Thứ Tư, 3 tháng 1, 2024

Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc về sự kiện Gạc Ma năm 1988

 Trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của phương tiện thông tin đại chúng, nhất là mạng

xã hội, các thế lực thù địch, các phần tử xấu đẩy mạnh lợi dụng những sự kiện chính trị,

sự kiện lịch sử có liên quan đến vấn đề Biển Đông để chống phá, bôi nhọ sự lãnh đạo của

Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong đó, một sự kiện lịch sử đặc biệt - Trung Quốc sử

dụng vũ lực xâm chiếm trái phép một bộ phận quần đảo Trường Sa của Việt Nam, đỉnh

điểm là sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-1988 đã bị xuyên tạc nhiều thông tin thiếu căn cứ lịch

sử. 1. Một số quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch Trong quá trình theo dõi, nghiên cứu

về sự kiện Gạc Ma năm 1988 thì có nhiều nội dung bị xuyên tạc, tuy nhiên điểm lại có

hai luận điệu xuyên tạc chủ yếu sau: - Xuyên tạc lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam,

lãnh đạo Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra lệnh “không được

nổ súng” trong sự kiện Trung Quốc sử dụng vũ lực xâm chiếm trái phép một bộ phận

quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988. - Xuyên tạc nhà nước Việt Nam bưng bít

thông tin vụ Gạc Ma ngày 14-3-1988. Đến thời điểm hiện nay, với sự phát triển của công

nghệ thông tin, đồng thời chúng ta có độ lùi thời gian để củng cố cứ liệu lịch sử, cùng với

quan điểm tôn trọng lịch sử, sòng phẳng với lịch sử - không có nghĩa là chúng ta kích

động hận thù, để rút ra được những bài học đúng đắn cho quan hệ quốc tế trong bối cảnh

phức tạp hiện nay, những luận điệu xuyên tạc lịch sử mặc dù trên đang tràn lan trên

internet, được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị rêu rao để phục vụ âm mưu đồ đen tối

của họ, nhất là mỗi khi tới ngày kỷ niệm Gạc Ma 14-3. Nhưng thực tế lịch sử khẳng định,

các luận điệu xuyên tạc trên là suy diễn, thiếu căn cứ lịch sử, cần phản bác, làm rõ. 2. Sự

thật về lệnh “không được nổ súng”! Xin bắt đầu với câu chuyện có liên quan đến một

chiến sĩ có quê ở Đà Nẵng, hy sinh trong sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-1988 như sau: Nhà

báo Nguyễn Chí Trung vào ngày 20-3-1988, đến nhà bà Khả, mẹ của liệt sĩ Trần Tài

(phường Hòa Cường) cho biết, sáng ngày 14 tháng Giêng năm 1988 (âm lịch), khi hết

nghỉ phép lên đường ra Trường Sa, người mẹ nói với chiến sĩ Trần Tài: Thôi con đi... Tài

làm nũng: Để con đi thiệt xa, ở nhà con xin tiền, mẹ không cho, mẹ rằng rực miết... Bên

mình thì cố kìm không nổ súng. Còn bên bọn Trung Quốc, bọn hắn nã đại bác, bọn hắn

nã súng cối, dã man tàn bạo biết chừng nào [1]. Hay câu chuyện về người hoa tiêu của

tàu Mỹ Á - trung tá Trần Công Lửng, một người thông thuộc luồng lạch vùng quần đảo

Trường Sa như bàn tày. Khi phóng viên hỏi: Anh nghĩ gì khi sự kiện 14-3 xảy ra trước

hành động ăn cướp của lính Trung Quốc, bộ đội ta lại không nổ súng. Trả lời: Tôi, các

anh và cả một thế hệ của chúng ta đang mang trong mình vết thương của chiến tranh, vết

thương ấy đang còn rỉ máu. Lẽ đó mà bộ đội ta không muốn nổ súng, không muốn xảy ra

một cuộc chiến tranh khác. Hơn ai hết mỗi chúng ta đều khao khát được sống hòa bình.

Hỏi: Vậy khi đã xảy ra nổ súng thì phải chiến đấu tự vệ? Trả lời: Đó là lẽ tất nhiên, chúng

tôi đang đứng trên lãnh thổ của Tổ quốc mình [2]. Chúng tôi nêu hai câu chuyện cũng là

hai cứ liệu lịch sử trên để thấy rằng, ngay sau sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-1988 xảy ra, thì

vấn đề “không được nổ súng” đã là câu chuyện cốt lõi của sự kiện và về bản chất có 3


vấn đề cần làm rõ: Thứ nhất, lệnh “không nổ súng” không đồng nghĩa với không nổ súng

để chiến đấu, mà là không nổ súng trước nhằm tránh duyên cớ gây chiến tranh “ai nổ

súng trước” hòng hợp thức hóa cuộc xâm lược của Trung Quốc; đồng thời cũng thể hiện

khát vọng hòa bình để xây dựng đất nước vừa hơn 10 năm thoát khỏi chiến tranh. Ngay

trong Thông báo của Ban Tuyên huấn Trung ương về sự kiện ngày 14-3-1988 nêu rõ:

“Trung Quốc đã đưa tàu đến và ngang nhiên cho quân đổ bộ lên đảo Gạc Ma. Các chiến

sĩ ta kiềm chế không nổ súng và ra hiệu cho chúng rút lui khỏi đảo”[3]. Các chiến sĩ

Trường Sa lúc bấy giờ đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh cấp trên: “Không được bắn

trước!”[4]. Hoặc sáng ngày 14-3 “trên đảo Gạc Ma, các chiến sĩ ta đã giương cao lá cờ đỏ

sao vàng ra hiệu cho các tàu chiến Trung Quốc biết đây là vùng đảo thuộc chủ quyền Việt

Nam. Trên tàu 604, loại tàu “Đại Khánh” do Trung Quốc sản xuất trọng tải 50 tấn, đồng

chí Trần Đức Thông - cán bộ chỉ huy đứng trước mũi tàu nhắc nhở chiến sĩ tỉnh táo

không để mắc mưu khiêu khích của địch. Đồng chí ra lệnh giọng vang át cả sóng biển:

Tất cả không được nổ súng khi tôi chưa ra lệnh!”[5]. Hoặc “trên các tàu S71 và B01 từ

thuyền trưởng đến các chiến sĩ đều rất bình tĩnh, tự tin. Nhận được lệnh chỉ huy vùng

đảo, chi bộ các tàu họp, quán triệt yêu cầu đến từng chiến sĩ không được nổ súng. Vì

vùng đảo yên lành của Tổ quốc, tất cả bám trụ, sẵn sàng hy sinh chứ không mắc mưu

khiêu khích của địch”[6]. Qua các thông tin trên, cho thấy rõ trên thực tế, bắt đầu từ

tháng 1-1988, khi Trung Quốc không ngừng cho nhiều tàu chiến xâm nhập và khiêu

khích quân sự ở khu vực đảo Sinh Tồn trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam thì Việt

Nam đã lên tiếng và luôn cánh giác tránh âm mưu khiêu khích của Trung Quốc rồi, chứ

không đợi đến sự kiện 14-3-1988. Thứ hai, mặc dù có lệnh “không được nổ súng” (hay

chính xác hơn là “không được nổ sung trước”), nhưng khi quân Trung Quốc đã khai hỏa

bắn phá các tàu của hải quân Việt Nam thì chiến sĩ ta cũng nổ súng bắn trả, chứ không

hoàn toàn không nổ súng như các thông tin xuyên tạc đã nêu. Thông báo của Ban Tuyên

huấn Trung ương về sự kiện ngày 14-3-1988 nêu rõ sau khi chiến sĩ ta thuyết phục, “lính

Trung Quốc không nghe, xông vào phá cột cờ trên đảo, dùng dao găm đánh bộ đội ta.

Các chiến sĩ ta trên đảo dũng cảm chống trả quyết liệt bảo vệ cột cờ đảo, buộc lính Trung

Quốc phải bỏ đảo rút lên tàu. Nhưng sau đó, chúng dùng pháo 100 ly trên tàu, bắn chìm

và cháy 3 tàu vận tải của ta ở bãi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn do Việt Nam

kiểm soát... Và sau đó buộc bộ đội ta phải bắn trả vào tàu Trung Quốc để tự vệ”[7]. Ngày

15-3-1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố, nêu rõ: “Sáng ngày 14-3-1988, các tàu

chiến của Trung Quốc đang hoạt động trái phép ở vùng biển quần đảo Trường Sa đã

ngang nhiên nổ súng vào hai tàu vận tải của Việt Nam đang hoạt động bình thường ở bãi

đá ngầm Gạc Ma thuộc khu đảo Sinh Tồn. Tàu của ta buộc phải nổ súng để tự vệ. Trong

khi đó họ lại đổi trắng thay đen, vu cáo tàu của Việt Nam khiêu khích vũ trang tàu chiến

của Trung Quốc”[8]. Như vậy, các chiến sĩ hải quân Việt Nam cũng đã nổ súng tự vệ và

gây một số thiệt hại khi lính Trung Quốc khi họ “có 6 lính chết và 18 lính bị thương”[9].

Thứ ba, ngày 7-5-1988, Bộ Tư lệnh Hải quân tổ chức kỷ niệm 33 năm ngày truyền thống

Quân chủng Hải quân tại đảo Trường Sa, Đại tướng Lê Đức Anh, Ủy viên Bộ Chính trị,


Bộ trưởng Quốc phòng đã đến dự và có bài phát biểu quan trọng. Trong đó nêu rõ: “Thật

cay đắng cho cả nhân dân hai nước, tội lỗi mới lại ập tới, do một số lãnh đạo của Trung

Quốc gây ra cho dân tộc Việt Nam, bắt đầu từ 30-4-1977 ở biên giới Tây Nam Tổ quốc,

rồi đến tháng 2-1979 ở biên giới Việt - Trung, và gần đây nhất, từ đầu năm 1988, lực

lượng vũ trang Trung Quốc lại trắng trợn xâm lấn vùng quần đảo Trường Sa của Việt

Nam. Đặc biệt nghiêm trọng là ngày 14-3-1988, hải quân Trung Quốc đã bắn chìm và

bắn cháy ba tàu vận tải của chúng ta đang làm nhiệm vụ tiếp tế trong vùng quần đảo, gây

thương vong cho bộ đội hải quân ta và đến giờ phút này, hơn 70 cán bộ, chiến sĩ hải quân

ta đang còn mất tích và họ vẫn tiếp tục ngăn cản công việc cứu hộ”[10]. Chính sự gặp

mặt và động viên kịp thời này đã cổ vũ, động viên bộ đội hải quân quyết tâm bảo vệ quần

đảo Trường Sa, một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Việt Nam. Như vậy, các

thông tin trên cho thấy trong sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-1988 đã thể hiện tinh thần kỷ

luật rất cao, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của cấp trên, tự kiềm chế cả trong trường

hợp nguy cấp, không nổ súng trước mà chỉ chiến đấu để tự vệ khi bị bắt buộc. Đó là ý

thức chính trị sâu sắc, tự giác chấp hành đường lối chính trị và ngoại giao của Đảng và

Nhà nước Việt Nam mong muốn giải quyết những vấn đề tranh chấp thông qua con

đường thương lượng, hòa bình, không có việc ra lệnh không nổ súng mặc kệ cho quân

Trung Quốc làm gì thì làm. 3. Việt Nam có bưng bít thông tin sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-

1988? Đối với việc xuyên tạc Việt Nam bưng bít thông tin sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-

1988, thực ra đó là một câu chuyện “bình mới, rượu cũ”, có nghĩa là chỉ dựa vào thực tế

rằng sau khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ từ năm 1991, vì một số

lý do trong quan hệ ngoại giao, Việt Nam tranh thủ các cơ hội để phát triển, nhất là hợp

tác với Trung Quốc, nên có phần “mềm yếu” về việc này; các thế lực lấy đó để xuyên tạc

Việt Nam bứng bít thông tin sự kiện Gạc Ma năm 1988. Trên thực tế, ngay vào thời điểm

năm 1988 thì Việt Nam đã tuyên truyền một cách mạnh mẽ hành động gây hấn, xâm

chiếm của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa trên cả bình diện trong nước và dư luận,

công đồng quốc tế, tạo thành một sự kiện lịch sử nổi bậc của Việt Nam và thế giới lúc

bấy giờ. Ngay từ đầu năm 1988 khi Trung Quốc gây hấn ở quần đảo Trường Sa, Bộ

Ngoại giao Việt Nam đã ra Tuyên bố ngày 20-2-1988 về việc hải quân Trung Quốc khiêu

khích trong vùng biển Việt Nam ở Trường Sa. Đặc biệt, ngay sau sự kiện ngày 14-3-

1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam cùng các cơ quan quản lý nhà nước, các hội, đoàn thể, các

đảng phái, các địa phương của Việt Nam đã lực lực phản đối hành động này, tạo thành

một phong trào mạnh mẽ nhất, khơi dậy ý chí, sự đồng lòng, đoàn kết và tinh thần yêu

nước của các tầng lớp nhân dân. Theo thống kê, từ tháng 2 đến tháng 6-1988, có ít nhất

41 bài viết, tuyên cáo, xã luận… được đăng tải trên báo Nhân Dân và Quân đội nhân dân

thể hiện rõ quan điểm Việt Nam yêu cầu Trung Quốc phải chấm dứt ngay mọi hành động

khiêu khích, xâm chiếm. Ngày 14-3, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố, nêu rõ: “Mọi

người đều biết từ tháng 1-1988 đến nay, Trung Quốc đã không ngừng cho nhiều tàu chiến

xâm nhập và khiêu khích quân sự ở các bãi đá ngầm Chữ Thập, Châu Viên và một số bãi

đá ngầm khác ở khu vực đảo Sinh Tồn trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Bất


chấp sự phản đối của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và sự lo ngại của

dư luận trên thế giới, trước hết là của các nước Đông Nam Á, hành động trắng trợn nói

trên bộc lộ rõ dã tâm của nhà cầm quyền Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của

Việt Nam, đe dọa nghiêm trọng an ninh của Việt Nam, phá hoại hòa bình ổn định và xu

thế đối thoại ở Đông Nam Á, thực hiện mưu đồ bành trướng ở Biển Đông. Nhân dân và

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vô cùng phẫn nộ và kiên quyết lên

án hành động khiêu khích quân sự của nhà cầm quyền Trung Quốc. Chính phủ Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo

Trường Sa và Hoàng Sa. Nhà cầm quyền Trung Quốc phải chấm dứt ngay các hành động

khiêu khích quân sự, rút ngay các tàu chiến của họ ra khỏi vùng biển thuộc quần đảo

Trường Sa của Việt Nam. Họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hậu quả do hành

động khiêu khích quân sự của họ gây ra”[11]. Đối với dư luận của các nước thế giới về

sự kiện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa

năm 1988, có nhiều nước, nhiều chính đảng ở nước ngoài đã ủng hộ lập trường chính

nghĩa và thiện chí hòa bình của Việt Nam; yêu cầu Trung Quốc phải chấm dứt ngay

những hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, sớm đàm phán với Việt Nam; lên

án hành động tội ác của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa; vạch rõ những tham vọng

của Trung Quốc ở Biển Đông và Trung Quốc không tự cô lập mình hơn nữa trong vấn đề

Trường Sa. Tiêu biểu như ngay trước sự kiện Gạc Ma 14-3-1988, ngày 29-2-1988, Cơ

quan Trung ương của Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia đã lên án những hành động

của hải quân Trung Quốc khiêu khích tàu thuyền và xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt

Nam tại vùng biển quần đảo Trường Sa. “Nhân dân Campuchia nghiêm khắc lên án chính

sách phiêu lưu của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với Việt Nam và đòi Trung Quốc rút

ngay tàu chiến của họ khỏi những vùng lãnh hải Việt Nam, chấm dứt ngay những hành

động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam”[12]. Hoặc ngày 8-5-1988, Thụy Điển, Ấn

Độ… kêu gọi Trung Quốc tỏ rõ thiện chí, đáp ứng những đề nghị của Việt Nam ngồi vào

bàn thương lượng nhằm đạt tới một giải pháp cho các quần đảo này[13]. Ngay trong và

sau sự kiện Gạc Ma ngày 14-3-1988, các địa phương, đoàn thể trong cả nước hướng về

Trường Sa mạnh mẽ. Lúc bấy giờ, hầu như từ đứa bé đến cụ già ai cũng nghe ngóng

thông tin về sự kiện này qua mít tinh, báo chí, loa phát thanh…; đã tham gia ủng hộ bộ

đội Trường Sa. Đặc biệt, các phóng viên báo chí (nhất là Báo Nhân Dân và Báo Quân

Đội Nhân Dân) đã trực tiếp ra Trường Sa để gặp gỡ nhân chứng, “mục sở thị” để cung

cấp cho độc giả trong nước và trên thế giới về hoạt động bảo vệ, chiến đấu, hy sinh của

các chiến sĩ ở quần đảo Trường Sa, ngõ hầu truyền tải một sự thật lịch về sự kiện này.

Như vậy, các thông tin trên cho thấy Đảng và Nhà nước Việt Nam không hề bưng bít về

sự kiện Gạc Ma năm 1988, hơn nữa còn chỉ đạo đẩy mạnh thông tin bằng các bài viết để

làm rõ ý đồ lâu dài của Trung Quốc trong việc lấn dần từng bước đi tới kiểm soát Biển

Đông. 4. Kết luận Trước các sự kiện chính trị trọng đại, nhạy cảm của đất nước, việc các

thế lực thù địch xuyên tạc, chống đối Đảng, Nhà nước không phải điều lạ. Về sự kiện

Gạc Ma ngày 14-3-1988, việc xuyên tạc lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, lãnh đạo


Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra lệnh “không được nổ

súng” và bưng bít thông tin vụ Gạc Ma ngày 14-3-1988 là một luận điệu suy diễn không

có cứ liệu lịch sử. Đặc biệt, trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, chúng ta cần tỉnh

táo phân biệt những thông tin đúng để có nhận thức và hành động đúng. Sự hy sinh cao

cả của các cán bộ, chiến sĩ Gạc Ma mãi mãi là biểu tượng về lòng yêu nước, tình đoàn kết

vượt qua gian khó, tính kỹ luật cao, ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất, dâng hiến trọn

đời vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Đảng và Nhà nước

Việt Nam luôn nêu cao quan điểm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị;

nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn

lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét