Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2024

Dấu ấn đối ngoại Đảng trong nền ngoại giao Việt Nam - Khẳng định “tâm” và “tầm” của Đảng

Trong hàng loạt thông tin được viện dẫn để chống phá công tác đối ngoại Đảng, thế lực thù địch, phản động hướng mũi công kích vào việc quy kết: Đảng Cộng sản Việt Nam không hề và chưa hề có tên trên “bản đồ chính trường quốc tế”. Nếu có chỉ là sự bám víu, đối ngoại theo kiểu “nói leo, ăn theo”. Thế nhưng, đây thực chất chỉ là những lời “múa môi, sáo ngữ”, cố tình bóp méo, phủ nhận sự thật.

1. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhiều lần khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những kết quả và thành tựu đạt được trong thời gian qua là sản phẩm kết tinh sự sáng tạo của quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; trong đó có đóng góp hết sức quan trọng của công tác đối ngoại Đảng. Qua đó, “thế” và “lực”, “tâm” và “tầm”, uy tín và thanh danh của Đảng, đất nước được khẳng định vững chắc trên chính trường quốc tế.

Trong bối cảnh đất nước phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thách thức, bằng ý chí, quyết tâm cao và tinh thần: "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", "Dọc ngang thông suốt", Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng “tự chỉnh đốn” để không ngừng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ trong điều kiện mới.

Trong suốt 3 nhiệm kỳ Đại hội Đảng liên tiếp (XI, XII, XIII), với việc kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, vai trò, vị thế của Đảng không ngừng được củng cố, tăng cường; góp phần tạo nên bước chuyển mới trên nhiều lĩnh vực, trong đó có công tác đối ngoại Đảng, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ghi nhận: “Càng đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng của chúng ta càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại”.

Sự ổn định bên trong là tiền đề quan trọng để Đảng đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Đảng trên trường quốc tế. Tất cả các sự kiện, ngày lễ lớn của Đảng luôn nhận được sự quan tâm theo dõi, ủng hộ của các chính đảng, tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia trên thế giới.

Sau khi Đại hội XIII của Đảng được tổ chức thành công, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận 215 điện mừng từ 105 đảng, 4 tổ chức khu vực và quốc tế, 76 tổ chức hữu nghị, 15 đoàn ngoại giao và 15 cá nhân đến từ 79 nước. Dịp kỷ niệm Ngày thành lập Đảng hằng năm luôn nhận được chuyến thăm, chúc mừng từ các chính đảng, tổ chức, bạn bè quốc tế. Đây là minh chứng sinh động cho uy tín của Đảng ta và sự cảm phục đặc biệt mà các quốc gia, chính đảng, nguyên thủ quốc gia trên thế giới dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dấu ấn đối ngoại Đảng trong nền ngoại giao Việt Nam: Bài 2: Khẳng định “tâm” và “tầm” của Đảng

Từ ngày 12 đến 13-12-2023, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao của Đảng, Nhà nước Trung Quốc đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và phu nhân. Ảnh: VŨ PHONG

Dấu ấn đối ngoại Đảng trong nền ngoại giao Việt Nam: Bài 2: Khẳng định “tâm” và “tầm” của Đảng

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 12 đến ngày 13-12-2023. Ảnh: VŨ PHONG

Thật tự hào khi tính đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia; trong đó 96 đảng Cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Đây là con số ấn tượng, riêng có mà một chính đảng cầm quyền trên thế giới thiết lập nên. Cùng với đó, từ sau Đại hội XIII của Đảng đến đầu tháng 7-2023, các hoạt động đối ngoại cấp cao đã đóng góp quan trọng vào tăng cường sự tin cậy chính trị, tạo đà thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác giữa nước ta với các đối tác, bạn bè quốc tế. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trực tiếp chủ trì, tham gia khoảng 150 cuộc tiếp xúc, điện đàm, thư và điện đối ngoại, các cuộc hội đàm trực tiếp hoặc trực tuyến, các cuộc tiếp, làm việc, dự hội nghị quốc tế với các vị lãnh đạo đảng, nhà nước, tổ chức quốc tế. Cùng với đó, nhiều hoạt động đối ngoại hết sức sôi động, có ý nghĩa trên nhiều phương diện được các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, các đồng chí đứng đầu ban Đảng, tổ chức chính trị - xã hội và lãnh đạo các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương thực hiện một cách chủ động, sáng tạo, hiệu quả.

2. Hoạt động đối ngoại Đảng đã tạo nền tảng chính trị quan trọng cho việc ổn định, mở rộng và thắt chặt quan hệ song phương giữa nước ta với các nước; đồng thời góp phần giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến an ninh và phát triển đất nước, cũng như các vấn đề nảy sinh trong quan hệ song phương. Điểm lại các hoạt động đối ngoại của đất nước từ tháng 7-2023 đến tháng 6-2024 có thể thấy, trong thời gian ngắn, lãnh đạo nhiều quốc gia, nhất là các nước có tầm ảnh hưởng trong khu vực và trên thế giới có chuyến thăm cấp nhà nước đến Việt Nam và nhận được sự đón tiếp trọng thị, chân thành, chu đáo từ các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước Việt Nam. 

Có thể kể đến như từ ngày 10 đến ngày 11-9-2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì đón Tổng thống Mỹ Joe Biden thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam. Việc hai quốc gia từng đứng ở hai bên chiến tuyến, có thể chế chính trị khác biệt (từng được cho là đối lập), cùng ra Tuyên bố chung nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện và đề ra phương hướng cho hợp tác lâu dài là sự kiện ngoại giao mang tính biệt lệ, có dấu ấn lịch sử đặc biệt quan trọng.

Dấu ấn đối ngoại Đảng trong nền ngoại giao Việt Nam: Bài 2: Khẳng định “tâm” và “tầm” của Đảng
 
Dấu ấn đối ngoại Đảng trong nền ngoại giao Việt Nam: Bài 2: Khẳng định “tâm” và “tầm” của Đảng
 Tổng thống Mỹ Joe Biden trong chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam từ ngày 10 đến 11-9-2023.
Ảnh: TRỌNG HẢI

Cũng trong năm 2023, từ ngày 12 đến 13-12-2023, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và phu nhân đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và phu nhân. Chuyến thăm lần này cùng với chuyến thăm lịch sử tới Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ ngày 30-10 đến 1-11-2022, ngay sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng, để lại dấu ấn lịch sử cho quan hệ của Đảng Cộng sản hai nước. Trả lời báo chí về kết quả chuyến thăm, đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương nhấn mạnh, chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao của Đảng, Nhà nước Trung Quốc thành công tốt đẹp, đạt được nhiều kết quả lớn, thể hiện sự coi trọng cao độ của Đảng, Nhà nước Trung Quốc và cá nhân đồng chí Tập Cận Bình đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam cũng như đối với uy tín của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. 

Và mới đây, nhận lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin đã thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam từ ngày 19 đến 20-6-2024. Đây là chuyến thăm với nhiều ý nghĩa quan trọng, là một điểm nhấn nổi bật của đối ngoại Việt Nam năm 2024. Chuyến thăm thể hiện sự coi trọng dành cho Việt Nam trong triển khai chính sách đối ngoại hướng Đông của Nga. Trong hơn hai thập kỷ lãnh đạo Liên bang Nga, đây là lần thứ năm Tổng thống Vladimir Putin thăm Việt Nam, đồng thời là một trong những chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi tái đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ thứ 5 vào tháng 3-2024.

Những chuyến đi của Tổng thống Vladimir Putin để lại dấu ấn đậm nét và đóng góp vào việc tạo dựng những nền tảng quan trọng cho sự phát triển của quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga, trong đó có việc khởi xướng, ủng hộ thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga năm 2001 và nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2012...

Dấu ấn đối ngoại Đảng trong nền ngoại giao Việt Nam: Bài 2: Khẳng định “tâm” và “tầm” của Đảng

Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam, ngày 20-6-2024, Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: NGÔ VIỆT TRUNG

Dấu ấn đối ngoại Đảng trong nền ngoại giao Việt Nam: Bài 2: Khẳng định “tâm” và “tầm” của Đảng
 Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin trong chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam. Ảnh: TRỌNG HẢI

Từ việc thực hiện đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng và dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, bao gồm 190/193 nước thành viên Liên hợp quốc. 

Trong đó, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với hơn 30 nước; bao gồm 5 nước thành viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu (G7) và tất cả thành viên ASEAN. Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 220 đối tác, hơn 70 nước đã công nhận quy chế kinh tế thị trường đối với Việt Nam. Cùng với đó, Việt Nam hiện là thành viên của hơn 70 tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và toàn cầu. Đây là những minh chứng sinh động, thuyết phục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và là tiền đề vững chắc để tiếp tục nâng tầm uy tín, vị thế của Đảng, của đất nước trên tất cả các lĩnh vực, các mối quan hệ quốc tế.

Thực tế còn cho thấy, đã có không ít các chính đảng, tổ chức, bạn bè quốc tế bày tỏ thiện chí, sự ủng hộ và mong muốn học hỏi kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, các hoạt động trao đổi lý luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn với các chính đảng qua nhiều hình thức khác nhau được tăng cường và tổ chức thực hiện ngày càng hiệu quả. Đảng ta đã phối hợp tổ chức thành công Hội thảo Lý luận lần thứ chín với Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; Trao đổi Lý luận lần thứ mười với Đảng Cộng sản Nhật Bản; Đối thoại Lý luận lần thứ bảy với Đảng Dân chủ Xã hội Đức (SPD) và Đối thoại Chính sách lần thứ ba với Đảng Cánh tả Đức… Các hội thảo trao đổi, đối thoại lý luận, chính sách có ý nghĩa quan trọng để các bên tổng kết và chia sẻ thành tựu về lý luận và thực tiễn lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước. Qua đó, Đảng ta có điều kiện tích lũy thêm kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; về xây dựng đảng; về lãnh đạo, quản lý đất nước và giải quyết các vấn đề trên tất cả các lĩnh vực...

Gần 95 năm đã trôi qua kể từ Ngày thành lập Đảng, với bản lĩnh, trí tuệ, tài năng tuyệt vời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang chèo lái sự nghiệp cách mạng nói chung, công tác đối ngoại Đảng nói riêng đạt nhiều thành tựu hết sức to lớn; là nền móng vững chắc đưa sự nghiệp cách mạng đi đến những thắng lợi vẻ vang. Đó cũng chính là bằng chứng sinh động, thuyết phục giúp bóc trần mọi luận điệu, thủ đoạn của những kẻ phản động, chống phá đang cố tình hạ bệ thành quả công tác đối ngoại của Đảng ta! 

ST.

Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình - chính sách quốc phòng đúng đắn của Việt Nam

Trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, nhận thức và thực hiện đúng đắn việc giải quyết các bất đồng, tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình của Đảng, Nhà nước ta là cơ sở quan trọng để chủ động nhận diện, kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch về chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay.

Nhận thức đúng về tranh chấp quốc tế và biện pháp giải quyết

Trong thực tiễn, mặc dù còn có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng đều có điểm thống nhất chung về tranh chấp quốc tế, đó là: Đang diễn ra sự không thống nhất, mâu thuẫn, xung đột về quan điểm pháp lý và lợi ích giữa các quốc gia có chủ quyền hoặc các chủ thể khác của pháp luật quốc tế.

Tranh chấp quốc tế có thể xảy ra trên các lĩnh vực hoạt động quốc tế, trong đó tranh chấp về chủ quyền trên đất liền, hải đảo, trên biển, trên không và trên không gian mạng là nổi cộm, dai dẳng, khó giải quyết và tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến xung đột, chiến tranh.

Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình - chính sách quốc phòng đúng đắn của Việt Nam
Đại tướng Phan Văn Giang phát biểu tại Đối thoại Shangri-La 19 tại Singapore ngày 11-6-2022.

Việc giải quyết tranh chấp quốc tế không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với duy trì hòa bình, ổn định, an ninh thế giới, mà còn góp phần thúc đẩy các quốc gia tuân thủ luật pháp quốc tế triệt để hơn. Luật pháp quốc tế đã thống nhất các nguyên tắc cơ bản khi giải quyết tranh chấp quốc tế, đó là: Bằng phương pháp hòa bình, thương lượng; không được sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; giữ nguyên hiện trạng cho đến khi đạt đến thỏa thuận cuối cùng; các bên tranh chấp phải tự kiềm chế, không tiến hành bất cứ hoạt động nào làm cho tình hình trở nên xấu đi.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị và phần tử cực đoan đưa ra nhiều ý kiến, bình luận với ý đồ xuyên tạc, âm mưu kích động chúng ta “phải có động thái mạnh mẽ, tuyên chiến quyết liệt” để chống lại các thế lực xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia, nhất là chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Nhận thức sâu sắc về vấn đề này, Đảng, Nhà nước ta đã xác định, việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình là thượng sách giữ nước của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, khó lường hiện nay.

Thượng sách giữ nước và chính sách quốc phòng đúng đắn của Việt Nam

Trong giải quyết các tranh chấp, Việt Nam nhất quán sử dụng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế - đây là chủ trương, giải pháp chiến lược, là chính sách quốc phòng hiệu quả và đã được thực tiễn kiểm nghiệm là phù hợp, đúng đắn. Điều đó thể hiện ở những khía cạnh sau.

Một là, thể hiện văn hóa giữ nước chính nghĩa, hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, có đến gần hai phần ba thời gian dân tộc Việt Nam phải đứng lên tiến hành các cuộc chiến tranh, khởi nghĩa để giành và giữ quyền độc lập, tự chủ và phát triển. Nét văn hóa nổi bật trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam là luôn nhận thức rõ rằng, mọi cuộc chiến tranh mà không đem đến hòa bình và cao hơn là không đem đến tình hữu nghị cho các dân tộc đều là cuộc chiến tranh vô nghĩa. Và không một dân tộc nào trên thế giới này lại không mong muốn có hòa bình, ổn định, độc lập, tự chủ...

Lịch sử cho thấy, biết bao công sức, xương máu của các thế hệ người Việt đã đổ xuống, thấm vào từng tấc đất trên khắp lãnh thổ Việt Nam, chính là để giữ cho nước nhà được toàn vẹn lãnh thổ, có độc lập, tự do và hòa bình. Có hòa bình rồi tiến tới xây dựng tình hữu nghị, chung sống hòa bình với các nước láng giềng, các nước khác trên thế giới, để đem lại lợi ích cho nhân dân ta, nhân dân các nước từng gây chiến với nước ta và dân tộc khác trên thế giới.

Các quốc gia yêu chuộng hòa bình xem chiến thắng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc giải phóng và bảo vệ Tổ quốc là chiến thắng chính nghĩa, là nguồn cổ vũ, khích lệ, nên họ sẵn sàng ủng hộ Việt Nam. Thực tiễn các cuộc chiến tranh giữ nước trước đây, đặc biệt là các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại Hồ Chí Minh, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ, to lớn của bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới... Do đó, chiến thắng của Việt Nam đã vượt lên một tầm cao mới, mang tầm vóc của thời đại.

Hai là, cụ thể hóa chủ trương, giải pháp chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực thực hiện mục tiêu phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, với tư duy, tầm nhìn chiến lược, Đảng ta đã kế thừa và vận dụng, phát triển sáng tạo kế sách “giữ nước từ lúc nước chưa nguy” của dân tộc thành phương thức, tư tưởng chỉ đạo chiến lược chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Vì vậy, giữ được nước mà không cần phải tiến hành chiến tranh trở thành mục tiêu cơ bản, tối thượng của chính sách quốc phòng và an ninh ở nước ta hiện nay.

Để thực hiện tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu chiến lược đó cần phải triển khai toàn diện, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp chiến lược nhằm bảo đảm cho Đảng vững, nước giàu, dân yên, quân mạnh, thêm bạn, bớt thù. Trong đó, chủ trương thúc đẩy giải quyết các tranh chấp trong quan hệ quốc tế, nhất là vấn đề biên giới, biển, đảo bằng biện pháp hòa bình là giải pháp trọng tâm, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế... giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.

Ba là, tạo cơ sở để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là xu thế khách quan và tiếp tục tiến triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế trong điều kiện hiện nay đòi hỏi mỗi quốc gia phải lấy nội lực là cơ bản, chiến lược lâu dài và là nhân tố quyết định; ngoại lực là nhân tố quan trọng, cần thiết. Hay nói cách khác, phải biết huy động sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại một cách phù hợp, hiệu quả.

Quan điểm của Nhà nước Việt Nam là hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển có mối quan hệ gắn bó hữu cơ. Hòa bình, ổn định và phát triển của một nước có tác động đến các nước láng giềng, khu vực và thế giới. Lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc cần hài hòa và tôn trọng lợi ích chính đáng, hợp pháp của các quốc gia, dân tộc khác, trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Cùng với đó, hợp tác quốc tế là xu hướng tất yếu để cùng nhau gìn giữ hòa bình, ổn định, thúc đẩy phát triển và tình hữu nghị giữa các quốc gia; không một quốc gia đơn lẻ nào, dù lớn và giàu mạnh đến đâu, có thể giải quyết được mọi vấn đề, nhất là các vấn đề toàn cầu, mà cần phải có sự hợp tác của các nước khác, cộng đồng quốc tế và người dân. Việc giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu phải có cách tiếp cận toàn cầu, đoàn kết và hợp tác quốc tế, đề cao chủ nghĩa đa phương.

Đảng, Nhà nước Việt Nam chủ trương giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng giải pháp hòa bình không chỉ là sự tôn trọng luật pháp quốc tế, đi đúng xu thế thời đại, mà còn góp phần quan trọng vào gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, lợi ích quốc gia cho các nước khác. Sự đồng thuận của nhân dân trong nước, sự đồng tình, ủng hộ, ghi nhận, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với giải pháp hòa bình Việt Nam đang thực hiện chính là cơ sở để thực hiện mục tiêu “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc” mà Đại hội XIII của Đảng xác định.

Bốn là, giải pháp tối ưu trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp hiện nay.

Trong những năm qua, Việt Nam và các nước láng giềng đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả luật pháp và thông lệ quốc tế để giải quyết các bất đồng, tranh chấp đặt ra. Quá trình giải quyết các bất đồng, tranh chấp giữa Việt Nam với các quốc gia khác, trong đó có vấn đề chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam luôn chủ trương giải quyết bất đồng, tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; thực hiện hiệu quả và đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) nhằm duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không; tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Điều đó chứng minh rõ Việt Nam không chỉ nỗ lực vận dụng sáng tạo làm phong phú thêm luật pháp quốc tế, mà còn luôn tích cực đấu tranh bảo vệ luật pháp quốc tế, nhất là khi Việt Nam kiên trì nguyên tắc “tôn trọng pháp luật quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982” và nỗ lực đưa nguyên tắc này vào các văn kiện của ASEAN, các thỏa thuận song phương như: DOC, Tuyên bố "Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông" ngày 20-7-2012; Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, ký ngày 11-10-2011 và dự thảo Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Đây là những minh chứng thực tiễn sinh động không chỉ thể hiện rõ thiện chí, cam kết, quyết tâm, mà còn thể hiện rõ tính hiệu quả của biện pháp hòa bình trong giải quyết tranh chấp quốc tế mà Nhà nước ta đã thực hiện. Sự nhất quán và những nỗ lực của Nhà nước ta đã bảo vệ vững chắc được chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, ngăn chặn, đẩy lùi xung đột và chiến tranh, giữ vững an ninh quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định để tiến hành sự nghiệp đổi mới của đất nước trong gần 4 thập niên qua đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Như vậy, có thể thấy, giải quyết các bất đồng, tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình là chủ trương chiến lược, nhất quán và là chính sách quốc phòng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với bối cảnh tình hình hiện nay và là giải pháp hiệu quả của Đảng, Nhà nước ta. Chủ trương này cần được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục quán triệt, nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc và cụ thể hóa, tổ chức thực hiện bằng những hoạt động cụ thể, thiết thực trong thời gian tới. 

Mặt khác, nhận thức và thực hiện đúng đắn việc giải quyết các bất đồng, tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình của Đảng, Nhà nước ta là cơ sở quan trọng để chủ động nhận diện, kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch về chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay./.

ST.

Phát huy lợi thế của công nghiệp văn hóa phục vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam được kỳ vọng mang lại giá trị kinh tế to lớn. Tuy nhiên, nếu chỉ theo đuổi mục tiêu kinh tế sẽ khoét sâu mâu thuẫn với chiến lược xây dựng nền văn hóa dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Bài viết bàn về vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa phải liên kết hài hòa với xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cho vấn đề chưa từng được đặt ra: Phát huy thế mạnh của công nghiệp văn hóa nhằm phục vụ đắc lực công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

“Lành mạnh” là từ khóa mà các lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhắc đến nhiều lần khi chỉ đạo định hướng phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam. Thời gian qua, không ít sản phẩm công nghiệp văn hóa vì lợi ích kinh tế mà bất chấp tất cả, tạo nên những tác phẩm tầm thường về nội dung, kệch cỡm về hình thức, phản nhân văn và văn hóa, thậm chí là xấu độc, gây ra không ít hệ lụy tiêu cực đến đời sống tinh thần của nhân dân. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải có sự lãnh đạo, quản lý, kiến tạo các ngành công nghiệp văn hóa sát sao để phát triển mà không chệch hướng; đồng thời, tận dụng thế mạnh của lĩnh vực này để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Mâu thuẫn và hóa giải

Bản chất công nghiệp văn hóa là một ngành công nghiệp sử dụng vốn văn hóa, tài năng sáng tạo, cơ sở hạ tầng và công nghệ sản xuất hiện đại để có thể sản sinh ra các sản phẩm và dịch vụ văn hóa đem lại nhiều lợi ích. Đã là sản xuất công nghiệp nghĩa là sản xuất hàng loạt dựa theo quy trình chặt chẽ tạo ra số lượng sản phẩm lớn có giá trị gia tăng kinh tế cao, phục vụ một lượng lớn khách hàng. Sản phẩm công nghiệp văn hóa ra đời đều đặt lợi ích kinh tế lên trên hết và trước hết như bao ngành công nghiệp khác.

Phát huy lợi thế của công nghiệp văn hóa phục vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Công nghiệp văn hóa là một ngành công nghiệp sử dụng vốn văn hóa, tài năng sáng tạo, cơ sở hạ tầng và công nghệ sản xuất hiện đại để có thể sản sinh ra các sản phẩm và dịch vụ văn hóa đem lại nhiều lợi ích. Ảnh: toquoc.vn

Nhà triết học Đức Theodor W. Adorno (1903- 1969) - người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “công nghiệp văn hóa” vào năm 1944, đã cảnh báo về mặt trái nếu chạy theo lợi ích thuần túy. Ông cho rằng, công nghiệp văn hóa là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, các tác phẩm văn hóa bác học sẽ bị biến thành văn hóa đại chúng; qua đó rất dễ thủ tiêu sức sáng tạo con người, chỉ còn lại là sự rập khuôn, đáp ứng thị hiếu giải trí tầm thường. Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng: Khi lợi nhuận là tất cả thì những tác động của sản phẩm công nghiệp văn hóa đến chuẩn mực đạo đức và giá trị văn hóa có thể gây ra nhiều hệ lụy. Như vậy, có thể nhìn thấy mâu thuẫn tự nhiên giữa mục tiêu tối thượng của công nghiệp văn hóa là lợi ích kinh tế với giá trị văn hóa, tầm ảnh hưởng của ngành kinh tế dịch vụ này đối với vấn đề xây dựng đời sống tinh thần con người.

Ý thức được mặt trái của công nghiệp văn hóa, các quốc gia phát triển đã sớm có những điều chỉnh bằng công cụ luật pháp, chẳng hạn như phân loại độ tuổi xem phim, không để trẻ em tiếp cận những bộ phim không phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi. Bản thân những người sáng tạo, nhà sản xuất công nghiệp văn hóa cũng rất sợ bị cộng đồng tẩy chay, gây thiệt hại doanh thu nên họ luôn cân nhắc nội dung và hình thức của sản phẩm liệu có vi phạm pháp lý và đạo lý hay không? Do vừa phải luôn hấp dẫn, thu hút công chúng, lại vừa phải tránh không bị “thổi còi”, tự thân các sản phẩm công nghiệp văn hóa phải biến đổi theo chiều hướng tiến bộ, không chỉ có hàm lượng sáng tạo cao mà còn tạo ra ý nghĩa, hình tượng, phương thức biểu đạt mới, dẫn dắt xu thế phát triển của văn hóa. Hơn thế, nhiều sản phẩm công nghiệp văn hóa đã góp phần đắc lực tuyên truyền, cổ động nâng cao tình cảm, niềm tin yêu đối với đất nước, dân tộc, giáo dục đạo đức, kích thích năng lực sáng tạo của cộng đồng. Công nghiệp văn hóa ngày nay còn kiến tạo “sức mạnh mềm” quốc gia, điển hình nhất là “làn sóng Hàn Quốc” (Hallyu - Hàn lưu).

Các quốc gia trên thế giới đều xác định công nghiệp văn hóa là lĩnh vực ưu tiên trong chiến lược phát triển. Đặc biệt, trong bối cảnh đòi hỏi phát triển bền vững, không gây ô nhiễm môi trường, vai trò của công nghiệp văn hóa càng trở nên nổi bật bởi có đóng góp cao vào GDP, tạo ra số lượng việc làm lớn và ổn định, thực sự là “bệ đỡ” vượt qua khủng hoảng chính trị, năng lượng, dịch bệnh... Số liệu được công bố trong nhiều năm gần đây cho thấy: Các quốc gia có nền văn hóa ảnh hưởng nhất toàn cầu đều là những quốc gia phát triển, đều có nền công nghiệp văn hóa đóng góp ít nhất 5% GDP và mang đến hàng triệu việc làm. Như vậy, có thể xác định, công nghiệp văn hóa có vị trí rất quan trọng, là yếu tố hữu hình để nhận diện văn hóa của một quốc gia phát triển.

Nắm bắt được xu thế chung của thế giới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, đã xác định “phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa” là một trong sáu nhiệm vụ cần thực hiện. Cụ thể hóa chủ trương chiến lược của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 8-9-2016, phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, xác định các ngành cụ thể gồm: Quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; truyền hình và phát thanh; du lịch văn hóa.

Nhờ chính sách đó, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam có tốc độ phát triển ấn tượng, thể hiện qua con số đóng góp 3,61% GDP vào năm 2018, hoàn thành sớm mục tiêu 3% vào năm 2020 mà Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đề ra. Điều quan trọng hơn, các ngành công nghiệp sẽ góp phần kiến tạo diện mạo văn hóa Việt Nam tương lai. Đó là một nền văn hóa do Đảng lãnh đạo, có khả năng tự chủ, đủ sức đề kháng trước những “làn sóng” ngoại lai, lan tỏa giá trị quốc gia - dân tộc vượt ra khỏi biên giới, có giá trị ngang hàng với các lĩnh vực khác trong lòng quốc gia phát triển có thu nhập cao.

Hiểm họa từ phát triển thiếu lành mạnh

Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị văn hóa toàn quốc (năm 2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu “khẩn trương phát triển các ngành công nghiệp văn hóa” nhưng phải đảm bảo “xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh”. Yếu tố “lành mạnh” được Thủ tướng Phạm Minh Chính nhắc lại trong Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam (năm 2023) với yêu cầu “các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa phải đảm bảo đáp ứng được các yếu tố “Sáng tạo - Bản sắc - Độc đáo - Chuyên nghiệp - Lành mạnh - Cạnh tranh - Bền vững”.

Sở dĩ yếu tố “lành mạnh” được lãnh đạo Đảng, Nhà nước lưu tâm bởi thực tế một số sản phẩm công nghiệp văn hóa có biểu hiện phát triển lệch lạc đáng lo ngại. Đó là những sản phẩm tìm tòi thể nghiệm cực đoan, lai căng, đi vào “tăm tối”, “hũ nút”; khai thác “phần tối”, “góc khuất” con người không phù hợp tính nhân văn phổ quát, với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam; cố tình vi phạm pháp lý và đạo lý để “nổi tiếng kiểu đốt đền”, thu về nhiều lợi nhuận... Cá biệt một số sản phẩm công nghiệp văn hóa còn ẩn chứa quan điểm sai trái; hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng, “giải thiêng lịch sử”; bịa đặt, vu cáo các bậc tiền bối và lãnh đạo cách mạng; thổi phồng mặt trái của xã hội và khuyết điểm của Đảng, Nhà nước... Tất cả xuất phát từ lòng hám lợi danh, cực đoan, thiếu tỉnh táo suy xét, đề cao cái tôi sáng tạo của một bộ phận văn nghệ sĩ, nhà sản xuất sản phẩm công nghiệp văn hóa. Căn nguyên là họ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bản lĩnh chính trị kém, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và không loại trừ một bộ phận đã thoái hóa, biến chất, bước chân vào hàng ngũ những kẻ phản động, lợi dụng văn hóa, văn nghệ chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Thật đáng lo ngại nếu sản phẩm công nghiệp văn hóa thiếu lành mạnh tràn ngập thị trường văn hóa. Nó sẽ “ru ngủ”, “đầu độc” người dân, nhất là thanh niên, khiến một bộ phận người dân sa vào lối sống hưởng lạc, thiếu rèn luyện, lao động, xa rời lý tưởng chính trị - xã hội nhân văn, phai nhạt các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc… Nếu điều đó xảy ra, công nghiệp văn hóa sẽ tác động tiêu cực đến mục tiêu, đường lối của Đảng ta là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người.

Tuy các sản phẩm công nghiệp văn hóa thiếu lành mạnh chưa xuất hiện nhiều, nhưng vẫn có thể tạo ra hệ lụy tiêu cực khác. Đó là làm nảy sinh tâm lý không muốn nghiên cứu, ngại làm, sợ sai, sợ khuyết điểm của các cơ quan quản lý, tham mưu, tư vấn trong lĩnh vực văn hóa từ Trung ương đến địa phương. Khảo sát 123 cán bộ trong nhóm đối tượng này do Báo Quân đội nhân dân thực hiện năm 2023 cho thấy: 19% cán bộ chưa bao giờ tìm hiểu về công nghiệp văn hóa; 54,8% chỉ tìm hiểu khi có yêu cầu; 45,2% ít tham dự các hoạt động công nghiệp văn hóa; và chỉ có 21,7% cán bộ được giao nhiệm vụ tổng hợp hằng năm về công nghiệp văn hóa… Đây là một trong những lực cản khiến các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam chưa bứt phá, chuyên nghiệp để trở thành mũi nhọn của nền kinh tế. Thực sự đáng lo ngại khi cơ quan chức năng chưa quán triệt nghiêm túc, đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng là khẩn trương phát triển công nghiệp văn hóa. Cơ quan chức năng đã chậm cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng thành luật, cơ chế, chính sách liên quan đến tự do sáng tạo bảo đảm sự minh bạch. Trong vấn đề quản lý các ngành công nghiệp văn hóa, hiện đang thiếu cơ chế, tổ chức điều phối tập trung mà phân tán ra nhiều bộ, ngành quản lý; thiếu cơ chế lãnh đạo, quản lý khoa học để bảo đảm được định hướng chính trị; chưa khắc phục những hiện tượng mất dân chủ đối với các hoạt động công nghiệp văn hóa.  

Việc cấp thiết, cần phải làm ngay là xử lý mâu thuẫn, để công nghiệp văn hóa ở Việt Nam phát triển đúng hướng, lành mạnh, góp phần tích cực vào công cuộc chấn hưng nền văn hóa nước nhà và thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển.

Lấy cái đẹp dẹp cái xấu

Trên thực tế, nếu đối tượng phản động lợi dụng sản phẩm công nghiệp văn hóa để chống phá, chúng ta có thể nhận diện và sẽ đấu tranh không khoan nhượng. Tuy nhiên nếu là một số văn nghệ sĩ hám lợi danh, cực đoan trong sáng tạo thì lại cần cách thức xử lý khôn khéo, hợp tình, hợp lý. Quan trọng nhất là không vội vàng quy chụp mà phải tìm hiểu trên cơ sở hiểu đúng vấn đề, xác minh, làm rõ đâu là hiện tượng, đâu là bản chất. Cốt yếu là không để những người không phải là phản động trở nên bất mãn, đứng sang hàng ngũ đối lập; không để các thế lực thù địch có cớ rêu rao chúng ta hạn chế tự do sáng tạo.

Muốn như vậy, chúng ta cần quản lý công nghiệp văn hóa thông qua luật định, càng cụ thể, rõ ràng, minh bạch càng tốt; tạo điều kiện cho công dân được phép làm những điều pháp luật không cấm, còn cơ quan Nhà nước chỉ làm những điều luật pháp cho phép. Việc quản lý nhờ có luật sẽ rõ ràng, nhất quán, tránh gây khó cho những người sáng tạo trong việc biểu đạt. Người sáng tạo sẽ biết đâu là “vùng cấm” không nên bước vào hay cố tình “đi dây”, tránh làm ảnh hưởng quyền lợi cộng đồng, không xâm phạm lợi ích của người khác. Sự nghiêm minh gắn với chế tài xử lý đủ sức răn đe của luật pháp sẽ tạo điều kiện tối đa cho mọi sáng tạo, mọi tiềm năng tài năng của con người được thể hiện trong khuôn khổ lành mạnh.

Công nghiệp văn hóa rất cần thể chế, chính sách kiến tạo để phát triển. Một loạt vấn đề như: Ưu đãi về thuế, phí, tài trợ và lập quỹ hỗ trợ, đào tạo nhân lực chất lượng, quy định hợp tác công - tư… cần được khẩn trương nghiên cứu, ban hành và thực hiện. Chỉ khi đó công nghiệp văn hóa mới đủ động lực phát triển, đáp ứng được nhu cầu trong nước, có sức ảnh hưởng ra khu vực, xuất khẩu sản phẩm hòa vào thị trường văn hóa toàn cầu. Đây cũng là lúc chúng ta có thể phát huy thế mạnh của công nghiệp văn hóa trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thực chất bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ niềm tin của nhân dân vào Đảng; bảo vệ đường lối đổi mới; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; khẳng định thành quả cách mạng… Trong các ngành công nghiệp văn hóa có một số lĩnh vực tiềm năng mang lại hiệu quả cao trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng như: Điện ảnh; xuất bản; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; truyền hình và phát thanh. Đây là những sản phẩm thiết yếu và cơ bản được công chúng trong và ngoài nước yêu thích, có độ “phủ sóng” cao, sức lan tỏa rộng khắp. Nội dung sản phẩm rất phong phú, liên quan mật thiết đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng như: Câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp các lãnh tụ của Đảng; những tấm gương vì dân, vì nước của cán bộ, đảng viên; các câu chuyện về thành tựu đổi mới, đời sống nhân dân đi lên dưới sự lãnh đạo của Đảng; công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng…

Nhìn thẳng vào sự thật, việc đầu tư lâu nay cho các sản phẩm văn hóa để phục vụ nhiệm vụ chính trị, trong đó có bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chưa thực sự hiệu quả. Vì các sản phẩm này tuyên truyền, cổ động một chiều, thường là khô cứng, áp đặt. Các sản phẩm này chỉ phù hợp với đối tượng đảng viên, quần chúng trong cơ quan công quyền, hệ thống chính trị; trong khi đông đảo công chúng lại thường chỉ quan tâm đến sản phẩm hấp dẫn về nội dung và hình thức thể hiện.

Muốn thay đổi nhận thức con người trước hết phải chinh phục được trái tim của họ. Tính nghệ thuật trong các sản phẩm văn hóa là điều cần chú ý nâng cao. Lấy ví dụ, điện ảnh Mỹ thường xuyên tập trung làm phim về thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) là bởi lẽ Chính phủ và quân đội Mỹ khi đó thuộc về bên chính nghĩa chống lại “trục phát xít”. Hollywood đã dựng lên hình tượng lính Mỹ anh hùng, dũng cảm hy sinh để cứu đồng đội, dân thường trong chiến đấu nhưng cũng không kém phần lãng mạn, chung thủy trong tình yêu. Doanh thu của các bộ phim đều thuộc hàng “bom tấn”, lại được đánh giá cao về nghệ thuật. Điều quan trọng là họ tuyên truyền được tình yêu quê hương, đất nước cho người dân Mỹ; giới thiệu một cách “quyến rũ” các “giá trị Mỹ” cho công chúng trên thế giới. Nghệ thuật cao sâu ở đây chính là tuyên truyền mà như không tuyên truyền; thông điệp chính trị ẩn rất sâu trong các câu chuyện và hình tượng nghệ thuật. Với việc đã hoàn thiện quy trình, quy chuẩn về sản xuất, phân phối, quảng cáo chuyên nghiệp từ rất lâu nên các bộ phim lịch sử, chiến tranh của Mỹ ra đời đạt hiệu quả nhiều mặt, như “bắn một mũi tên trúng nhiều đích”.

Kinh nghiệm của các cường quốc công nghiệp văn hóa cho thấy: Sản phẩm văn hóa phục vụ nhiệm vụ chính trị, đề tài về Lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng, phục vụ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không “khó, khô, khổ” như nhiều người lầm tưởng; hoàn toàn có thể đạt được giá trị nghệ thuật cao, sức phổ biến rộng, mang về doanh thu lớn. Thành công về thương mại, sức hút với công chúng của phim truyện “Đào, phở và piano”, phim truyền hình “Cuộc chiến không giới tuyến”, những ca khúc “Lá cờ”, “Bay qua Biển Đông”… đã chứng minh cho luận điểm trên. Các sản phẩm văn hóa để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được thực hiện là do Nhà nước đặt hàng. “Liệu cơm gắp mắm” cũng sẽ có sản phẩm, nhưng không có kinh phí để quảng bá, tuyên truyền, thậm chí chưa có quy định cụ thể liên quan đến phát hành. Điều này khiến các sản phẩm văn hóa bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lâu nay không thể được gọi là sản phẩm công nghiệp văn hóa; còn chưa đạt hiệu quả chính trị, tác động xã hội như mong muốn.

Trước hết cần loại bỏ tư duy làm sản phẩm văn hóa bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chỉ phục vụ nội bộ, làm theo yêu cầu đặt hàng. Không nên chạy theo số lượng bằng cách phân bổ nguồn vốn dàn trải mà nên tập trung làm sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao, thà ít mà tinh. Điều đó không có nghĩa là sử dụng kinh phí từ ngân sách để kinh doanh sản phẩm văn hóa, vì đầu tư nhiều mà không thu về thì rất khó giải trình với nhân dân. Và về bản chất, Đảng, Nhà nước cũng không có nhiệm vụ kinh doanh sản phẩm văn hóa. Như vậy, chỉ có con đường hợp tác công - tư. Nhà nước đóng vai trò định hướng, thẩm định nội dung tư tưởng, góp một phần kinh phí, đảm bảo các thủ tục theo đúng quy định; phần lớn kinh phí thực hiện và thực hiện như thế nào, phát hành ra sao để khối tư nhân “xử lý”. Muốn như vậy, Nhà nước cần khuyến khích, động viên, có cơ chế ưu đãi, thu hút đầu tư từ nguồn lực xã hội hóa, thu hút các đơn vị sáng tạo chuyên nghiệp vào cuộc. Khi đó, chúng ta mới hy vọng có những sản phẩm công nghiệp văn hóa đúng nghĩa để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiệu quả, có chiều sâu.

Các ngành công nghiệp văn hóa có triển vọng lớn, phát triển nhanh, mang lại hiệu quả cao là động lực mới cho sự phát triển văn hóa phù hợp với xu thế thời đại. Nhận thức chung về vai trò, vị trí của công nghiệp văn hóa đã thống nhất, điều còn lại là khẩn trương phát triển, đặc biệt là nghiên cứu cách làm phù hợp, hiệu quả để công nghiệp văn hóa phục vụ đắc lực công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ ta một cách thông minh, tinh tế, sâu sắc, hiệu quả./.

ST.