn ước mơ

Đợi không được em vào chùa lễ Phật

Và điều đó đã trở thành sự thật

Bà vào chùa khép lại cả tuổi xuân

Bác kính yêu không xây dựng gia đình

Gác lại tình riêng trọn đời lo Tổ Quốc 

...

Tg :Nguyễn Thị Tính

Đây là câu chuyện kể xúc động cuộc gặp gỡ của nhà Văn Sơn Tùng với chị gái Bác là bà Nguyễn Thị Thanh.Tính cảm tác nên bài thơ này.

 Vì hôm nay nhớ đến Bác thấy bài thơ ý nghĩa nên muốn đăng cho các bác đọc .cảm ơn tác giả bài viết.

Để cho thế hệ trẻ biết thêm về Bác và gia đình.



 KÝ ỨC NGÀY TRỞ VỀ


69 năm kể từ ngày Thủ đô vang khúc ca khải hoàn, nhưng cứ mỗi độ tháng 10, ký ức về mùa thu lịch sử năm 1954, về những ngày trở lại với Hà Nội thân yêu lại rạo rực hơn trong trái tim người lính, người chiến sĩ kháng chiến khi xưa.


Trong không khí hân hoan chào mừng 69 năm ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2023), chúng tôi tìm gặp những nhân chứng lịch sử đặc biệt. Người thì nhận nhiệm vụ “về” trước ngày 10/10, người thì có mặt đúng ngày rực rỡ cờ hoa…


Thời khắc thiêng liêng trở về tiếp quản trái tim của đất nước luôn sống động trong ký ức của họ.


Trong căn phòng nhỏ chỉ vỏn vẹn 20 m2 tại phố Nguyễn Viết Xuân (Thanh Xuân, Hà Nội), Đại tá, Anh hùng LLVT Dương Niết trang trọng dành nhiều góc để trưng bày những kỷ vật về một thời chiến đấu cùng dân tộc.


Tham gia cách mạng khi mới 16 tuổi, cả cuộc đời binh nghiệp của Đại tá Dương Niết trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, sau này ông còn tham gia chiến dịch Tây Nam năm 1979. Với Đại tá Dương Niết, năm tháng tuổi trẻ đẹp nhất của ông càng thêm ý nghĩa khi được cùng đồng đội ở Tiểu đoàn Bình Ca trở về làm nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô năm 1954.


Đại tá Dương Niết hào hứng kể: Đại đoàn 308 vinh dự được Bác Hồ giao nhiệm vụ vào tiếp quản Thủ đô. Theo thỏa thuận của hai bên, 35 tổ của Tiểu đoàn Bình Ca được phân công vào trước vài ngày, phụ trách 35 điểm mà Pháp đang chiếm giữ. Khi ấy, dù rất vui sướng vì Hà Nội được giải phóng, nhưng vì quân Pháp vẫn chưa rút hết, lại nhận nhiệm vụ ngay “sát sườn” địch, nên anh em vẫn dặn nhau nêu cao tinh thần cảnh giác, nhất định phải bảo vệ Nhân dân và tài sản của dân, không cho địch phá hoại, cũng như không để chúng cưỡng bức dân di cư.


“Tự hào lắm, khi được là một trong 214 cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ đặc biệt này. Chúng tôi khi ấy cũng mới chỉ mười chín, đôi mươi, còn rất trẻ. Tổ của tôi phụ trách bảo vệ Sở Cảnh sát Bắc Việt (trụ sở Công an TP Hà Nội bây giờ). Các tổ còn lại phụ trách nhiều vị trí quan trọng khác như: Phủ Toàn quyền, Tòa Thị chính, Tòa án tối cao, Nhà máy điện, Nhà máy nước, Nhà máy đèn Bờ Hồ, ga Hàng Cỏ, Nhà tù Hỏa Lò, Bệnh viện Bạch Mai…”, Đại tá Dương Niết nhớ lại.


Cuộc chiến ngăn chặn âm mưu trao trả một Hà Nội hoang tàn, đổ nát của địch tuy không có tiếng súng, nhưng vô cùng căng thẳng, phức tạp. Địch muốn phá, còn Chính phủ ta muốn giữ lại tất cả cho Nhân dân, đấu tranh phải tránh nổ súng.


Đại tá Dương Niết kể, sau khi hành quân về tới phía Bắc cầu Đuống, khung cảnh của những cánh đồng rau xanh mơn mởn và tình cảm của người dân khi thấy bộ đội về khiến các anh em trong Tiểu đội không ai kìm được nước mắt. Người dân mang gạo, mang rau hồ hởi tới biếu bộ đội, nhưng quy định khi ấy là tuyệt đối không được nhận quà, nên các anh phải từ chối.


Khi về tới Sở Cảnh sát Bắc Việt, thấy khẩu hiệu rất to được treo trên lan can tầng hai với dòng chữ: “Có đi vào Nam hay là ở lại để đi vào trại của Lý Bá Sơ?” (đồng chí Lý Bá Sơ là giám đốc trại giam của ta), hiểu rõ đây là một thủ đoạn của địch hòng lôi kéo nhân dân di cư, tổ của ông Dương Niết đã ngay lập tức yêu cầu địch gỡ xuống.


Trong những đêm tổ Bình Ca nhận nhiệm vụ canh giữ tại nội thành, việc ăn uống của cán bộ, chiến sĩ do anh nuôi phụ trách, nhưng đồ ăn sẽ được quân Pháp chở xe đưa tới từng nơi. Tiếng là phối hợp để đảm bảo các bữa ăn cho chiến sĩ ta vào tiếp quản, nhưng việc vận chuyển đồ ăn của quân địch thường xuyên có các “sự cố”, khiến chưa ngày nào cả 35 tổ của Bình Ca được ăn đủ hai bữa mỗi ngày.


“Không biết có phải do “quên” hay không, mà tối ngày 8/10 và sáng 9/10, xe đồ ăn không ghé tới tổ chúng tôi”, Đại tá Dương Niết kể.


Theo lời ông, đêm hôm đó, dù rất đói, nhưng cả tổ vẫn động viên nhau cố gắng, tụ tập hát các bài ca Cách mạng, vừa để át đi sự mệt mỏi, vừa để “bắn tin” cho quân Pháp biết rằng, bộ đội ta vẫn khỏe mạnh, vẫn luôn trong trạng thái cảnh giác cao độ, ngăn chặn kịp thời mọi hành vi phá hoại của chúng.


“Trên chiến trường có “tiếng hát át tiếng bom”, còn ở Thủ đô có “tiếng hát canh quân thù”, Đại tá Dương Niết mỉm cười, hóm hỉnh.


Đại tá Dương Niết cũng nhớ về câu chuyện với anh lính người Đức bị quân Pháp bắt làm tù binh. Người lính Đức này có đứng nói chuyện với bộ đội Việt Nam, nên bị quân Pháp đánh và cấm liên lạc. Nhưng đến đêm, anh ta vẫn lẻn xuống ném vào chỗ tổ Bình Ca vài bao thuốc lá. Có lẽ do hồi chiều đã nhìn thấy anh em nói chuyện, rồi cuốn thuốc lá Cẩm Thủy (Thanh Hóa) hút.


Nhớ về không khí phấn khởi, hào hùng của những ngày tháng 10 lịch sử, Đại tá Dương Niết có thoáng chút tiếc nuối: “Đêm 9/10/1954 là một đêm Hà Nội không ngủ, cổng chào từ khắp các cửa ngõ được dựng lên. Ngày 10/10, bộ đội chính quy về tiếp quản Thủ đô, khắp nơi rộn ràng tiếng cười, tiếng nhạc. Hàng trăm “dòng sông đỏ” của cờ, của hoa đổ về Hà Nội. Nhưng chúng tôi vẫn đang làm nhiệm vụ, nên tuyệt đối không được phép rời khỏi vị trí tiếp quản, không được xuống đường, chỉ có thể ngồi trong nhìn ra và vui chung với mọi người mà thôi”.


Cùng chung nhiệm vụ vào thành trước để gìn giữ và ngăn chặn âm mưu chống phá của địch, nhiệm vụ của Bí thư Chi đoàn học sinh kháng chiến trường Trưng Vương năm 1954 Nguyễn Thị Minh Hà cũng vô cùng đặc biệt. Trong ký ức của bà, ngày đón đoàn quân tiếp quản trở về cũng để lại nhiều tiếc nuối.


Bà kể: “Chúng tôi tổ chức đội thành hai nhóm. Một nhóm đứng phía ngoài, cầm cờ hoa chào mừng, nhóm còn lại được tản mát ra các hướng phía sau vừa canh gác, vừa kịp thời ứng phó các trường hợp xấu xảy ra. Nhìn người dân đón quân về vui vẻ, chúng tôi cũng muốn ra lắm, nhưng nhiệm vụ là bảo vệ phía trong, nên phải tuyệt đối nghe theo lệnh.


Không khí ngày ấy vui lắm. Chúng tôi toàn thanh niên, phấn khởi tới mức cứ rảnh là rủ nhau đi khắp các con đường của Hà Nội, chẳng thiết đến ăn uống. Háo hức chờ tới ngày quân ta kéo về tiếp quản. Ngày ấy còn trẻ, vô tư, chỉ cần được sống trong niềm vui của tự do, hòa bình, giải phóng là hạnh phúc lắm rồi”.


Trong chuyến đi đặc biệt tìm lại những nhân chứng lịch sử tham gia giải phóng Thủ đô, chúng tôi may mắn được gặp Nhà giáo ưu tú Nguyễn Tiến Hà, Trưởng ban liên lạc các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại Nhà lao Hỏa Lò (1930 - 1954). 78 năm kể từ ngày “xếp bút nghiên” gia nhập Đoàn Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu, ký ức về ngày lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên cột cờ Hà Nội vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí người lính già.


Ông kể: “Sáng 10/10/1954, trống giong cờ mở, ba đoàn quân tiến về tiếp quản Hà Nội. Cuộc hành quân lịch sử mang niềm vui giải phóng về với khắp con đường của Thủ đô. Hai bên đường, người dân không ai giấu nổi niềm hạnh phúc, thành từng đoàn mang theo khẩu hiệu, ảnh, cờ, hoa hân hoan mừng từng đoàn quân trở về.


Quân ta về đến đâu, làn sóng cờ đỏ hiện ra đến đó. Những khẩu hiệu: “Hồ Chủ tịch muôn năm”, “Quân đội nhân dân Việt Nam muôn năm”... vang lên không ngớt. Nhiều nhạc sĩ không kìm được lòng mà mang đàn ra gảy, múa hát ngay giữa lòng đường.


Vui mừng, sung sướng được về lại với Thủ đô, giải phóng người dân khỏi sự kìm kẹp, nhưng anh em chúng tôi vẫn chưa được ghé thăm nhà, nhằm đảm bảo an toàn. Có chăng là gặp nhau, vẫy tay chào trên đường mà thôi”.


Ông Nguyễn Tiến Hà rưng rưng cảm xúc nhớ lại không khí của chiều ngày thu tháng 10 lịch sử tại sân Cột cờ Hà Nội. “Đúng 3 giờ chiều, Tiến quân ca của Việt Nam vang lên, lá cờ đỏ sao vàng sau 9 năm vắng bóng tung bay trước gió. Những tiếng còi trước đây dùng để báo động cũng rền vang, như một hồi kèn chiến thắng, báo cho Nhân dân biết Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã về Hà Nội, giải phóng Thủ đô. Người dân dù ở trong nhà hay ngoài đường khi ấy đều hướng trái tim mình về cột cờ Hà Nội để chào cờ, cùng vui niềm vui chiến thắng”, ông Hà kể.


Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội khi ấy là đồng chí Vương Thừa Vũ, cùng bác sĩ Trần Duy Hưng đứng chủ lễ chào cờ. Hai người con ưu tú của Thủ đô và dân tộc đã cùng Đại đoàn 308, thay mặt quân đội và Nhân dân nghiêm trang đứng chào lá cờ Tổ quốc. Ai có mặt ở đó cũng xúc động, nhất là những người lính năm xưa đã ra đi từ mảnh đất này, với lời hứa hẹn ngày trở về.


Trên gương mặt chằng chịt những nếp nhăn, đôi mắt của người lính, người thầy giáo già đã bước qua tuổi chín mươi sáu bỗng nhòe đi. Ông Hà xúc động: “Vui mừng vì được trở về, nhưng tôi lại thấy thương thật nhiều những đồng đội của mình đã h.y s.inh, không kịp vui niềm vui chiến thắng, không được chứng kiến khoảnh khắc ý nghĩa này. Chúng tôi ai cũng nhớ Hà Nội lắm, tuy phải xa nhân dân nhưng trái tim lúc nào cũng hướng về nơi này”.


Trước đó, cuối năm 1948, nhà giáo Nguyễn Tiến Hà được điều về vùng địch tạm chiếm là nội thành Hà Nội với chức danh giáo sư dạy học. Nhưng thực chất, ông đã khéo léo vận động, bồi dưỡng học sinh, nhân sĩ, trí thức đi theo kháng chiến. Bí danh Nguyễn Tiến Hà thực chất là gọi chênh lệch của lời thề “Nguyện tiến về Hà Nội”.


Năm 1950, ông không may bị bắt giam tại Nhà tù Hỏa Lò. Sau gần 3 năm sống trong nhà tù thực dân, ông đã tìm cách liên lạc với các đơn vị và tiếp tục hoạt động cách mạng. Những ngày đầu tiếp quản, ông Hà được Mặt trận Quân sự Hà Nội giao phụ trách trại hàng binh Âu, Phi, vì từng có thời gian bị địch bắt và biết ngoại ngữ.


Tại đây, ông đã vận dụng kinh nghiệm sẵn có, giải thích cho những người lính này hiểu về cuộc chiến đấu chính nghĩa của Việt Nam, kháng chiến là để bảo vệ Tổ quốc và các chính sách nhân đạo của nước ta. Trong số những người được giác ngộ khi ấy có một vị bác sĩ người Ý, sau khi ra hàng đã tình nguyện đi khám bệnh cho nhân dân xung quanh mà không lấy tiền.


Ngày trở về tiếp quản Thủ đô năm đó, mãi là dấu son trong những trang vàng của lịch sử cách mạng nước ta, thể hiện tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” của toàn thể đồng bào, chiến sĩ đã chiến đấu, h.y s.inh cho dân tộc.


Đó cũng là ngày trở về với cội nguồn, với vùng đất linh thiêng, trái tim thương yêu của cả nước./.#HD


Tác giả: Phương Mai - Lê Phú

Nguồn: Báo Tin Tức/TTXVN


Kiên quyết đấu tranh với các tà đạo đội lốt tôn giáo

 

Rõ ràng, ổn định tình hình tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới đất nước, phát triển kinh tế-xã hội, đoàn kết dân tộc và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Theo đó, công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác bảo đảm an ninh trên lĩnh vực tôn giáo là những nhiệm vụ quan trọng, vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nâng cao đời sống tinh thần của người dân, vừa hạn chế sự chống phá của các thế lực thù địch, góp phần tạo sự ổn định và phát triển bền vững đất nước.

Chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; về thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Đặc biệt, cần tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, làm cho người dân hiểu rõ đâu là chính đạo, đâu là tà đạo, tác hại của các tà đạo đối với đời sống vật chất, tinh thần của người dân và toàn xã hội. Từ đó vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân tự giác tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động của các tà đạo.

Đối với các tà đạo đội lốt tôn giáo thì kiên quyết xử lý, xóa bỏ. Căn cứ vào Điều 5: “Các hành vi bị nghiêm cấm” trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 làm cơ sở giải quyết. Các cơ quan thông tấn, báo chí, các ngành, các địa phương cung cấp thông tin rộng rãi và làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nhận thức đúng, nâng cao tinh thần cảnh giác. Không nghe, không tin, không theo và tích cực tham gia đấu tranh trước luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, những lời xúi giục của nhóm người cầm đầu tà đạo, lợi dụng niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín, trục lợi bất chính, gây mất ổn định xã hội. Đối với những đối tượng chủ mưu, cầm đầu các tà đạo, các cơ quan chức năng phải xử lý kiên quyết, kịp thời, triệt để theo pháp luật; vạch trần bản chất và hành vi vi phạm pháp luật, làm mất ổn định chính trị, xã hội, chia rẽ giữa các dân tộc, tôn giáo, lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để hoạt động tà đạo, mê tín dị đoan của số này trước quần chúng nhân dân. Kịp thời định hướng dư luận trước các vấn đề “nổi cộm”, nhất là các vấn đề liên quan đến tôn giáo, thu hút sự quan tâm sâu sắc của chức sắc, tín đồ tôn giáo. Đẩy mạnh đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nêu gương điển hình tiên tiến đối với các cá nhân, tổ chức tôn giáo thực hiện tốt phương hướng hoạt động “sống tốt đời, đẹp đạo”; tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước ở các địa phương.

Chúng ta cũng cần chủ động triển khai nắm tình hình, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lôi kéo, thu hút người tham gia các hội nhóm tà đạo mới để triển khai những biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Đồng thời theo dõi, quản lý chặt chẽ mọi di biến động của các đối tượng theo tà đạo mới, nhất là các đối tượng từng bị bắt được tha về, hiện đang sinh sống tại địa phương, phòng ngừa họ tái hoạt động. Quản lý chặt chẽ các đối tượng cầm đầu nhóm ngoan cố, có khả năng và điều kiện tập hợp lực lượng để không có những hành vi quá khích, gây phức tạp tình hình an ninh trật tự. Chủ động phát hiện sớm các hoạt động có liên quan tới tà đạo, nhất là hoạt động móc nối với các đối tượng cơ hội chống đối chính trị, các tổ chức phản động ở trong và ngoài nước để ngăn chặn và giải quyết kịp thời, dứt điểm những phức tạp phát sinh ngay từ cơ sở, khi mới manh nha. Kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm đối với số đối tượng theo tà đạo ngoan cố, có những hoạt động chống phá chính quyền. Song song với đó là tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo... kết hợp với thực hiện công bằng xã hội, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tăng cường xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, lành mạnh cho mọi người dân nhằm tạo “sức đề kháng”, “miễn dịch” mạnh mẽ trước hoạt động của các tà đạo.

Cảnh giác với các tà đạo đội lốt tôn giáo

 

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước”. Theo Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” của Ban Tôn giáo Chính phủ; hiện nay, ở nước ta có hơn 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm 27% dân số cả nước), hơn 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự; có hàng nghìn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam). Đó là thực tiễn về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam mà tất cả các tổ chức, quốc gia trên thế giới không thể phủ nhận.

Thời gian qua, về cơ bản, tình hình tôn giáo, các tổ chức tôn giáo và đại bộ phận chức sắc hoạt động đúng quy định pháp luật, ổn định, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, do mặt trái của toàn cầu hóa và cơ chế thị trường, âm mưu “chính trị hóa tôn giáo” của các thế lực thù địch đã làm cho đời sống tôn giáo chịu tác động tiêu cực, tiềm ẩn nhiều nguy cơ; trong đó nổi lên những vấn đề như: Lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống Đảng và Nhà nước; vi phạm pháp luật, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ; tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội... 

Đặc biệt, sự xuất hiện những tà đạo đội lốt tôn giáo như: Hội Thánh đức Chúa trời mẹ, đạo bà Điền, đạo Dừa, Thanh Hải vô thượng sư, tà đạo Hà Mòn, Bà cô Dợ, Tin lành Đề ga, tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, đạo Ty, đạo Tiên Rồng, Pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp... được lập ra với mục đích xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, làm xáo trộn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận nhân dân. Những tà đạo này được truyền bá, phổ biến theo nhiều hình thức truyền thông như trên internet, website, Facebook, Zalo, vlog, Twitter, YouTube... thậm chí hình thành những “thị trường tâm linh”. Hoạt động của những tà đạo đội lốt tôn giáo không ngừng gia tăng, với nhiều hình thức biến tướng như: Hiện tượng xem bói online, livestream (phát sóng trực tiếp trên mạng xã hội), dịch vụ tâm linh, du lịch tâm linh... Cá biệt, xuất hiện tà đạo lợi dụng chiếm đoạt tài sản cá nhân, công ty, doanh nghiệp; lôi kéo trí thức, học sinh, sinh viên tham gia bằng nhiều thủ đoạn gây ảnh hưởng tới tư tưởng, tâm lý các tầng lớp nhân dân (trong đó có cán bộ, đảng viên). Chính vì vậy, việc nhận diện, đấu tranh với các tà đạo đội lốt tôn giáo là rất cần thiết trên cơ sở khách quan, khoa học, cách mạng.

Đối chiếu quy định hiện hành về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam cho thấy, các tà đạo đội lốt tôn giáo kể trên không có giáo lý, giáo luật, cơ cấu tổ chức riêng. Mục đích hoạt động chính là vụ lợi, trái pháp luật nên không đủ điều kiện để được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo. Điển hình là hoạt động của Hội Thánh đức Chúa trời mẹ tại một số địa phương thời gian vừa qua như: Hà Nội, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Quảng Nam, Huế, TP Hồ Chí Minh... đã vi phạm nghiêm trọng các điều cấm, quy định tại Ðiều 5 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với những nội dung như: Ép buộc, mua chuộc người khác; xâm phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi... Những gì Hội Thánh đức Chúa trời mẹ tuyên truyền là hoàn toàn trái ngược với thuần phong mỹ tục cũng như những giá trị chuẩn mực về đạo đức, văn hóa của người Việt; không được pháp luật Việt Nam cho phép; hoạt động với các biến thể dị thường núp dưới nhiều danh nghĩa (nhất là danh nghĩa từ thiện, mở các lớp hướng thiện); những kẻ cầm đầu hầu hết là những người không bình thường, có quá khứ bất hảo (cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút...); mục đích chính là vụ lợi.

Hay sự việc xảy ra vào năm 2017, hàng trăm đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên bị tà đạo Bà cô Dợ mê muội, hoang tưởng, lôi kéo, dụ dỗ, lừa mị “chỉ cần đọc kinh cầu nguyện sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn, thế giới sẽ công bằng hơn, mình không làm gì cũng có ăn”, trong khi bản thân họ đều là những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Họ được dặn không nhận sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, từ chối chính quyền hỗ trợ làm nhà cho người nghèo. Nguy hại hơn, tà đạo này còn kích động người dân gây mâu thuẫn trong chính gia đình, dòng họ, đả kích các tôn giáo khác và gieo rắc tư tưởng thành lập cái gọi là “Nhà nước Mông”.

Từ hai tà đạo Hội Thánh đức Chúa trời mẹ và Bà cô Dợ, thu thập thông tin và nhận diện có hàng chục tà đạo đang hoạt động tại 3 khu vực có tính chiến lược, trọng yếu nhất về quốc phòng, an ninh của đất nước là Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; thấy nhiều yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; xâm hại đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Đồng thời có biểu hiện của những âm mưu, thủ đoạn chính trị phản động, những hành vi xâm phạm an ninh quốc gia Việt Nam. Cụ thể là:

Về chính trị, các tà đạo lôi kéo người theo bằng những hoạt động chống lại quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và địa phương; nói xấu chế độ, nói xấu cán bộ, có thái độ ngăn cản chính quyền triển khai xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xây dựng nông thôn mới. Về kinh tế, các tà đạo khuyên con người ta siêng năng cầu cúng, lễ vật càng lớn càng chứng tỏ ngoan đạo, tốn kém tiền của, bỏ bê lao động sản xuất, ốm đau không đi viện mà chữa trị bằng phù phép, nước lã, tàn hương... dẫn tới nhiều cái chết thương tâm. Về văn hóa-xã hội, các tà đạo gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, gây mất đoàn kết trong nội bộ gia đình, thôn xóm, giữa người theo và người không theo, giữa “đạo lạ” này với “đạo lạ” khác. Thường xuyên tổ chức tụ tập đông người, làm lễ tập thể vào đêm, múa hát, đốt lửa đọc kinh tập thể gây mất an ninh nông thôn, vi phạm quy chế bảo vệ an ninh trật tự của khu dân cư. Hoạt động của một số tà đạo ở địa bàn chiến lược, trọng điểm đã bị các thế lực thù địch lợi dụng vào âm mưu chống phá cách mạng nước ta.

 

Thực chất chiến lược “Diễn biến hòa bình”

 

Thực chất chiến lược “Diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh ở Việt Nam là nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở nước ta. Đó là tổng hợp các hoạt động nhằm lôi kéo, dẫn dắt tư tưởng, hành động của quần chúng nhân dân, nhất là lớp trẻ; làm cho họ chạy theo những ham muốn tầm thường, xa rời lý tưởng cách mạng và bị sai khiến; làm cho nội bộ ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Và một trong những thủ đoạn mà chúng thường sử dụng là lợi dụng không gian mạng để đăng tải các bài viết, hình ảnh, video,... mang nội dung xuyên tạc, kích động có chủ đích.

Thực tế cho thấy, những năm gần đây, các bài viết tuyên truyền, chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên không gian mạng rất nhiều. Theo thống kê của Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, trong 06 tháng đầu năm 2023, mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết tiêu cực, xuyên tạc, bịa đặt trên không gian mạng, thu hút hàng chục triệu lượt bình luận, chia sẻ với tỷ lệ bình luận tiêu cực rất cao. Khi tìm kiếm trên mạng những vấn đề nóng, nhạy cảm đang được xã hội quan tâm sẽ cho hàng triệu kết quả. Trong đó, trên 05 trang đầu tiên luôn có hàng chục bài viết tiêu cực từ các trang mạng VOA, BBC, RFA, RFI, Báo Tiếng dân, v.v. Các bài tiêu cực tồn tại rất nhiều trên các website, YouTube, Facebook, Instagram,… do được đăng tải từ nhiều tài khoản; đăng tải nhắc lại không hạn chế ở các thời điểm khác nhau; nội dung chống phá rất linh hoạt, tiếp cận từ nhiều góc độ, không cần tiêu đề rõ ràng, mang tính ám chỉ việc xấu, hoặc chỉ nêu những bất bình trong cuộc sống…; từ đó, đặt câu hỏi, khêu gợi tư tưởng tiêu cực cho người đọc, người nghe, nên tốc độ phát tán và tương tác rất cao.

Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, Đảng, Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn thông tin xấu độc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống diễn biến hòa bình trên các loại hình thông tin, truyền thông, nhất là môi trường mạng; tạo nên phong trào sôi nổi, thu hút nhiều đối tượng tham gia và đạt hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, quá trình đấu tranh vẫn còn những tồn tại, bất cập: (1). Số lượng cơ quan truyền thông, báo, tạp chí có chuyên mục đấu tranh chuyên biệt chưa nhiều, chủ yếu nằm trong lực lượng vũ trang; (2). Lượng tương tác bình luận, chia sẻ đối với các bài này còn thấp, chỉ đạt từ 2% - 4%; (3). Chưa có nhiều ‘kênh” đăng tải, chủ yếu là các bài viết dạng văn bản trên web, Facebook, khá ít trên YouTube; các trang Fanpage của các đơn vị cũng chỉ thu hút tương tác chủ yếu đối với tài khoản của nhóm bạn có cùng sở thích, nặng tính nội bộ, giáo dục lẫn nhau,...

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỘ CHÍNH TRỊ BAN HÀNH QUY ĐỊNH MỚI VỀ ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CHẤT LƯỢNG HÀNG NĂM ĐỐI VỚI TẬP THỂ, CÁ NHÂN TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ!

     Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 124-QĐ/TW, ngày 4/10/2023 về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị. Quy định 124 gồm 4 chương, 19 điều (so với Quy định 132-QĐ/TW, giảm 1 điều). 

Lấy kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức làm cơ sở liên thông trong đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên.

Quy định 124 đã bổ sung nhiều nội dung so với Quy định 132.

Trong đó, bổ sung nội dung: “Kiên trì thực hiện nguyên tắc kiểm điểm tự phê bình và phê bình phải thực sự cầu thị; đánh giá đa chiều; xếp loại chất lượng phải thực sự dân chủ, toàn diện, công khai trên cơ sở phân loại theo đối tượng”, qua đó để công tác kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm ngày càng đi vào thực chất, khắc phục tồn tại, hạn chế trong khâu tổ chức thực hiện.

Lấy kết quả đánh giá, xếp loại của tập thể làm căn cứ để xác định tỷ lệ các mức xếp loại của đơn vị, cá nhân trực thuộc.

Lấy kết quả đánh giá, xếp loại của tập thể làm căn cứ để xác định tỷ lệ các mức xếp loại của đơn vị, cá nhân trực thuộc; lấy kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức làm cơ sở liên thông trong đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên, qua đó để có cơ sở xây dựng các tiêu chí đánh giá, xếp loại theo hướng giảm định tính, tăng định lượng thông qua sản phẩm cụ thể, bảo đảm sự khách quan, công bằng trong đánh giá, xếp loại.

Bổ sung căn cứ kiểm điểm, đánh giá, xếp loại nội dung về: tính gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật, văn hóa giao tiếp, tác phong, lề lối làm việc của cá nhân; tinh thần đổi mới, năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để đồng bộ với các quy định của Bộ Chính trị.
Điều chỉnh, bổ sung đối tượng kiểm điểm

Quy định cũng bổ sung căn cứ về vị trí việc làm và yêu cầu khung năng lực của từng vị trí việc làm để tăng tính định lượng trong đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm đối với từng cá nhân.

Về đối tượng kiểm điểm, điều chỉnh, bổ sung đối tượng là “tập thể lãnh đạo các cơ quan tham mưu giúp việc của Đảng, đơn vị sự nghiệp ở Trung ương và địa phương; ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện và tương đương (bao gồm cả ban thường vụ cấp ủy cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở) và cấp ủy cơ sở”.

Đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, đảng viên mới kết nạp chưa đủ 6 tháng thì không thuộc đối tượng kiểm điểm theo quy định.
Kiểm điểm rõ nhiều nội dung với người đứng đầu

Khi tiến hành kiểm điểm, bổ sung các nội dung về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thực hiện quy định về những điều đảng viên không được làm; trách nhiệm nêu gương; việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú để cập nhật đầy đủ những nội dung mới trong các quy định của Trung ương, bảo đảm nội dung kiểm điểm được toàn diện, thống nhất, đồng bộ với các quy định khác của Đảng.

Đối với cá nhân là người đứng đầu, ngoài những nội dung kiểm điểm cá nhân để xác định trách nhiệm, thẩm quyền của người đứng đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ, còn phải kiểm điểm rõ nhiều nội dung, như:

Khả năng quy tụ, đoàn kết nội bộ và xử lý những vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm; kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương của Đảng về đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương.

Sự gương mẫu của vợ, chồng, con trong chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú.

Kết quả lãnh đạo, tham mưu, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực, phạm vi phụ trách.
Đối với trường hợp đảng viên đảm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau thì đánh giá, xếp loại ở nơi cán bộ đảm nhiệm chức vụ cao nhất.

Tính năng động, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao; kết quả thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực, phạm vi phụ trách...

Đối với trường hợp đảng viên đảm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau thì đánh giá, xếp loại ở nơi cán bộ đảm nhiệm chức vụ cao nhất.

Quy định 124 giữ nguyên tỷ lệ số lượng tập thể, cá nhân được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” không vượt quá 20% số được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” như Quy định 132-QĐ/TW.

Cấp ủy các cấp, người đứng đầu chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả kiểm điểm, đánh giá, xếp loại hằng năm tại địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị mình quản lý.

Cấp ủy cấp trên trực tiếp chịu trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức kiểm điểm lại đối với tập thể, cá nhân kiểm điểm tự phê bình và phê bình chưa đạt yêu cầu; xem xét hủy bỏ và xếp loại lại đối với tập thể, cá nhân xếp loại chất lượng không đúng quy định hoặc sau khi xếp loại mới phát hiện có khuyết điểm không bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định.

Quy định 124-QĐ/TW thay thế cho Quy định số 132-QĐ/TW ngày 8/3/2018./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHÀ KHOA HỌC CẢNH BÁO VỀ MỐI NGUY ĐÁNG SỢ TỪ VIRUS "NGỦ ĐÔNG" 50.000 NĂM!

     Hai tuần cắm trại trên bờ sông Kolyma đầy muỗi và bùn lầy ở Nga có thể không phải là chuyến đi công tác hấp dẫn nhất. Nhưng nhà virus học Jean-Michel Claverie sẵn sàng chấp nhận những khó khăn này để có thể khám phá sự thật về “virus xác sống” - một trong những nguy cơ tiềm tàng biến đổi khí hậu gây ra cho sức khỏe cộng đồng. 

Hãng tin Bloomberg (Mỹ) cho biết những khám phá của ông Jean-Michel Claverie làm sáng tỏ thực tế nghiệt ngã về sự nóng lên toàn cầu khi nó làm tan băng tầng đất vốn bị đóng băng trong nhiều thiên niên kỷ. Tầng đất đóng băng vĩnh cửu từng là nơi sinh sống của động vật, cung cấp những điều kiện hoàn hảo để bảo tồn chất hữu cơ: tự nhiên, tối, không có oxy và rất ít hoạt động hóa học. Ở Siberia, nó có thể sâu tới 1 km - nơi duy nhất trên thế giới có tầng đất đóng băng vĩnh cửu sâu đến vậy.

Claverie (73 tuổi) đã dành hơn một thập niên để nghiên cứu các loại virus “khổng lồ”, bao gồm cả những loại virus gần 50.000 năm tuổi được tìm thấy sâu trong các tầng đất đóng băng vĩnh cửu ở Siberia.

Trái Đất đã ấm hơn 1,2 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp và các nhà khoa học dự đoán Bắc Cực có thể không còn băng vào mùa Hè những năm 2030. Xuất hiện lo ngại rằng khí hậu nóng hơn sẽ giải phóng khí nhà kính như methane vào khí quyển do hiện tượng tan băng vĩnh cửu trong khu vực đã được ghi nhận rõ ràng. Tuy nhiên, mầm bệnh “ngủ đông” lại là mối nguy hiểm ít được chu ý hơn.

Năm 2022, nhóm của ông Claverie đã công bố nghiên cứu cho thấy họ đã trích xuất được nhiều loại virus cổ xưa từ tầng đất đóng băng vĩnh cửu ở Siberia, tất cả chúng đều có khả năng lây nhiễm.

Trong cuộc phỏng vấn tại phòng thí nghiệm của ông ở Đại học Aix-Marseille (Pháp), Claverie nói: “Với biến đổi khí hậu, chúng ta đã quen mối nguy hiểm đến từ phía Nam (các căn bệnh từ khu vực nhiệt đới ấm áp). Bây giờ, chúng tôi nhận ra rằng có thể có nguy hiểm đến từ phía Bắc khi tầng đất đóng băng vĩnh cửu tan ra và giải phóng vi khuẩn, virus”.

Một đợt nắng nóng ở Siberia vào mùa Hè năm 2016 đã kích hoạt bào tử bệnh than, dẫn đến hàng chục ca nhiễm, khiến một em nhỏ tử vong và hàng nghìn con tuần lộc chết.

Vào tháng 7 năm nay, một nhóm các nhà khoa học đã công bố phát hiện cho thấy ngay cả các sinh vật đa bào cũng có thể sống sót trong điều kiện đóng băng vĩnh cửu ở trạng thái trao đổi chất không hoạt động. Nhóm nhà khoa học này đã hồi sinh thành công một con giun tròn 46.000 năm tuổi từ tầng đất đóng băng vĩnh cửu ở Siberia chỉ bằng cách bù nước cho nó. Ông Teymuras Kurzchalia tại Viện Di truyền và Sinh học Tế bào Phân tử Max Planck (Đức), người tham gia nghiên cứu, cho biết: “Điều cơ bản là chúng ta có thể ngăn chặn sự sống và sau đó tái sinh nó”.

Trong nhiều năm, các cơ quan y tế toàn cầu và nhiều chính phủ đã theo dõi bệnh truyền nhiễm chưa được biết đến mà con người không có khả năng miễn dịch cũng như không có phương pháp điều trị bằng thuốc. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vào năm 2017 đã bổ sung “Bệnh X” vào danh sách rút gọn các mầm bệnh được coi là ưu tiên hàng đầu để nghiên cứu và xây dựng lộ trình ngăn chặn dịch bệnh. Kể từ khi đại dịch COVID-19 khiến thế giới đóng cửa trong nhiều tháng, những nỗ lực này càng được tăng cường.

Người phát ngôn của WHO Margaret Harris, cho biết: “WHO làm việc với hơn 300 nhà khoa học để xem xét bằng chứng về tất cả các dòng virus và vi khuẩn có thể gây ra dịch bệnh và đại dịch, bao gồm cả những bệnh có thể hình thành khi tầng đất đóng băng vĩnh cửu tan”.

Mặc dù phần lớn không có mối liên hệ với nhau, nhưng nghiên cứu của riêng ông Claverie cũng có phạm vi tương tự. Vào năm 2014, Claverie lần đầu tiên chứng minh các virus “sống” có thể được chiết xuất từ tầng đất đóng băng vĩnh cửu ở Siberia và hồi sinh thành công. Vì lý do an toàn, nghiên cứu của ông chỉ tập trung vào các loại virus không mang rủi ro lây nhiễm vô ý cho con người.

Vào năm 2019, nhóm của ông đã tiến hành phân lập 13 loại virus mới, trong đó có một loại virus bị đóng băng dưới hồ hơn 48.500 năm trước, từ bảy mẫu đất đóng băng vĩnh cửu ở Siberia. Công bố những phát hiện này trong một nghiên cứu năm 2022, ông Claverie nhấn mạnh rằng việc nhiễm virus từ một mầm bệnh cổ xưa, chưa được biết đến ở người, động vật hoặc thực vật có thể gây ra những tác động “thảm họa”.

Ông Claverie nói: “50.000 năm quay ngược thời gian đưa chúng ta đến thời điểm người Neanderthal biến mất. Nếu người Neanderthal chết vì một căn bệnh do virus chưa xác định và loại virus này tái xuất, nó có thể là mối nguy hiểm cho chúng ta”./.

Yêu nước ST.

Đấu tranh với những thông tin xấu độc

 

Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Cấp uỷ, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên đã quán triệt và thực hiện nghiêm các quy định về sử dụng công nghệ thông tin, bảo đảm an toàn thông tin trong cơ quan, đơn vị. Cán bộ, đảng viên đã nhận thức rõ được những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; tổ chức lực lượng, tiến hành đa dạng bằng nhiều nội dung, hình thức đấu tranh đạt hiệu quả khá cao. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch được quan tâm triển khai, từng bước nâng cao hiệu quả.

Ban Chỉ đạo 35 của tỉnh thường xuyên đổi mới việc cập nhật, chuyển tải thông tin, thu hút lượt theo dõi Fanpage của Ban Chỉ đạo, gắn với bám sát đời sống xã hội, góp phần lan tỏa những thông tin tích cực, tốt đẹp, tập trung thông tin công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh.… Chủ động biên tập nội dung thông tin hàng tuần để định hướng, đôn đốc, theo dõi hoạt động của lực lượng 35 trong tỉnh. Thường xuyên theo dõi, phát hiện các tài khoản mạng xã hội Facebook đăng tải thông tin xấu độc, sai sự thật trên địa bàn tỉnh, kịp thời đề xuất biện pháp đấu tranh, xử lý theo quy định. Ban Chỉ đạo cũng đã tích cực triển khai bài bản Cuộc thi viết chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Tuy nhiên, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài. Bên cạnh đó, trong sử dụng mạng xã hội như Facebook, Zalo, Youtube… vẫn có không ít đồng chí còn “vô cảm”, thờ ơ trước các thông tin sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, chưa thể hiện được quan điểm, thái độ đấu tranh của mình trước các luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch. Số lượng tham gia hoạt động đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng còn ít so với số lượng người khai thác, sử dụng không gian mạng...

Đồng chí Nông Thị Bích Huệ, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy nhấn mạnh, phòng, chống “diễn biến hòa bình” không chỉ là nhiệm vụ của ngành chuyên môn, của hệ thống tuyên giáo các cấp, mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của từng cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Để nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng trước hết cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tinh thần cảnh giác, ý chí, quyết tâm cho cán bộ, đảng viên. Phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, môi trường internet trong sạch là chính. Cùng với đó, phải huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng, của mọi cán bộ, đảng viên; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng, ý thức tự giác, hành động tích cực trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, phê phán những tư tưởng lệch lạc, mơ hồ, dao động; lên án những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Mỗi cán bộ, đảng viên cần chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái trên internet, phải thể hiện là một người sử dụng mạng xã hội thông minh, dứt khoát không ấn thích, không bình luận, không chia sẻ những thông tin không rõ nguồn gốc, không chính thống, không xác định là đúng hay sai…. Đồng thời, khi tham gia mạng xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên phải là một tuyên truyền viên đắc lực, thể hiện rõ quan điểm, thái độ đúng đắn, có những bình luận, chia sẻ, phân tích, tuyên truyền những thông tin chính thống, phản bác những thông tin, bài viết, hình ảnh, video sai lệch, phản động.. để quần chúng nhân dân làm theo. 

Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là nhiệm vụ quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị, địa phương phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng, góp phần xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” và đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự gương mẫu, trước hết là trong cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng.

Nhận diện những thông tin xấu độc

 “Diễn biến hòa bình” là chiến lược nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong của các thế lực thù địch. Để đạt được mục đích đó, các thế lực thù địch sử dụng nhiều chiêu, bài, trong đó việc phát tán những thông tin xấu độc trên Internet và mạng xã hội có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; nhằm kích động, phá rối an ninh trật tự; vi phạm chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục... gây nhiễu loạn thông tin, tạo tâm lý hoài nghi, hoang mang trong nhân dân.

Theo khuyến cáo của Công an tỉnh, các thông tin xấu độc được phát tán với nhiều thủ đoạn tinh vi khác nhau, nhất là trên các trang mạng lớn như Google, Facebook, kênh Youtube... làm công cụ phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt. Để thu hút người truy cập, trong giai đoạn đầu tiên, những phần tử quản trị các trang web, các diễn đàn này rất nỗ lực tổng hợp tin tức từ các nguồn báo chí chính thống và các nguồn tin từ nước ngoài khách quan.

Khi đã thu hút một lượng công chúng truy cập thường xuyên, chúng cài dần các thông tin xấu độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật. Luận điệu phản động, sai trái cũng sẽ tăng dần. Chính vì thế, nhiều người truy cập mạng, rất dễ dàng “mắc mưu” của các thế lực thù địch và phản động, bị dẫn dắt và bị động trong việc tiếp nhận thông tin xấu độc trên các trang mạng và các diễn đàn đã nêu trên.

Qua quan sát thói quen sử dụng Internet của nhiều người, chúng ta không khó để nhận thấy không ít người đã và đang bị mạng xã hội “dẫn dắt” một cách thái quá, dẫn đến sự “tha hóa”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” - thường xuyên có cái nhìn tiêu cực và quy mọi vấn đề, sự kiện, hiện tượng xã hội thành “màu xám”.

MỖI NHÀ BÁO PHẢI XÁC ĐỊNH RÕ HƠN TRÁCH NHIỆM, NGHĨA VỤ CỦA MÌNH KHI THAM GIA MẠNG XÃ HỘI!

     Khi tham gia mạng xã hội người làm báo luôn đề cao vai trò xã hội, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân trên không gian mạng, tuy nhiên thực tế vẫn cho thấy cần có những quy định chặt chẽ hơn để mỗi cá nhân có trách nhiệm trong việc đăng tải thông tin, hình ảnh, tương tác trên mạng xã hội.

Xử lý những phát ngôn chưa chuẩn xác trên mạng xã hội

Việc ứng dụng các mạng xã hội mang lại hiệu quả rất tích cực, giúp lan tỏa những thông tin, đưa các thông tin, bài viết của cơ quan báo chí quảng bá các bài viết, giúp tòa soạn tiếp cận bạn đọc nhanh hơn, tăng sự tương tác với công chúng. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng xuất hiện việc không ít những người làm báo phát ngôn, bình luận cũng như chia sẻ những nội dung hoặc ngôn từ chưa chuẩn mực, thiếu văn minh trên mạng xã hội. Điều này tác động tiêu cực đến tâm lý, thậm chí ảnh hưởng xấu đến đời sống của những người xung quanh.

Theo báo cáo của Ban Kiểm tra – Hội Nhà báo Việt Nam tại Hội nghị Tổng kết 6 năm thực hiện Luật Báo chí 2016 gắn với 10 điều quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam, Quy tắc Sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam: Từ khi Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo ra đời, Hội đồng xử lý vi phạm đạo đức nghề nghiệp người làm báo các cấp cũng theo dõi và có kiến nghị kịp thời đối với các trường hợp nhà báo sử dụng mạng xã hội để đăng tải thông tin sai sự thật, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Với quan điểm lấy “xây” để “chống”, Thường trực Hội đồng cấp Trung ương và cấp tỉnh đã ngăn chặn, trao đổi, đối thoại, nhắc nhở cho trên 300 trường hợp hội viên chưa thực hiện đúng, đầy đủ quy trình tác nghiệp hoặc có phát ngôn chưa chuẩn xác trên mạng xã hội.

Có thể nói, mạng xã hội được xem là một trong những công cụ hữu hiệu để người làm báo đưa thông tin của mình đến nhiều đồng nghiệp và công chúng. Nhưng cũng vì tính cá nhân hóa của mạng xã hội nên đã có không ít người lợi dụng mạng xã hội để trục lợi, vi phạm đạo đức nghề báo. Như vụ việc, phóng viên C.L.A.H thuộc văn phòng đại diện một cơ quan báo chí của TP. Hồ Chí Minh đóng tại Cần Thơ bị xử phạt 7,5 triệu đồng vì có hành vi “Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân” lên mạng xã hội.

Hay vụ việc vào tháng 8/2022, Sở Thông tin và Truyền thông thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính với mức 7,5 triệu đồng đối với một nhà báo đăng tải bài viết trên mạng xã hội với tiêu đề: “Đà Nẵng đề xuất mở “phố đèn đỏ” để kích cầu du lịch”, kèm hình ảnh nhạy cảm…

Cùng với mặt tích cực mà mạng xã hội mang đến, còn xuất hiện mặt tiêu cực trên không gian mạng, các khiếm khuyết về văn hóa cũng đã phơi bày rõ rệt trên không gian mạng. Nhà báo Nguyễn Hoàng Linh – Chánh Văn phòng Hội Nhà báo tỉnh Lâm Đồng cho biết, hiện nay đã xuất hiện việc bôi xấu nhằm hạ uy tín cơ quan báo chí và cá nhân các nhà báo, đặc biệt là chuyện đời tư cá nhân. Việc bôi xấu các nhà báo và cơ quan báo chí được thực hiện theo cách nói ám chỉ, thường không nêu tên cụ thể. Đây có thể là cách các hội viên nhà báo đối phó với 10 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp và Quy tắc sử dụng mạng xã hội, 6 tiêu chí văn hóa của người làm báo Việt Nam. Những nội dung này cũng thường xuất phát từ các hội nhóm có từ vài nghìn tới vài chục nghìn thành viên trên mạng Facebook.

Thực tế cho thấy nhiều hội, nhóm này khi được mới thành lập với mục đích tốt, để trao đổi thông tin, nghiệp vụ báo chí, hỗ trợ nhau trong quá trình tác nghiệp giữa các nhà báo với nhau. Tuy nhiên một số thành viên trong nhóm vẫn lợi dụng các diễn đàn này nhằm mục đích cá nhân, bôi xấu, xúc phạm người khác trên mạng xã hội.

Theo quy định mọi vấn đề đúng hay sai phải do pháp luật điều chỉnh, các cá nhân có quyền tin báo tố giác tội phạm, gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan chức năng nhưng không có quyền bôi xấu trên môi trường mạng. Đặc biệt là trong bối cảnh các cấp hội đang hào hứng xây dựng môi trường báo chí văn hóa và văn hóa người làm báo.

Để hoạt động báo chí phát triển lành mạnh

Có thể nói, với sự đa dạng các nền tảng mạng xã hội và sự hỗ trợ của công nghệ trong thời đại cách mạng 4.0, đã làm thay đổi cách thức đưa tin rất nhiều, mọi người đều có khả năng biên tập và xuất bản thông tin. Người dùng tài khoản mạng xã hội dễ dàng lập nhiều tài khoản ảo, với thông tin ẩn danh họ có thể lên mạng làm bất cứ điều gì, nói bất cứ nội dung gì, thậm chí là vi phạm pháp luật. Làm xuất hiện những ứng sự sai lệch, thiếu chuẩn mực đạo đức, thậm chí là vi phạm pháp luật trên mạng xã hội được cho là đang ở tình trạng đáng báo động. Tuy nhiên đối với những người làm nhiệm vụ tuyên truyền, các nhà báo phóng viên cần có tinh thần kiến tạo và cẩn trọng khi thông tin.

Nhà báo Hoàng Ngọc Sỹ – Phó chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Quảng Trị chia sẻ, thực tế cho thấy, thời gian qua có một số ít phóng viên, nhà báo đăng những bài viết đăng tải trên trang cá nhân, đồng thời tương tác với những fanpage khác cung cấp thông tin lệnh lạc. Nhiều bài viết, bình luận thiếu tính định hướng, đưa ra những thông tin tiêu cực, thiếu tinh thần xây dựng, quy chụp vấn đề, sử dụng những từ ngữ thiếu chuẩn mực, gây nhiễu thông tin, làm mất lòng tin của Nhân dân đối với một số cá nhân, tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước.

Thực tế trong thời gian qua, tại tỉnh Quảng Trị để Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Trị phối hợp với Hội Nhà báo Quảng Trị đã xây dựng văn bản hướng dẫn, nhằm cụ thể hóa việc thực hiện các quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam khi tham gia mạng xã hội và các phương tiện truyền thông khác. Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam và quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Đây là định hướng phù hợp với thực tiễn hiện nay để mỗi nhà báo xác định rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của mình khi tham gia mạng xã hội, đồng thời cũng là cơ sở để xử lý vi phạm đạo đức nghề nghiệp người làm báo khi tham gia sử dụng mạng xã hội.

Việc ban hành và thực hiện các quy định, quy tắc đạo đức người làm báo trên không gian mạng là rất cần thiết để giúp cho hoạt động báo chí phát triển lành mạnh. Khi thời đại công nghệ số phát triển, người làm báo khi khai thác, sử dụng thông tin trên mạng xã hội càng phải cần giữ vững bản lĩnh nghề nghiệp, ý thức chính trị và có kỹ năng chuyên môn vững vàng. Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo ra đời đã giúp tạo thói quen suy nghĩ, đắn đo trước khi phát ngôn, bình luận hay chia sẻ một điều gì đó trên mạng

Chia sẻ về các giải pháp cho vấn đề này, nhà báo Nguyễn Hoàng Linh cho rằng, các cơ quan chức năng cần tiếp tục nghiên cứu ban hành các văn bản liên quan, coi như một hành lang pháp lý để bảo vệ uy tín, danh dự người làm báo khi bị tấn công trên không gian mạng. Ai cũng biết mạng là ảo, nhưng hệ lụy của nó ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống thực tế mỗi chúng ta, tới xã hội, tới các thế hệ, đặc biệt là giới trẻ. Chúng ta không chỉ bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp của hội viên nhà báo khi tác nghiệp, mà còn có biện pháp bảo vệ uy tín, danh dự của người làm báo trên không gian mạng./.

Yêu nước ST.

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG “HÒA BÌNH, TỰ VỆ VÀ VÌ NHÂN DÂN”

“Không liên kết với nước này để chống nước kia” là chủ trương nhất quán trong chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam. Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động lại cho rằng đó là một chính sách “bảo thủ”, “lạc hậu”, chúng rêu rao rằng đường lối quốc phòng – an ninh “hòa bình và tự vệ” của Việt Nam rất “mơ hồ”, “không rõ ràng quan điểm” và “phi thực tế”, thậm chí, họ nhấn mạnh đây là “đối sách nhu nhược”, là “hành động tự trói”, không phù hợp với xu thế hiện nay. Chúng lợi dụng những diễn biến phức tạp về tranh chấp chủ quyền ở khu vực Biển Đông, tình hình xung đột vũ trang hiện nay giữa các quốc gia để cho rằng: Một quốc gia nhỏ, yếu như Việt Nam sẽ không thể đứng vững nếu không tiến hành liên minh quân sự với một cường quốc bên ngoài, nhất là khi Việt Nam đang được các nước lớn coi là một đối tác quan trọng cần liên minh, hợp tác. Đặc biệt, khi cuộc xung đột quân sự Nga – Ukraina nổ ra, chúng càng cổ xuý cho quan điểm trên. Chúng cho rằng vì Ukraina không phải là thành viên của liên minh quân sự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) nên mới bị Nga xâm lược và nếu Ukraina liên minh quân sự với NATO thì Nga sẽ không dám tấn công Ukraina. Bên cạnh đó, chúng còn tuyên truyền rằng một số nước như Phần Lan và Thuỵ Điển sớm “thức tỉnh” nên đã từ bỏ đường lối trung lập, chủ động viết đơn xin gia nhập khối quân sự này, đến nay Phần Lan đã trở thành thành viên chính thức của NATO từ ngày 04/4/2023, việc gia nhập của Thụy Điển dù vẫn còn một số vướng mắc nhưng sớm muộn gì cũng sẽ hoàn tất. Với mục đích gây hoang mang trong nhân dân, làm giảm niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng suốt của Đảng, tạo ra sự chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ Việt Nam với các nước láng giềng tạo cơ sở cho những kẻ cơ hội can thiệp vào nội bộ của Việt Nam, các phần tử ủng hộ quan điểm trên với vai người “tư vấn”, “kiến nghị”, “hiến kế”, liên tục thúc giục, “khuyên” Việt Nam nên “liên minh”, “chọn bên”, dựa vào nước lớn có thực lực quân sự, an ninh mạnh để nhận được sự bảo trợ, kể cả cung cấp, trang bị vũ khí; đưa lực lượng quân đội, an ninh đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia; “chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia – dân tộc”. Vậy, chúng ta sẽ cùng nhìn nhận, đánh giá ở hai khía cạnh dưới đây để thấy rõ Việt Nam có cần thiết liên minh quân sự hay không. 1.Liên minh quân sự có phải là giải pháp đúng đắn, hiệu quả? Thứ nhất, đối với Việt Nam thì việc tiến hành liên minh quân sự để giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là hết sức sai lầm, thiếu cơ sở, “lợi bất cập hại”, đi ngược lại đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng. Xét về mặt lý thuyết và thực tiễn lịch sử của thế giới cho thấy trong một số trường hợp, việc liên minh là có lợi. Nhưng trong rất nhiều trường hợp, liên minh quân sự cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, phức tạp. Nếu tiến hành liên minh quân sự với một cường quốc thì khả năng Việt Nam bị lệ thuộc là rất cao. Vì một quốc gia nhỏ liên minh với một cường quốc thì mối quan hệ đó trên thực tiễn không thể bình đẳng được, nước nhỏ sẽ bị nước lớn chi phối, tính độc lập, tự chủ sẽ suy yếu hoặc mất đi. Quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã để lại bài học vô cùng quý báu, đó là thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, dựa vào nội lực là chính. Trong bối cảnh các nước đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc thì không có một cường quốc nào lại sẵn sàng đối đầu với một cường quốc khác để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ cho một nước thứ ba. Thứ hai, liên minh quân sự tiềm ẩn nhiều rủi ro, thách thức, là một quốc gia có biển, phụ thuộc nhiều vào đường biển, nếu Việt Nam tiến hành liên minh quân sự với một cường quốc ngoài khu vực thì chắc chắn sẽ làm gia tăng bất ổn ở Biển Đông. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường an ninh và phát triển của đất nước. Vì vậy, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định ở khu vực Biển Đông, tình hữu nghị với các cường quốc là vấn đề mang tầm chiến lược đối với Việt Nam. Liên minh quân sự với bên ngoài có thể sẽ ảnh hưởng xấu tới quan hệ giữa Việt Nam với các nước, trước hết là với các nước láng giềng ảnh hưởng đến nhiều hoạt động kinh tế, đối ngoại. Liên minh quân sự tạo cơ hội cho các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam, làm giảm tính hiệu quả của đường lối đối ngoại. Liên minh quân sự sẽ “phá vỡ” chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam hiện nay, đi ngược lại đường lối đối ngoại hoà bình, nhất quán của Đảng, tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch tấn công. Thứ ba, hiện nay thế giới bước vào một giai đoạn phát triển mới mà ở đó: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. 2.Lợi ích của việc không liên minh quân sự? Thứ nhất, không tiến hành liên minh quân sự là biện pháp loại bỏ rủi ro, tác động bất lợi, tránh rơi vào vòng xoáy cạnh tranh giữa các cường quốc. Không tham gia liên minh quân sự chính là để Việt Nam “thêm bạn bớt thù”. Mặt khác, nó còn tạo thuận lợi cho Việt Nam hợp tác thực chất, hiệu quả với tất cả các quốc gia trên thế giới, tham gia sâu rộng và phát huy được vai trò trong các cơ chế, diễn đàn an ninh khu vực, quốc tế. Thứ hai, không tiến hành liên minh quân sự, mối quan hệ hoà bình, hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước láng giềng được giữ vững và sự hợp tác giữa Việt Nam với các nước sẽ góp phần giữ gìn an ninh biên giới, đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Thứ ba, không liên minh quân sự giúp Việt Nam không đánh mất lợi thế địa chiến lược. Khi tiến hành liên minh quân sự có nghĩa là việc “chọn bên” đã được thực hiện. Trong toan tính của bên đối lập, vị trí địa chiến lược của Việt Nam sẽ không còn giá trị. Nhiều quốc gia trung lập khác sẽ không còn mặn mà tìm đến Việt Nam. Vì thế, vị thế địa chiến lược của đất nước suy giảm, làm mất đi cơ hội hợp tác sâu rộng và thực chất với nhiều đối tác. Thứ tư, trong điều kiện hoà bình, có vị trí địa chiến lược, có “cơ đồ”, vị thế như hiện nay, thì việc liên minh quân sự sẽ là “lợi bất cập hại”. Thay vì tiến hành liên minh quân sự, Việt Nam cần tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, đa dạng hoá, đa phương hoá như Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ. Thứ năm, để đối phó với các thách thức bên ngoài, Việt Nam cần xây dựng các mối quan hệ quốc tế song phương, đa phương thực chất, hiệu quả, đồng thời phát huy tối đa sức mạnh nội lực và tranh thủ ngoại lực, nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, vị thế quốc tế để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Thứ sáu, trên bình diện quốc tế, Việt Nam là một quốc gia tầm trung, nhưng trong quan hệ với các cường quốc, Việt Nam là một nước nhỏ. Quan hệ giữa một nước nhỏ với một nước lớn chỉ có thể được bình thường nếu như nước nhỏ không cảm thấy bị đe doạ bởi nước lớn, và nước lớn thấy sức mạnh của mình được nước nhỏ tôn trọng. Vì vậy, Việt Nam cần tuân thủ nguyên tắc thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình, dựa trên Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Như vậy, với trường phái “Ngoại giao cây tre”, kết hợp hài hòa giữa gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nói đến, và với sự: biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”, chúng ta sẽ có đủ trí tuệ và bản lĩnh để xử lý đúng đắn và hiệu quả mọi thử thách, khó khăn, vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, mà không nhất thiết phải liên kết với nước này để chống nước kia. Chúng ta có thể chọn bạn, nhưng dứt khoát “không chọn bên” một cách cực đoan. Trong quan hệ với các nước, quan điểm của chúng ta là rất rõ ràng: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, vì lợi ích của người dân, vì hòa bình và phát triển của khu vực cũng như trên toàn thế giới.

SỰ VÔ ƠN CỦA NHỮNG KẺ MẠO DANH “YÊU NƯỚC”

Thời gian gần đây, những thành phần phản động luôn tìm các xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước và dùng thái độ vô ơn, ngôn từ kích động, thù địch để nói về chế độ cũng như những người lãnh đạo đất nước, đặc biệt là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng quên mất cội nguồn dân tộc, đánh mất đi “lòng biết ơn” với quê hương, đất nước, gạt đi sự hi sinh của thế hệ đi trước để giành lại độc lập cho đất nước ngày hôm nay. Chúng trốn chạy ở nước ngoài, nhận tài trợ từ nước ngoài để chống phá đất nước dưới cái danh là những người con yêu nước. Trang Việt Tân gần đây có đăng tải dòng trạng thái: “Cộng sản luôn đi ngược với nhân loại: Cộng sản chửi ai thì người đó được nhân loại tôn vinh, cộng sản thờ ai thì kẻ đó bị nhân loại nguyền rủa”. Những luận điểm vô căn cứ, những ngôn từ được viết ra với thái độ hằn học, kích động. Thế nhưng “nhân loại” mà chúng nói chỉ là một bộ phận nhỏ những kẻ phản động, còn nhân loại thực sự đã và đang tôn vinh Bác – Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác không chỉ là vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam mà còn là nhà lãnh đạo, người anh hùng giải phóng dân tộc được nhân dân thế giới ngưỡng mộ với tình cảm chân thành. Rất nhiều nơi trên thế giới từ châu Á, châu Âu đến châu Phi, châu Mỹ, Từ Ấn Độ, Argentina, Cuba, Cộng hòa Dominica, Hungary, Mông Cổ, đến Nga, Pháp, Philippines, Singapore… đã dựng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh để tưởng nhớ vị danh nhân văn hóa của thế giới. Theo thống kê, đến nay những công trình mang tên Bác đã có mặt tại khoảng 20 nước trên thế giới. Tham dự Hội thảo quốc tế “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hóa lớn”, tổ chức tại Hà Nội, tháng 3-1990, Tiến sĩ Modagat Ahmet Giám đốc UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Ðại diện đặc biệt của Tổng Giám đốc UNESCO, đã khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay từ khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”… Trước đó, Jules Archer một sử gia Hoa Kỳ đã viết: “Cộng Sản hay không, ông Hồ Chí Minh cũng sẽ đi vào lịch sử như là một người Việt Nam yêu nước vĩ đại, là một trong những khuôn mặt phi thường của thế giới trong thế kỷ này… Ông Hồ là sự thất vọng của những kẻ thù – Pháp, chế độ Sài gòn, và Mỹ – vì họ không thể nào làm cho người ta thù hận được ông”. Tổng thống Nga V. Putin đến thăm “Nhà sàn” và viết trong sổ lưu niệm: “Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ hòa bình tiến bộ và phồn vinh. Nhưng giá trị tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đuốc, là biểu tượng cho một nền văn hóa tương lai… Và vì thế lịch sử mãi mãi nhắc tới Người như một bậc thánh nhân”. Cho đến ngày hôm nay, chiến tranh đã lùi xa và trở thành một phần ký ức bi tráng của mỗi người dân. Tuy nhiên, mỗi người Việt Nam chúng ta, nhất là tuổi trẻ đều tâm niệm, mỗi phút giây bình yên mà hôm nay chúng ta được sống, mỗi thành quả được thụ hưởng đều có một nền tảng bền vững, sâu xa: đó là nền độc lập – hòa bình mà hàng triệu người Việt Nam thế hệ đi trước đã phải đánh đổi bằng xương, máu./.

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỚI VĂN HÓA, VĂN NGHỆ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

Trong quá trình thực hiện công cuộc đi mới, đất nước ta đã và đang có nhiều cơ hội để phát triển, nhưng cũng phải đi mặt với không ít nguy cơ, thách thức. Một trong những thách thức, nguy cơ đã được Đảng ta chỉ ra là âm mưu “diễn biến hòa bình ” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, trong đó có việc chúng triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông để tn công mạnh mẽ hơn về tư tưởng - văn hóa và coi đây là mũi nhọn chng phá Đảng và chế độ ta.

Hiện nay, trong dư luận xã hội trong gii trí thức, văn nghệ sĩ đang có những nhận định, ý kiến khác nhau về tác động của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với văn hóa, văn nghệ nước ta. Có ý kiến khẳng định mạnh mẽ, “báo động” về tác hại trực tiếp và thực trạng rất phức tạp của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực có nhiều đặc thù này. Cũng có ý kiến cho rằng, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chủ yếu trên lĩnh vực chính trị, tổ chức, nhân sự, ngoại giao..., còn nói “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ thì chỉ là sự cường điệu, thậm chí là “báo động giả”. Vậy cần bình tĩnh, tỉnh táo khi nhận diện những biu hiện của “diễn biến hòa bình ”, đánh giá những tác động, ảnh hưởng của “diễn biến hòa bình ” trên lĩnh vực vãn hóa, văn nghệ.

Có thể thấy rằng, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” với văn hóa, văn nghệ không đơn thuần là vấn đề chính trị mà đó vừa là vấn đề của chính trị, vừa là vấn đề của khoa học. Do vậy, không thể giản đơn, máy móc, quy chụp và cũng không thể lảng tránh, không nhận ra tác động tinh vi, phức tạp của “diễn biến hòa bình” đối với lĩnh vực này. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu, đánh giá cần tránh hai khuynh hướng: Một là, mất cảnh giác hoặc phủ nhận tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Hai là, quy chụp với cách nhìn máy móc, cứng nhắc, không hiểu biết đầy đủ về bản thân văn hóa, văn nghệ trong thi kỳ mới với rất nhiều vấn đề đặt ra trong thực tin, đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của văn hóa, văn nghệ, góp phần vào sự phát triển của con người và xã hội.

Ngay từ năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, cùng với âm mưu xâm lăng nước ta bằng quân sự, các nước đế quc còn thực hiện âm mưu xóa bỏ những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Không phải vô cớ mà Tổng thống Mỹ R. Nich-xơn, khi thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô (trước đây) đã lớn tiếng tuyên bố khâu quyết định có ý nghĩa chiến lược là bằng mọi cách “tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương” và coi tư tưởng, văn hóa, văn nghệ như là “cửa mở” của “cuộc chiến tranh không có khói súng”, các “cuộc cách mạng sắc màu”, “cách mạng nhung... để đi đến “chiến thắng không cần chiến tranh”...

Nhiều thông tin toàn diện, trong đó có nhiều minh chứng cụ thể đã cho chúng ta thấy rõ hơn các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với Việt Nam. Các hoạt động đang được thực hiện một cách ráo riết cùng với việc lợi dụng các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức núp dưới chiêu bài bảo vệ “nhân quyền” và không ít người đã nhận được “h trợ”, “tài trợ” từ các cơ quan nước ngoài, các tổ chức văn hóa, thậm chí trực tiếp từ chính phủ một số nước phương Tây. Vvăn hóa, toàn bộ vũ khí văn hóa chống lại “nền tảng tư tưởng” đã được thiết kế, “sản xuất” ở phương Tây, sau đó được “cấy ghép” vào các nước ở Trung và Nam Mỹ, khu vực Nam Phi, vào Trung Quốc, Nga và ngày càng nhiều ở Việt Nam.

Như vậy, dù vẫn còn những người nghi ngờ, lảng tránh, “bỏ qua”, thậm chí cho là “báo động giả”, nhưng thực tế cho thấy, âm mưu của các thế lực thù địch hòng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam là có thật, thậm chí “sản phẩm” này còn được đề ra, được xác định thực hiện trong một thời gian dài, có lộ trình cụ thể và đã được đưa lên thành chiến lược trong thời kỳ mới từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay. Trong chiến lược đó, tư tưởng, văn hóa, văn nghệ luôn là “cửa mở”, “cửa đột phá để tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương”, từ đó nhằm đánh gục đi phương từ bên trong, từ bên trên, từ gốc “nền tảng tư tưởng”.

Hiện nay, nước ta đang tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, khẳng đinh vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, là bạn và đối tác tin cậy, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đó là một đòi hỏi và cũng là nhu cầu khách quan. Sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, in-tơ-nét,... đang tác động hằng ngày vào nước ta, đem lại những tri thức mới, hiện đại, cập nhật, đồng thời cũng du nhập vào nước ta những sản phẩm độc hại, phản văn hóa, phản thẩm mỹ và phản động về mặt tư tưởng. Đây là con đường mà các thế lực thù địch trong và ngoài nước, những phần tử cơ hội tìm cách “nhập khẩu” những quan điểm thù địch, sai trái vào nước ta, trong đó có không ít những sản phẩm văn hóa, văn nghệ.

Trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, văn hóa, văn nghệ là một lĩnh vực cực kỳ quan trọng, tinh tế và nhạy cảm. Vì thế, bảo vệ vững chắc, chủ động, kiên định và linh hoạt lĩnh vực này là góp phần trực tiếp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Với ý nghĩa và vị trí đó, cần phải khẳng định rõ ràng rằng, đây là cuộc đấu tranh để bảo vệ con người, “giành giật” con người cho chủ nghĩa xã hội và cho khát vọng Chân - Thiện - Mỹ ca chính con người.