Thứ Năm, 4 tháng 7, 2024

 Phản bác những đánh giá sai lệch về Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”

Kể từ khi được công bố, Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” cung cấp những thông tin chân thực về tôn giáo, chính sách tôn giáo, thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và những ưu tiên nhằm thúc đẩy việc thụ hưởng ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.

Với vai trò quan trọng đó, Sách trắng cũng trở thành tâm điểm công kích, phê phán thiếu thiện chí của các lực lượng cực đoan nhằm phủ nhận chính sách tôn giáo và những thành tựu quan trọng về bảo đảm quyền tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong suốt thời kỳ đổi mới. Do đó, việc nhận diện và phản bác những đánh giá sai lệch về Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” là rất cần thiết, nhằm khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam về tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” được Ban Tôn giáo Chính phủ cho ra mắt bạn đọc vào tháng 12-2022, là cuốn cẩm nang hữu ích, cung cấp đầy đủ thông tin về việc thực thi và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Cuốn sách tập trung vào các nội dung: Giới thiệu chung về các tôn giáo ở Việt Nam; quan điểm của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ đổi mới, những nguyên tắc hiến định và chính sách, pháp luật hiện hành về tín ngưỡng, tôn giáo; thành tựu, thách thức và hướng ưu tiên của Việt Nam trong việc bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt thân mật Đoàn đại biểu chức sắc, chức việc, lãnh đạo các tổ chức tôn giáo 

Cuốn Sách trắng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ cung cấp đầy đủ những thông tin chân thực về tình hình tôn giáo mà còn làm rõ cơ sở chính trị, căn cứ pháp lý vững chắc của việc bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, một số tổ chức phản động, thù địch và các lực lượng cực đoan đã cố tình bóp méo, xuyên tạc và bịa đặt trắng trợn nội dung, ý nghĩa của cuốn sách nhằm tạo luồng dư luận trái chiều, gây nhiễu loạn thông tin và kích động phản ứng tiêu cực từ một số tổ chức quốc tế và các đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn trong nước. Những luận điệu sai trái, thù địch của các lực lượng chống phá được đăng tải trên các diễn đàn và trên các phương tiện truyền thông xã hội chủ yếu tập trung vào một số vấn đề sau:

Một là, trắng trợn vu cáo Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” là “bức bình phong” che đậy “các vi phạm về tôn giáo, tín ngưỡng kéo dài tại Việt Nam”(?!) - nguyên nhân khiến Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào Danh sách theo dõi đặc biệt về tôn giáo (SWL) năm 2022 và khuyến nghị đưa trở lại Danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt (CPC) năm 2023.

Như đã trở thành thông lệ, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế (USCIRF) của Hoa Kỳ hằng năm đều tự cho mình cái quyền đưa các bản báo cáo nhân quyền, tự do tôn giáo để giám sát, can thiệp và áp dụng các biện pháp chế tài đối với các nước trên thế giới nếu “vi phạm hệ giá trị, chuẩn mực về nhân quyền, phẩm giá con người” mà Hoa Kỳ tự ý và chủ quan áp đặt. Theo Đạo luật tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, những nước gần chạm ngưỡng CPC phải được đưa vào SWL để theo dõi sát sao và nếu sau một thời gian vẫn không cải thiện thì đó là căn cứ để chính thức đưa vào CPC. Các nước bị chỉ định CPC phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt, nặng nhất là cấm vận.

Những nhận định thiếu khách quan của nhiều nước phương Tây về tự do tôn giáo ở Việt Nam trong các báo cáo thường niên về tự do tôn giáo quốc tế không còn là vấn đề mới. Trong nhiều năm trở lại đây, USCIRF luôn vu cáo Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo”,... Những cáo buộc này làm sai lệch thông tin về hoạt động tôn giáo và tự do tôn giáo ở Việt Nam. Phải khẳng định rằng, nguồn thông tin mà USCIRF của Hoa Kỳ thu thập trong các bản báo cáo chủ yếu là những thông tin phiến diện, không đáng tin cậy, có được do tiếp cận với các tổ chức phản động, cá nhân chống đối, có tư tưởng hẹp hòi dân tộc, thù hận, bất mãn với chế độ. Luận điệu của các tổ chức, cá nhân đó không thể đại diện cho bất kỳ tổ chức tôn giáo nào, không vì lợi ích cộng đồng, mà mang mưu đồ, lợi ích cá nhân, do đó không có giá trị tham khảo. USCIRF đã cố tình không trích dẫn những đánh giá của chức sắc, giáo sĩ... trong các tổ chức giáo hội đã được Nhà nước Việt Nam công nhận tư cách pháp nhân, có tiếng nói đại diện cho giáo hội, cho lợi ích của đại đa số chức sắc, tín đồ trong các tôn giáo ở Việt Nam.

Rõ ràng, việc USCIRF và các lực lượng cực đoan sử dụng những phát ngôn và nhận định thiếu cơ sở để cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm tự do tôn giáo trên các diễn đàn là thiếu khách quan; càng phi lý hơn khi lấy đó là lý do để phê phán Sách trắng của Việt Nam. Bởi, ở Việt Nam, không có cái gọi là  một sự “bưng bít” “những vi phạm kéo dài”, càng không thể có “bức bình phong” nào được tạo ra, vì Việt Nam luôn sẵn sàng công bố với quốc tế bức tranh chân thực về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo với những nội dung thông tin phản ánh trung thực, súc tích và đầy sức thuyết phục của Sách trắng.

Hai là, xuyên tạc rằng, Sách trắng nhưng chưa minh bạch và vẫn thiếu tự do tôn giáo vì “chủ nghĩa tam vô”(?!).

Phải khẳng định rằng: “Chủ nghĩa tam vô” (vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo) là sự phỉ báng lịch sử, xuyên tạc lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hạ thấp uy tín của Việt Nam, lấy đó làm sự xảo biện xuyên tạc nội dung của Sách trắng.

Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần yêu Tổ quốc kết hợp với tinh thần yêu thương nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Do đó, người cộng sản không những không “vô tổ quốc”, mà họ còn xứng đáng là những người yêu nước nhất. Những người cộng sản cũng luôn coi gia đình là tế bào của xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt” .

Những người cộng sản cũng luôn thừa nhận và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, coi tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của nhân dân. Do đó, trong Cương lĩnh, chính sách và hành động thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như không tín ngưỡng, tôn giáo. Chỉ ra điểm tương đồng giữa lý tưởng của tôn giáo và lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, đó là xây dựng một xã hội tốt đẹp, giải phóng con người và mưu cầu tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Ở Việt Nam, ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cao sự tương đồng về mục đích giữa tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản. Theo đó, khác biệt giữa tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản không nhất thiết dẫn tới sự biệt lập nếu đôi bên hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau trong một khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng về cách mạng, đi theo cách mạng. Người cho rằng, đồng bào có đạo vẫn có thể đứng trong hàng ngũ của Đảng, chỉ cần họ tích cực hoạt động cách mạng, “trung thành và hăng hái làm nhiệm vụ” . Ngày nay, thực hiện lời căn dặn của Người, cũng như quán triệt chủ trương của Đảng về kết nạp đảng viên là người theo tôn giáo, nhiều tín đồ, chức sắc của các tôn giáo đã được kết nạp vào Đảng, trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Do đó, có thể khẳng định rằng, không có “chủ nghĩa tam vô” ở Việt Nam, đặc biệt là ở những đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây cũng là minh chứng cho thấy, Sách trắng hoàn toàn minh bạch khi tuyên bố công khai về tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Ba là, xuyên tạc trắng trợn rằng, Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” công bố tự do tôn giáo song nhiều “nhóm tôn giáo độc lập bị đàn áp, ngăn cấm hoạt động”(?!).

 “Các nhóm tôn giáo độc lập bị đàn áp, ngăn cấm hoạt động” được các tổ chức thiếu thiện chí nhắc đến, trên thực tế, là những tổ chức bất hợp pháp, đội lốt tôn giáo để truyền bá tư tưởng cực đoan, kích động chống phá Nhà nước Việt Nam. Các hoạt động của các tổ chức này vi phạm pháp luật của Việt Nam.

Pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật. Quyền tự do tôn giáo không thể đứng ngoài và đứng trên pháp luật. Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xuyên tạc, kích động ly khai, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo; gây rối trật tự công cộng và xâm phạm đến an ninh quốc gia. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần và nội dung về quyền tự do tôn giáo đã nêu trong các văn kiện quốc tế, như Công ước quốc tế năm 1966 về các quyền chính trị và dân sự quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hay tín ngưỡng của một người chỉ có thể bị giới hạn theo quy định của pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác” . Nội luật hóa hệ thống luật pháp quốc tế, ở mỗi quốc gia cũng đều có những quy định riêng về hoạt động tôn giáo để bảo vệ trật tự xã hội và an ninh quốc gia. Không một quốc gia nào cho phép hoạt động tôn giáo vượt ra ngoài sự quản lý của nhà nước. Pháp luật Việt Nam cũng có những quy định nghiêm cấm lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập, đoàn kết dân tộc, chống phá Nhà nước hay ngăn cản tín đồ thực hiện nghĩa vụ công dân. Điều này được phản ánh rất rõ trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo: “Nghiêm cấm các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường” .

Vì vậy, việc ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các nhóm đối tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, làm trái pháp luật Việt Nam là điều cần thiết. Đó không phải là sự đàn áp hay ngăn cấm hoạt động của các nhóm tôn giáo, mà là sự bảo đảm nguyên tắc thượng tôn pháp luật.

Bốn là, bóp méo rằng, Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” phản ánh sự áp đặt trong định hướng chính trị của chủ thể Nhà nước chứ không phản ánh sự tôn trọng niềm tin tôn giáo và bảo đảm thực hành nghi lễ tôn giáo của người dân(?!).

Chính sách tôn giáo nhất quán của Việt Nam được khẳng định trong Sách trắng là sự lựa chọn phù hợp với thực tiễn lịch sử và đáp ứng nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân có tín ngưỡng. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa “ý Đảng” và “lòng dân”.

Ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố và thực hiện chính sách “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do tín ngưỡng”. Nhờ chính sách đoàn kết dân tộc, tôn giáo, trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hàng triệu người dân Việt Nam, dù “lương” hay “giáo” đều có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập của nước nhà. Ngày 14-6-1955, trong Sắc lệnh số 234/SL, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh: “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân, không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy”. Các Hiến pháp sau này (1959, 1980, 1992, 2013) vẫn hiến định phương châm, chính sách về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam ngày càng phù hợp hơn với bối cảnh trong nước và quốc tế, đáp ứng tốt hơn nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, góp phần củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Chính sách đó được thể hiện thông qua các văn kiện chính trị của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước.

Trẻ em vui chơi ở xứ Sở Kiện (thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) 

Đảng và Nhà nước Việt Nam nhận thức rõ rằng, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cần xây dựng hệ thống pháp luật hoàn bị, bảo đảm tốt hơn nữa quyền tự do của con người, của công dân, trong đó có quyền tự do theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước tạo hành lang pháp lý cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; thừa nhận, tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tín đồ, cũng như lợi ích của các tổ chức tôn giáo; không kỳ thị, phân biệt đối xử với các tín ngưỡng, tôn giáo và người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Mọi người đều có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo. Ngay cả đối với người bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù cũng có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo(. Đồng thời, Nhà nước cũng đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân theo tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật; tôn trọng, bảo vệ trật tự xã hội và thể chế nhà nước cũng như quyền tự do của cá nhân và tổ chức khác. Các tôn giáo và người theo tôn giáo gắn bó, đồng hành với dân tộc, cùng chung tay xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu chung. Đặc biệt, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”.

Chính vì thế, cần khẳng định rõ, không có bất kỳ sự áp đặt nào trong định hướng chính trị của Nhà nước đối với chính sách tôn giáo ở Việt Nam. Rõ ràng, phải dựa trên cơ sở tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, mỗi bên nhận thức được ranh giới, nghĩa vụ, quyền hạn của chính mình thì mới có thể chung sống hòa hợp, cùng nhau thúc đẩy sự phát triển chung. Nếu không phải là một chính sách tôn giáo tiến bộ, hợp thời đại và hợp lòng dân, chắc chắn không thể có một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như ngày nay. Nội dung của Sách trắng hướng tới khẳng định, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Nhà nước ghi nhận, bảo hộ theo chiều hướng tiến bộ, tích cực. Nhà nước luôn coi trọng đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, bảo đảm các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường theo đúng quy định của pháp luật. Đây là sự thật không thể phủ nhận!

Việc xuất bản Sách trắng chính là nhằm công khai rộng rãi tới công chúng trong nước và bạn bè quốc tế về chính sách ưu tiên, chính sách bền vững của Việt Nam đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ quyết tâm thực hiện mục tiêu ngày càng bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy tốt hơn các quyền cơ bản của người dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo./.

CĐ, VS (st)


  Đối ngoại Đảng - một truyền thống quý báu

Với mưu đồ, thủ đoạn tinh vi, thâm độc, thời gian qua, các thế lực thù địch liên tục tung ra nhiều chiêu trò hòng hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và phủ nhận thành quả đối ngoại Đảng - một trụ cột quan trọng của mặt trận đối ngoại Việt Nam. Thế nhưng, tất cả những chiêu trò ấy đều bị ánh sáng sự thật xua tan, phủ nhận; càng làm cho dư luận trong và ngoài nước thêm vững tin vào vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời bày tỏ sự tán dương, cảm phục trước thành quả có dấu ấn lịch sử của công tác đối ngoại Đảng.

Không khó để nhận ra, các thành phần phản động, chống phá cách mạng luôn cố ý lấp liếm, quy chụp rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ giỏi lãnh đạo “đánh nhau”, chứ không biết gì về đối ngoại; và nếu có cũng chỉ là sự ăn may, hoặc “tô hồng” thành tích. Thực tế, đối ngoại của Đảng là một truyền thống quý báu và kết quả đối ngoại Đảng là những thành tựu hết sức to lớn, có dấu ấn lịch sử.

1. Những ngày qua, trên một số trang mạng địa chỉ ở nước ngoài đăng tải nhiều bài viết có nội dung cắt ghép, bóp méo sự thật một cách trắng trợn, hòng “minh chứng” cho những chủ ý xấu xa. Các bài viết, video này có nội dung cố tình đặt điều: Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là nguyên thủ quốc gia nên không được các nước trên thế giới tiếp đón ngoại giao bằng nghi thức trang trọng; kết quả đối ngoại Đảng chỉ là sự bịa đặt, hoặc là hệ quả tất yếu của đối ngoại Nhà nước, ngoại giao nhân dân.

Nhiều “chủ bút” lớn tiếng rêu rao: Đảng tiến hành đối ngoại cũng chẳng qua là vì lợi ích của Đảng - của một nhóm quyền lực, chứ không vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong khi, một số đối tượng chống phá giả danh khoa học hoặc đội lốt “diễn giả” hồ đồ quy kết hoạt động đối ngoại Đảng là không cần thiết, chỉ nặng hình thức.

Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì lễ đón trọng thể Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam ngày 20-6-2024

Với những danh nghĩa tự xưng là: “Luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ, nhân quyền”, “người Việt yêu nước”...; thông qua các hình thức trá hình, như: “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn”, “kiến nghị”… cho Nhà nước Việt Nam, các thế lực thù địch và thành phần bất mãn, hiềm khích cố tình đan cài nhiều nội dung sai lệch, nhằm hạ thấp, phủ nhận kết quả công tác đối ngoại Đảng. Trong khi đó, các blogger, tài khoản mạng xã hội và các website có địa chỉ ở nước ngoài chủ ý tung tin thất thiệt về những chỉ đạo đối ngoại sai lầm của Đảng trong giải quyết mối quan hệ bạn - thù, trong ứng xử với đối tác, đối tượng. Chúng “khuyên nhủ” Việt Nam nên từ bỏ chính sách “ngoại giao cây tre” vì không thể “gió chiều nào, ngả chiều ấy”; không thể chọn phe để ứng xử ngoại giao “thiếu đạo hiếu”, “thiếu nghĩa tình” với các nước láng giềng, đối tác truyền thống.

Không khó để nhận ra những thủ đoạn trên là hòng cố tình chống phá quá trình thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng ta; nhằm gây hoang mang, dao động đối với một bộ phận cán bộ, quần chúng; dễ nảy sinh các biểu hiện tư tưởng “xét lại”, “phủ nhận lịch sử”; làm thui chột động lực phấn đấu, nỗ lực cống hiến vì một nước Việt Nam đang trên đà phát triển, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các quốc gia trên thế giới. Hơn thế, các luận điệu chống phá còn hướng đến việc phá hoại, ngăn cản nỗ lực mở rộng quan hệ đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam với các nước, các chính đảng trên thế giới; khiến dư luận trong và ngoài nước nhìn nhận, đánh giá sai lệch về vị thế, vai trò, bản chất, truyền thống và sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ sự nguy hại đặc biệt đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng phải không ngừng học tập, nghiên cứu, nắm chắc tình hình; luôn đề cao cảnh giác cách mạng để có tâm thế sẵn sàng, vững vàng trong tham gia phòng ngừa, đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá bằng tinh thần, trách nhiệm cao nhất, mang lại hiệu quả cao nhất!

2. Những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch dù thâm độc, xảo quyệt, nhưng xét về bản chất, đó là những luận điệu vu khống, quy chụp, không có căn cứ và mang đậm màu sắc phản động. Đó là những tiếng nói lạc lõng, bịa đặt của những kẻ lạc lối, chắc chắn không thể phủ nhận thành quả của công tác đối ngoại Đảng trong nền ngoại giao Việt Nam.

Thực tiễn chứng minh: Ngay từ trước khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (năm 1945), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng, phát huy hiệu quả vai trò của đối ngoại Đảng nhằm phục vụ mục tiêu cao nhất lúc đó là giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình hoạt động cách mạng, vận động thành lập Đảng cho đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930), đích thân lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng đã trực tiếp tiến hành công tác đối ngoại Đảng trên nhiều phương diện, bằng nhiều hình thức linh hoạt, sáng tạo. Trên cương vị là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, các đồng chí lão thành cách mạng, các bậc tiền bối đã giải quyết tốt mối quan hệ với lãnh đạo của nhiều chính đảng, nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là với các đảng Cộng sản; thậm chí là với chính khách, chính đảng ở phương Tây và cả ở chính quốc gia đi xâm lược Việt Nam.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 1-11-1949, cơ quan chuyên trách về công tác đối ngoại của Đảng được thành lập với tên gọi Phòng Lào - Miên Trung ương (tiền thân của Ban Đối ngoại Trung ương ngày nay), trực thuộc Ban Thường vụ Trung ương. Sự kiện đó có ý nghĩa hết sức quan trọng, đánh dấu việc “định danh” một mũi giáp công mới, hết sức quan trọng trong lĩnh vực đối ngoại - đó là đối ngoại Đảng.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào Sonexay Siphandone ngày 22-4-2024 trong dịp tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN tại Hà Nội

Suốt quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đối ngoại Đảng luôn chủ động mở rộng quan hệ, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các chính đảng, các phong trào tiến bộ trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam; tạo nên mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn, kết thành sức mạnh tổng hợp, đưa các cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi cuối cùng.

Bước vào giai đoạn đổi mới đất nước, đối ngoại Đảng phát huy vai trò chủ động, góp phần phá thế cô lập, bao vây, cấm vận; vượt qua những biến cố và sóng gió của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế trên thế giới; phối hợp hiệu quả trong việc tham mưu, đề xuất đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại. Đối ngoại Đảng có nhiều đóng góp quyết định trong việc duy trì và thúc đẩy môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; tranh thủ các điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững. Đối ngoại Đảng đã tạo nguồn sức mạnh mới, tạo thế đứng vững chãi cho nền ngoại giao nước ta với ba trụ cột (đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân); bổ sung, hỗ trợ hiệu quả, cùng nhau triển khai thắng lợi đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam.

3. Xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm đề ra phương hướng và các giải pháp cụ thể liên quan đến công tác đối ngoại Đảng. Đặc biệt, ngày 18-2-2019, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW, “Về tăng cường và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại Đảng trong tình hình mới” là dấu mốc quan trọng thể hiện sự phát triển về tư duy lý luận, khẳng định vai trò quan trọng của đối ngoại Đảng. Chỉ thị nhấn mạnh, “tăng cường đối ngoại Đảng là định hướng chiến lược đối ngoại quan trọng hàng đầu” và “là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng làm công tác đối ngoại là nòng cốt”; đề ra nhiệm vụ mở rộng và đưa các mối quan hệ đối ngoại Đảng đi vào chiều sâu, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho quan hệ song phương, tranh thủ sự ủng hộ và tạo thêm sự hỗ trợ về mặt chính trị cho quan hệ nhà nước, cũng như đối ngoại nhân dân.

Tiến trình lịch sử cho thấy, công tác đối ngoại Đảng đã kế thừa, phát huy, nâng lên tầm cao mới truyền thống, bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao Việt Nam. Đó là cung cách ngoại giao đầy hào khí, giàu nhân văn, trọng lẽ phải, tôn trọng công lý và vì chính nghĩa. Đối ngoại Đảng giữ vai trò chỉ đạo, dẫn dắt nền ngoại giao nước nhà theo hướng hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước, văn hóa dân tộc, truyền thống ngoại giao Việt Nam với tinh hoa văn hóa và kinh nghiệm ngoại giao thế giới. Trong đó, luôn đề cao mục tiêu độc lập dân tộc, tinh thần hòa hiếu, hữu nghị, dùng ngoại giao để đẩy lùi xung đột, nguy cơ chiến tranh; giải quyết bất đồng bằng phương pháp hòa bình; gắn với thực tiễn sinh động, mau lẹ của thế giới, đưa Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy của thời đại.

Trong hoạt động đối ngoại Đảng, Đảng ta luôn quán triệt nhất quán, xuyên suốt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là "phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ" để biết mình, biết người, luôn làm chủ tình thế; hiểu rõ vị trí địa chiến lược của Việt Nam trong mối quan hệ giữa các nước lớn và khu vực. Đặc biệt, coi trọng việc xử lý khéo léo quan hệ với các nước; luôn "biết mình, biết người", "biết thời, biết thế" để hành xử “đủ tâm” và “đúng tầm”; thực hiện "cương nhu kết hợp", "tùy cơ ứng biến",“dĩ bất biến, ứng vạn biến”… vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc.

Đối ngoại Đảng đã góp phần xây dựng và phát triển một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Đó là: Mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Với bề dày truyền thống quý báu, công tác đối ngoại Đảng hiện nay đã có những bước tiến to lớn, đóng góp quan trọng vào những thắng lợi vẻ vang của sự nghiệp cách mạng, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Công tác đối ngoại là một điểm sáng trong toàn bộ những thành tựu chung của đất nước”, và “ngành Ngoại giao đã đóng vai trò tiên phong trong thời bình, góp phần bảo vệ an ninh, độc lập và chủ quyền đất nước”./.

CĐ, VS (st)