Thứ Tư, 3 tháng 1, 2024

Cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Nhật Bản

 1. Tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Nhật Bản

Hệ thống chính trị Nhật Bản hiện tại được định hình từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là giai đoạn toàn bộ tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị Nhật Bản được cơ cấu, sắp xếp lại, chuyển đổi từ mô hình nhà nước quân phiệt sang mô hình chính quyền dân chủ.

Mô hình thể chế chính trị Nhật Bản hiện tại dựa trên chế độ lưỡng viện đa đảng. Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp độc lập với nhau. Theo Hiến pháp năm 1947, cơ chế tam quyền phân lập được thiết lập, không có quyền lực nào không bị kiểm soát và giám sát. Tam quyền phân lập được coi là nguyên tắc căn bản trong tổ chức bộ máy quyền lực ở Nhật Bản.

Cơ quan lập pháp là Quốc hội, gồm Hạ viện và Thượng viện, trong đó Hạ viện đại diện cho ý kiến và nguyện vọng của nhân dân; Thượng viện giám sát quyền lực và sự phán quyết của Hạ viện. Hạ viện có 465 nghị sỹ, nhiệm kỳ bốn năm. Trong số 465 ghế của Hạ viện, có 289 nghị sỹ được bầu từ các khu vực bầu cử nhỏ và 176 người khác được bầu đại diện theo tỷ lệ. Các ứng cử viên để bầu vào Hạ viện phải từ 25 tuổi trở lên. Thượng viện có 248 nghị sỹ, nhiệm kỳ sáu năm. Để duy trì tính liên tục của Thượng viện, cứ 3 năm bầu lại một nửa số thành viên. Trong số 248 thành viên, có 148 người được bầu theo phương thức bỏ phiếu bầu trực tiếp; 100 người được bầu từ danh sách của các đảng chính trị theo tỷ lệ đại diện. Các ứng cử viên để bầu vào Thượng viện phải từ 30 tuổi trở lên. Thượng viện không bị giải thể như Hạ viện.

Quốc hội Nhật Bản có quyền bổ nhiệm Thủ tướng, thông thường là đại biểu của chính đảng hoặc liên minh chính đảng thắng cử. Thủ tướng có quyền giải tán và bầu lại Hạ viện. Mặt khác, Hạ viện có quyền giải tán Nội các bằng một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm hoặc từ chối bỏ phiếu tín nhiệm Nội các. Nếu Hạ viện thông qua nghị quyết không tín nhiệm hoặc từ chối bỏ phiếu tín nhiệm Nội các thì toàn bộ Nội các, bao gồm cả Thủ tướng phải từ chức. Nội các vẫn phải điều hành công việc cho đến khi có một Thủ tướng mới được bổ nhiệm. Trong quan hệ giữa hai viện của Quốc hội Nhật Bản, Hạ viện có ưu thế hơn Thượng viện. Trong trường hợp các quyết định được đưa ra Quốc hội mà không đạt được sự thống nhất ý kiến giữa hai viện thì quyền quyết định cuối cùng thuộc về Hạ viện. Theo quy định, mỗi công dân Nhật Bản chỉ được làm nghị sỹ của một trong hai viện.

Biểu tượng của Nội các và Thủ tướng Nhật Bản (Ảnh: Wikipedia).

Trong Nội các, đứng đầu là Thủ tướng; giúp việc cho Thủ tướng là các bộ trưởng. Theo Hiến pháp Nhật Bản, Thủ tướng do Quốc hội bổ nhiệm, các bộ trưởng được Thủ tướng lựa chọn và bổ nhiệm. Phần lớn thành viên của Nội các, bao gồm cả Thủ tướng phải là đại biểu của một trong hai viện Quốc hội. Theo Luật Nội các năm 2001, số lượng bộ trưởng không được quá 14 người, tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt có thể lên đến 17 người. Thủ tướng Nhật Bản thường tại vị trong thời gian ngắn (trung bình mỗi Thủ tướng chỉ tại vị được 2,5 năm). Chánh án Tòa án Tối cao được Thiên hoàng bổ nhiệm theo lựa chọn của Nội các. Mười bốn thẩm phán khác được Nội các lựa chọn và bổ nhiệm. Cứ sau 10 năm, nhiệm kỳ của một thẩm phán phải được xác nhận bằng trưng cầu dân ý. Trong thực tế, các thẩm phán hầu như luôn được chọn lại và được phép phục vụ cho đến 70 tuổi.

Hệ thống chính trị Nhật Bản là hệ thống chính trị đa nguyên, đa đảng. Có rất nhiều đảng phái ở Nhật Bản nhưng chỉ có 5 chính đảng lớn thực sự có ảnh hưởng lớn, đó là Đảng Dân chủ Tự do (LDP), Đảng Dân chủ, Đảng Công Minh, Đảng Cộng sản Nhật Bản và Đảng Xã hội Dân chủ. Tất cả các chính đảng đều là chính đảng hợp pháp, có sự ghi nhận của pháp luật. Các đảng đều phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Nhật Bản, hình thức hoạt động công khai, trong đó đấu tranh nghị trường là phương thức cạnh tranh quyền lực cơ bản nhất. Các chính đảng giữ vai trò vừa là người thực thi chính sách (nếu là đảng hoặc liên minh cầm quyền), vừa là người giám sát quyền lực (nếu là đảng đối lập). Các chính đảng cũng là nơi tập hợp, phân tích các ý kiến phản hồi từ nhân dân.

Mặc dù là chế độ đa nguyên, đa đảng nhưng trên thực tế đó là sự thống trị của một đảng - Đảng Dân chủ Tự do (LDP). Kể từ khi thành lập vào năm 1955, LDP gần như liên tục nắm quyền lãnh đạo hệ thống chính trị Nhật Bản, ngoại trừ một chính phủ liên minh tồn tại trong một thời gian ngắn gần 11 tháng vào năm 1993 và trong giai đoạn 3 năm, từ tháng 8-2009 đến tháng 12-2012. Trong cuộc bầu cử tháng 12-2012, LDP đã trở lại nắm quyền điều hành đất nước. Một đảng quan trọng khác là Đảng Công Minh - theo truyền thống là đồng minh với Đảng Dân chủ Tự do. Chính vì đặc điểm này, hệ thống chính trị Nhật Bản thực chất được xem là hệ thống một đảng chiếm ưu thế. Sự thống trị lâu dài của LDP trong hệ thống chính trị của Nhật Bản đã định hình sâu sắc bản chất chính trị ở Nhật Bản. Một hệ thống phe phái rất phức tạp hình thành trong nội bộ LDP, các cuộc xung đột, thường rất gay gắt đã xảy ra chủ yếu trong LDP hơn là giữa các đảng chính trị khác. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động của cả Quốc hội Nhật Bản, nhưng thường thể hiện ở Hạ viện nhiều hơn Thượng viện. Các phe phái trong LDP dựa trên các cá nhân có thế lực, thường là thành viên kỳ cựu của LDP, nhiều người trong số họ là cựu Thủ tướng hoặc là người có khả năng trở thành Thủ tướng trong tương lai. Số lượng và quy mô của các phe phái liên tục thay đổi. Các chuyên gia Nhật Bản cho rằng phe phái đang trở thành một hình thức kiểm soát quyền lực của đảng cầm quyền, xuất hiện từ ngay trong nội bộ đảng.

Một đặc điểm đáng chú ý của chính trị Nhật Bản là mang đậm tính chất gia trưởng Đông Á. Điều này thể hiện khá rõ ở sự tham gia khá hạn chế của phụ nữ vào hoạt động chính trị hay sự ảnh hưởng của tính kết nối gia đình “cha truyền, con nối”, nhiều thành viên của Quốc hội và Chính phủ là con, cháu của cựu thành viên Quốc hội, Chính phủ, thành viên LDP trước đây.

Ở Nhật Bản, các tổ chức hiệp hội, nghiệp đoàn rất phát triển. Gần như mọi loại hình hoạt động, mọi tầng lớp xã hội đều có tổ chức riêng của mình nhằm liên kết các hội viên, tổ chức các hoạt động tương trợ, giúp đỡ nhau và đấu tranh chống lại những chính sách động đến quyền lợi của họ. Đây là hình thức giám sát quyền lực hữu hiệu và có hiệu quả vì nó có thể tác động đến những chính sách, những quyết định rất cụ thể của Chính phủ.

Với các thiết chế giám sát quyền lực như vậy, mọi sự trì trệ, suy thoái hoặc tiêu cực của các cơ quan nhà nước cũng như các quan chức rất khó được bỏ qua mà thường được khai thác triệt để. Điều này buộc các cơ quan và các cá nhân có quyền lực phải rất thận trọng trước mỗi quyết định và phải điều chỉnh những quyết định nếu gặp phải sự phản ứng quyết liệt.

2. Một số kết quả nổi bật cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị Nhật Bản

Bước sang thế kỷ XXI, các điều kiện xã hội đã thay đổi đáng kể. Các cấu trúc và hệ thống của Chính phủ Nhật Bản đã trở nên không phù hợp với những thay đổi này và tỏ ra hoạt động kém hiệu quả. Chính vì vậy, sự cần thiết thay đổi và cải cách mạnh mẽ để bộ máy chính quyền hoạt động hiệu lực, hiệu quả nhất. Tháng 4-1999, Nội các Obuchi Keizo đã đệ trình lên Quốc hội Nhật Bản 17 dự luật về tái cấu trúc và hợp lý hóa các bộ và cơ quan Chính phủ Trung ương cũng như tăng cường các chức năng của Nội các và vai trò điều hành của Thủ tướng. Theo dự luật, cơ cấu chính quyền Trung ương lúc đó bao gồm Văn phòng Thủ tướng Chính phủ và 22 tổ chức cấp bộ trong Nội các sẽ được đổi thành Văn phòng Nội các và 12 tổ chức cấp bộ. Quốc hội đã thông qua các đề xuất của Nội các. Cấu trúc Chính phủ mới được lên kế hoạch bắt đầu vào ngày 1-1-2001. Đây là một sự tái cấu trúc chính quyền Trung ương mạnh mẽ chưa từng xảy ra ở Nhật Bản và đã mang lại những kết quả quan trọng, cụ thể sau:

Thứ nhất, tái cơ cấu các bộ nhằm phá vỡ ngăn cách và tinh gọn bộ máy.

Theo luật được thông qua, 23 tổ chức cấp bộ được cơ cấu lại thành một văn phòng (Văn phòng Nội các) và 12 tổ chức cấp bộ. Tổng số công chức quốc gia tính tại thời điểm tháng 1-2020 là 586.000 người, trong đó công chức phổ thông là 288.000 người (49,1%), công chức đặc biệt (công chức thuộc Lực lượng tự vệ, Chính phủ, Quốc hội...) là 298.000 người (50,9%).

Mục tiêu cơ bản của việc sắp xếp lại này là nhằm phá vỡ các bức tường ngăn cách giữa các bộ và cơ quan hiện có; hợp nhất các chức năng tương tự để các chức năng liên quan này có thể được phối hợp nhanh nhất trong một bộ có thẩm quyền rộng hơn. Bộ Y tế và Phúc lợi và Bộ Lao động được sáp nhập làm một. Cơ quan Khoa học và Công nghệ và Bộ Giáo dục với nhiều trường đại học quốc gia và các viện nghiên cứu trực thuộc sẽ được sáp nhập làm một. Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, Cơ quan Đất đai quốc gia và Cơ quan Phát triển Hokkaido được sáp nhập. Tổ chức Bảo vệ môi trường được nâng từ cơ quan lên bộ.

Thứ hai, củng cố chức năng Nội các, vai trò điều hành của Thủ tướng và tăng cường sự lãnh đạo chính trị trong mọi tổ chức cấp bộ.

Ngoại trừ Thủ tướng, số lượng bộ trưởng sẽ giảm từ tối đa 20 xuống còn từ 14 đến 17. Nội các được vận hành linh hoạt hơn, các bộ trưởng có trách nhiệm đặc biệt sẽ được quyết định cụ thể theo nhu cầu thực tiễn từng thời kỳ.

Để bảo đảm sự điều hành mạnh mẽ hơn của Thủ tướng và Nội các, Ban Thư ký Nội các sẽ được trao quyền không chỉ phối hợp mà còn hoạch định chính sách cơ bản. Văn phòng Nội các với hàng trăm nhân viên trong trụ sở chính sẽ được thành lập để hỗ trợ Thủ tướng và Nội các. Hội đồng tư vấn về các chính sách kinh tế và tài khóa, về các chính sách khoa học và công nghệ... được thành lập. Thủ tướng được quyền bổ nhiệm các nhân viên hỗ trợ của mình một cách tự do hơn theo sáng kiến của chính mình không chỉ từ bên trong Chính phủ mà còn từ bên ngoài Chính phủ.

Một, hai hoặc ba thứ trưởng chính trị sẽ được bổ nhiệm vào Văn phòng Nội các và mỗi bộ. Họ phải được định vị giữa bộ trưởng và thứ trưởng hành chính. Mỗi thứ trưởng sẽ hoạt động cho bộ trưởng và chịu trách nhiệm đáng kể trong bộ. Ngoài ra, hệ thống trợ lý chính trị cho Bộ trưởng cũng sẽ được giới thiệu. Các trợ lý chính trị sẽ được chỉ định trong mọi tổ chức cấp bộ để tham gia hoạch định và hoạch định chính sách cụ thể, cũng để giải quyết các vấn đề chính trị. Theo các hệ thống này, sự lãnh đạo chính trị trong mỗi bộ sẽ được tăng cường.

Thứ ba, tinh giản, hợp lý hóa các tổ chức và hoạt động của Chính phủ.

Các tổ chức bên trong các tổ chức cấp bộ sẽ được tinh giản để hợp lý hóa các tổ chức cũng như bảo đảm sự phối hợp chính sách rộng hơn. Để khắc phục xu hướng phình to bộ máy, Chính phủ Nhật Bản quy định nếu một bộ muốn thành lập thêm một cục, vụ mới thì phải giảm một cục, vụ khác. Với chính sách này, tổ chức bộ máy của các bộ đã giảm xuống. Các đơn vị cấp cục giảm từ 128 xuống 96. Các đơn vị cấp phòng, ban bị cắt giảm từ 1.200 xuống 1.000.

Đồng thời, Chính phủ lập kế hoạch giảm ít nhất 10% nhân viên toàn thời gian của các bộ và cơ quan trong thời gian 10 năm, bắt đầu từ tháng 1-2001. Chính phủ giảm nhân sự bằng cách tạo ra các pháp nhân hành chính độc lập và những cách khác, sao cho số lượng nhân viên giảm 25% trong 10 năm. Chính phủ về cơ bản sẽ xem xét các chức năng và chương trình hiện tại của mình để thực hiện việc giảm nhân viên với quy mô lớn như vậy.

Việc tuyển dụng công chức quốc gia thực hiện thông qua thi tuyển. Việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ được thực hiện chặt chẽ. Thông thường, công chức được bổ nhiệm vào chức vụ nhóm trưởng (chức năng lãnh đạo thấp nhất) khi đạt độ tuổi từ 30 trở lên. Người được bổ nhiệm lãnh đạo cấp vụ phải có ít nhất 15 năm công tác; bổ nhiệm thứ trưởng (công chức) phải có từ 30 năm công tác trở lên. Bộ trưởng bổ nhiệm vụ trưởng, cục trưởng, thứ trưởng (công chức) sau khi được sự đồng ý của Chánh Văn phòng Nội các và Thủ tướng. Thứ trưởng chính trị (nghị sỹ) do Thủ tướng trực tiếp bổ nhiệm. Việc bãi bỏ, cải cách quy định và cải cách quản lý công trình công cộng bao cấp được đẩy mạnh để hợp lý hóa các hoạt động của chính quyền Trung ương, xây dựng một thị trường tự do và minh bạch hơn, để thúc đẩy phân cấp và bảo đảm ra quyết định hiệu quả, minh bạch hơn. Từ năm 2015, Chính phủ tách biệt các chức năng hoạch định chính sách và chức năng thực thi chính sách thông qua việc thành lập các “pháp nhân hành chính độc lập” có tư cách pháp lý độc lập bên ngoài bộ hoặc các cục. Chính phủ sẽ chuyển giao thực thi chính sách và các chức năng khác của các bộ và cơ quan cho tổ chức loại hình pháp nhân mới này. Pháp nhân hành chính độc lập bảo đảm việc quản lý linh hoạt hơn. Giám đốc điều hành hoặc nhân viên quản lý có thể được tuyển dụng từ bên ngoài Chính phủ và việc quản lý hoạt động hằng ngày được giao cho chính các pháp nhân. Mục đích chính của hệ thống này là tách biệt các chức năng hoạch định chính sách và chức năng thực thi chính sách; nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ cho người dân bằng cách trao thêm quyền tự chủ và trách nhiệm cho một pháp nhân và cũng để bảo đảm tính minh bạch của mọi hoạt động.

Thứ tư, giao quyền tự chủ cho các địa phương.

Về chính quyền địa phương, hiện nay Nhật Bản tồn tại hệ thống hai cấp, cấp tỉnh và cấp hạt (hay còn gọi là đơn vị hành chính địa phương cấp cơ sở). Cấp tỉnh hiện nay có 47 đơn vị (giữ ổn định từ năm 1888 đến nay), trong đó Tokyo được gọi là đô (Tokyo-to), Hokkaido được gọi là đạo (Hokkai-do), Kyoto và Osaka được gọi là phủ (Kyoto-fu, Osaka-fu) và 43 đơn vị cấp tỉnh (ken). Tuy nhiên, giữa các đô, đạo, phủ và tỉnh này không có phân biệt gì về mặt quyền hạn hành chính. Các đơn vị hành chính cấp hạt gồm ba loại: Thành phố (shi), thị trấn (cho, machi) và làng (mura, son). Số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh được giữ ổn định, trong khi đó cấp hạt có xu hướng thu gọn dần đầu mối qua các đợt hợp nhất, sáp nhập (tháng 4-1999, Nhật Bản có 3.232 hạt, tháng 4-2006 có 1.820 hạt, tháng 4-2008 có 1.788 hạt, tháng 1-2022 có 1.718 hạt). Với nỗ lực của việc cải cách hành chính, trong hai thập kỷ qua, số lượng công chức địa phương giảm liên tục trong 21 năm qua, từ sau mức cao nhất là 3.280.000 người vào năm 1994 xuống 2.800.000 người tại thời điểm 1-4-2021 (giảm 15%). Trong tổng số công chức địa phương là 2.800.000 người, cấp tỉnh có 1.430.000 người và cấp cơ sở có 1.370.000 người.

Một trong những kinh nghiệm nổi bật của Nhật Bản là giao quyền tự trị cho các địa phương. Quyền tự chủ địa phương của Nhật Bản được bảo đảm bởi Hiến pháp. Chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương có tư cách pháp lý khác nhau. Hệ thống tự trị địa phương và mối quan hệ giữa chính quyền Trung ương và địa phương được quy định trong Luật Tự trị địa phương. Luật Tự trị địa phương quy định đại cương về các vấn đề liên quan đến phân loại chính quyền địa phương, tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương và thiết lập mối quan hệ cơ bản giữa Trung ương và chính quyền địa phương dựa trên các mục đính thực sự của chính quyền địa phương. Mục đích của việc này là để bảo đảm dân chủ, hiệu quả và sự phát triển đúng đắn của chính quyền địa phương.

Chính quyền địa phương có một hội đồng địa phương gồm các nghị sỹ được bầu (người dân bầu cử trực tiếp, nhiệm kỳ 4 năm, số lượng các nghị sỹ được quyết định dựa trên điều lệ của từng địa phương). Hội đồng địa phương có quyền lập pháp trong phạm vi luật pháp. Hành pháp do người đứng đầu được bầu thực hiện (thống đốc và thị trưởng thành phố, huyện, thị xã). Bộ máy giúp việc hội đồng địa phương bao gồm các ủy ban (số lượng cụ thể do từng địa phương quyết định), tương đương với số lượng cơ quan giúp việc người đứng đầu chính quyền. Người đứng đầu các ủy ban do thống đốc, thị trưởng giới thiệu, hội đồng địa phương phê chuẩn, bổ nhiệm và đánh giá kết quả hằng năm.

Cơ cấu tổ chức của các cơ quan tham mưu, giúp việc người đứng đầu chính quyền cấp tỉnh và cấp hạt được thiết kế gần giống nhau như các cơ quan tham mưu, giúp việc bộ trưởng ở Trung ương: Dưới cục là các vụ; dưới vụ là các phòng và dưới phòng là các nhóm công tác. Số lượng tổ chức bộ máy và biên chế công chức, nhân sự ở địa phương do địa phương tự quyết định theo yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, không bị phụ thuộc vào Trung ương. Thông thường, việc tuyển dụng công chức thực hiện thông qua thi tuyển do Ủy ban Nhân sự tiến hành.

Quan hệ giữa Trung ương và chính quyền địa phương là mối quan hệ đối đẳng, hợp tác, không phải là mối quan hệ trên dưới. Tương tự, chính quyền cấp tỉnh và cấp hạt là những thực thể độc lập và không có mối quan hệ thứ bậc trong hệ thống hành chính. Cấp hạt độc lập với cấp tỉnh và cấp tỉnh độc lập với cấp Trung ương trong thực hiện các nhiệm vụ đã được pháp luật quy định. Chức năng của chính quyền mỗi cấp có sự khác biệt. Trong khi chính quyền cấp tỉnh là chính quyền địa phương khu vực rộng, chứa đựng cả các hạt, thì chính quyền cấp hạt là chính quyền địa phương cơ sở liên quan trực tiếp đến đời sống hằng ngày của nhân dân. Chính quyền cấp tỉnh là cấp trung gian duy nhất giữa chính quyền Trung ương và chính quyền cơ sở cấp hạt, chịu trách nhiệm chuyển tải các chính sách của Trung ương về địa phương, thực hiện trách nhiệm chi đối với các kế hoạch phát triển toàn vùng và cung ứng các hàng hoá công cộng quan trọng mà quy mô tác động của chúng vượt ra khỏi phạm vi một hạt như an ninh trật tự, cảnh sát, giao thông, bảo vệ môi trường, các dự án hạ tầng và phát triển kinh tế, xã hội có quy mô toàn tỉnh hoặc liên quan đến nhiều đơn vị hành chính cấp hạt (cơ sở)…, cũng như thực hiện một số chức năng cấp phép nhất định. Cấp hạt tập trung vào các nhiệm vụ như phòng cháy, chữa cháy, cấp thoát nước, xử lý rác thải, giáo dục mầm non, tiểu học, thực hiện phúc lợi xã hội, các dự án hạ tầng và nhiệm vụ kinh tế, xã hội trong phạm vi của địa phương.

Hai chiến sĩ dân quân TP Biên Hòa trả lại của rơi cho người đánh mất

 

Chiều 3-1, Ban CHQS TP Biên Hòa (Đồng Nai) cho biết, đơn vị đang đề nghị biểu

dương 2 chiến sĩ dân quân trả lại của rơi cho người đánh mất. Trước đó, khoảng 10 giờ

30 phút ngày 30-12-2023, hai chiến sĩ dân quân Trần Văn Minh và Nguyễn Lương Thiện,

thuộc Trung đội Dân quân thường trực Khu công nghiệp Biên Hòa 1 và 2 (Ban CHQS TP

Biên Hòa) được phân công nhiệm vụ đi lấy thực phẩm về cho đơn vị. Trên đoạn đường

Trần Quốc Toản, phường An Bình, hai đồng chí phát hiện chiếc ví màu đen nằm bên

đường nên đã mang về báo cáo chỉ huy đơn vị. Qua kiểm tra bên trong chiếc ví có 1 căn

cước công dân, 1 giấy phép lái xe hạng A1, 1 giấy phép lái xe hạng C mang tên Lê Minh

Vàng sinh năm 1987, phường Hòa Bình, TP Biên Hòa và 1 giấy chứng nhận sở hữu xe

cùng số tiền hơn 3,5 triệu đồng... Dựa trên số điện thoại để bên trong ví, đơn vị đã liên

hệ, xác minh anh Lê Minh Vàng đúng là chủ nhân chiếc ví. Nhận được thông báo, anh

Vàng đã đến Trung đội Dân quân thường trực Khu công nghiệp Biên Hòa 1 và 2 để nhận

lại số tài sản đã đánh rơi trong niềm vui khôn xiết. Chiến sĩ dân quân Trần Văn Minh chia

sẻ: “Tôi và đồng đội luôn được chỉ huy đơn vị và gia đình giáo dục tuyệt đối không được

lấy của bất cứ ai thứ gì, vật gì. Nếu nhặt được thì phải tìm cách trả lại cho người đánh

mất, bởi tiền bạc của người khác là do họ phải đổi mồ hôi, công sức mới có được. Còn

giấy tờ tùy thân vô cùng quan trọng và cần thiết đối với công việc, sinh hoạt thường ngày

của họ. Do vậy, tôi và đồng chí Thiện suy nghĩ phải trả lại chiếc ví cho người đánh mất

càng sớm càng tốt để họ bớt buồn phiền, lo lắng”. Theo Trung tá Nguyễn Phương Dũng,

Chính trị viên phó Ban CHQS TP Biên Hòa: Hai chiến sĩ Thiện và Minh luôn chấp hành

nghiêm kỷ luật, có ý thức trách nhiệm trong công tác; tích cực tham gia các hoạt động giữ

gìn an ninh trật tự tại khu công nghiệp. Việc làm của hai đồng chí góp phần lan tỏa tinh

thần học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm sáng đẹp hình

ảnh “Người chiến sĩ sao vuông” hết lòng vì nhân dân phục vụ.

Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc về sự kiện Gạc Ma năm 1988

 Trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của phương tiện thông tin đại chúng, nhất là mạng

xã hội, các thế lực thù địch, các phần tử xấu đẩy mạnh lợi dụng những sự kiện chính trị,

sự kiện lịch sử có liên quan đến vấn đề Biển Đông để chống phá, bôi nhọ sự lãnh đạo của

Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong đó, một sự kiện lịch sử đặc biệt - Trung Quốc sử

dụng vũ lực xâm chiếm trái phép một bộ phận quần đảo Trường Sa của Việt Nam, đỉnh

điểm là sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-1988 đã bị xuyên tạc nhiều thông tin thiếu căn cứ lịch

sử. 1. Một số quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch Trong quá trình theo dõi, nghiên cứu

về sự kiện Gạc Ma năm 1988 thì có nhiều nội dung bị xuyên tạc, tuy nhiên điểm lại có

hai luận điệu xuyên tạc chủ yếu sau: - Xuyên tạc lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam,

lãnh đạo Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra lệnh “không được

nổ súng” trong sự kiện Trung Quốc sử dụng vũ lực xâm chiếm trái phép một bộ phận

quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988. - Xuyên tạc nhà nước Việt Nam bưng bít

thông tin vụ Gạc Ma ngày 14-3-1988. Đến thời điểm hiện nay, với sự phát triển của công

nghệ thông tin, đồng thời chúng ta có độ lùi thời gian để củng cố cứ liệu lịch sử, cùng với

quan điểm tôn trọng lịch sử, sòng phẳng với lịch sử - không có nghĩa là chúng ta kích

động hận thù, để rút ra được những bài học đúng đắn cho quan hệ quốc tế trong bối cảnh

phức tạp hiện nay, những luận điệu xuyên tạc lịch sử mặc dù trên đang tràn lan trên

internet, được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị rêu rao để phục vụ âm mưu đồ đen tối

của họ, nhất là mỗi khi tới ngày kỷ niệm Gạc Ma 14-3. Nhưng thực tế lịch sử khẳng định,

các luận điệu xuyên tạc trên là suy diễn, thiếu căn cứ lịch sử, cần phản bác, làm rõ. 2. Sự

thật về lệnh “không được nổ súng”! Xin bắt đầu với câu chuyện có liên quan đến một

chiến sĩ có quê ở Đà Nẵng, hy sinh trong sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-1988 như sau: Nhà

báo Nguyễn Chí Trung vào ngày 20-3-1988, đến nhà bà Khả, mẹ của liệt sĩ Trần Tài

(phường Hòa Cường) cho biết, sáng ngày 14 tháng Giêng năm 1988 (âm lịch), khi hết

nghỉ phép lên đường ra Trường Sa, người mẹ nói với chiến sĩ Trần Tài: Thôi con đi... Tài

làm nũng: Để con đi thiệt xa, ở nhà con xin tiền, mẹ không cho, mẹ rằng rực miết... Bên

mình thì cố kìm không nổ súng. Còn bên bọn Trung Quốc, bọn hắn nã đại bác, bọn hắn

nã súng cối, dã man tàn bạo biết chừng nào [1]. Hay câu chuyện về người hoa tiêu của

tàu Mỹ Á - trung tá Trần Công Lửng, một người thông thuộc luồng lạch vùng quần đảo

Trường Sa như bàn tày. Khi phóng viên hỏi: Anh nghĩ gì khi sự kiện 14-3 xảy ra trước

hành động ăn cướp của lính Trung Quốc, bộ đội ta lại không nổ súng. Trả lời: Tôi, các

anh và cả một thế hệ của chúng ta đang mang trong mình vết thương của chiến tranh, vết

thương ấy đang còn rỉ máu. Lẽ đó mà bộ đội ta không muốn nổ súng, không muốn xảy ra

một cuộc chiến tranh khác. Hơn ai hết mỗi chúng ta đều khao khát được sống hòa bình.

Hỏi: Vậy khi đã xảy ra nổ súng thì phải chiến đấu tự vệ? Trả lời: Đó là lẽ tất nhiên, chúng

tôi đang đứng trên lãnh thổ của Tổ quốc mình [2]. Chúng tôi nêu hai câu chuyện cũng là

hai cứ liệu lịch sử trên để thấy rằng, ngay sau sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-1988 xảy ra, thì

vấn đề “không được nổ súng” đã là câu chuyện cốt lõi của sự kiện và về bản chất có 3


vấn đề cần làm rõ: Thứ nhất, lệnh “không nổ súng” không đồng nghĩa với không nổ súng

để chiến đấu, mà là không nổ súng trước nhằm tránh duyên cớ gây chiến tranh “ai nổ

súng trước” hòng hợp thức hóa cuộc xâm lược của Trung Quốc; đồng thời cũng thể hiện

khát vọng hòa bình để xây dựng đất nước vừa hơn 10 năm thoát khỏi chiến tranh. Ngay

trong Thông báo của Ban Tuyên huấn Trung ương về sự kiện ngày 14-3-1988 nêu rõ:

“Trung Quốc đã đưa tàu đến và ngang nhiên cho quân đổ bộ lên đảo Gạc Ma. Các chiến

sĩ ta kiềm chế không nổ súng và ra hiệu cho chúng rút lui khỏi đảo”[3]. Các chiến sĩ

Trường Sa lúc bấy giờ đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh cấp trên: “Không được bắn

trước!”[4]. Hoặc sáng ngày 14-3 “trên đảo Gạc Ma, các chiến sĩ ta đã giương cao lá cờ đỏ

sao vàng ra hiệu cho các tàu chiến Trung Quốc biết đây là vùng đảo thuộc chủ quyền Việt

Nam. Trên tàu 604, loại tàu “Đại Khánh” do Trung Quốc sản xuất trọng tải 50 tấn, đồng

chí Trần Đức Thông - cán bộ chỉ huy đứng trước mũi tàu nhắc nhở chiến sĩ tỉnh táo

không để mắc mưu khiêu khích của địch. Đồng chí ra lệnh giọng vang át cả sóng biển:

Tất cả không được nổ súng khi tôi chưa ra lệnh!”[5]. Hoặc “trên các tàu S71 và B01 từ

thuyền trưởng đến các chiến sĩ đều rất bình tĩnh, tự tin. Nhận được lệnh chỉ huy vùng

đảo, chi bộ các tàu họp, quán triệt yêu cầu đến từng chiến sĩ không được nổ súng. Vì

vùng đảo yên lành của Tổ quốc, tất cả bám trụ, sẵn sàng hy sinh chứ không mắc mưu

khiêu khích của địch”[6]. Qua các thông tin trên, cho thấy rõ trên thực tế, bắt đầu từ

tháng 1-1988, khi Trung Quốc không ngừng cho nhiều tàu chiến xâm nhập và khiêu

khích quân sự ở khu vực đảo Sinh Tồn trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam thì Việt

Nam đã lên tiếng và luôn cánh giác tránh âm mưu khiêu khích của Trung Quốc rồi, chứ

không đợi đến sự kiện 14-3-1988. Thứ hai, mặc dù có lệnh “không được nổ súng” (hay

chính xác hơn là “không được nổ sung trước”), nhưng khi quân Trung Quốc đã khai hỏa

bắn phá các tàu của hải quân Việt Nam thì chiến sĩ ta cũng nổ súng bắn trả, chứ không

hoàn toàn không nổ súng như các thông tin xuyên tạc đã nêu. Thông báo của Ban Tuyên

huấn Trung ương về sự kiện ngày 14-3-1988 nêu rõ sau khi chiến sĩ ta thuyết phục, “lính

Trung Quốc không nghe, xông vào phá cột cờ trên đảo, dùng dao găm đánh bộ đội ta.

Các chiến sĩ ta trên đảo dũng cảm chống trả quyết liệt bảo vệ cột cờ đảo, buộc lính Trung

Quốc phải bỏ đảo rút lên tàu. Nhưng sau đó, chúng dùng pháo 100 ly trên tàu, bắn chìm

và cháy 3 tàu vận tải của ta ở bãi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn do Việt Nam

kiểm soát... Và sau đó buộc bộ đội ta phải bắn trả vào tàu Trung Quốc để tự vệ”[7]. Ngày

15-3-1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố, nêu rõ: “Sáng ngày 14-3-1988, các tàu

chiến của Trung Quốc đang hoạt động trái phép ở vùng biển quần đảo Trường Sa đã

ngang nhiên nổ súng vào hai tàu vận tải của Việt Nam đang hoạt động bình thường ở bãi

đá ngầm Gạc Ma thuộc khu đảo Sinh Tồn. Tàu của ta buộc phải nổ súng để tự vệ. Trong

khi đó họ lại đổi trắng thay đen, vu cáo tàu của Việt Nam khiêu khích vũ trang tàu chiến

của Trung Quốc”[8]. Như vậy, các chiến sĩ hải quân Việt Nam cũng đã nổ súng tự vệ và

gây một số thiệt hại khi lính Trung Quốc khi họ “có 6 lính chết và 18 lính bị thương”[9].

Thứ ba, ngày 7-5-1988, Bộ Tư lệnh Hải quân tổ chức kỷ niệm 33 năm ngày truyền thống

Quân chủng Hải quân tại đảo Trường Sa, Đại tướng Lê Đức Anh, Ủy viên Bộ Chính trị,


Bộ trưởng Quốc phòng đã đến dự và có bài phát biểu quan trọng. Trong đó nêu rõ: “Thật

cay đắng cho cả nhân dân hai nước, tội lỗi mới lại ập tới, do một số lãnh đạo của Trung

Quốc gây ra cho dân tộc Việt Nam, bắt đầu từ 30-4-1977 ở biên giới Tây Nam Tổ quốc,

rồi đến tháng 2-1979 ở biên giới Việt - Trung, và gần đây nhất, từ đầu năm 1988, lực

lượng vũ trang Trung Quốc lại trắng trợn xâm lấn vùng quần đảo Trường Sa của Việt

Nam. Đặc biệt nghiêm trọng là ngày 14-3-1988, hải quân Trung Quốc đã bắn chìm và

bắn cháy ba tàu vận tải của chúng ta đang làm nhiệm vụ tiếp tế trong vùng quần đảo, gây

thương vong cho bộ đội hải quân ta và đến giờ phút này, hơn 70 cán bộ, chiến sĩ hải quân

ta đang còn mất tích và họ vẫn tiếp tục ngăn cản công việc cứu hộ”[10]. Chính sự gặp

mặt và động viên kịp thời này đã cổ vũ, động viên bộ đội hải quân quyết tâm bảo vệ quần

đảo Trường Sa, một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Việt Nam. Như vậy, các

thông tin trên cho thấy trong sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-1988 đã thể hiện tinh thần kỷ

luật rất cao, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của cấp trên, tự kiềm chế cả trong trường

hợp nguy cấp, không nổ súng trước mà chỉ chiến đấu để tự vệ khi bị bắt buộc. Đó là ý

thức chính trị sâu sắc, tự giác chấp hành đường lối chính trị và ngoại giao của Đảng và

Nhà nước Việt Nam mong muốn giải quyết những vấn đề tranh chấp thông qua con

đường thương lượng, hòa bình, không có việc ra lệnh không nổ súng mặc kệ cho quân

Trung Quốc làm gì thì làm. 3. Việt Nam có bưng bít thông tin sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-

1988? Đối với việc xuyên tạc Việt Nam bưng bít thông tin sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-

1988, thực ra đó là một câu chuyện “bình mới, rượu cũ”, có nghĩa là chỉ dựa vào thực tế

rằng sau khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ từ năm 1991, vì một số

lý do trong quan hệ ngoại giao, Việt Nam tranh thủ các cơ hội để phát triển, nhất là hợp

tác với Trung Quốc, nên có phần “mềm yếu” về việc này; các thế lực lấy đó để xuyên tạc

Việt Nam bứng bít thông tin sự kiện Gạc Ma năm 1988. Trên thực tế, ngay vào thời điểm

năm 1988 thì Việt Nam đã tuyên truyền một cách mạnh mẽ hành động gây hấn, xâm

chiếm của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa trên cả bình diện trong nước và dư luận,

công đồng quốc tế, tạo thành một sự kiện lịch sử nổi bậc của Việt Nam và thế giới lúc

bấy giờ. Ngay từ đầu năm 1988 khi Trung Quốc gây hấn ở quần đảo Trường Sa, Bộ

Ngoại giao Việt Nam đã ra Tuyên bố ngày 20-2-1988 về việc hải quân Trung Quốc khiêu

khích trong vùng biển Việt Nam ở Trường Sa. Đặc biệt, ngay sau sự kiện ngày 14-3-

1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam cùng các cơ quan quản lý nhà nước, các hội, đoàn thể, các

đảng phái, các địa phương của Việt Nam đã lực lực phản đối hành động này, tạo thành

một phong trào mạnh mẽ nhất, khơi dậy ý chí, sự đồng lòng, đoàn kết và tinh thần yêu

nước của các tầng lớp nhân dân. Theo thống kê, từ tháng 2 đến tháng 6-1988, có ít nhất

41 bài viết, tuyên cáo, xã luận… được đăng tải trên báo Nhân Dân và Quân đội nhân dân

thể hiện rõ quan điểm Việt Nam yêu cầu Trung Quốc phải chấm dứt ngay mọi hành động

khiêu khích, xâm chiếm. Ngày 14-3, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố, nêu rõ: “Mọi

người đều biết từ tháng 1-1988 đến nay, Trung Quốc đã không ngừng cho nhiều tàu chiến

xâm nhập và khiêu khích quân sự ở các bãi đá ngầm Chữ Thập, Châu Viên và một số bãi

đá ngầm khác ở khu vực đảo Sinh Tồn trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Bất


chấp sự phản đối của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và sự lo ngại của

dư luận trên thế giới, trước hết là của các nước Đông Nam Á, hành động trắng trợn nói

trên bộc lộ rõ dã tâm của nhà cầm quyền Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của

Việt Nam, đe dọa nghiêm trọng an ninh của Việt Nam, phá hoại hòa bình ổn định và xu

thế đối thoại ở Đông Nam Á, thực hiện mưu đồ bành trướng ở Biển Đông. Nhân dân và

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vô cùng phẫn nộ và kiên quyết lên

án hành động khiêu khích quân sự của nhà cầm quyền Trung Quốc. Chính phủ Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo

Trường Sa và Hoàng Sa. Nhà cầm quyền Trung Quốc phải chấm dứt ngay các hành động

khiêu khích quân sự, rút ngay các tàu chiến của họ ra khỏi vùng biển thuộc quần đảo

Trường Sa của Việt Nam. Họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hậu quả do hành

động khiêu khích quân sự của họ gây ra”[11]. Đối với dư luận của các nước thế giới về

sự kiện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa

năm 1988, có nhiều nước, nhiều chính đảng ở nước ngoài đã ủng hộ lập trường chính

nghĩa và thiện chí hòa bình của Việt Nam; yêu cầu Trung Quốc phải chấm dứt ngay

những hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, sớm đàm phán với Việt Nam; lên

án hành động tội ác của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa; vạch rõ những tham vọng

của Trung Quốc ở Biển Đông và Trung Quốc không tự cô lập mình hơn nữa trong vấn đề

Trường Sa. Tiêu biểu như ngay trước sự kiện Gạc Ma 14-3-1988, ngày 29-2-1988, Cơ

quan Trung ương của Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia đã lên án những hành động

của hải quân Trung Quốc khiêu khích tàu thuyền và xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt

Nam tại vùng biển quần đảo Trường Sa. “Nhân dân Campuchia nghiêm khắc lên án chính

sách phiêu lưu của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với Việt Nam và đòi Trung Quốc rút

ngay tàu chiến của họ khỏi những vùng lãnh hải Việt Nam, chấm dứt ngay những hành

động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam”[12]. Hoặc ngày 8-5-1988, Thụy Điển, Ấn

Độ… kêu gọi Trung Quốc tỏ rõ thiện chí, đáp ứng những đề nghị của Việt Nam ngồi vào

bàn thương lượng nhằm đạt tới một giải pháp cho các quần đảo này[13]. Ngay trong và

sau sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-1988, các địa phương, đoàn thể trong cả nước hướng về

Trường Sa mạnh mẽ. Lúc bấy giờ, hầu như từ đứa bé đến cụ già ai cũng nghe ngóng

thông tin về sự kiện này qua mít tinh, báo chí, loa phát thanh…; đã tham gia ủng hộ bộ

đội Trường Sa. Đặc biệt, các phóng viên báo chí (nhất là Báo Nhân Dân và Báo Quân

Đội Nhân Dân) đã trực tiếp ra Trường Sa để gặp gỡ nhân chứng, “mục sở thị” để cung

cấp cho độc giả trong nước và trên thế giới về hoạt động bảo vệ, chiến đấu, hy sinh của

các chiến sĩ ở quần đảo Trường Sa, ngõ hầu truyền tải một sự thật lịch về sự kiện này.

Như vậy, các thông tin trên cho thấy Đảng và Nhà nước Việt Nam không hề bưng bít về

sự kiện Gạc Ma năm 1988, hơn nữa còn chỉ đạo đẩy mạnh thông tin bằng các bài viết để

làm rõ ý đồ lâu dài của Trung Quốc trong việc lấn dần từng bước đi tới kiểm soát Biển

Đông. 4. Kết luận Trước các sự kiện chính trị trọng đại, nhạy cảm của đất nước, việc các

thế lực thù địch xuyên tạc, chống đối Đảng, Nhà nước không phải điều lạ. Về sự kiện

Gạc Ma ngày 14-3-1988, việc xuyên tạc lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, lãnh đạo


Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra lệnh “không được nổ

súng” và bưng bít thông tin vụ Gạc Ma ngày 14-3-1988 là một luận điệu suy diễn không

có cứ liệu lịch sử. Đặc biệt, trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, chúng ta cần tỉnh

táo phân biệt những thông tin đúng để có nhận thức và hành động đúng. Sự hy sinh cao

cả của các cán bộ, chiến sĩ Gạc Ma mãi mãi là biểu tượng về lòng yêu nước, tình đoàn kết

vượt qua gian khó, tính kỹ luật cao, ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất, dâng hiến trọn

đời vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Đảng và Nhà nước

Việt Nam luôn nêu cao quan điểm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị;

nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn

lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc./.

Định hướng tư tưởng cho sinh viên

Sinh viên là lực lượng chủ yếu ở các học viện, trường đại học, cao đẳng. Tuổi đời của họ

còn trẻ, luôn tiên phong trong mọi hoạt động. Họ là những con người đang phát triển

mạnh về thể chất và tinh thần, giàu ước mơ hoài bão, luôn có mong muốn vươn lên nắm

bắt tri thức của nhân loại để tự hoàn thiện mình về mọi mặt.

Sinh viên Việt Nam xuất thân từ các giai tầng khác nhau của mọi miền đất nước, với mức

thu nhập của gia đình rất khác nhau, tập trung về các trung tâm kinh tế, chính trị các

thành phố và thị xã để sống và học tập. Về cơ bản họ mới tốt nghiệp trung học phổ thông,

vừa ra khỏi sự quản lý của thầy giáo, cô giáo ở nhà trường và gia đình, để sống cuộc sống

tập thể trong ký túc xá, hoặc trọ học xung quanh các trường đại học và cao đẳng. Tức là

với họ vừa mới có cuộc sống tự lập, tự quản và tập thể. Sinh viên thường khá nhanh nhạy

trong việc tiếp thu các thông tin mới, cũng như những luồng tư tưởng mới trong xã hội,

song khả năng phân tích và chọn lọc còn có những hạn chế. Trong thực tế, nhiều sinh

viên còn chưa hiểu sâu về chính trị, lập trường tư tưởng chưa vững vàng, nên dễ dao

động, dễ bị lôi kéo...

Sinh viên luôn có mong muốn vươn lên nắm bắt tri thức của nhân loại để tự hoàn thiện

mình về mọi mặt.

Với một số đặc điểm của sinh viên như đã nêu trên nên sinh viên là đối tượng mà các thế

lực thù địch hướng tới, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm mục tiêu chống

phá cách mạng trong hiện tại và tương lai.

Những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa

bình” trong sinh viên thời gian vừa qua tập trung vào một số vấn đề như: Thâm nhập vào

tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên nhằm phá vỡ các tổ

chức này; đưa các ấn phẩm văn hóa đồi trụy, phản động vào trong đời sống tinh thần của

sinh viên; lợi dụng tín ngưỡng, mê tín dị đoan để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa

bình”; thông qua các chương trình học bổng; thông qua các hội thảo quốc tế; sử dụng

internet để tuyên truyền, kích động; bằng nhiều phương pháp tuyên truyền, xuyên tạc,

mua chuộc, lôi kéo sinh viên vào con đường lầm lạc chống lại Nhà nước, chế độ, đi

ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân. Có nhiều đối tượng đã len lỏi vào các ký

túc xá sinh viên, giảng đường, đến các hội thảo khoa học, sử dụng internet... lôi kéo, kích

động, nhằm tạo ra sự bất ổn về chính trị tư tưởng, làm cơ sở cho những vụ gây rối trật tự

an ninh trong đời sống sinh viên và trong xã hội.

Nhưng với sự nhanh nhạy và bản lĩnh vững vàng của mình, cũng đã có nhiều sinh viên

phát hiện và đấu tranh trực diện đối với việc tuyên truyền, kích động của chúng một cách

có hiệu quả. Tuy nhiên, không ít sinh viên còn mơ hồ về chính trị; thiếu kinh nghiệm

sống nên bị mắc mưu chúng. Đặc biệt trong những ngày chúng ta chuẩn bị bầu cử đại

biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, có


sinh viên bị kích động đã lập các blog cá nhân đăng tải nội dung cổ xúy cho các luận điệu

sai trái của các thế lực thù địch, từ đó có các bình luận xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh

đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội… Đây là việc làm

của những sinh viên nhận thức chính trị hạn chế, nông nổi trong suy nghĩ, bồng bột trong

hành động, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước...

Từ thực tiễn hoạt động chống phá về chính trị, tư tưởng của các thế lực thù địch đối với

sinh viên thời gian vừa qua; để phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sinh

viên, các học viện, trường đại học, cao đẳng cần tập trung làm tốt một số vấn đề sau:

Một là, nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và

Hội Sinh viên trong các học viện, nhà trường.

Tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên trong các học viện,

trường đại học, cao đẳng phải xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo có lập trường tư tưởng

chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức và lối sống lành

mạnh, giản dị, có ý chí vươn lên trong cuộc sống cũng như trong học tập, nghiên cứu

khoa học, có uy tín và tích cực trong công tác Đoàn, công tác Hội và gần gũi với quần

chúng.

Nội dung hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên phải

phong phú, thiết thực, sinh động..., mục tiêu là giáo dục cho sinh viên sống và làm việc

theo pháp luật, theo bản sắc văn hóa dân tộc; làm cho sinh viên thấm nhuần truyền thống

dân tộc, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, truyền

thống của học viện, nhà trường nơi sinh viên đang theo học; định hướng đạo đức nghề

nghiệp; từ đó họ phải kiên định với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, nhân

dân và cả dân tộc Việt Nam lựa chọn. Bằng nhiều hình thức, thường xuyên giáo dục

chính trị tư tưởng để sinh viên tự xác định về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của mình. Ban

giám đốc, Ban giám hiệu các học viện, trường đại học, cao đẳng cần tạo mọi điều kiện về

vật chất và tinh thần cho tổ chức Đoàn và Hội Sinh viên của trường hoạt động.

Hai là, tăng cường giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương,

đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho sinh viên.

Hiện nay, các môn học: Chính trị Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng

Cộng sản Việt Nam là những môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo của bậc đại

học và cao đẳng. Thời lượng của các môn học này đã hợp lý, song điều quan trọng là

phương pháp giảng dạy các môn học đó sao cho có hiệu quả. Quá trình truyền thụ, cần

giảng giải ngắn gọn, súc tích về lý luận, tăng cường thời lượng thảo luận, tạo điều kiện

thuận lợi cho sinh viên trao đổi để nhận thức tri thức khoa học cả về lý luận và thực tiễn.

Giáo dục nâng cao nhân sinh quan, thế giới quan và đạo đức cộng sản: Các giá trị truyền

thống dân tộc, lý tưởng, niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa cho

sinh viên; đồng thời phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái, lệch lạc và làm rõ âm


mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa của

các thế lực thù địch để sinh viên có biện pháp phòng ngừa. Nếu chúng ta làm tốt công tác

giáo dục cho sinh viên, thì kẻ thù dù có nham hiểm và thâm độc đến đâu cũng thất bại.

Ba là, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho sinh viên.

Chúng ta phải thừa nhận rằng, đời sống vật chất và tinh thần của sinh viên hiện nay vẫn

còn nhiều thiếu thốn. Đây là kẽ hở để các thế lực thù địch tìm cách lợi dụng để thực hiện

chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sinh viên. Vì vậy, nhiệm vụ của Ban giám đốc,

Ban giám hiệu các học viện, trường đại học, cao đẳng càng nặng nề hơn trong việc chăm

lo đời sống vật chất, tinh thần cho sinh viên. Những công việc cần làm là: Cải tạo điều

kiện sinh hoạt trong các ký túc xá, giảm tới mức tối thiểu việc đóng góp của sinh viên. Có

chế độ chính sách đầy đủ, hợp lý và toàn diện về học bổng, học phí, lệ phí. Tăng cường

trang thiết bị phòng thí nghiệm, thư viện để thu hút sinh viên vào học tập và nghiên cứu

khoa học nhiều hơn nữa. Tăng cường cơ sở vật chất và tổ chức các hoạt động văn hóa,

thể thao hợp lý và đúng định hướng chính trị của Đảng và Nhà nước, tạo môi trường văn

hóa lành mạnh để lôi cuốn sinh viên tham gia.

Bốn là, xây dựng lực lượng nòng cốt trong sinh viên.

Phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị tư tưởng đối với

sinh viên cần phải có nhiều lực lượng tham gia, với nhiều biện pháp sát thực, nhưng vấn

đề quan trọng là phải tạo ra sức đề kháng mạnh để họ đủ sức “miễn dịch” trước âm mưu

và thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch là cách tốt nhất và hiệu quả cao nhất.

Muốn làm được điều đó, chúng ta phải giáo dục cho mọi sinh viên thấm nhuần tư tưởng

đạo đức cách mạng, có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình cao. Cần xây dựng lực

lượng nòng cốt trong sinh viên, họ là những sinh viên có bản lĩnh chính trị vững vàng,

năng động, tích cực, khách quan, gần gũi với bạn bè cùng lứa. Đây cũng chính là lực

lượng trực tiếp tiến hành công tác tư tưởng cho các sinh viên khác nhằm loại bỏ các âm

mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch khi chúng vừa nhăm nhe xâm nhập, tác động vào

môi trường sống của sinh viên

Cảnh giác với những video độc hại, xuyên tạc hình ảnh Công an, Quân đội trên mạng xã hội

 Thời gian qua, trên các nền tảng mạng xã hội, nhất là TikTok, xuất hiện những TikToker

(người dùng TikTok) làm các video clip kiểu như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được

làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”… Đi liền với đó

là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ của lực lượng Công an, Quân đội.

Thực tế cho thấy, một số lượng không nhỏ các video có nội dung xấu độc trên các nền

tảng TikTok, YouTube Short, Facebook Reel, Bigo Bar, Instagram, Likee… trong phạm

vi nào đó đã tác động tiêu cực đến nhận thức, hành vi người sử dụng mạng xã hội.

Không phải ngẫu nhiên, các phương tiện truyền thông đại chúng đều có chung nhận định

đây là thời kỳ trỗi dậy của nền tảng nội dung ngắn. Sau thành công của TikTok, các nền

tảng mạng xã hội lớn mà điển hình là YouTube và Facebook đã lao vào phát triển ứng

dụng phát và chia sẻ video ngắn (short video), bất chấp một thực tế là hai mạng xã hội

này vốn chứa hàng tỷ video clip có thời lượng dưới 1 phút. Ðiểm mới của TikTok là nền

tảng này cung cấp cho người dùng hàng loạt các tính năng như ghép nhạc, thêm hiệu ứng

(filter) hình ảnh và âm thanh, cách thức để video hiện lên trên xu hướng (trending).

TikTok cũng ban hành nhiều chính sách để thu hút người dùng mới và tăng thời lượng sử

dụng mạng xã hội này như nhận tiền hoa hồng với lời mời bạn bè đăng ký tài khoản mới,

nhận tiền để truy cập và theo dõi video liên tục 10 phút trong 14 ngày.

Ðáng chú ý, hiện tượng đăng tải và chia sẻ các video ngắn độc hại không chỉ xuất hiện

trên nền tảng TikTok mà lan rộng sang nhiều nền tảng Facebook Reel, YouTube Short,

Instagram Reel… Trong đó, một phần nguyên nhân đến từ việc các ứng dụng video ngắn

này có rất nhiều tính năng, công cụ, thuật toán tương đồng với TikTok, thậm chí cho

phép người dùng đăng tải, chia sẻ đồng thời trên nhiều nền tảng. Hầu hết các ứng dụng

video ngắn đều là các nền tảng xuyên biên giới nên rất khó xác định đối tượng nào trực

tiếp tham gia hoạt động quản lý, cung cấp các dịch vụ. Bởi lẽ công ty chủ quản, pháp

nhân đại diện, đơn vị cung cấp dịch vụ mạng xã hội của các nền tảng này thường được

đặt tại các quốc gia khác nhau. Ðây chính là lý do khiến việc phát hiện, xử lý sai phạm

đối với các nền tảng video ngắn không hề dễ dàng.

Theo thống kê từ Statista, Việt Nam hiện là quốc gia đứng thứ 12 thế giới về tỷ lệ tăng

trưởng người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất. Mỗi ngày, người dùng Việt Nam dành tới

gần 7 giờ đồng hồ để tham gia các hoạt động liên quan tới Internet. Nếu các video độc hại

bị lan truyền với thời lượng lớn sẽ gây tình trạng nhiễu loạn thông tin, đúng sai bị đảo

lộn, bởi sẽ có rất nhiều người bị tiếp nhận thông tin thụ động. Thậm chí có thể xem là

một trong những tác nhân gây ra sự vô cảm trong xã hội. Theo thống kê của cơ quan chức

năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội

có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội


dung xuyên tạc, chống phá nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã

hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc

các kênh tin tức phản động).

Nhận diện âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch trong việc sử dụng video ngắn

độc hại trên mạng xã hội

Khi những video ngắn độc hại lan rộng trên mạng xã hội thời gian qua như: “Có lẽ tôi sẽ

từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu

làm lại?”…, đã có những ý kiến, bình luận mang tính a dua, cổ xuý theo nội dung mà

video đề cập. Đi liền với đó là các video và bài viết xuyên tạc về tình hình nội bộ, hoạt

động chiến đấu của lực lượng Công an, Quân đội xuất hiện khá nhiều gây nhiễu loạn

thông tin cho người xem, đặc biệt với những cán bộ, chiến sĩ Công an tuổi đời còn trẻ. Ẩn

sâu đằng sau những video đó còn là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch và các tổ

chức phản động lưu vong ở nước ngoài.

Qua thực tiễn trào lưu video ngắn độc hại trên mạng xã hội thời gian qua, có thể nhận

thấy “bàn tay đen” của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian

mạng âm mưu và hoạt động chống phá tập trung vào các nội dung, như: Xuyên tạc phá

hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây

mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của

Đảng, Nhà nước, lãnh đạo, chỉ huy trong Công an, Quân đội; thông qua truyền thông

mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội; kích

động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân

quyền, tự do Internet…

Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các

thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch

truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn

nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông

tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh

thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau. Việc sử dụng các

video ngắn độc hại hướng vào vấn đề phi chính trị hóa Quân đội và Công an, thực chất là

muốn tách Công an và Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết

toàn dân tộc. Về mặt hình thức, những video ngắn trên mạng xã hội trước tiên làm tổn hại

đến lực lượng CAND, để người dân hiểu sai, hiểu không tốt về lực lượng Công an. Từ

những vụ việc đơn lẻ, các đối tượng thổi phồng, tiến tới gây phản ứng quy kết cho cả lực

lượng CAND, tạo ác cảm, tiến đến không ủng hộ, chống đối lực lượng Công an, gây ra

những xung đột xã hội.

Những luận điệu xuyên tạc nêu trên nếu không phát hiện, xử lý kịp thời sẽ gây ra nhiều

hệ lụy, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của lực lượng Công an, giảm sút lòng tin của quần


chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự. Luận điệu xuyên tạc thông qua

video trên nền tảng mạng xã hội dễ phát tán, lây lan, ảnh hưởng đến tâm lý tiêu cực trong

một bộ phận nhân dân, dễ nảy sinh tâm lý tiêu cực, a dua để điều hướng dư luận nhằm

thực hiện các hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của một số đối tượng. Tình hình đó

khiến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Vì vậy, đấu

tranh với các thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc về lực lượng Công an nói riêng và lực

lượng vũ trang nhân dân nói chung trên mạng xã hội là vấn đề thời sự, cấp bách hiện nay.

Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng CAND Việt Nam luôn thể hiện

phẩm chất anh hùng, bản lĩnh kiên cường, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, không

quản ngại gian khổ, hiểm nguy, hy sinh, lập nhiều chiến công, giữ vững vai trò nòng cốt

trong bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân

dân. Cùng với hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm ANTT, lực lượng CAND còn làm

tốt công tác an sinh xã hội với mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”; triển khai đồng

bộ, hiệu quả các mặt công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế; gương mẫu, đi đầu trong nhiều

mặt công tác… Những kết quả, thành tích đó đã đóng góp rất quan trọng vào việc xây

dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, củng cố và nâng cao uy tín, vị thế của

Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội

luôn coi Công an, Quân đội là một trong những lực lượng cần tập trung chống phá, xuyên

tạc, mục đích nhằm hạ uy tín, vị thế, gây chia rẽ giữa các lực lượng và chia rẽ giữa Công

an, Quân đội với các ngành, với nhân dân, tạo ra những nghi kỵ, ác cảm để lấy cớ kích

động chống đối.

Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng hiện đại, nền công nghiệp 4.0 tập trung

vào công nghệ số với sự trợ giúp mạnh mẽ từ internet thì các thế lực thù địch sẽ gia tăng

lợi dụng mạng xã hội để tung nhiều thông tin xấu độc, vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ lực

lượng CAND, tác động đến cộng đồng. Việc các thế lực xấu tung video ngắn trên

TikTok, Facebook, các nền tảng mạng xã hội là chiêu trò lợi dụng trào lưu người sử dụng

mạng đang có thói quen xem các video ngắn, các thông tin nhanh, nóng, tức thời. Do đó,

dù phương pháp, thủ đoạn có những biến tướng thì bản chất vẫn không thay đổi, cũng chỉ

là “bình mới, rượu cũ”. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, nhất là các

em học sinh, sinh viên cần tỉnh táo, nhận rõ phải – trái, đúng – sai. Hơn ai hết, mỗi cán

bộ, chiến sĩ Công an phải nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, đề cao cảnh giác, tích

cực đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn

chống phá của các thế lực xấu.

Đâu phải chọn bên!

 

Nghe tiếng chó sủa râm ran ngoài cửa, ông Đậu chân tập tễnh bước ra:- Ô, ông Nam đấy à! Mới sáng sớm, ông tìm tôi có chuyện gì thế?

Vạch trần luận điệu xuyên tạc sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động gia tăng nhiều hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực, trong đó có nội dung xuyên tạc hoạt động quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia (BGQG).

Cảnh giác với hiện tượng lợi dụng, xuyên tạc hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

 

Gần đây, trên không gian mạng xuất hiện ngày càng nhiều tài khoản TikTok, Facebook, YouTube... với những tên gọi “rất kêu”, chẳng hạn như: “Yêu bộ đội”; “Yêu lính”; “Màu xanh biên cương”; “Bộ đội của dân”...

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐÂU PHẢI CHỌN BÊN!

Nghe tiếng chó sủa râm ran ngoài cửa, ông Đậu chân tập tễnh bước ra:
- Ô, ông Nam đấy à! Mới sáng sớm, ông tìm tôi có chuyện gì thế?

Chưa kịp mở cửa, ông Nam đã nói vọng vào:

- Ông ơi, chúng ta đều biết chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kết thúc tốt đẹp. Bản tuyên bố chung của hai nước cũng ghi rõ như vậy. Ấy thế mà trên các trang mạng xã hội, không ít kẻ xấu, đối tượng cơ hội vẫn bình luận loạn cả lên...

 - Tôi xem thời sự và đọc báo suốt nên hiểu rõ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam rất thành công, mang lại nhiều lợi ích không chỉ cho hai nước mà còn trong khu vực và thế giới. Thế nhưng, cũng chính vì thế mà các thế lực thù địch, phản động càng tức tối, cố tình xuyên tạc để chống phá. Mời ông vào làm miếng nước đã rồi ta nói chuyện, bà nhà tôi vừa pha bình nước vối ngon lắm!

Đón chén nước từ ông bạn già, ông Nam thong thả nói:

- Tôi biết ông hay nghiên cứu, hiểu sâu hơn tôi nên mới sang hỏi ông đấy. Chẳng là, thằng út nhà tôi đọc trên mạng xã hội thấy thông tin “Việt Nam đang ngấm ngầm bắt tay với Trung Quốc, bị lệ thuộc vào Trung Quốc, rồi các nước khác sẽ quay lưng với Việt Nam", ông ạ! Đáng buồn là nó cũng có vẻ tin theo luận điệu suy diễn, xuyên tạc của bọn phản động mà tôi không biết cách để phân tích cho nó hiểu.

Nghe đến đây, ông Đậu hiểu phần nào những băn khoăn của ông Nam.

- Ông Nam này, ông cũng biết thông tin trên mạng xã hội giờ tràn lan, nhiều nội dung bị các thế lực xấu đưa lên hòng bôi nhọ, nói xấu, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Mục đích của chúng là cố tình thổi phồng theo hướng kích động, chia rẽ kiểu “bắt tay bên này để chống bên kia”, từ đó lấy cớ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Nhấp thêm ngụm nước vối, ông Đậu nói tiếp:

- Hôm trước dự ngày truyền thống hội cựu chiến binh, anh Sơn là Phó chủ tịch hội giải thích rất rõ về chính sách đối ngoại của Việt Nam không phải chọn bên này, bên kia, mà là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại với các nước. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả quốc gia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, Việt Nam cũng kiên định thực hiện nguyên tắc “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chăm chú nghe ông bạn già phân tích, ông Nam gật gù:

- Ông phân tích tôi thấy đúng quá, chứ cứ đọc thông tin trên mạng rồi nghe người nọ, người kia tuyên truyền thì vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, ông ạ.

Ông Đậu vỗ vai người bạn già rồi nói tiếp:

- Việt Nam đạt được những thành tựu trong công cuộc đổi mới cũng là nhờ chính sách ngoại giao đúng đắn, nhiều nước mong muốn hợp tác với Việt Nam cũng chính vì vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố đấy ông ạ.

Ông Nam uống nốt chén nước rồi đứng dậy nói:

- Cảm ơn ông, tôi về nhà xem thằng út nhà tôi nó đọc thông tin ở đâu, rồi nói cho nó hiểu, không là rất nguy hiểm ông ạ.

Ông Đậu đứng dậy đưa ông Nam ra cửa và dặn:

- Ông nói và phân tích nhẹ nhàng thôi thì con nó mới hiểu nhé./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 04 THÁNG 01 NĂM 1966!

         "… Anh chị em trí thức ta cũng nên có cuộc vận động để góp phần vào phong trào chung đó"!
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện tại Hội nghị trí thức Việt Nam chống Mỹ, cứu nước, được đăng trên Báo Nhân dân, số 4296, ngày 8-1-1966; trong lúc đồng bào miền Nam đang đi từ thắng lợi này sang thắng lợi khác; phong trào chống Mỹ, cứu nước sôi nổi ở miền Bắc, quân và dân cả nước giành được nhiều thắng lợi vẻ vang.
Trong bài nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, phong trào thi đua chống Mỹ cứu nước, công nhân có cuộc vận động "3 xây, 3 chống", nông dân có cuộc vận động "cải tiến, quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật", phụ nữ có phong trào "ba đảm đang", thanh niên có phong trào "ba sẵn sàng", phụ lão một số nơi có phong trào "bạch đầu quân". Những cuộc vận động ấy, nảy nở nhiều con người mới rất anh hùng. Anh chị em trí thức ta cũng nên có cuộc vận động để góp phần vào phong trào chung đó.
Lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời điểm ấy, không chỉ đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ trí thức, mà còn định hướng, thôi thúc, dấy lên phong trào "người người thi đua, nghành ngành thi đua; ngày ngày thi đua của mọi người, mọi ngành, mọi cấp, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Trong giai đoạn hiện nay, phong trào thi đua yêu nước của các hội trí thức từ Trung ương đến địa phương đã có bước phát triển rộng sâu, tạo động lực, đòn bẩy tinh thần, khích lệ, động viên, cổ vũ hội viên trí thức phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, những năm qua, các tổ chức hội trí thức đã quan tâm, ghi nhận, tôn vinh những điển hình tiên tiến, có công lao, đóng góp xuất sắc trong hoạt động; qua đó tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, đẩy mạnh hơn nữa phong trào thi đua yêu nước "đoàn kết, sáng tạo" cống hiến sức lực, trí tuệ, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Trong quân đội, tinh thần thi đua yêu nước được cụ thể hóa thành phong trào thi đua quyết thắng, gắn chặt chẽ với các cuộc vận động, các phong trào thi đua của các ngành, các cấp; khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng hy sinh quên mình của cán bộ, chiến sĩ trên tuyến đầu của Tổ quốc, nơi đầu sóng ngọn gió để canh trời, bám biển vì bình yên của Tổ quốc; tinh thần cháy bỏng khát vọng và đam mê của những nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu; tinh thần miệt mài, tích cực, sáng tạo của những người thợ mặc áo lính trong nhà máy, xí nghiệp, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu tuyệt đối trung thành của Đảng, của nhân dân trong thời kỳ mới./.

Môi trường ST.

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM PHÁT HUY PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 KHÓA XIII!

     Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hóa quân sự tiêu biểu, được xây đắp từ truyền thống yêu nước của dân tộc ta, từ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sự tin tưởng, giúp đỡ của nhân dân và từ những cống hiến, hy sinh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Giá trị ấy được lưu giữ, kế thừa và phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII vừa là yêu cầu khách quan, vừa là tình cảm, trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội!

Trong gần 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các ban, ngành ở Trung ương và các địa phương, sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững bản chất cách mạng, không ngừng lớn mạnh, vừa chiến đấu, vừa trưởng thành và chiến thắng vẻ vang. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, dù phải chịu đựng nhiều gian khổ, hy sinh, phải đương đầu với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của kẻ thù, Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn tuyệt đối trung thành, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy cao độ truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có kỷ luật nghiêm minh, luôn chủ động, sáng tạo, mưu trí, dũng cảm, quyết chiến, quyết thắng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã lập nên những chiến công hiển hách, làm rạng rỡ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân khen tặng, xứng đáng là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng. 

Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Quân đội tiếp tục thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, thành quả cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Quân đội luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Thực hiện sáng tạo, hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, các công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Tích cực tham gia các phong trào đền ơn, đáp nghĩa, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng địa bàn an toàn, xây dựng hệ thống chính trị và đời sống văn hóa ở cơ sở, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới, hải đảo. Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường “thế trận lòng dân”, tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân. Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giải quyết hậu quả chiến tranh và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; đồng thời, thực hiện tốt công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. 

Những năm tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành rõ nét hơn, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt, thậm chí dẫn đến đối đầu nhau. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối vào nội bộ các nước khác, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước vừa và nhỏ. Các điểm “nóng” về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng; xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Những vấn đề toàn cầu, như bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột, tác động đến an ninh, an toàn hàng hải, hàng không. 

Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Trên Biển Đông, vùng biển Tây Nam và một số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm còn tiềm ẩn các nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp chủ quyền biển, đảo, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng gia tăng; xử lý quan hệ quốc tế, nhất là với các nước lớn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong nước và nước ngoài câu kết với nhau tăng cường chống phá công khai và trực diện, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc có sự bổ sung, phát triển và ngày càng khó khăn, phức tạp hơn; tỷ lệ cán bộ được rèn luyện qua chiến đấu ngày càng giảm. 

Trong bối cảnh đó, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta có sự phát triển và đặt ra những yêu cầu mới rất cao, có sự đan xen giữa thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn. Quân đội luôn nhận thức sâu sắc vai trò nòng cốt của mình trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và coi đó là nhiệm vụ “trọng yếu và thường xuyên”; đồng thời, ý thức rõ trách nhiệm chính trị, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Trên cơ sở quán triệt, nắm vững Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, toàn quân cần nỗ lực phấn đấu, tiếp tục phát huy hơn nữa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau: 

Một là, tiếp tục thực hiện tốt chức năng nghiên cứu, tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước. 

Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Quân đội, xuất phát và dựa chắc trên quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, trong thời gian tới, Quân đội cần chủ động đánh giá, dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực và trong nước, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước đề ra các chủ trương, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ, không để mâu thuẫn, tranh chấp phát triển thành xung đột vũ trang, chiến tranh. Chú trọng nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, giải pháp tổng thể, cơ bản, lâu dài nhằm ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; nhất quán thực hiện chủ trương: Không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. 

Cùng với đó, Quân đội cần tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”. Nâng cao năng lực tác chiến chiến tranh không gian mạng, chiến tranh thông tin; phối hợp triển khai giải pháp tổng thể bảo đảm an ninh, an toàn thông tin. Đặc biệt, chú trọng bổ sung, kiện toàn các cơ chế, quy định, nhất là về sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Công an, các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương trong xử lý các tình huống bảo vệ Tổ quốc. Sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn. Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn các mục tiêu, công trình quan trọng, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các sự kiện chính trị, văn hóa, đối ngoại của đất nước. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển hệ thống lý luận về quốc phòng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Hai là, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trên địa bàn cả nước. Đó là nền quốc phòng với tiềm lực, sức mạnh tổng hợp, được cấu thành trên cơ sở nguồn lực quốc gia và trong nhân dân, từ nhân dân, mang bản chất hòa bình và tự vệ, không nhằm đe dọa bất cứ quốc gia nào. Đồng thời, là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại, do toàn dân tiến hành xây dựng, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, cơ sở. 

Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, Quân đội tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp với thực tiễn và đặc điểm, thế mạnh của từng địa bàn, khu vực, nhất là các địa bàn chiến lược Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ và vùng biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Trong đó, trọng tâm là xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở. Chú trọng xây dựng khu vực phòng thủ các cấp vững chắc, tạo thế bố trí phòng thủ liên hoàn, vững chắc trên từng địa bàn và phạm vi cả nước, bảo đảm cho các địa phương xử lý tốt các tình huống quốc phòng, an ninh trong cả thời bình và thời chiến. Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị quốc phòng, công trình phòng thủ, công trình chiến đấu, hệ thống phòng thủ dân sự đồng bộ, thống nhất; trong đó, ưu tiên các tuyến biên giới, biển, đảo, các địa bàn chiến lược, trọng điểm... 

Tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, bảo đảm phù hợp với từng đối tượng, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng giáo dục, thống nhất, nâng cao nhận thức về đối tác và đối tượng; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục phát huy vai trò, tính hiệu quả của các đơn vị kinh tế - quốc phòng và doanh nghiệp quân đội để kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với củng cố, tăng cường quốc phòng, nhất là ở những địa bàn chiến lược, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, khu kinh tế trọng điểm. 

Ba là, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân. 

Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới. Coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất cách mạng, truyền thống, nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị; đối tác, đối tượng; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Kịp thời khắc phục những nhận thức, tư tưởng lệch lạc, chủ động đấu tranh phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. 

Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt cuộc vận động đó với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Qua đó, làm sâu sắc thêm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Triển khai thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân đội; đổi mới nội dung, phương pháp và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, bảo đảm sát chủ trương, đường lối của Đảng, thực tiễn hoạt động của bộ đội và yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Chăm lo xây dựng các tổ chức thanh niên, phụ nữ, công đoàn và hội đồng quân nhân vững mạnh, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. 

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. 

Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, trực tiếp là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng như yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, bước đầu đạt được kết quả quan trọng, bảo đảm sự cân đối, tương đối đồng bộ giữa các quân chủng, binh chủng, giữa cơ quan và đơn vị, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên. 

Trong thời gian tới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2-4-2022, của Quân ủy Trung ương, “Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”. Tổ chức, biên chế toàn quân phải phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật, giữ vững và phát huy truyền thống của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Xây dựng, điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, có cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần lực lượng; giảm đầu mối trung gian và đơn vị bảo đảm, phục vụ; tiếp tục tổ chức một số đơn vị dự bị chiến lược theo quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, bảo đảm Quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Lấy xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình điều chỉnh tổ chức, hiện đại hóa Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước; biện pháp thực hiện phải toàn diện, đồng bộ, phù hợp với thực tế; kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách. 

Năm là, xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội. 

Toàn quân tập trung quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã xác định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 26-1-2022, của Bộ Chính trị, về “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”. Trên cơ sở tiềm lực, điều kiện kinh tế của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển công nghiệp quốc phòng đã xác định theo lộ trình đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Theo đó, đối với những lĩnh vực công nghiệp quốc phòng có thế mạnh, đã làm chủ về công nghệ, cần tập trung ưu tiên nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, trọng tâm là vũ khí chiến lược, có sức răn đe, tăng cường khả năng phòng thủ, bảo vệ đất nước và tác chiến không gian mạng. 

Sáu là, tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, nâng cao uy tín, vị thế của Quân đội và đất nước trên trường quốc tế. 

Theo đó, chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; thúc đẩy đa dạng hóa đối tác hợp tác về kỹ thuật quân sự và thương mại quân sự. Tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả chiến tranh. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. 

Bảy là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, lãnh đạo toàn quân hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. 

Quán triệt quan điểm chỉ đạo “xây dựng Đảng là then chốt”, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI chỉ rõ: Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu. Thời gian tới, toàn quân tiếp tục quán triệt, nắm vững các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhóm giải pháp thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” và Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 8-7-2016, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân”. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên và tạo được sự lan tỏa trong toàn quân, toàn xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài, có uy tín cao, gương mẫu, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.





Yêu nước ST.