Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2024

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Qua gần 40 năm xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, với việc xác định đúng đắn vai trò của các thành phần kinh tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, ngày càng thể hiện vị trí quan trọng trên bản đồ kinh tế thế giới. Từ việc luận giải tính đúng đắn, hợp lý trong thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), cần đánh giá, so sánh giữa mục tiêu, kỳ vọng và thực tế thu hút FDI tại Việt Nam để có giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút nguồn vốn này, bảo đảm thực hiện thành công những nhiệm vụ kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. 

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với đại diện các tổ chức, danh nghiệp tham dự Hội nghị Thủ tướng Chính phủ gặp mặt cộng đồng doanh nghiệp FDI và Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam thường niên với chủ đề “Doanh nghiệp FDI tiên phong thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh”_Ảnh: TTXVN

Cơ sở lý luận của việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Xuất phát từ tình hình thực tiễn nước Nga sau khi giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Mười, V.I. Lê-nin không chỉ chỉ ra những vấn đề kinh tế chính trị của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà còn điểm lại những thành phần trong nền kinh tế nước Nga. Trong các thành phần kinh tế nông dân kiểu gia trưởng; sản xuất hàng hóa nhỏ; chủ nghĩa tư bản tư nhân; chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã hội, V.I. Lê-nin đặc biệt nhấn mạnh đến kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi đây vẫn là một bước tiến to lớn dù cho chúng ta phải trả một khoản lớn hơn hiện nay, vì trả “học phí” là một việc đáng giá, vì cái đó có ích cho công nhân... Để trả lời cho câu hỏi mời tư bản vào có nguy hiểm không, V.I. Lê-nin đã khẳng định:

Thứ nhất, thông qua chế độ tô nhượng, chính quyền nhà nước Xô-viết phát triển lực lượng sản xuất, học tập khoa học - kỹ thuật hiện đại, cách thức quản lý kinh tế hiệu quả của chủ nghĩa tư bản hay các chuyên gia tư sản. Tô nhượng, theo V.I. Lê-nin, là một loại hợp đồng giữa nhà nước và nhà tư bản, là một loại hợp đồng cho thuê mà ở đó nhà tư bản đi thuê tài sản của nhà nước (nhà tư bản ở đây được xác định ở cả hai đối tượng là nhà tư bản trong nước và nước ngoài). Trong liên minh giữa nhà nước vô sản và các nhà tư bản về kinh tế, nhà tư bản kinh doanh theo phương thức tư bản để lấy lợi nhuận, còn chính quyền Xô-viết không chỉ có năng suất lao động xã hội tăng lên, lực lượng sản xuất phát triển, mà còn thu được phần tô (thuế), mà chủ tư bản phải trả do thuê những tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Thông qua hình thức tô nhượng, nhà nước vô sản có thể nhìn thấy được những mặt hạn chế của hợp đồng liên kết này, song nhà nước vô sản sẽ có những điều kiện để phát triển kinh tế cũng như củng cố chính trị. Để có chủ nghĩa xã hội, không thể thiếu kỹ thuật đại tư bản chủ nghĩa được xây dựng trên những phát minh, sáng chế mới nhất của khoa học hiện đại. Do đó, với nền kinh tế còn lạc hậu, chưa phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì việc học tập các chuyên gia tư sản cách thức làm kinh tế, khoa học - kỹ thuật hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động là cần thiết. Cách học tập hiệu quả và thu được kết quả ngay lập tức là liên kết với các nhà tư bản, khuyến khích tư bản trong nước và mời tư bản nước ngoài đến đầu tư trên chính mảnh đất của nhà nước vô sản.

Thứ hai, chủ nghĩa tư bản nhà nước là sự chuẩn bị những mảnh ghép cho một quan hệ sản xuất mới - quan hệ sản xuất của xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong luận điểm ở trên, V.I. Lê-nin đã chỉ ra sự cần thiết phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước với tư cách là một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ. Còn về mặt quan hệ sản xuất, chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng không nguy hiểm đối với chính quyền nhà nước vô sản. Bởi chủ nghĩa tư bản nhà nước hay sự liên kết giữa nhà nước vô sản và nhà tư bản là một biện pháp, công cụ để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Sự liên kết này không làm ảnh hưởng đến chế độ chính trị, vì chính quyền nằm trong tay công nhân và nông dân, vì nhà tư bản không trở thành người sở hữu, quyền sở hữu vẫn là của nhà nước. Để bảo đảm chủ nghĩa tư bản nhà nước trở thành một bước đệm trong xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, thì chính quyền vô sản không thể không thực hiện kiểm kê và kiểm soát toàn dân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm. Điều đó có nghĩa, sự kết hợp giữa nhà nước vô sản và chủ tư bản như trường hợp hợp đồng tô nhượng được đặt trong sự quản lý của nhà nước và giám sát của giai cấp công nhân, nông dân - những người sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Như vậy, quá trình phân phối cũng sẽ được kiểm soát theo đúng hợp đồng tô nhượng được ký kết. Hay quan hệ sản xuất của nền kinh tế được đi theo đúng hướng để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Vận dụng lý luận của V.I. Lê-nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước để xem xét những kỳ vọng và thực trạng khi thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Những luận điểm về phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước của V.I. Lê-nin vẫn còn nguyên giá trị khoa học đến ngày nay. Đặc biệt, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam - một nước bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều hạn chế, khó khăn khi ở một trình độ kinh tế chưa cao thì sự mời gọi, thu hút các chuyên gia tư sản, nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài càng có ý nghĩa quan trọng. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa trở thành một xu hướng, một tất yếu khách quan trong phát triển nền sản xuất hàng hóa tại mỗi quốc gia. Sau gần 40 năm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, xu hướng thu hút FDI tại Việt Nam đã có những thay đổi, chuyển biến theo hướng tích cực, bảo đảm thu hút FDI gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, song không thu hút FDI bằng mọi giá. Cùng với lựa chọn, thu hút vốn FDI với khoa học - công nghệ hiện đại, Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20-8-2019, của Bộ Chính trị, “Về định hướng, hoàn thiện thể chế, chính sách nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030” chỉ rõ, chủ động thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu. Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 1658/QĐ-TTg, ngày 1-10-2021, “Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050”, nhằm định hướng thu hút “FDI xanh” tại Việt Nam trong thời gian tới. Do đó, khi thu hút nguồn vốn FDI, Việt Nam kỳ vọng không chỉ phát triển lực lượng sản xuất, mà còn bảo đảm quan hệ sản xuất phù hợp trình độ của lực lượng sản xuất, tích lũy những tiền đề cần thiết để tiến lên chủ nghĩa xã hội.         

Mục tiêu, kỳ vọng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Thứ nhất, phát triển lực lượng sản xuất. Kỳ vọng thu hút FDI để thúc đẩy quá trình hiện đại hóa lực lượng sản xuất thể hiện ở việc bảo đảm các nguồn thu từ thuế của doanh nghiệp FDI; học tập, tiếp thu được các giá trị tri thức; giải quyết vấn đề lao động, việc làm; phát triển hàng hóa. Cụ thể:

Về thuế, V.I.Lê-nin nhấn mạnh, tô nhượng như một loại hợp đồng ký kết, ở đó, nhà tư bản thuê lại các tài sản của nhà nước và trả tiền cho việc thuê lại các tài sản đó. Doanh nghiệp FDI tại một quốc gia sẽ đóng góp vào ngân sách quốc gia đó các khoản thuê tư liệu sản xuất, như đất đai, tiền thuế theo quy định pháp luật thuế. Với vị trí là mắt xích ngày càng quan trọng hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, khu vực và độ mở thương mại lớn, Việt Nam có lợi thế trong thu hút nguồn vốn FDI.

Về lao động, việc làm, cùng với thuế, thu hút FDI cũng là mục tiêu để giúp Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung giải quyết vấn đề lao động, việc làm. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp được các nhà tư bản nước ngoài mang đến nước khác thường phụ thuộc vào nước nhận tư bản ở hai yếu tố: đất đai và lao động. Doanh nghiệp FDI càng phát triển, quy mô lớn thì càng tạo ra nhiều việc làm tại nước mà họ đầu tư.

Về các giá trị tri thức, không chỉ đóng góp cho ngân sách quốc gia tiền thuế, thuê đất và các nghĩa vụ tài chính khác, mà doanh nghiệp FDI còn được kỳ vọng sẽ mang đến khoa học - công nghệ hiện đại. Với nền đại công nghiệp đã phát triển và dần bước sang thời kỳ hậu công nghiệp, chuyên gia tư sản nước ngoài thường trả lời cho câu hỏi “sản xuất như thế nào” bằng khoa học -  công nghệ hiện đại. Do đó, với việc cho thuê tư liệu sản xuất, “quan sát” những chuyên gia tư sản nước ngoài này tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý trên chính quốc gia mình, những nước thu hút FDI như Việt Nam kỳ vọng không chỉ tiếp cận, mà còn dần làm chủ khoa học -  công nghệ, quay lại cải tiến năng suất lao động của chính mình, gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế, tiến đến giảm thiểu phụ thuộc vào sự hiện diện của doanh nghiệp FDI.

Về hàng hóa, thu hút FDI trong giai đoạn hiện nay được kỳ vọng sẽ góp phần xây dựng một thị trường với nhiều hàng hóa đa dạng, phong phú hơn và cao hơn nữa là nền sản xuất trong nước sẽ phát triển khi trở thành nơi cung cấp những sản phẩm hỗ trợ cho ngành công nghiệp mà doanh nghiệp FDI mang tới.

Thứ hai, xây dựng quan hệ sản xuất. V.I. Lê-nin nhiều lần đề cập đến những đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó chủ nghĩa tư bản là mảnh ghép không thể tránh khỏi, là sản vật tự nhiên của nền tiểu sản xuất và trao đổi. Do đó, những quan hệ sản xuất chủ nghĩa tư bản mặc dù không giữ địa vị thống trị, nhưng cũng không thể ngay lập tức mất đi, trái lại, nó còn là kiểu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất ở mức thấp, trung bình.

Chúng ta kỳ vọng học hỏi từ chuyên gia nước ngoài cách thức tổ chức, quản lý, phân phối kết quả lao động phù hợp để khơi dậy sự sáng tạo và động lực làm việc của người lao động. Thông qua cách họ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ phát minh, sáng chế, thu hút người lao động sản xuất hàng hóa với giá trị cá biệt thấp hơn nhiều so với giá trị chung của toàn xã hội, những nhà quản lý nhà nước, chủ thể kinh tế tại các nước đang phát triển có thể học tập những cách thức sáng tạo ấy trên nền tảng mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, tôn trọng sở hữu tư nhân (trong khi sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về sở hữu nhà nước) là một bước tạm thời và cần thiết để các nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như Việt Nam tận dụng được sức mạnh của thời đại, tham gia hội nhập quốc tế sâu rộng, tích lũy tiền đề vật chất cho xã hội xã hội chủ nghĩa.

Kiểm tra thấu kính thành phẩm tại Công ty TNHH Nghiên cứu Kỹ thuật R Việt Nam (vốn đầu tư của Nhật Bản), tỉnh Hòa Bình_Ảnh: TTXVN

Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam hiện nay

Những kỳ vọng khi đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư FDI vào nước ta không chỉ xuất phát từ cơ sở lý luận giàu giá trị khoa học của V.I. Lê-nin, mà còn từ thực tiễn gần 40 năm đổi mới của Việt Nam. Bên cạnh kết quả đạt được, giữa kỳ vọng và thực tế thu hút FDI của nước ta cũng còn những khoảng cách và vấn đề đặt ra.

Thứ nhất, tình trạng chuyển giá, trốn thuế từ doanh nghiệp FDI là vấn đề lớn của các nước đang phát triển, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Giai đoạn 2012 - 2022, tỷ lệ doanh nghiệp FDI báo lỗ tương đối cao, thời điểm trước đại dịch COVID-19, tỷ lệ doanh nghiệp báo lỗ cao nhất là năm 2017 với 37,91%, năm 2021 là 47,09%, năm 2022 là 56%. Doanh nghiệp FDI báo lỗ làm giảm nguồn thu ngân sách nhà nước, doanh nghiệp FDI “lỗ giả lãi thật” làm thất thu thuế, thất thu ngân sách nhà nước. Bằng các hoạt động mua nguyên liệu, công nghệ, thương hiệu từ công ty mẹ (đối với công ty đa quốc gia) với giá cao, chi phí sản xuất hằng năm của doanh nghiệp FDI tại nước ta bị đẩy lên cao khiến các doanh nghiệp này luôn trong tình trạng thua lỗ. Hoặc thông qua hoạt động mở thêm cơ sở, chi nhánh ở nhiều địa phương để hưởng nguồn lợi từ thuế (trước khi Luật Quản lý Thuế năm 2019 có hiệu lực) cũng là hình thức né tránh nghĩa vụ thuế của một số doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. Như vậy, việc thu tô nhượng, thu thuế từ các nhà tư bản để phát triển kinh tế đất nước trong giai đoạn nền kinh tế ở trình độ chưa cao của Việt Nam dường như chưa đạt được như kỳ vọng.

Thứ hai, việc doanh nghiệp FDI sử dụng chủ yếu là người lao động có trình độ thấp đặt ra nhiều vấn đề kinh tế, xã hội cho Việt Nam trong tương lai gần. Với quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, trình độ khoa học - công nghệ lạc hậu,  chi phí sản xuất của nền kinh tế Việt Nam cao, tuy nhiên lại có sức hút nguồn vốn FDI lớn so với các nước trong khu vực do có nguồn lao động trình độ thấp, giá rẻ. Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở nước ta (từ đào tạo nghề trở lên) chỉ đạt 26,1%. Trong cơ cấu phân bố doanh nghiệp FDI, những ngành chiếm tỷ trọng lớn là các ngành may mặc, giày da, chế biến nhựa, cao-su... đều thâm dụng lao động, đặc biệt là người lao động có trình độ thấp. Những người lao động này khó có thể sử dụng được chuyên môn, kỹ thuật nếu không tiếp tục lao động tại doanh nghiệp do tính chất chuyên môn hóa và đặc thù trong mỗi dây chuyền sản xuất. Như vậy, trình độ của người lao động trong các khu vực FDI cơ bản không có sự thay đổi, hay được nâng cao. Bên cạnh đó, mặc dù khu vực FDI góp phần không nhỏ trong nâng cao thu nhập cho người lao động. Song do năng suất lao động Việt Nam tương đối thấp, nên mức tiền lương được doanh nghiệp FDI trả cho người lao động Việt Nam cũng không cao.

Mặt khác, với áp lực, cường độ lao động lớn, người lao động tại khu chế xuất, khu công nghiệp ở độ tuổi từ 35 đến 40 tuổi chưa qua đào tạo, không có hoặc có ít tư liệu sản xuất sẽ trở thành vấn đề kinh tế, xã hội của Việt Nam khi không còn đáp ứng được yêu cầu về sức khỏe lao động của doanh nghiệp FDI. Giải quyết việc làm cho lực lượng lao động này đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ làm cho nhiều ngành, nghề thủ công mất đi, người lao động cần có trình độ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc sử dụng, vận hành các máy móc kỹ thuật. 

Thứ ba, tiếp thu, học hỏi khoa học - công nghệ của doanh nghiệp FDI hay chuyên gia tư sản chưa mang lại kết quả như kỳ vọng. Sau hơn 30 năm kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực, khoa học - công nghệ mà các doanh nghiệp, chủ thể kinh tế Việt Nam tiếp thu, cải biến và sáng tạo từ doanh nghiệp FDI nhìn chung chưa tạo được cú huých, thúc đẩy sự phát triển khoa học - công nghệ nói riêng, kinh tế Việt Nam nói chung. Điều này một phần do doanh nghiệp FDI tại Việt Nam chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ theo cả tiêu chí vốn, lao động và doanh thu, do đó công nghệ, kỹ thuật của các doanh nghiệp này cũng chỉ đạt ở mức cao hơn so với trình độ công nghệ của Việt Nam. Mặt khác, doanh nghiệp FDI tại Việt Nam chủ yếu đầu tư vào những lĩnh vực thâm dụng lao động, lĩnh vực sử dụng máy móc hiện đại lại không phải là yếu tố được chú trọng hàng đầu. Và nếu doanh nghiệp FDI có công nghệ hiện đại thì những ràng buộc để họ chuyển giao công nghệ cũng tương đối khó khăn vì liên quan đến bản quyền, ký kết hợp đồng đầu tư...

Thứ tư, chúng ta kỳ vọng vào việc cung cấp các hàng hóa phụ trợ cho doanh nghiệp FDI của doanh nghiệp trong nước và thị trường hàng hóa đa dạng, phong phú hơn. Xét về khía cạnh hàng hóa phụ trợ, năm 2022 là năm mà số lượng doanh nghiệp FDI sử dụng hàng hóa dịch vụ đầu vào cung ứng bởi doanh nghiệp khu vực tư nhân Việt Nam cao nhất từ năm 2012 cũng mới chỉ đạt 63,3%. Trong 63,3% doanh nghiệp này, việc sử dụng hàng hóa đầu vào cũng vẫn chủ yếu từ công ty mẹ, tỷ lệ hàng hóa đầu vào của Việt Nam không lớn trong tổng sản lượng hàng hóa đầu vào của các doanh nghiệp FDI này.

Thứ năm, trong quan hệ sản xuất, bên cạnh việc học tập những phương thức, kỹ thuật quản lý tổ chức, nhân lực của doanh nghiệp FDI, những mặt trái trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng đang dần tác động đến tổ chức, quản lý trong doanh nghiệp khu vực tư nhân Việt Nam, đặc biệt là trong khâu phân phối. Doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu tư bản sang Việt Nam, mang theo quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, với giá trị thặng dư thuộc về giới chủ. Quan hệ sản xuất này tuy không trở thành quan hệ sản xuất thống trị của nền kinh tế nước ta, song thực trạng phân phối giá trị thặng dư, kết quả lao động trong doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp khu vực tư nhân Việt Nam đặt ra các vấn đề, như tình trạng bóc lột, bất bình đẳng xã hội... Đây cũng chính là những nội dung các thế lực thù địch thường xuyên xoáy sâu để xuyên tạc về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Sản xuất ô tô du lịch tại nhà máy lắp ráp ô tô Ford Hải Dương_Ảnh: TTXVN

Một số hàm ý chính sách

Từ cơ sở lý luận và một số vấn đề đặt ra trong thu hút FDI tại nước ta hiện nay, để nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực sự trở thành nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng cơ sở vật chất cho xã hội xã hội chủ nghĩa thì cần chú trọng một số nội dung sau:

Một là, bảo đảm thực hiện hiệu quả luật thuế quốc gia, quy tắc thuế tối thiểu toàn cầu (Luật Quản lý Thuế năm 2019; Nghị định số 132/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết; Quy tắc thuế tối thiểu toàn cầu (có hiệu lực năm 2024) hướng tới siết chặt quản lý thuế, điều chỉnh các quy định về tái đầu tư, chống chuyển giá, trốn thuế của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp FDI nói riêng). Cần thực hiện nghiêm túc và đồng thời tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh pháp luật thuế để qua đó, việc thu “tô nhượng” của các nhà tư bản nước ngoài không bị thất thoát, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội xã hội chủ nghĩa.

Hai là, cần có chính sách phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực được đào tạo, có trình độ cao. Người lao động cần có một trình độ nhất định để thực sự học tập được kỹ thuật, ý thức kỷ luật, thái độ lao động từ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong doanh nghiệp FDI. Nguồn lao động giá rẻ, trình độ thấp sẽ không còn là lợi thế của Việt Nam trong tương lai gần khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra ngày càng mạnh mẽ với những máy móc hiện đại thay thế lao động thủ công. Mặt khác, nếu chỉ dựa vào nguồn lao động trình độ thấp để thu hút FDI thì việc thông qua thành tựu của chủ nghĩa tư bản nhà nước để nâng cao trình độ, kỹ thuật lao động trong nước khó có thể đạt được. Do đó, việc tăng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề cần được chú trọng và thực hiện một cách hiệu quả, coi đây là chiến lược thu hút FDI và cũng là điều kiện để người lao động Việt Nam lĩnh hội được tri thức từ chuyên môn đến tác phong công nghiệp trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện đại.

Ba là, trong thu hút FDI cần có sự lựa chọn công nghệ phù hợp, tránh tình trạng thu hút FDI bằng mọi giá, bất chấp công nghệ lạc hậu. Với một nước đang phát triển như Việt Nam, việc lựa chọn công nghệ trong thu hút FDI không phải là việc dễ dàng, đặc biệt là trong bối cảnh tỷ lệ lao động qua đào tạo của nước ta còn chưa cao. Song, điều đó không có nghĩa là bất cứ công nghệ nào chúng ta cũng sẵn sàng đón nhận từ FDI. Cần tiếp tục có sự phân loại và lựa chọn công nghệ phù hợp với trình độ lao động, khoa học - công nghệ trong nước.

Bốn là, nghiên cứu xây dựng các cam kết sử dụng hàng hóa, nguyên liệu Việt Nam để phát triển công nghiệp phụ trợ. Việt Nam cần “khéo léo” lồng ghép các điều khoản sử dụng nguyên liệu trong nước vào hợp đồng với doanh nghiệp FDI. Bên cạnh đó, để doanh nghiệp FDI sử dụng nguyên liệu, hàng hóa của Việt Nam, chúng ta cũng cần xây dựng, hoàn thiện thị trường hàng hóa, nguyên liệu đầu vào với chất lượng, số lượng bảo đảm theo tiêu chuẩn quốc tế./.

ST.

Phát huy truyền thống đoàn kết, đồng thuận của các tầng lớp nhân dân thông qua vai trò của Ban Công tác Mặt trận

Trong quá trình hình thành và phát triển, Ban Công tác Mặt trận đã tham gia, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ quan trọng của địa phương, góp phần xây dựng, củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, hiệu quả trong hoạt động của Ban Công tác Mặt trận vẫn còn một số hạn chế nhất định. Do đó, trong thời gian tới, hệ thống chính trị các cấp tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nhằm nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của Ban Công tác Mặt trận.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt Đoàn đại biểu người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới, biển đảo nhân dịp tham dự chương trình “Điểm tựa của bản làng” lần thứ II, do Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng tổ chức tại Hà Nội _Ảnh: Tư liệu

1- Ở nước ta, truyền thống gắn kết cộng đồng giữa cá nhân - gia đình - làng - nước gắn liền với chiều dài lịch sử dân tộc và tồn tại đến ngày nay. Tính cộng đồng ở các khu dân cư là nền tảng quan trọng cho các quan hệ dân chủ, bình đẳng, là cái gốc của cấu trúc, tổ chức làng xã Việt Nam. Điều này được thể hiện qua ca dao, tục ngữ, như “tình làng, nghĩa xóm”, “tối lửa tắt đèn có nhau” - đó là sức sống trường tồn của dân tộc Việt Nam. Sự trường tồn được kết tinh bởi tính cộng đồng bền chặt, liên kết các thành viên của gia đình, dòng họ cùng chung sống gắn bó với nhau theo đơn vị thôn, xóm, làng, bản. Tính cộng đồng giữa các hộ gia đình sinh sống ở các khu dân cư biểu hiện sinh động và đa dạng, hình thành tâm lý cộng đồng dựa trên sự cộng đồng về cư trú, cộng đồng về sở hữu chung và lợi ích, cộng đồng về tâm linh và cộng đồng về văn hóa; mỗi thành viên trong cộng đồng ngoài chăm lo cho bản thân và gia đình mình còn có trách nhiệm bảo đảm lợi ích chung của các thành viên khác trong cộng đồng.

Hệ thống hành chính ở nước ta được tổ chức theo 4 cấp, bao gồm trung ương, tỉnh, huyện, xã. Như vậy, xã là cấp đơn vị hành chính thấp nhất trong hệ thống hành chính; tuy nhiên, các khu dân cư gắn bó gần nhất với nhân dân. Hiện nay trên địa bàn cả nước, tại mỗi khu dân cư đều xây dựng “cánh tay nối dài” của hệ thống chính trị, bao gồm tổ chức đảng (chi bộ, tổ đảng); tổ chức chính quyền (thôn, ấp, cụm, khu phố...); tổ chức Mặt trận và đoàn thể (Ban Công tác Mặt trận; chi hội phụ nữ; chi hội cựu chiến binh; chi hội thanh niên, nông dân...). Các tổ chức nói trên hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, quy chế hoạt động đều được quy định bởi điều lệ của tổ chức; tuân thủ pháp luật, dân chủ, công khai, minh bạch; thực hiện phát huy quyền làm chủ của hội viên phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phát huy quyền làm chủ của cộng đồng dân cư, không thoát ly, tách rời với sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của chi ủy, sự điều hành của trưởng thôn, vai trò tập hợp, vận động cộng đồng và sự hướng dẫn của Ban Công tác Mặt trận nhằm phát huy vai trò tự quản của nhân dân theo phương châm: “lấy sức dân để chăm lo cuộc sống của dân”.

Điều 27 Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa IX quy định cụ thể về Ban Công tác Mặt trận như sau: “Ban Công tác Mặt trận được thành lập ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố... (gọi chung là khu dân cư). Cơ cấu của Ban Công tác Mặt trận bao gồm: một số Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã cư trú ở khu dân cư; đại diện chi ủy; người đứng đầu của chi hội Người cao tuổi, chi hội Cựu chiến binh, chi hội Nông dân, chi hội Phụ nữ, chi đoàn Thanh niên, chi hội Chữ Thập đỏ... Một số người tiêu biểu trong các tầng lớp nhân dân, trong các dân tộc, tôn giáo...”. Ban Công tác Mặt trận có chức năng phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên; phối hợp với trưởng thôn (làng, ấp, bản), tổ trưởng dân phố... để thực hiện các nhiệm vụ quan trọng của địa phương.

Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư do Mặt trận Tổ quốc cấp xã thành lập, không phải là một cấp của Mặt trận mà là tổ chức tự quản thực hiện nhiệm vụ “cánh tay nối dài” của công tác mặt trận tại các thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, tổ dân phố,... có vai trò quan trọng trong việc mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy vai trò người tiêu biểu, xây dựng cộng đồng dân cư tự quản hoạt động trên cơ sở hương ước, quy ước; động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát và phản biện xã hội theo quy định của Đảng và Nhà nước; tập hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước. Hiện nay, cả nước có 129.896 Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư, trung bình mỗi ban có 5 thành viên. Tổng số thành viên Ban Công tác Mặt trận ở các địa phương là gần 650 nghìn người.

Để thực hiện các nhiệm vụ, Trưởng Ban Công tác Mặt trận có nhiệm vụ triệu tập, chủ trì các cuộc họp, thường kỳ mỗi tháng một lần, họp bất thường khi cần thiết và việc tổ chức hội nghị của thôn, tổ dân phố được vận dụng linh hoạt phù hợp với tình hình thực tiễn ở cơ sở. Thành phần hội nghị cơ bản là cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố. Nhiều nội dung quan trọng được cử tri thảo luận và biểu quyết trong hội nghị thôn, tổ dân phố. Các nội dung tự quản của cộng đồng ở khu dân cư nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, xây dựng mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân thông qua vai trò “cầu nối” của Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư. Trong nhiều năm qua, các phong trào, các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên phát động thông qua Ban Công tác Mặt trận và các chi hội đoàn thể ở các khu dân cư đã thu hút đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với nhiều cách làm sáng tạo, phù hợp với đặc điểm, tâm lý của từng cộng đồng.

Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định trong điều lệ, trên cơ sở phối hợp với trưởng thôn, nhiều Ban Công tác Mặt trận đã xây dựng được các mô hình tự quản trong một số lĩnh vực, thu hút, tập hợp được bộ phận đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, khơi dậy truyền thống yêu nước, phát huy quyền lợi và trách nhiệm, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng dân cư, bảo đảm an sinh xã hội, xóa bỏ hủ tục. Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư đã phối hợp với các chi hội đoàn thể triển khai xây dựng các mô hình tự quản ở khu dân cư để đưa “ý Đảng vào lòng dân” đến với từng thành viên trong cộng đồng, xây dựng được lực lượng nòng cốt nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, định hướng được dư luận xã hội, giúp củng cố niềm tin, nâng cao nhận thức trong nhân dân, kịp thời đề xuất, xử lý hiệu quả các vụ, việc phức tạp ở cơ sở, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng trọng điểm về an ninh - quốc phòng, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Thành viên nòng cốt của mô hình tự quản ở cộng đồng dân cư chủ yếu là các thành viên trong Ban Công tác Mặt trận; chi hội đoàn thể; người uy tín tiêu biểu trong cộng đồng đứng ra chủ trì, tập hợp, vận động hội viên, đoàn viên và nhân dân trong cộng đồng dân cư tự giác, tự nguyện, tâm huyết tham gia thực hiện với nhiều mô hình mới, cách làm hay theo phương châm “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. 

Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến chung vui ngày hội đại đoàn kết cùng đồng bào các dân tộc xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, tháng 11-2022 _Nguồn: daidoanket.vn

Ban Công tác Mặt trận và các chi hội đoàn thể ở các khu dân cư trên địa bàn cả nước đã xây dựng được 637.534 mô hình tự quản, với 23.460.795 thành viên tham gia với các tên gọi khác nhau trong các lĩnh vực. Trong đó, mô hình tự quản liên quan đến lĩnh vực kinh tế có 288.921 mô hình, với 8.956.551 thành viên tham gia (trung bình khoảng 31 thành viên/1 mô hình); mô hình tự quản liên quan đến lĩnh vực bảo vệ an ninh, trật tự có 186.935 mô hình, với 6.916.595 thành viên tham gia (trung bình khoảng 37 thành viên/1 mô hình); mô hình tự quản liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường có 87.345 mô hình, với 2.533.005 thành viên tham gia (trung bình 29 thành viên/mô hình); mô hình tự quản liên quan đến lĩnh vực thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh có 67.432 mô hình, với 4.585.376 thành viên tham gia (trung bình 68 thành viên/ mô hình); mô hình tự quản liên quan đến các lĩnh vực hoạt động khác có 6.901 mô hình, với 469.268 thành viên tham gia (trung bình 68 thành viên/mô hình). Những kết quả đạt được trong hoạt động tự quản của Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân, khơi dậy lòng yêu nước, vượt qua khó khăn, phát huy dân chủ và nội lực của cộng đồng dân cư, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh của các địa phương.

2- Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động của Ban Công tác Mặt trận ở một số địa phương còn có những hạn chế, khó khăn, như công tác tham mưu cho Chi ủy, chi bộ lãnh đạo việc xây dựng và thực hiện chương trình phối hợp thống nhất hành động ở một số nơi còn thiếu cụ thể, chưa chủ động. Một số Trưởng Ban Công tác Mặt trận chưa thực sự sát dân, gần dân, hiểu dân, lắng nghe dân để nắm bắt, xử lý, kiến nghị và phối hợp giải quyết kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân nên hiệu quả chưa cao. Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia các phong trào, các cuộc vận động ở một số khu dân cư hiệu quả chưa cao, chưa có chiều sâu, còn mang tính hình thức. Công tác nắm bắt tư tưởng, tình hình nhân dân có lúc, có nơi chưa kịp thời. Công tác giám sát chỉ dừng lại ở mức độ “theo dõi - phát hiện”, nội dung kiến nghị chưa cụ thể, chưa theo sát việc giải quyết của các cơ quan liên quan đến nội dung đã kiến nghị, nên hiệu quả công tác chưa cao. Hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng một số địa phương chưa được phát huy. Vai trò phối hợp, thống nhất hành động giữa Ban Công tác Mặt trận với các chi hội đoàn thể và trưởng thôn ở các khu dân cư để vận động, phát huy tính tự nguyện, tự giác, tự quản, tự chịu trách nhiệm của nhân dân ở cộng đồng dân cư chưa thống nhất, trùng lặp về đối tượng, nội dung và nguồn lực, thiếu sự chỉ đạo, lồng ghép, thống nhất giữa các tổ chức nên vẫn còn tình trạng “mạnh ai nấy làm”, xây dựng quá nhiều mô hình tự quản, nhưng chưa phát huy hiệu quả, chồng chéo trong nhiều lĩnh vực bởi còn một số nơi chạy theo thành tích để bảo đảm các tiêu chí đánh giá thi đua, hoạt động theo kiểu “sớm nở, tối tàn, có kinh phí thì có hoạt động, hết kinh phí thì hết hoạt động”. Công tác hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra của hệ thống chính trị ở cơ sở trong triển khai thực hiện các hoạt động tự quản và các mô hình tự quản còn nhiều hạn chế; không ít Ban Công tác Mặt trận chưa xây dựng quy chế hoạt động, chưa xây dựng bộ tiêu chí hay khung chuẩn để đánh giá chất lượng hoạt động các mô hình tự quản nhằm thu hút sự tự giác, tự nguyện, đồng thuận của người dân để mô hình có sức sống lâu dài. Một số nơi còn chưa hiểu rõ mô hình tự quản, nội dung và phương thức vận hành của hoạt động tự quản ở khu dân cư để phát huy và thực hiện hiệu quả các phong trào, các cuộc vận động thi đua yêu nước do Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể phát động. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Ban Công tác Mặt trận chưa cao, không đồng đều; chế độ sinh hoạt phí đối với Trưởng Ban Công tác Mặt trận còn thấp, chưa phù hợp từ đó không khuyến khích được Trưởng ban tích cực học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ, năng lực, nhiệt huyết công tác; kinh phí hoạt động cho Ban Công tác Mặt trận ở một số địa phương chưa thật sự được quan tâm. Việc đánh giá, khen tặng danh hiệu “Khu dân cư văn hóa”, “Gia đình văn hóa” còn có biểu hiện chưa thực chất, chưa động viên được tính tự quản, sáng tạo trong công việc của mỗi người dân, mỗi gia đình.

Các đại biểu thưởng thức rượu cần với nhân dân tại Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở buôn Ciết, xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk _Ảnh: TTXVN

3- Để tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Công tác Mặt trận, phát huy vai trò tự quản, đoàn kết, đồng thuận xã hội của từng người dân, từng hộ gia đình, từng dòng họ sinh sống ở các khu dân cư trên địa bàn cả nước, hệ thống chính trị các cấp cần quan tâm thực hiện một số nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể và đội ngũ cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò của Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư để tiếp tục triển khai, thực hiện hiệu quả nghị quyết, chương trình hành động của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp nhiệm kỳ 2024 - 2029. Hệ thống chính trị các cấp, nhất là hệ thống chính trị ở cơ sở tại hơn 10 nghìn xã trên địa bàn cả nước cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức lồng ghép các hoạt động tự quản ở khu dân cư thông qua vai trò của Trưởng Ban Công tác Mặt trận để tập hợp, vận động sự tự nguyện, tự giác, tự quyết, tự chịu trách nhiệm, tự chủ về kinh phí, tạo sự đồng thuận của các thành viên trong cộng đồng dân cư. Về quy mô tổ chức, phạm vi và lĩnh vực hoạt động sẽ linh hoạt tùy thuộc vào điều kiện và tình hình thực tiễn của từng địa phương; phát huy tính chủ động, linh hoạt và sáng tạo của từng cộng đồng dân cư trong công tác xây dựng quy ước, hương ước nhằm tạo sự đồng thuận của mỗi người dân, mỗi gia đình, mỗi dòng họ và cả cộng đồng. 

Thứ hai, xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư bảo đảm số lượng, bảo đảm cơ cấu thành phần theo quy định. Xây dựng quy chế hoạt động của Ban Công tác Mặt trận, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên; duy trì họp thường kỳ mỗi tháng một lần, họp bất thường khi cần thiết. Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Ban Công tác Mặt trận để triển khai các phong trào thi đua một cách linh hoạt, sáng tạo, có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với thực tiễn địa phương, thu hút đông đảo người dân hưởng ứng tham gia. Chủ động nắm chắc tình hình nhân dân ở khu dân cư, kịp thời phát hiện mâu thuẫn, bức xúc trong nhân dân để có biện pháp giải quyết, tháo gỡ; thường xuyên “gần dân, sát dân, hiểu dân, trọng dân, nghe dân nói, nói dân nghe, làm dân tin”, tạo sự thống nhất giữa “ý Đảng lòng dân”, tăng cường đoàn kết thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, khơi dậy các nguồn lực trong nhân dân “lấy sức dân để xây dựng cuộc sống cho nhân dân”, lấy đoàn kết để phát huy sức mạnh của mọi tổ chức và cá nhân, lấy việc động viên, thực hiện dân chủ và công khai, minh bạch ở cộng đồng dân cư làm phương châm hành động.

Thứ ba, tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết liên tịch số 88/2016/NQLT/CP-ĐCTUBTWMTTQVN, ngày 7-10-2016, của Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, về “Phối hợp thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” và Nghị định số 122/2018/NĐ-CP, ngày 17-9-2018, của Chính phủ, “Quy định về xét tặng danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa””; kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc, đề xuất, kiến nghị liên quan của nhân dân. Tạo điều kiện thuận lợi để Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư triển khai thực hiện tốt việc tổ chức “Ngày Hội đại đoàn kết dân tộc ở khu dân cư” vào ngày 18-11 hằng năm nhằm góp phần phát huy dân chủ, thắt chặt tình đoàn kết, gắn bó, đồng thuận xã hội giữa các hộ gia đình tại các khu dân cư; xây dựng, nhân rộng, nâng cao chất lượng các hoạt động tự quản gắn với việc đánh giá, bình xét, biểu dương, khen thưởng các danh hiệu gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa ở khu dân cư trên địa bàn cả nước./.

ST.

Hệ lụy của già hóa dân số: Nhìn từ trường hợp Nhật Bản và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Từng là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và được kỳ vọng sẽ vươn lên vị trí dẫn đầu, Nhật Bản dần mất đi động lực tăng trưởng, gần đây nhất xếp sau Đức (năm 2022). Vấn đề già hóa dân số được xem là một trong những nguyên nhân chủ đạo thách thức nền kinh tế nước này. Từ bài học của Nhật Bản, có thể thấy, việc thích ứng và xử lý vấn đề già hóa dân số là một trong những ưu tiên quan trọng đối với nhiều chính phủ trên thế giới hiện nay.

Già hóa dân số - một trong những tác nhân chủ đạo làm suy giảm nền kinh tế Nhật Bản

Theo số liệu của Chính phủ Nhật Bản công bố vào ngày 15-2-2024, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩa năm 2023 của Nhật Bản đạt khoảng 4.200 tỷ USD, trong khi đó GDP của Đức đạt khoảng 4.500 tỷ USD. Điều này đồng nghĩa với việc Đức đã vượt Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, sau Mỹ và Trung Quốc.

Nhật Bản đã trải qua thời kỳ khó khăn sau giai đoạn phát triển “thần kỳ” từ năm 1952 – 1971, với tăng trưởng tổng sản lượng quốc gia (GNP) bình quân đạt 9,6%/năm. Từ năm 1992 - 2011, tốc độ tăng trưởng GNP của Nhật Bản giảm xuống chỉ còn trung bình 0,7%/năm. Quy mô nền kinh tế Nhật Bản ngày càng thu nhỏ, với GDP năm 2022 đạt 4.231 tỷ USD, giảm 33% so với năm 2012 là 6.272 tỷ USD. Kinh tế Nhật Bản suy giảm trên nhiều lĩnh vực, đi kèm với tỷ lệ nợ công cao. Những thế mạnh chủ chốt của nền kinh tế Nhật Bản, như ngành công nghiệp sản xuất ô-tô và điện tử, đã chứng kiến sự sụt giảm mạnh mẽ. Từ xếp hạng vị trí hàng đầu về sản xuất ô-tô trên thế giới, thị trường ô-tô Nhật Bản đã giảm xuống vị trí thứ tư, sau Trung Quốc, Mỹ và Ấn Độ. Tương tự, từ xếp hạng vị trí thứ hai về xuất khẩu hàng điện tử, Nhật Bản đã xuống vị trí thứ sáu, với thị phần giảm từ 13% năm 2000 giảm còn 4% vào năm 2022.

Nền kinh tế Nhật Bản rơi vào trạng thái đình trệ trong thời gian dài do nhiều nguyên nhân, nhưng phần lớn được cho là bắt nguồn từ xu hướng già hóa dân số. Là đất nước già nhất thế giới, số lượng người trên 65 tuổi tại Nhật Bản đạt hơn 36 triệu người, chiếm khoảng 29% dân số năm 2022, vượt xa các nước phát triển khác. Theo dự báo của Viện Nghiên cứu dân số và an sinh xã hội quốc gia Nhật Bản, tỷ lệ người cao tuổi sẽ chiếm khoảng 35,3% tổng dân số Nhật Bản vào năm 2040 và có thể lên tới 40% vào năm 2060. Bên cạnh đó, tỷ lệ sinh của Nhật Bản cũng liên tục giảm, trung bình khoảng 2,5%/năm trong thập niên qua.

Tình trạng già hóa dân số gia tăng liên tục với tốc độ nhanh đã khiến đất nước được mệnh danh là “gã khổng lồ” về kinh tế phải đối mặt với không ít thách thức, khó khăn. Già hóa dân số làm suy giảm lực lượng lao động, gia tăng áp lực quỹ lương hưu, đặt gánh nặng lên vai lực lượng lao động trẻ, dẫn đến chi phí sinh hoạt đắt đỏ, thời gian làm việc gia tăng và trách nhiệm phụng dưỡng người cao tuổi ngày càng lớn. Áp lực công việc dẫn đến những vấn đề xã hội, góp phần vào xu hướng sống cô độc, không muốn kết hôn và có con trong giới trẻ Nhật Bản, tạo ra vòng xoáy đi xuống giữa già hóa và suy thoái kinh tế.

Người cao tuổi ở Nhật Bản_Nguồn: japannews.yomiuri.co.jp

Từ câu chuyện Nhật Bản suy nghĩ về nguy cơ già hóa dân số

Câu chuyện nền kinh tế Nhật Bản cho thấy một thực tiễn đáng quan ngại trước tác động của tình trạng già hóa dân số đến phát triển kinh tế, phát tín hiệu báo động đối với nhiều quốc gia. Đã đến lúc cần nhìn lại một cách hệ thống vấn đề già hóa dân số và những hệ lụy mang tính hệ thống của tình trạng này.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), già hóa dân số là quá trình thay đổi về thành phần tuổi và gia tăng tỷ lệ người cao tuổi trong tổng dân số. Dân số được gọi là già hóa khi người cao tuổi chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong toàn bộ dân số. Cụ thể, một quốc gia có tỷ lệ người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) chiếm từ 7 - 9,9% tổng dân số, được coi là “già hóa”; từ 10 - 19,9% được coi là dân số “già”; từ 20 - 29,9% được coi là dân số “rất già” và từ 30% trở lên được coi là dân số “siêu già”. 

Về kinh tế, già hóa dân số tạo ra nhiều thách thức trong phát triển kinh tế, nhất là về cơ cấu dân số trong độ tuổi lao động giảm đi, cơ cấu nghề nghiệp sẽ thay đổi, gánh nặng kinh tế đối với người lao động trẻ cũng gia tăng. Già hóa dân số gây thiếu hụt nguồn lao động bổ sung cho tương lai, làm suy giảm năng suất lao động và kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Cân đối tài chính vĩ mô bất ổn do giảm nguồn thu từ thuế, tăng chi tiêu công của chính phủ và thiếu hụt hệ thống phúc lợi xã hội. Hệ thống an sinh xã hội, nhất là các ngành dịch vụ y tế, lương hưu, phúc lợi xã hội sẽ phải chịu những áp lực về bảo đảm nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi (chi phí trung bình để chăm sóc sức khỏe cho một người cao tuổi bằng 7 - 8 lần chi phí trung bình chăm sóc sức khỏe cho một người trẻ tuổi). Ngoài ra, dân số già là nhóm dễ bị tổn thương trong các cuộc khủng hoảng sức khỏe như đại dịch, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh y tế toàn cầu. Tác động kinh tế của khủng hoảng sức khỏe cũng bị khuếch đại nhiều hơn ở các khu vực có số lượng người cao tuổi đông, bởi vì chi phí chăm sóc và áp lực đối với hệ thống phúc lợi xã hội tăng trong khi năng suất lao động giảm.

Về văn hóa - xã hội, già hóa dân số có thể làm gia tăng tình trạng phân biệt đối xử theo độ tuổi, nhất là phụ nữ lớn tuổi. Thu nhập của người cao tuổi thấp khiến nhu cầu chi tiêu, mua sắm giảm, gia tăng khoảng cách giàu - nghèo, bất bình đẳng trong xã hội. Bên cạnh đó, già hóa dân số và dân số già đặt ra thách thức trong việc bảo đảm đời sống văn hóa và tinh thần cho người cao tuổi, điều chỉnh thị trường lao động - việc làm, giải quyết mâu thuẫn và xung đột giữa các thế hệ.

Về an ninh - chính trị - đối ngoại, xu hướng già hóa dân số tác động đến tiềm lực quốc phòng - an ninh của các nước; do đó, về lâu dài có thể ảnh hưởng đến tương quan sức mạnh giữa các quốc gia. Các nước có dân số già phải đối mặt với thách thức trong việc duy trì sức mạnh quân sự và khả năng cạnh tranh kinh tế. Dân số già có thể làm giảm khả năng chi tiêu cho quốc phòng - an ninh do áp lực về kinh tế, hệ thống an ninh xã hội và lương hưu. Ngoài ra, tỷ lệ người trẻ ở độ tuổi nhập ngũ giảm gây khó khăn cho việc tuyển quân và duy trì ổn định lực lượng quân đội, có thể dẫn đến nhiều rủi ro khi xảy ra chiến tranh hoặc các tình huống khẩn cấp.

Bên cạnh đó, già hóa dân số mang lại một số hệ lụy từ xu hướng di cư gia tăng. Các nước tiếp nhận phải đối mặt với thách thức phát triển kết cấu hạ tầng và an ninh do số lượng người nhập cư lớn, kèm theo các vấn đề, như nhập cư trái phép, buôn lậu và xung đột sắc tộc. Ngược lại, các nước đang phát triển với dân số trẻ hơn phải đối diện với lỗ hổng trong lực lượng lao động, gây “chảy máu” chất xám và áp lực tiêu cực đối với sức khỏe, phát triển xã hội ở trong nước.

Già hóa dân số là một thực tế khách quan trong sự phát triển của các quốc gia. Bên cạnh những thách thức, xu thế này cũng đem lại không ít cơ hội.

Một là, già hóa dân số mang đến cơ hội tích cực cho năng suất lao động và phát triển nền “kinh tế bạc”. Nếu có sự đầu tư thích hợp, người lao động cao tuổi sẽ trở thành nguồn lao động chất lượng cao, nhiều kinh nghiệm, kỹ năng và gắn kết hơn với công việc, dẫn đến năng suất lao động cao hơn. Bên cạnh đó, số lượng người cao tuổi gia tăng cũng góp phần kích thích tiêu dùng, nhất là các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, y tế, phúc lợi…, hình thành nền “kinh tế bạc”.

Tạo điều kiện cho người cao tuổi tham gia thị trường lao động vừa đem lại niềm vui, sức khỏe và đóng góp cho xã hội (Trong ảnh: Người giữ nghề truyền thống (tác giả: Nguyễn Văn Điệp))_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Hai là, già hóa dân số gây áp lực phải đẩy mạnh sự phát triển khoa học - công nghệ. Sự thiếu hụt nguồn nhân lực và áp lực đối với hệ thống dịch vụ công góp phần đẩy nhanh quá trình nghiên cứu, ứng dụng thành tựu công nghệ đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi; giúp cải thiện năng suất kinh tế trong bối cảnh tự động hóa và công nghệ mới được áp dụng ngày một phổ biến.

Ba là, già hóa dân số thúc đẩy tăng cường hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực, nhất là y tế và công nghệ. Già hóa dân số là xu thế quốc tế phi chính trị hóa, thúc đẩy sự hợp tác của các nước nhằm giải quyết những thách thức chung. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng và nhu cầu về đổi mới công nghệ khuyến khích các quốc gia đẩy mạnh hợp tác về công nghệ, trao đổi sáng kiến nghiên cứu và chia sẻ kinh nghiệm quản lý,... giúp phát triển các chính sách toàn diện cho xã hội già hóa trong tương lai.

Một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Tỷ trọng nhóm dân số trẻ từ 0 - 14 tuổi giảm từ 24,3% năm 2019 xuống khoảng 23,9% vào năm 2023; trong khi đó, nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên tăng nhanh, từ 11,9% năm 2019 lên 13,9% vào năm 2023. Nhóm dân số trong độ tuổi từ 15 - 59 tuổi chiếm khoảng 63,8% năm 2019 giảm xuống còn 62,2% năm 2023. Các chỉ số cho thấy, Việt Nam hiện ở trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” nhưng cũng đã bước vào quá trình già hóa dân số, dự báo sẽ chuyển sang giai đoạn “dân số già” vào năm 2038. Như vậy, Việt Nam chỉ có khoảng 14 năm để tranh thủ cơ hội của cơ cấu “dân số vàng” và cần có những bước chuẩn bị thích ứng trong tương lai.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) nhấn mạnh, “xu hướng già hóa dân số nhanh” là một trong những thách thức lớn mà Việt Nam phải giải quyết; trong thời gian tới, cần “chuẩn bị điều kiện thích ứng với già hóa dân số”. Việt Nam hiện tồn tại hai thực trạng về dân số, vừa trong giai đoạn “dân số vàng”, vừa đang trong quá trình già hóa dân số. Do đó, hiện nay là thời điểm phù hợp để nghiên cứu những chính sách hợp lý để ứng phó với thách thức và tận dụng cơ hội của tình trạng già hóa dân số, cụ thể là:

Thứ nhất, xác định già hóa dân số là một trong những vấn đề ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Già hóa dân số sẽ trở thành xu hướng lớn, đặt ra cả cơ hội và thách thức đối với tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội của Việt Nam trong thời gian tới. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để ứng phó hiệu quả với vấn đề già hóa dân số, cần có sự thay đổi về nhận thức kết hợp với các giải pháp tổng thể, toàn diện, kịp thời và phù hợp với bối cảnh và điều kiện của Việt Nam. Vấn đề già hóa dân số cần được đặt ở vị trí tương xứng trong các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Thứ hai, đầu tư vào công nghệ và đổi mới kỹ thuật để bù đắp cho tình trạng thiếu hụt lao động. Chính phủ và các tổ chức liên quan có thể thúc đẩy việc đầu tư nghiên cứu và phát triển công nghệ để nâng cao năng suất lao động, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng các công nghệ tiên tiến, như trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa và robot hóa, trong quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ. Việc sử dụng những công nghệ này có thể giúp gia tăng tốc độ sản xuất, cải thiện hiệu suất và giảm sự phụ thuộc vào lao động.

Thứ ba, thúc đẩy tinh thần học tập suốt đời và giáo dục suốt đời để bảo đảm người lao động trung tuổi, cao tuổi có thể thích nghi với sự thay đổi công nghệ và yêu cầu của thị trường lao động. Đồng thời, cần xây dựng các chính sách để khuyến khích việc làm lâu dài và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trung niên và người già tham gia lực lượng lao động. Chẳng hạn, Hàn Quốc đã xây dựng một hệ thống giáo dục linh hoạt và phát triển nhiều chương trình đào tạo nghề và huấn luyện kỹ năng cho người lao động cao tuổi tiếp cận công nghệ. Hàn Quốc cũng thúc đẩy các chính sách nhằm khuyến khích việc làm lâu dài và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trung niên và người già tham gia lực lượng lao động, bao gồm các biện pháp hỗ trợ tìm kiếm việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm sự công bằng trong việc tiếp cận cơ hội việc làm.

Thứ tư, xây dựng một hệ thống quỹ hưu trí vững mạnh nhằm đem lại sự độc lập về kinh tế cho người cao tuổi. Ngoài ra, để thích ứng với già hóa dân số và bảo đảm nguồn tài chính sử dụng chăm sóc dài hạn đối với người cao tuổi, cần có những nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung chính sách về bảo hiểm chăm sóc dài hạn dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của các nước. Đơn cử như trường hợp Singapore với mô hình Tập đoàn Quỹ Tài sản quốc gia (GIC) và Quỹ Bảo hiểm xã hội (CPF) để bảo đảm tiền tiết kiệm hưu trí cho người lao động. GIC là một quỹ đầu tư quốc gia quản lý các tài sản của Singapore, trong khi CPF là hệ thống tiết kiệm và bảo hiểm xã hội bắt buộc. Điều này cho phép người lao động tích lũy tiền tiết kiệm trong suốt quá trình làm việc để bảo đảm độc lập tài chính khi về hưu. Ngoài ra, Singapore cũng tăng cường chính sách bảo hiểm chăm sóc dài hạn và hỗ trợ tài chính cho người cao tuổi có thu nhập thấp, bảo đảm họ có đủ tài chính để chăm sóc sức khỏe và sinh hoạt hằng ngày.

Thứ năm, hoàn thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Mở rộng, nâng cao năng lực chăm sóc, khám, chữa bệnh cho người cao tuổi, xây dựng môi trường sống thân thiện với người cao tuổi. Hướng tới sự phát triển và ứng dụng công nghệ tiên tiến để quá trình già hóa dân số diễn ra một cách năng động, với sự bảo đảm sức khỏe và đóng góp tích cực cho xã hội của người cao tuổi. Đồng thời, tăng cường đào tạo cán bộ chăm sóc và cán bộ chuyên môn y tế trong công tác chăm sóc người cao tuổi và phát triển dịch vụ, hoạt động chăm sóc người cao tuổi ở gia đình. Ngoài ra, đẩy mạnh sự tham gia của khu vực tư nhân trong chăm sóc người cao tuổi để gia tăng sự lựa chọn và chất lượng dịch vụ chăm sóc.

Thứ sáu, có chính sách phù hợp, khuyến khích phát triển nền “kinh tế bạc”. Ở góc độ doanh nghiệp, chính phủ có thể đưa ra những chính sách khuyến khích và hỗ trợ phù hợp cho người cao tuổi muốn khởi nghiệp hoặc mở doanh nghiệp riêng. Điều này có thể bao gồm việc cung cấp vốn kinh doanh, tư vấn và hỗ trợ về quy trình hành chính, giảm thuế và các lợi ích khác nhằm khuyến khích sự phát triển kinh doanh cho người cao tuổi. Đồng thời, cần xây dựng mạng lưới và nền tảng để người cao tuổi có thể chia sẻ kinh nghiệm và tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau.

Ở góc độ người tiêu dùng, chính phủ và các tổ chức có thể đưa ra chính sách và tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi để khai thác tiềm năng tiêu dùng của người cao tuổi. Về kết cấu hạ tầng, có các trung tâm thương mại, khu vui chơi, hạ tầng giao thông công cộng thuận tiện và các cơ sở y tế phục vụ người cao tuổi. Về sản phẩm và dịch vụ, bao gồm các sản phẩm công nghệ, dịch vụ chăm sóc và giải trí dành cho người cao tuổi. Cần đầu tư nghiên cứu và phát triển công nghệ để có những giải pháp ứng dụng, tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu của người cao tuổi. Các loại sản phẩm, dịch vụ có thể bao gồm công nghệ hỗ trợ sức khỏe, dịch vụ chăm sóc từ xa, AI và robot hóa trong lĩnh vực chăm sóc và hỗ trợ hằng ngày. Việc áp dụng công nghệ có thể giúp tăng sự độc lập và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi, đồng thời tạo ra cơ hội kinh doanh và phát triển cho các doanh nghiệp công nghệ.

Có thể nói, nguồn nhân lực là một trong ba đột phá quan trọng nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển của đất nước. Với tinh thần chủ động, dự báo “từ sớm, từ xa”, triển khai các biện pháp thích ứng sớm, Việt Nam có thể tận dụng cơ hội và hóa giải những thách thức của già hóa dân số, nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc đã được đề ra tại Đại hội XIII của Đảng./.

ST.

Quá trình già hóa dân số và những tác động đến sự phát triển bền vững hiện nay - Những gợi mở chính sách cho Việt Nam

Hiện nay, tuổi thọ trung bình con người được nâng cao là thành quả tích cực trên chặng đường phát triển nhân loại; tuy vậy, đây cũng là nguyên nhân khiến tình trạng già hóa dân số diễn ra ngày càng phổ biến, phức tạp, tác động không nhỏ tới sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Theo đó, bối cảnh mới yêu cầu đất nước ta cần tập trung nghiên cứu, phân tích tác động toàn diện của quá trình già hóa dân số, từ đó, xây dựng, triển khai những chính sách, kế hoạch phù hợp nhằm chủ động ứng phó trong tương lai.

Về vấn đề già hóa dân số

Già hóa dân số được xem là một trong những xu hướng nổi bật của thế kỷ XXI, biểu hiện ở việc tỷ lệ người cao tuổi (NCT) gia tăng nhanh chóng, tác động sâu, rộng tới mọi mặt của một quốc gia, vùng lãnh thổ cũng như trên toàn cầu. Năm 1950, thế giới mới có khoảng 200 triệu người trên 60 tuổi, đến năm 2020, có đến 727 triệu người trên 65 và theo dự báo, con số này có thể sẽ tăng gấp đôi vào năm 2050 (khoảng 1,5 tỷ người); ở các vùng ít phát triển hơn, độ tuổi trung vị sẽ tăng từ 26 tuổi năm 2010 lên 35 tuổi năm 2050. Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng già hóa dân số, cụ thể:

Thứ nhất, tỷ suất sinh giảm gắn với điều kiện sống ngày càng được cải thiện, điều này khiến tỷ lệ NCT tăng cao hơn hẳn so với số lượng trẻ em được sinh ra (là một phần kết quả từ các chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hóa gia đình). Theo thời gian, tổng tỷ suất sinh trung bình của một phụ nữ trên toàn cầu bị suy giảm, từ 4,9 con/phụ nữ (năm 1950) xuống còn 2,6 (năm 2010) và dự kiến chỉ còn 2,0 (năm 2050). Nguyên nhân là do xu hướng kết hôn muộn, tâm lý coi trọng không gian riêng tư ngày càng phổ biến; quá trình đô thị hóa dẫn đến khó khăn trong tìm việc làm, nhà ở, sinh hoạt và áp lực gia tăng trong cuộc sống; yêu cầu nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ nhỏ ngày càng cao; các chính sách dân số của một số quốc gia tác động đến quá trình giảm sinh trong xã hội,...

Người cao tuổi ở Mỹ_Ảnh: Tư liệu

Thứ hai, tuổi thọ trung bình ngày càng tăng trên toàn cầu, phần nào dẫn đến sự già đi nhanh chóng của dân số. Theo đó, tuổi thọ trung bình toàn cầu dự kiến sẽ đạt 77,2 vào năm 2050 nhờ các tiến bộ y học, điều kiện vệ sinh, sinh hoạt và dinh dưỡng được cải thiện, cụ thể: Ở châu Á sẽ đạt 78 tuổi; khu vực Bắc Mỹ, châu Mỹ La-tinh, châu Âu và châu Đại Dương sẽ đạt khoảng từ 81 đến 84 tuổi; trong khi đó, mặc dù châu Phi có tuổi thọ trung bình thấp hơn mức trung bình của thế giới nhưng sẽ tăng mạnh lên 66 tuổi vào năm 2030 và gần 70 tuổi vào năm 2050.

Ở châu Âu, dự kiến đến năm 2050, khoảng 30% dân số châu Âu sẽ là NCT. Trong khi đó, ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tỷ lệ người già nhiều nước gia tăng nhanh chóng, trong khi tỷ lệ sinh giảm, ví dụ: Dân số Nhật Bản được dự đoán sẽ tiếp tục giảm trong bốn thập kỷ tới (năm 2023, số người trên 75 tuổi lần đầu tiên vượt mốc 20 triệu người, số người từ 80 tuổi trở lên khoảng 12,59 triệu người, chiếm hơn 10% trong tổng dân số); tại Trung Quốc, năm 2022, quốc gia đông dân nhất thế giới chứng kiến sự sụt giảm dân số, khởi đầu giai đoạn khủng hoảng dân số (lần đầu tiên sau hơn 60 năm).

Tác động của già hóa dân số tới sự phát triển bền vững

Có thể khẳng định, nhân khẩu là một trong những yếu tố then chốt, quyết định tới quá trình phát triển bền vững của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ. Theo đó, cơ cấu dân số thay đổi theo xu hướng già hóa sẽ tác động mạnh mẽ, toàn diện tới đời sống kinh tế - xã hội cũng như việc duy trì nguồn lực phát triển trong tương lai, cụ thể:

Về khía cạnh ổn định tình hình chính trị

Già hóa dân số có thể tạo ra sự thay đổi trong phân phối quyền lực và tác động đến cơ cấu đại diện ở các khu vực hành chính trong hệ thống chính trị, từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới quyết sách mỗi chính quyền. Đặc biệt, ở các mô hình chính trị phương Tây nổi bật với hệ thống đa đảng, việc tranh thủ sự ủng hộ của cử tri luôn là bài toán mà bất cứ đảng phái nào muốn nắm quyền cũng đều phải xác định để có chính sách vận động phù hợp. Người cao tuổi được xem là nhóm cư dân có xu hướng đề cao tính ổn định, ngại thay đổi, do đó, họ thường ủng hộ các đảng phái dành sự quan tâm đối với các vấn đề an sinh xã hội, bảo đảm quyền lợi cho họ.

Về khía cạnh kinh tế

Già hóa dân số gây áp lực lên thị trường lao động và ngân sách của nhà nước, bởi khi nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động (15 tuổi - 59 tuổi) thiếu hụt, chính quyền các nước buộc phải sử dụng nhân lực lớn tuổi. Tại châu Âu, nhiều người trên 65 tuổi vẫn tham gia thị trường lao động, theo dự báo, vào năm 2030, Liên minh châu Âu (EU) sẽ thiếu trên 4 triệu nhân viên y tế; tại nước Pháp, sự thiếu hụt nguồn lực lao động chính là nguyên nhân khiến Thượng viện Pháp thông qua đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu (từ 62 tuổi lên 64) bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của các liên đoàn lao động; trong khi đó, tại Nhật Bản, tỷ lệ công ty tuyển dụng lao động trên 70 tuổi trong năm 2022 là 39% (gấp đôi so với năm 2012),... Tình trạng thiếu hụt lao động có thể kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng suất sản xuất và đổi mới, qua đó làm giảm khả năng cạnh tranh của các quốc gia có dân số già so với các nền kinh tế khác.

Về khía cạnh quản lý, bảo đảm an sinh xã hội

Dân số già hóa khiến các nhu cầu an sinh xã hội của người cao tuổi ngày càng gia tăng, gây sức ép lớn với hệ thống y tế và ngân sách của mỗi quốc gia. Tại Nhật Bản (người trên 65 tuổi chiếm 25,1%), tỷ trọng chi tiêu an sinh xã hội trong tổng thu nhập quốc dân của nước này đã tăng từ 5,8% (năm 1970) lên 29,6% (năm 2010) ở mức 70,5 nghìn tỷ Yên (tương đương 68,1% tổng chi tiêu an sinh xã hội). Tại Việt Nam, chi phí trung bình để chăm sóc sức khỏe cho một NCT gấp 7 - 8 lần so với một người trẻ tuổi. Theo đó, với số lượng NCT tăng lên, hệ thống lương hưu và an sinh xã hội sẽ phải đối mặt với một áp lực lớn, tăng chi tiêu công để hỗ trợ NCT, nhất là những người không có nguồn thu nhập ổn định. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến gia tăng chi phí xã hội, khiến nguồn lực đầu tư phát triển đối với các lĩnh vực khác bị suy giảm.

Bên cạnh đó, ở các nước phát triển, vào năm 2010, trung bình cứ 4 người trong độ tuổi lao động (15 tuổi - 64 tuổi) sẽ hỗ trợ 1 NCT (từ 65 tuổi trở lên); tuy nhiên, tỷ lệ này được dự đoán sẽ giảm xuống còn 3 người trong độ tuổi lao động/NCT vào năm 2025. Trong khi đó, ở các nước đang phát triển, nơi các chương trình phúc lợi xã hội chưa được thiết lập tốt, thách thức đặt ra là phải đáp ứng thỏa đáng nhu cầu y tế và các nhu cầu khác ngày càng tăng của NCT trong bối cảnh kết cấu hạ tầng, nhân lực y tế cũng như chi phí khám, chữa bệnh gặp nhiều khó khăn, đặc biệt đối với những người có mức thu nhập thấp và trung bình.

Cùng với đó, xu hướng đô thị hóa mạnh mẽ tại các nước phát triển và đang phát triển khiến dân số trẻ có mong muốn dịch chuyển về các đô thị sinh sống, NCT và trẻ nhỏ bị bỏ lại tại các vùng nông thôn. Một mặt, xu hướng này càng khoét sâu thêm khoảng cách trong phát triển giữa khu vực đô thị và nông thôn; mặt khác, người dân tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa sẽ phải đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản (xăng dầu, cửa hàng tạp hóa,...) bởi các nhà cung cấp dịch vụ tập trung về các đô thị lớn thay vì vùng sâu, vùng xa như đã diễn ra tại các nước Nhật Bản, Vương quốc Anh và Ireland. Việc đóng cửa các dịch vụ cơ bản ảnh hưởng đến điều kiện sống ở địa phương, đặc biệt là các hộ gia đình NCT và làm giảm cơ hội tương tác giữa các thành viên trong cộng đồng, phần nào khiến NCT bị cô lập về mặt xã hội. Thêm vào đó, người trẻ di cư ra thành phố khiến dân số nông thôn suy giảm, nhiều cơ sở vật chất, hạ tầng bị bỏ hoang, gây lãng phí. Theo thống kê, vào năm 2019, 13,6% số ngôi nhà ở nông thôn Nhật Bản bị bỏ trống và con số này đã tăng lên tới 20% ở một số tỉnh và được dự báo còn tiếp tục gia tăng; hơn 25% người từ 65 tuổi trở lên sống cô độc; ước tính mỗi năm có khoảng 30.000 trường hợp qua đời một mình tại nhà, không được phát hiện trong vài ngày hoặc nhiều tuần. Đối với các xã hội phương Đông, nơi chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, việc con cái phụng dưỡng cha mẹ cũng gây áp lực, căng thẳng lên các thế hệ thanh niên, có thể dẫn đến hành vi ngược đãi NCT, nhiều người già có nguy cơ trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình.

Mặt khác, NCT thường có sức khỏe thể chất, tinh thần suy giảm, gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp, di chuyển, phần nào khiến họ có thể bị cô lập về mặt xã hội, khó tiếp cận các dịch vụ an sinh, thậm chí dễ trở thành nạn nhân của các vụ lừa đảo, nhất là lừa đảo sử dụng công nghệ cao. Theo thống kê của Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI), năm 2021, người dân Mỹ đã mất hơn 1 tỷ USD vì lừa đảo qua mạng; phần lớn nạn nhân là phụ nữ trên 40 tuổi góa chồng hoặc ly dị và người già yếu hoặc tàn tật. Ở Đông Nam Á, nghiên cứu của nhà khoa học Kaspersky vào tháng 2-2023 cho thấy, gần một nửa người dùng từng là nạn nhân của các cuộc lừa đảo qua mạng; trong đó, tỷ lệ nạn nhân tập trung vào 2 nhóm lớn tuổi nhất (chiếm 33%).

Về khía cạnh văn hóa

Ở cấp độ quốc gia, già hóa dân số gây ra sự thiếu hụt nguồn nhân lực lao động khiến nhiều nước phải điều chỉnh chính sách nhập cư, thuê lao động nước ngoài dẫn tới việc hình thành các nhóm lao động có sự khác biệt về văn hóa đối với cư dân bản địa. Mặt khác, nguồn lao động nhập cư quá lớn có thể dẫn tới tình trạng văn hóa ngoại lai xâm nhập, áp đảo văn hóa bản địa; đồng thời lượng NCT tăng, tỷ lệ sinh giảm sẽ gây ra khó khăn trong việc truyền tiếp các giá trị văn hóa truyền thống cho thế hệ sau, nguy cơ xảy ra tình trạng đứt gãy văn hóa, ảnh hưởng nghiêm trọng tới bản sắc và sự phát triển bền vững của mỗi cộng đồng dân tộc. Trường hợp của các vùng nông thôn Nhật Bản cho thấy thực trạng nghiêm trọng trong quá trình chuyển giao kiến thức truyền thống qua nhiều thế hệ, khi những cư dân lớn tuổi không thể chuyển giao kiến thức của họ cho thế hệ trẻ vì cộng đồng của họ ngày càng có ít người trẻ hơn. Thậm chí, ngay cả khi một số thanh niên vẫn sinh sống ở các cộng đồng nông thôn, nhiều người trong số họ không tham gia vào nghề nông hoặc các nghề truyền thống khiến việc chuyển giao các tri thức truyền thống càng trở nên khó khăn hơn.

Về khía cạnh bảo vệ quốc phòng - an ninh

Già hóa dân số tạo ra những ảnh hưởng không nhỏ đối với vấn đề quốc phòng - an ninh, ví dụ: Việc tuyển quân và tuyển dụng nhân lực vào quân đội, lực lượng vũ trang sẽ bị giảm sút, hao hụt, khó khăn; khi xảy ra chiến tranh sẽ rất nghiêm trọng (điển hình tại Nga và Ukraine hiện nay, cả hai nước đều rất khó tuyển quân bổ sung cho lực lượng vũ trang để bảo vệ đất nước). Tại Hàn Quốc, vấn đề già hóa dân số cùng tỷ lệ sinh thấp khiến lực lượng vũ trang khó duy trì đủ quân số để đối phó với các mối đe dọa an ninh; giai đoạn 2002 - 2022, quy mô quân đội quốc gia này giảm đến 27,6% khiến họ phải áp dụng phương án kéo dài thời gian tại ngũ của quân nhân, đồng thời Chính phủ Hàn Quốc cũng tính toán biện pháp tuyển nữ giới vào quân đội.

Một số gợi mở cho Việt Nam để chủ động ứng phó với già hóa dân số, hướng tới phát triển bền vững

Kể từ năm 2007, Việt Nam bắt đầu bước vào thời kỳ cơ cấu "dân số vàng", đến năm 2011, nước ta nằm ở giai đoạn “già hóa dân số”; năm 2023, dân số Việt Nam đạt 104,065 triệu người, trong đó, khoảng 16 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm 15,54% dân số (dự báo đến năm 2050, con số này sẽ tăng lên 25%); đến năm 2036, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số già. Quá trình già hóa dân số tại Việt Nam có nhiều tác động tiêu cực, dự báo trực tiếp làm giảm 2,6 điểm phần trăm GDP vào năm 2030 và 5,4 điểm phần trăm GDP vào năm 2045. Theo đó, để có thể chủ động ứng phó tốt với tình trạng già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng tại Việt Nam, hướng tới phát triển bền vững, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức toàn diện về vấn đề già hóa dân số, xem đây vừa là kết quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, song cũng là thách thức đặt ra đối với sự phát triển bền vững đất nước. Mặt khác, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xóa bỏ định kiến xã hội về NCT; xác định vị thế, vai trò và nguồn lực NCT tại Việt Nam, là đối tượng có đóng góp quan trọng vào tiến trình phát triển kinh tế - xã hội cũng như duy trì vững chắc thể chế, chế độ chính trị và bảo vệ quốc phòng - an ninh. Bên cạnh đó, bản thân NCT cũng cần thay đổi nhận thức, tích cực phát huy hơn nữa kinh nghiệm, cống hiến đối với công cuộc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội; chủ động duy trì, nâng cao sức khỏe, chất lượng cuộc sống của bản thân.

Người cao tuổi gìn giữ và trao truyền các giá trị văn hóa cho thế hệ mai sau_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Thứ hai, nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, ban hành các chính sách phù hợp, toàn diện nhằm đề cao và phát huy vai trò nguồn lực NCT. Luật Người cao tuổi năm 2009 thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta với vấn đề già hóa dân số từ sớm, tuy nhiên, Luật đã bộc lộ một số khoảng trống, nội dung cần điều chỉnh, như việc căn cứ vào độ tuổi từ 60 trở lên được coi là NCT đến nay có sự bất cập, chưa theo kịp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nên cần tính toán điều chỉnh chỉ số này thời gian tới. Trong khi đó, Quyết định số 1679/QĐ-TTg, ngày 22-11-2019, của Thủ tướng Chính phủ, về “Phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030” xác định mục tiêu thích ứng với già hóa dân số, đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe, bảo đảm thu nhập, tạo môi trường sống thân thiện nhưng chưa chú trọng đến khía cạnh đời sống văn hóa, tinh thần cho NCT. Như vậy, các chính sách, chiến lược quốc gia cần hướng tới tinh thần già hóa chủ động, tích cực; phải chuẩn bị ngay từ thế hệ trẻ để bảo đảm nước ta có dân số già và khỏe mạnh, giảm áp lực cho hệ thống y tế và an sinh xã hội trong tương lai; bảo đảm tỷ lệ sinh thay thế, góp phần giữ vững sự liên kết, tiếp nối giữa các thế hệ.

Thứ ba, tăng cường giao lưu, trao đổi, hợp tác quốc tế với các quốc gia đã thực hiện thành công quá trình già hóa dân số tích cực trên thế giới. Có thể nói, quá trình già hóa dân số ở Việt Nam diễn ra muộn hơn các quốc gia châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…, nhưng tốc độ già hóa lại nhanh hơn, diễn biến phức tạp hơn, bởi nước ta vẫn là nước đang phát triển. Do đó, việc nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các quốc gia đi trước sẽ giúp Việt Nam có sự chuẩn bị cần thiết để phát huy tối đa cơ hội, giảm thiểu các hạn chế, tác động đến công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh trong thời kỳ già hóa dân số.

Thứ tư, khai thác, tận dụng tối đa cơ hội, giảm thiểu các thách thức do tình trạng già hóa dân số đem lại trong phát triển bền vững đất nước thông qua bố trí công việc phù hợp với điều kiện chuyên môn, sức khỏe để NCT phát huy hết khả năng, truyền lại các kiến thức, kinh nghiệm quản lý, sản xuất,... cho thế hệ sau. Cần xây dựng ngành “kinh tế bạc”, sản xuất các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng các nhu cầu đang ngày càng gia tăng của NCT; nghiên cứu, ban hành các chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực liên quan đến chăm sóc sức khỏe NCT để giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước cũng như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghệ thân thiện với NCT trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay./.

ST.

PHÁT TRIỂN, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ


Nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước ta càng đặc biệt coi trọng việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

Vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Ông cha ta thường căn dặn: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. C. Mác cho rằng, con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất. Nhà tương lai học người Mỹ, Alvin Toffler nhấn mạnh vai trò của lao động trí thức: “Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên”(1).

Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất - kỹ thuật, khoa học - công nghệ,... có mối quan hệ nhân - quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối các nguồn lực khác và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý; còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố hữu hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả. Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác; trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.

Thực tế chứng minh rằng, một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi, nhưng kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh tế đúng đắn, biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó; với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ trí thức xứng tầm; lực lượng công nhân kỹ thuật tay nghề cao, đông đảo và có các doanh nhân tài ba.

Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức và trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định. Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao đều phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là những người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực”. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, có môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và một môi trường chính trị - xã hội ổn định.

Quan điểm và thực trạng xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của đất nước trong thời kỳ đổi mới

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong thời kỳ đổi mới, quan điểm chỉ đạo cơ bản của Đảng ta là đặt con người vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Quan điểm này của Đảng và Nhà nước ta là sự vận dụng tổng hợp các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về con người. Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(2). Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn: “Đầu tiên là công việc đối với con người”(3); “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(4)...

Tinh thần trên được phản ánh trong các bước phát triển về nhận thức, tư duy của Đảng về con người, về phát triển nguồn nhân lực từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII nêu rõ: “Kinh nghiệm vô giá mà chúng ta khái quát được trong lịch sử lâu dài và đầy khắc nghiệt của dân tộc ta là: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là nguồn lực con người Việt Nam; là sức mạnh nội sinh của chính bản thân dân tộc Việt Nam. Con người Việt Nam là tài sản quý báu nhất của Tổ quốc ta và chế độ xã hội chủ nghĩa chúng ta”(5).

Tại Đại hội XI (năm 2011), Đảng nhấn mạnh quan điểm: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”(6), “là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”(7). Những quan điểm này đánh dấu sự chuyển hướng từ nhận thức có tính chất lý luận về vị trí, vai trò của nhân tố con người và nguồn nhân lực đến coi phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong 3 khâu đột phá của chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2011 - 2020.

Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao, thông qua quan điểm: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu...”(8). Đại hội XII của Đảng cũng đưa ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới, đòi hỏi cần phải: “Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất, kinh doanh, chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành”(9).

Sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế không thể thành công nếu thiếu nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, với những con người có đủ “đức”, “tài”. Xét dưới góc độ nguồn nhân lực, có thể thấy, đội ngũ cán bộ khoa học của nước ta so với các nước xung quanh còn có khoảng cách lớn không dễ thu hẹp. Không ít chuyên gia đã chỉ rõ, nước ta đang vấp phải 3 trở lực lớn: chất lượng còn thấp về nguồn nhân lực(10), sự bất cập của kết cấu hạ tầng, vật chất - kỹ thuật, thể chế và năng lực quản lý nguồn nhân lực còn hẫng hụt về nhiều mặt.

Nhìn vào bức tranh tổng thể cho thấy, số lượng cán bộ khoa học đầu đàn, chuyên gia trong các lĩnh vực còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của đất nước trong giai đoạn mới. Những công trình khoa học có chất lượng cao, được Đảng, Nhà nước và xã hội tôn vinh, ghi nhận còn ít. Ngoài ra, nhiều công trình các cấp được triển khai và nghiệm thu nhưng tính ứng dụng - thực tiễn, chất lượng nhìn chung còn thấp.

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức chưa tương xứng, chưa đáp ứng tốt yêu cầu công việc; tính chủ động, ý thức trách nhiệm còn thấp; khả năng quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế. Một bộ phận công chức thoái hóa, biến chất, tham nhũng, buôn lậu, nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân, thiếu công tâm, khách quan khi giải quyết công việc; kỷ luật hành chính lỏng lẻo, bản lĩnh thiếu vững vàng, bộc lộ những yếu kém, bất cập. Đảng ta đánh giá: “Đội ngũ cán bộ hiện nay xét về chất lượng, số lượng, cơ cấu nhiều mặt chưa ngang tầm với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; “Năng lực và phẩm chất của nhiều cán bộ, công chức còn yếu, một bộ phận không nhỏ thoái hóa, biến chất”... Tất cả những điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và hiệu quả lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; đồng thời đặt ra đòi hỏi bức thiết là phải cải cách, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.

Thực trạng nguồn nhân lực hiện nay khó cho phép tận dụng tốt nhất vận hội, thời cơ đang đến với đất nước. Nếu không nhanh chóng khắc phục được yếu kém này, chúng ta sẽ phải đối diện với những nguy cơ, những thách thức mới, sẽ kéo theo sự tụt hậu của đất nước. Nếu không giải quyết được bài toán nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng chất lượng nguồn nhân lực, mà hệ quả của nó là sụt giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế; khó thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”; đánh mất cơ hội tham gia thị trường lao động quốc tế.

Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong thời gian tới

Thứ nhất, để phát triển được nguồn nhân lực chất lượng cao cần chú trọng gắn kết 3 khâu: đào tạo, sử dụng, đãi ngộ. Việc đào tạo phải dựa trên xu hướng, nhu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam, đúng địa chỉ sử dụng; tiếp cận cách làm hay của thế giới.

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy, muốn đạt được thành công trong chiến lược phát triển của mình thì phải chú trọng đến vai trò quan trọng của yếu tố con người, nhất là nhân tài, là nguồn lực tạo ra thế mạnh cạnh tranh. Do đó, việc thu hút người tài cần trở thành ưu tiên hàng đầu đối với mỗi tổ chức. Tuy vậy, các tổ chức cũng phải đối mặt với ba áp lực lớn, đó là: biến động về con người, biến động nguồn vốn và biến động trong tri thức. Điều này khiến cho việc quản lý người tài trở nên khó khăn.

Thứ hai, để tăng cường quản lý nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay, cần có các phương pháp quản lý phù hợp. Trong đó cần đặc biệt chú ý đến 2 nhóm yếu tố: yếu tố nguồn nhân lực (gồm sự phù hợp giữa con người với tổ chức, lương và các khoản thu nhập, đào tạo và phát triển chức nghiệp, các cơ hội thực hiện nhiệm vụ đầy thách thức) và yếu tố tổ chức (hành vi của lãnh đạo, mối quan hệ trong tổ chức, văn hóa và các chính sách của tổ chức, môi trường làm việc).

Cần có chính sách phù hợp về cơ chế lương, thưởng đặc biệt đối với nhân tài. Cần nghiên cứu thành lập và sử dụng có hiệu quả nhất “Quỹ nhân tài” để khuyến khích nhân tài phát triển, cống hiến, sáng tạo, gắn bó, đồng hành cùng tổ chức. Về lâu dài, cần có cơ chế, chính sách về nhà ở, các phương tiện, điều kiện làm việc tốt nhất cho nhân tài công tác, cống hiến cho sự phát triển của tổ chức, của quốc gia.

Thứ ba, đối với đội ngũ trí thức, nhân tài, cần quán triệt sâu sắc quan điểm: “Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức... Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của trí thức. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến; có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước”(11); đồng thời, nâng cao ý thức trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của nhân tài vì sự nghiệp chung.

Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đòi hỏi phải đổi mới trên nhiều phương diện, phải có một môi trường trọng công bằng, kỷ cương, đạo đức, thượng tôn pháp luật được coi làm chuẩn mực; tạo ra một môi trường văn hóa dẫn dắt sự phát triển nguồn nhân lực.

Khi đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện sự phát triển kinh tế - xã hội chưa cao thì yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp đổi mới. Đảng ta xác định phải lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển bền vững; là điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng./.


Do đó, trong chiến lược phát triển đất nước, nguồn nhân lực phải được quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực về trí tuệ, ý chí và niềm tin... Nguồn nhân lực có chất lượng cao, với số lượng và cơ cấu hợp lý, giàu trí tuệ, giàu ý chí và khát vọng, có lý tưởng cách mạng soi sáng, sẽ là động lực để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đáp ứng được yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay./.

Cội nguồn lịch sử và văn hóa của kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ

Kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ có cội nguồn sâu xa trong lịch sử đấu tranh, trong truyền thống văn hóa lâu đời và độc đáo của dân tộc ta. Đó là biểu tượng và đỉnh cao của hình ảnh người lính cầm vũ khí chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc Việt Nam, vì hạnh phúc của nhân dân trong thời đại mới.

Xuất xứ và ý nghĩa tên gọi Bộ đội Cụ Hồ

Trong một hồi ức của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kể về xuất xứ của tên gọi Bộ đội Cụ Hồ như sau: “Tôi nhớ rằng từ trong khu giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc đã trìu mến gọi các đơn vị vũ trang ta là “Bộ đội Ông Ké” hay “Bộ đội Ông Cụ” một cách thân thương, chân thành như tấm lòng của đồng bào đối với lãnh tụ của mình mà nhiều người lúc đó chưa biết tên Bác. Có lẽ, về sau, khi biết tên Người, đó là Bác Hồ, là Chủ tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam mới, mọi người đã gọi “Bộ đội Ông Ké” là Bộ đội Cụ Hồ. Và cũng từ chiến khu Việt Bắc, tên gọi yêu dấu ấy xuất hiện từ khời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp”.


Đoàn cán bộ ngành chính sách Quân đội tham quan Bia di tích địa điểm ra đời Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thuộc Khu di tích quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng).

Từ đó đến nay, qua 80 năm chiến đấu và trưởng thành, Bộ đội Cụ Hồ trở thành một danh hiệu cao quý của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hình ảnh và tên gọi Bộ đội Cụ Hồ là một hiện tượng rất độc đáo trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng. Ít thấy có dân tộc nào trên thế giới mà chính nhân dân lấy tên lãnh tụ tối cao của mình đặt cho Quân đội. Danh hiệu đó thể hiện sâu sắc mối quan hệ khăng khít giữa người chiến sĩ với Bác Hồ và giữa Bác Hồ với người chiến sĩ.

Trước hết, đó là tình cảm, tình yêu và niềm tin sâu xa của quần chúng dành cho LLVT cách mạng. Hiếm có một dân tộc nào mà hình ảnh người lính lại được toàn dân coi đó là một hình mẫu của con người trong thời đại mới, để hết lòng tin yêu, quý trọng, động viên mọi thế hệ con cháu kế tiếp và noi theo gương sáng của Bộ đội Cụ Hồ như dân tộc Việt Nam ta. Đó là một cách gọi rất Việt Nam, vô cùng gần gũi, trìu mến và có lẽ chỉ có ở Việt Nam .

Nhân dân gọi bộ đội là Bộ đội Cụ Hồ chính vì bản thân các thế hệ chiến sĩ Quân đội trải qua 80 năm chiến đấu đã luôn luôn xứng đáng với niềm tin của Người và từ đó hình ảnh người chiến sĩ đã trở thành một mẫu hình cao đẹp, bình dị về con người mới với lý tưởng, đạo đức cao thượng, trong sáng, thực hiện trọn vẹn xuất sắc chỉ thị, niềm tin và những lời căn dặn đầy yêu thương của Bác Hồ.

Ý nghĩa sâu xa hơn, nhân dân ta gọi Bộ đội Cụ Hồ vì Cụ Hồ-tên gọi trìu mến, ấm áp của nhân dân dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người tiêu biểu cho ý chí đấu tranh bất khuất của nhân dân, là hiện thân của niềm tin và sức mạnh, là người tổ chức và dẫn dắt nhân dân ta đứng lên tự giải phóng, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nhân dân ta gọi Bộ đội Cụ Hồ vì cảm nhận sâu sắc quan hệ đặc biệt hiếm có giữa Bác và Quân đội, Bác và chiến sĩ. Bác là người cha thân yêu của các LLVT nhân dân Việt Nam, là người khai sinh ra Quân đội ta. Bác chăm lo từng bước trưởng thành của Quân đội, giáo dục chiến sĩ, khuyên bảo cán bộ... Nét đẹp hiếm có và có lẽ chỉ có ở Bác, trong tình cảm, đạo đức của Người là sự vô cùng gần gũi, yêu thương bộ đội, tin tưởng ở tinh thần dũng cảm và sáng tạo của bộ đội, thấu hiểu, cảm thông và xúc động trước sức chịu đựng gian khổ, khó khăn, hy sinh của người chiến sĩ... Bác Hồ đã để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn thể bộ đội trước lúc đi xa.

Chỉ có 4 từ “Bộ đội Cụ Hồ”, song đã chứa đựng trong đó một giá trị văn hóa đặc sắc của lịch sử hiện đại Việt Nam, khi mà lý tưởng cách mạng, tấm gương sáng ngời của Bác Hồ hòa quyện và thống nhất tuyệt đối với khát vọng giải phóng, độc lập, tự do của nhân dân, của Quân đội cách mạng do Đảng và Bác sáng lập.

Kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ có cội nguồn văn hóa quân sự của dân tộc Việt Nam

Bộ đội Cụ Hồ là sản phẩm của lịch sử hiện đại Việt Nam, song nếu xét từ góc độ truyền thống dân tộc và truyền thống văn hóa nước ta từ hàng nghìn năm trước, thì kiểu mẫu Bộ đội Cụ Hồ còn có nguồn gốc sâu xa hơn, bởi vì, nó không chỉ là sản phẩm của 80 năm qua, mà còn bắt nguồn, nối tiếp và phát triển của kiểu mẫu những người cầm vũ khí, của nghĩa sĩ, nghĩa binh, nghĩa quân đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc cả nghìn năm lịch sử.

Họ đã tự nguyện sung vào Quân đội chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp trong suốt nghìn năm dựng nước, giữ nước, trong một nghìn năm Bắc thuộc, trong các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm thời phong kiến và trong gần một thế kỷ đô hộ của thực dân Pháp. Họ là những người con ưu tú của dân tộc Việt Nam. Có lẽ giống trong truyền thuyết, Thánh Gióng là người lính đầu tiên trong lịch sử nước nhà cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ và giải phóng quê hương! Gióng đánh quân xâm lược một mình? Không phải! Ai nuôi Gióng từ một cậu bé bỗng lớn lên thành Phù Đổng? Dân làng. Ai rèn đúc vũ khí (ngựa sắt, gươm sắt) cho Gióng? Cơm gạo của dân làng. Gậy sắt bị gãy, vũ khí thay thế cho Gióng là các cụm tre làng. Gióng đã thắng, đuổi quân xâm lược khỏi bờ cõi đất nước, song, đó chính là sức mạnh nhân dân trong Gióng đã làm nên chiến thắng. Hình như có một sự tương đồng kỳ diệu giữa huyền thoại người anh hùng làng Gióng với Quân đội nhân dân của chúng ta hàng nghìn năm sau.

Nói về những nghĩa binh, nghĩa quân của cả nghìn năm lịch sử không thể không kể tới hình ảnh của các nữ binh thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu, những nữ binh cưỡi voi xung trận với tinh thần “đền nợ nước, trả thù nhà”, với khí thế “muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi”, đánh đuổi giặc, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, làm nên truyền thống Việt Nam “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Phải chăng, đó là cội nguồn tạo tiền đề đầu tiên cho sự ra đời của các “đội quân tóc dài”, của nữ thanh niên xung phong và nữ chiến sĩ cách mạng sau này?

Nói về những nghĩa binh, nghĩa quân thời xa xưa ấy không thể không nhắc tới những người “cờ lau tập trận” trong đội quân Đinh Bộ Lĩnh thời phục thù dẹp 12 sứ quân năm 967, những người áo vải cờ đào trong khởi nghĩa Tây Sơn (năm 1786) nhằm lập lại nền thống nhất đất nước, chấm dứt cuộc xung đột Nam-Bắc và cuộc Trịnh-Nguyễn phân tranh. Nói về những nghĩa sĩ, nghĩa binh trong lịch sử giữ nước, cần phải nói nhiều hơn đến hình ảnh những người lính đã làm nên chiến công lẫy lừng trên sông Bạch Đằng, sông Cầu, ở bến Chương Dương, Hàm Tử, Chi Lăng, Xương Giang, Tốt Động, Chúc Động, Rạch Gầm, Xoài Mút, Ngọc Hồi, Đống Đa... Đó là thế hệ những người lính nối tiếp nhau của những thời điểm lịch sử oai hùng với những chiến công lẫm liệt. Đó là hình ảnh của những tráng sĩ mài gươm, những “Hội nghị Diên Hồng”, những cuộc dấy binh “Lam Sơn tụ nghĩa”, là tiếng hô “Sát Thát”, là tiếng thơ sang sảng “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, là lời “Hịch tướng sĩ” đầy sức động viên, vẫy gọi khí thế chiến đấu. Họ bất tử trong lịch sử và đi vào những tác phẩm văn hóa bất hủ: Sông núi nước Nam (thơ thời Lý Thường Kiệt), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Bình ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu), Phú núi Chí Linh (Nguyễn Mộng Tuân), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Ai Tư Vãn (Lê Ngọc Hân) và thơ của Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung...

Di sản tinh thần quý giá trên để lại cho các thế hệ sau, đặc biệt từ khi có Đảng và Bác Hồ, một truyền thống bền vững, đó là lòng yêu nước, ý chí bất khuất, quật cường, đồng thời đó còn là phẩm giá đạo đức tuyệt vời của người lính “Phụ tử chi binh” của thời Trần, “Huynh đệ chí binh” của thời Lê, thời Tây Sơn. Các giá trị truyền thống trên là cơ sở, là cội nguồn lịch sử để sau này chúng ta xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì Tổ quốc sẵn sàng hy sinh.

Ở đây, trong cảm nhận về vẻ đẹp độc đáo của người lính Việt Nam, từ nghĩa binh, nghĩa quân đến Bộ đội Cụ Hồ là một dòng chảy lịch sử không đứt đoạn. Ví như, tinh thần quân và dân như cá với nước, nghĩa tình đồng đội, đồng chí thương yêu nhau như ruột thịt phải chăng đã bắt nguồn từ thời “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” có từ thời khởi nghĩa Lam Sơn!

Từ sự phân tích, cảm nhận trên cho phép chúng ta khẳng định rằng, kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ có cội nguồn sâu xa trong lịch sử đấu tranh, trong truyền thống văn hóa lâu đời và độc đáo của dân tộc ta. Đó là biểu tượng và đỉnh cao của hình ảnh người lính cầm vũ khí chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc Việt Nam, vì hạnh phúc của nhân dân trong thời đại mới./.

ST.