Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2024

PHƯƠNG PHÁP ĐỂ TRUYỀN TẢI THÔNG TIN TÍCH CỰC CÓ HIỆU QUẢ

 Trước hết, các cấp, các ngành, địa phương, các cơ quan, tổ chức, nhất là người đứng đầu, cán bộ,

đảng viên cần nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lan tỏa thông tin tích cực trong

bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là ngăn chặn,

triệt phá, xóa bỏ thông tin tiêu cực, thông tin xấu, độc, đấu tranh trực diện với các luận điệu

xuyên tạc, sai trái, thù địch mà còn phải chủ động đăng tải, chia sẻ các thông tin tốt, thông tin

tích cực, thông tin có tính định hướng, tạo môi trường thông tin lành mạnh, “giải độc” thông tin

kịp thời, góp phần ổn định, định hướng dư luận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự

lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, vào những thành tựu đã đạt được của đất nước.

Hai là, mỗi cán bộ, đảng viên, thanh niên, quần chúng nhân dân cần chủ động, tích cực đăng tải,

chia sẻ thông tin tốt, thông tin tích cực trên các trang tin, tài khoản mạng xã hội. Đặc biệt, cần

tích cực sử dụng tài khoản mạng xã hội, trang cá nhân để đăng tải, chia sẻ các thông tin tích cực,

thông tin tốt, thông tin chính thống nhằm lan tỏa những thông tin, hình ảnh đẹp, câu chuyện hay,

việc làm ý nghĩa, những điều tốt đẹp trong xã hội đến với cộng đồng. Hiện nay, hầu hết mỗi cán

bộ, đảng viên trẻ, đoàn viên, thanh niên đều sử dụng mạng xã hội và có ít nhất một tài khoản

mạng xã hội. Nếu mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên mỗi ngày đăng tải, chia sẻ một

tin tốt, mỗi tuần đăng tải, chia sẻ một câu chuyện đẹp thì sẽ góp phần lấn át, ngăn chặn, đẩy lùi

các thông tin tiêu cực, thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Bên cạnh

đó, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên cần vận động người thân, bạn bè tích cực đăng tải,

chia sẻ các thông tin tốt, hình ảnh đẹp, những câu chuyện mang giá trị nhân văn, đề cao cái tốt,

cái đẹp lên mạng xã hội, qua đó hướng mọi người tới các giá trị cao đẹp, sống có lý tưởng, có

hoài bão, có bản lĩnh, sống đẹp, sống có ích, trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, góp phần

phản bác các thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch.

Ba là, tiếp tục phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức trong việc lan tỏa thông tin tích cực,

thông tin chính thống. Triển khai xây dựng hệ thống các trang tin, fanpage của các xã, thị trấn,

phấn đấu 100% các xã, thị trấn trong cả nước đều có trang fanpage riêng nhằm tạo thành hệ

thống thông tin tuyên truyền. Thông qua các trang tin, tài khoản mạng xã hội này để đăng tải,

chia sẻ thông tin tích cực, thông tin tốt, phản bác mạnh mẽ các quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong cả nước, các trang tin, tài

khoản mạng xã hội của các cơ quan, tổ chức, bộ, ngành, địa phương, Đoàn Thanh niên trong việc

đăng tải, chia sẻ các thông tin tốt, thông tin tích cực. Các cơ quan báo chí, truyền thông cần tiếp

tục duy trì có hiệu quả các chuyên mục, chuyên trang về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đồng thời, tăng cường liều lượng đăng phát các thông tin tốt, tích cực, gương người tốt việc tốt

để góp phần lan tỏa những điều tốt đẹp, ý nghĩa, nhân văn trong cuộc sống, định hướng dư luận

xã hội. Bên cạnh đó, cần huy động đội ngũ trí thức, chuyên gia, các nhà khoa học, nhà nghiên

cứu, nhà báo có uy tín, cựu chiến binh, văn nghệ sĩ, thanh niên, những người có uy tín, ảnh

hưởng trên không gian mạng… đăng tải, chia sẻ các thông tin tốt, thông tin tích cực, góp phần

bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Năm là, đa dạng hóa các hình thức, cách thức lan tỏa thông tin tích cực. Kết hợp lan tỏa thông tin

tích cực trên các cơ quan báo chí, truyền thông với sử dụng các trang thông tin điện tử, tài khoản

mạng xã hội để đăng tải thông tin tích cực. Đặc biệt, cần chú ý, thông tin tốt, thông tin tích cực

được đăng tải, chia sẻ trên các nền tảng Internet, mạng xã hội cần phải đa dạng, sinh động, “bắt

mắt, lọt tai”, phù hợp với tâm lý công chúng, nhất là giới trẻ và nền tảng truyền thông đa phương

tiện giúp người dùng tiếp cận với thông tin dễ dàng và tiện lợi nhất.

ĐẨY MẠNH LAN TỎA THÔNG TIN TÍCH CỰC, THÔNG TIN CHÍNH THỐNG TỚI MỌI TẦNG LỚP NHÂN DÂN

 Với tinh thần “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, thời gian qua, các bộ,

ngành, địa phương, các cơ quan báo chí đã sử dụng nhiều hình thức, cách thức, phát động nhiều

phong trào, cuộc vận động với những mô hình hay, thiết thực, ý nghĩa nhằm lan tỏa thông tin tốt,

thông tin tích cực góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cụ thể là:

Thông qua việc thiết lập các chuyên trang, chuyên mục về bảo vệ nền tảng tư tưởng, gương

người tốt việc tốt, sự kiện và bình luận… trên các cơ quan báo chí chính thống của Đảng, Nhà

nước, bộ, ngành, địa phương để tuyên truyền các thông tin tốt, thông tin tích cực. Điển hình như

Báo Nhân dân mở các chuyên mục: “Đảng với sự nghiệp đổi mới”, “Việc cần làm ngay”, “Bình

luận phê phán”…; Báo Công an nhân dân đã mở các chuyên mục: “Chống diễn biến hòa bình”,

“Vấn đề hôm nay”, “Công an trong lòng dân”, “Gương sáng”…; Báo Quân đội nhân dân mở các

chuyên mục: “Đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống”, “Tiếp lửa truyền thống”, “Bảo vệ nền

tảng tư tưởng của Đảng”…; Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam mở chuyên mục: “Bảo vệ nền

tảng tư tưởng của Đảng”; "Gương sáng đảng viên"…

Thông qua các chuyên trang, chuyên mục này, các cơ quan báo chí không chỉ đăng tải các thông

tin, bài viết, phóng sự đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà còn chủ động đăng

tải, lan tỏa các thông tin tốt, thông tin tích cực nhằm định hướng dư luận xã hội. Bên cạnh đó,

một số cơ quan báo chí như Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói

Việt Nam đã chú trọng phát triển các kênh tuyên truyền đối ngoại đến với người Việt ở nước

ngoài và cộng đồng quốc tế, góp phần đưa thông tin khách quan, đúng đắn về tình hình đất nước.


Thiết lập, duy trì hoạt động của các trang thông tin điện tử, tài khoản mạng xã hội (Facebook,

Fanpage, YouTube…) để đăng tải tin, bài, phóng sự, video clip, hình ảnh… có nội dung tích cực,

thông tin tốt, thông tin chính thống. Thông qua đó, tạo dòng thông tin chính thống định hướng dư

luận, tạo đồng thuận trong xã hội ủng hộ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật

của Nhà nước…

Vận động cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, đoàn viên, thanh niên sử dụng các trang

thông tin điện tử, tài khoản mạng xã hội cá nhân đăng tải, chia sẻ các thông tin chính thống,

thông tin tích cực, đồng thời không đăng tải, chia sẻ tin giả, tin sai sự thật, thông tin chưa được

kiểm chứng trên các trang cá nhân. Điển hình như Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ

Chí Minh phát động cuộc vận động “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp trên

mạng xã hội”…

Có thể thấy rằng, những thông tin tốt, tích cực, chính thống được đăng tải rộng rãi trên báo chí,

Internet, mạng xã hội thời gian qua không chỉ định hướng dư luận xã hội mà còn “lấn át”, “giải

độc” các thông tin xấu, thông tin tiêu cực, phản bác các thông tin xuyên tạc, các quan điểm sai

trái, thù địch góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

TẠI SAO CẦN TĂNG CƯỜNG LAN TỎA THÔNG TIN TÍCH CỰC TRÊN INTERNET?

 Chủ động lan tỏa thông tin tích cực thực chất là việc chủ động đăng tải, chia sẻ các thông tin tốt,

thông tin chính thống, thông tin có tính định hướng dư luận xã hội để lan tỏa những thông tin tốt,

hình ảnh đẹp, những câu chuyện mang giá trị nhân văn, người tốt việc tốt nhằm tạo ra xu hướng

tích cực trên báo chí, Internet, mạng xã hội, từ đó “cạnh tranh”, “lấn át” các thông tin tiêu cực,

thông tin xấu, độc, góp phần định hướng dư luận xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trước đây, khi công nghệ thông tin, truyền thông xã hội chưa phát triển, báo chí chủ yếu sử dụng

phương thức chuyển tải thông tin đơn chiều, áp đặt, chưa có sự tương tác với công chúng. Ngày

nay, với sự phát triển của các phương tiện truyền thông hiện đại, đặc biệt là truyền thông xã hội

đã kết nối thế giới đến từng cá nhân, làm cho việc tiếp cận thông tin không còn độc quyền như

trước. Thay vào đó, mọi người sử dụng mạng xã hội đều tham gia vào quá trình tương tác, phản

biện, cung cấp, chia sẻ thông tin như những “nhà báo” độc lập tạo ra môi trường thông tin đa

chiều với nội dung thông tin phong phú, đa dạng. Trong truyền thông xã hội, tuổi thọ của thông

tin thường rất ngắn, do đó thông tin phải bảo đảm tính mới, gắn với thực tiễn đời sống xã hội và

được nhiều người quan tâm. Đây là điều kiện rất thuận lợi để chúng ta có thể sử dụng các trang

tin, tài khoản mạng xã hội để đăng tải, chia sẻ thông tin tốt, thông tin tích cực nhằm “phủ xanh”

thông tin tích cực trên Internet, mạng xã hội, “giải độc” kịp thời các thông tin tiêu cực, xấu, độc,

sai trái, thù địch.

Internet, mạng xã hội ngày nay đang trở thành môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch, phần

tử xấu sử dụng tuyên truyền các thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch chống phá nền

tảng tư tưởng của Đảng. Trung bình mỗi năm các đối tượng đã sử dụng các tiện ích, ứng dụng


trên Internet, mạng xã hội đăng tải, tán phát hàng trăm ngàn tin, bài viết, video clip có nội dung

sai trái, thù địch, xấu, độc hại trên không gian mạng. Trong đó, chúng tập trung tuyên truyền

xuyên tạc, công kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc quan

điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, nhất là đường lối đổi mới, chính sách đối

nội, đối ngoại, quan điểm của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề quốc tế; phủ nhận lịch sử và

thành quả cách mạng; xuyên tạc, phủ nhận chế độ XHCN và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam; bôi nhọ hình ảnh, danh dự của Đảng, Nhà nước Việt Nam; bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo

Đảng, Nhà nước; cổ vũ, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, “xã hội dân sự” theo tiêu chí tư

sản phương Tây; tuyên truyền sai lệch về tình hình Việt Nam, vu cáo Việt Nam vi phạm “dân

chủ”, “nhân quyền”, đàn áp tôn giáo, đàn áp dân tộc thiểu số; tán phát tin giả, thông tin sai sự

thật, thông tin chưa được kiểm chứng...

Những luận điệu trên không chỉ gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự hoang mang, hoài nghi trong dư

luận mà còn tác động, ảnh hưởng xấu đến an ninh, an toàn xã hội, đến đạo đức, lối sống, nhân

cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc. Chính vì vậy, để ngăn chặn, đẩy lùi thông tin

xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bên cạnh

việc ngăn chặn, triệt phá, xóa bỏ thông tin xấu, độc, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần

phải chủ động tăng cường tuyên truyền thông tin tích cực, thông tin chính thống, thông tin có

tính định hướng dư luận xã hội trên các cơ quan báo chí, Internet, mạng xã hội.

BẢO VỆ TỰ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN CÁC NỀN TẢNG CHIA SẺ THÔNG TIN

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một

nội dung cơ bản, quan trọng của công tác tư tưởng, lý luận; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của

toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, quyết định sự tồn

vong của Đảng và chế độ. Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về

“Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù

địch trong tình hình mới” khẳng định: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh

phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn

của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”.

Nghị quyết số 35-NQ/TW nhấn mạnh: “Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ

bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài”.

Đặc biệt, Nghị quyết nêu rõ: “Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có

hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu độc trên Internet, mạng xã hội”.

Có thể thấy, trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, Đảng không chỉ nhấn mạnh đến việc chủ

động ngăn chặn, xử lý, xóa bỏ thông tin tiêu cực, phản bác thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái,

thù địch mà còn đặc biệt coi trọng đến việc chủ động tăng cường thông tin tích cực. Đó chính là

sự khẳng định của quan điểm kết hợp giữa “xây” và “chống”, giữa “bảo vệ” và “đấu tranh”,

trong đó lấy “xây”, “bảo vệ” là chính, là cơ bản.

ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN VIỆC LỢI DỤNG GIÁO DỤC ĐỂ CHỐNG PHÁ

 Để chủ động đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng lĩnh vực Giáo dục và

Đào tạo chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch. Chúng ta cần tiếp tục thực hiện tốt

một số giải pháp sau:

Thứ nhất, đưa vào nội dung giảng dạy những tri thức cơ bản giúp học sinh, sinh viên nhận thức

rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và góp phần đấu tranh với các quan điểm sai trái.

Thứ hai, xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, học đi

đôi với hành, coi phát triển Giáo dục và Đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng

nhân tài; cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với thực tiễn, quy luật khách quan, với tiến

bộ khoa học - công nghệ; hội nhập quốc tế theo tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, gắn

với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc.

Thứ ba, bảo đảm công tác quản lý lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo hướng dân chủ, thống nhất.

Tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục và đào tạo. Thực hiện tốt công

tác giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội. Công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan

quản lý các cấp phải bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Giải quyết dứt điểm, nhanh gọn,

không để lan rộng những vấn đề phức tạp trong cơ sở giáo dục, không để các thế lực thù địch có

cơ hội lợi dụng vào tuyên truyền phá hoại tư tưởng, lôi kéo, tập hợp lực lượng đối lập.

Thứ tư, đổi mới, toàn diện từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động

quản trị của các cơ sở giáo dục và đào tạo. Quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành

tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên

quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm sai trái, lệch lạc.

Thứ năm, nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ

nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Cấp ủy trong các cơ sở Giáo dục và Đào tạo phải thực sự đi

đầu đổi mới, gương mẫu thực hiện và chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, nhân dân về việc

tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ được giao. Lãnh đạo nhà trường phát huy dân

chủ dựa vào đội ngũ giáo viên, viên chức và học sinh; phát huy vai trò dựa vào các tổ chức đoàn

thể và nhân dân địa phương để xây dựng nhà trường thực sự trong sạch, vững mạnh.

THẾ LỰC THÙ ĐỊCH DÙNG GIÁO DỤC ĐỂ ĐẨY MẠNH “TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA”

 Những năm gần đây, các thế lực thù địch luôn ra sức tuyên truyền, quảng bá, tô vẽ, khuếch

trương nền giáo dục phương Tây và Mỹ, coi đó là điểm đến lý tưởng, con đường duy nhất để thế

hệ trẻ Việt Nam có điều kiện làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của đất nước”. Thông qua

các hình thức như tổ chức hội thảo, tọa đàm, triển lãm du học, tham quan các trường đại học

danh tiếng nước ngoài... Từ đó, từng bước nhồi nhét, cài đặt tư tưởng “sùng ngoại, bài nội”. Đối

với học sinh, sinh viên, chúng tác động thay đổi tận gốc nhân cách, lôi kéo người có năng lực để

tạo ra một tầng lớp tri thức mới với hệ tư tưởng thân phương tây, nhằm sau này sẽ sử dụng vào

việc đề cao chủ nghĩa tư bản, lối sống phương tây, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Giáo dục nước

ngoài mặt này, mặt khác tiến bộ khi chúng ta nhìn vào, nhưng chưa chắc đã mang lại hiệu quả

trong điều kiện cụ thể của nước ta, cho nên chúng ta chỉ có thể tham khảo, tiếp thu những điểm,

những cách làm xét thấy phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, chúng ta không đóng cửa mà

sẵn sàng giao lưu với các nền giáo dục khác, nhưng cũng không thái quá trong vấn đề mở cửa

giáo dục.

“LỢI DỤNG GIÁO DỤC” ĐỂ CHỐNG PHÁ

 Hiện nay, giáo dục và đào tạo là một trong những yếu tố quyết định đến tiến trình phát triển lâu

dài của đất nước, nhất là trong xu thế hội nhập toàn cầu cùng sự bùng nổ của cuộc cách mạng

công nghiệp 4.0. Tuy nhiên, một số nhiệm vụ, giải pháp đổi mới còn thiếu hệ thống, chưa ổn

định. Nội dung, chương trình nặng lý thuyết, nhẹ về thực hành, chất lượng, hiệu quả giáo dục và

đào tạo chưa cao. Vẫn còn các vụ bê bối trong thi cử, trong quan hệ của giáo viên, bạo lực học

đường... Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà

nước ta.

Chúng lợi dụng triệt để những tồn tại, hạn chế của nền giáo dục và đào tạo, đưa ra những luận

điệu phủ nhận rằng nguyên nhân của mọi nguyên nhân là do sai lầm trong đường lối của Đảng,

sự quản lý yếu kém của Nhà nước, cần phải thay đổi nền giáo dục và đào tạo ở nước ta. Xuyên

tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước về lĩnh vực giáo dục và

đào tạo; thổi phồng một số hiện tượng tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo ở nước ta,

hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Mục tiêu của

chúng là phủ nhận những đóng góp to lớn của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực giáo dục, đào

tạo. Thực tế chứng minh, hiện tượng tiêu cực trong giáo dục có ở mọi quốc gia, mọi nền giáo

dục, ngay ở các nước phương Tây và Mỹ cũng không tránh được những hiện tượng này. Việc vi

phạm pháp luật trong tuyển sinh ở một số địa phương như Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang những

năm trước đã có pháp luật giải quyết, không được lợi dung để bôi nhọ thanh danh của một số

đồng chí lãnh đạo và đưa thêm các địa phương khác đang rất nghiêm túc, rất minh bạch trong

công tác này.

Xuyên tạc do thể chế chính trị tác động, giáo dục nặng về chính trị, tư tưởng cho nên chương

trình, nội dung nặng nề và chúng đòi bỏ phần giáo dục lý luận chính trị. Mục đích cao nhất, có

tính chiến lược của chúng là nhằm làm cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xa rời, từ bỏ mục

tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xa rời, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh. Tức là làm cho ta từ bỏ nền tư tưởng - vũ khí tinh thần, từ bỏ thế giới quan,

phương pháp luận khoa học, kim chỉ nam cho mọi hành động. Thực chất, bất cứ nền giáo dục

nào cũng đều phải hướng đến mục tiêu đào tạo ra nguồn nhân lực có lý tưởng, vì dân tộc, vì quốc

gia mình trên cơ sở nắm vững tri thức khoa học của nhân loại.

Sự lựa chọn cho ổn định, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam


Lịch sử chính trị thế giới đã cho chúng ta nhiều bài học để thấy rằng sự chia rẽ, phân rã, thiếu tập trung về quyền lực chính trị sẽ dẫn đến sự bất hòa, đó chính là mầm mống cho những nỗi thống khổ, bất hạnh của người dân.

Tại Việt Nam, vào cuối thập niên 20 của thế kỷ trước, cùng với sự phát triển của các phong trào yêu nước, các tổ chức cộng sản đảng đã ra đời mà tiêu biểu là An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng và Tân Việt Cách mạng Đảng. Sau khi ra đời 3 tổ chức cộng sản đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế cộng sản và đều tự nhận mình là đảng cách mạng chân chính. Tuy nhiên sự xuất hiện và tồn tại 3 tổ chức cộng sản đảng cùng hoạt động cách mạng đã dẫn đến sự chia rẽ nguồn lực, các đảng công kích lẫn nhau để tranh giành ảnh hưởng. Sự chia rẽ, công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thời kỳ này đã gây tổn hại lớn cho sự phát triển của phong trào cách mạng và gây nên tâm trạng nghi ngờ, hoang mang trong quần chúng.

Để chấm dứt sự chia rẽ và công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản, đầu tháng giêng năm 1930, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hương Cảng để triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 là minh chứng lịch sử cho chúng ta thấy cách thức tổ chức một đảng duy nhất cầm quyền, đây là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với đặc trưng văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta.

So với thể chế đa đảng đối lập, nhiều quan điểm cho rằng các quốc gia có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo đất nước đó là “chế độ độc đảng toàn trị”. Hằng năm, các báo cáo về chỉ số tự do dân chủ (Democracy Index) vẫn dựa vào tiêu chí đa đảng đối lập để đánh giá mức độ tự do, dân chủ của một quốc gia. Dựa vào các báo cáo này, họ rao giảng rằng các quốc gia như Việt Nam có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo đất nước thì xu hướng chung “đảng đó sẽ độc chiếm quyền lực, tiếm đoạt các chức năng của nhà nước, kiểm soát toàn bộ đời sống của xã hội nói chung, của cá nhân nói riêng”. Họ "khuyến cáo" rằng, "Việt Nam cần phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để thực hiện dân chủ"(!).

Tuy nhiên phải hiểu rằng, dù đề cập đến dân chủ như một giá trị tốt đẹp, dân chủ như một hình thức cai trị, một cách thức ra các quyết định chung hay dân chủ như một chế độ chính trị thì tất cả các ngữ nghĩa này đều không bắt nguồn từ cách thức tổ chức các đảng chính trị như thế nào. Dù là chế độ một đảng nhưng chúng ta đã, đang thực hiện dân chủ theo những cách riêng, phù hợp với đặc trưng văn hóa, tập quán, lối sống và năng lực thực hành dân chủ của người dân Việt Nam.

Lịch sử đấu tranh cách mạng ở Việt Nam đã cho chúng ta thấy Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất lãnh đạo đất nước, đó là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với phong tục, tập quán, năng lực thực hành dân chủ của người Việt. Nếu ai đó nói với chúng ta rằng Việt Nam cần phải học hỏi các quốc gia trên thế giới, phải xóa bỏ chế độ độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam để tổ chức đời sống chính trị theo chế độ đa đảng, nhất là đa đảng đối lập giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới thì chúng ta đừng hoang mang, dao động, mà hãy nhìn vào đời sống chính trị của các quốc gia theo chế độ đa đảng, đặc biệt là hệ thống đa đảng đối lập đã được phân tích cụ thể ở phần trên. Hãy nhìn vào cuộc sống hiện tại của người dân ở các quốc gia đã trải qua "mùa xuân Ả Rập" hay trải qua "cách mạng sắc màu", những người đã tin theo những lời xúi giục đó, họ đang khát khao như thế nào về một cuộc sống yên bình, ổn định, không có xung đột, đói nghèo và tội phạm gia tăng để cân nhắc quan điểm và lựa chọn hành động cho đúng.

Cho đến hiện nay, chế độ đa đảng, đặc biệt là đa đảng đối lập với đại diện theo tỷ lệ vẫn được các quốc gia phương Tây sử dụng như một “tiêu chuẩn của các nền dân chủ tiên tiến”. Lịch sử tổ chức đời sống chính trị trên thế giới lại cho chúng ta thấy rằng, dân chủ không bắt nguồn từ cách thức chúng ta tổ chức các đảng chính trị như thế nào. Nếu bạn đọc ở đâu đó hay nghe ai đó thuyết giảng rằng Việt Nam cần phải xây dựng chế độ đa đảng giống như mô hình của nhiều quốc gia phương Tây, thì bạn hãy nhớ rằng: Hiện nay, trên thế giới đang có hàng chục quốc gia lựa chọn thể chế "đa nguyên, đa đảng" nhưng đang chìm trong đói nghèo, khủng hoảng chính trị triền miên. Chúng ta có lợi thế hơn họ bởi chúng ta có những tấm gương trước mắt để học hỏi và lựa chọn. Sự lựa chọn đúng đắn nhất của chúng ta là: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đây là sự lựa chọn cho sự ổn định, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta và sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam.

Những nghịch lý và hệ lụy của chế độ đa đảng

 

Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là một khuynh hướng tổ chức đời sống chính trị-xã hội xuất hiện từ đầu thế kỷ 18 với xu hướng tuyệt đối hóa sự đa dạng, đối kháng của các đảng chính trị. Chế độ đa đảng là hệ thống mà ở đó có nhiều đảng chính trị có khả năng giành quyền điều hành chính phủ một cách độc lập hay liên minh với nhau.

Lịch sử chính trị thế giới cho chúng ta một số bài học để thấy rằng hệ thống đa đảng đối lập nhiều khi không dẫn các quốc gia theo con đường này đến hòa bình, ổn định và phồn vinh, mà ngược lại nó dẫn đến sự bất hòa, phân lập, thậm chí là tê liệt của bộ máy công quyền. Trở lại bối cảnh lịch sử của nước Đức cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Nước Đức thời kỳ này tồn tại nhiều đảng phái chính trị, mỗi đảng đại diện cho những lợi ích xã hội được xác định rõ ràng, tranh giành quyền lực và lợi lộc từ quyền lực, thỏa hiệp và ký kết thỏa hiệp với nhau khi nào có thể. Sự chia rẽ trong đời sống chính trị không chỉ dẫn đến hậu quả đau đớn cho Đức vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 mà hiện vẫn còn dẫn tới sự bất ổn chính trị, làm gia tăng nghèo đói và bạo loạn ở nhiều nước trên thế giới.

Nhìn lại cuộc cách mạng “mùa xuân Ả Rập” diễn ra năm 2011 cho thấy điều đó. Phân hóa giàu nghèo, tham nhũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự nổi dậy lật đổ chính quyền tại một loạt quốc gia ở khu vực Bắc Phi và Trung Đông. Nhưng sau khi lật đổ chính quyền, điều mà người dân trông chờ là một nền chính trị ổn định, ít tham nhũng, quan tâm đến đời sống của đại đa số người dân, những gì mà các thế lực bên ngoài rao giảng đã không được thực thi trên thực tế. Thay vào đó là sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái và thế lực chính trị. Cho đến hiện tại, ở các quốc gia này, không có một đảng chính trị hay một lực lượng chính trị nào đủ mạnh để có thể thống nhất, lãnh đạo đất nước khiến xã hội vẫn chưa đi vào ổn định và phát triển.

Thể chế đa đảng với cách thức tổ chức cho phép các đảng đối lập phản đối chính sách của đảng cầm quyền nhằm thực hiện dân chủ, nhưng nghịch lý của nó là khiến chính phủ trở nên phân rã và chia rẽ. Sự phân cực chính trị làm phân tán nguồn lực và các chính sách đem lại lợi ích cho đa số người dân thường sẽ khó được thực thi. Bởi khi không nắm chính quyền, các đảng chính trị sẽ có nhiệm vụ là tìm mọi cách phê phán chính sách của đảng đối lập; mục đích chính của việc làm này không phải là để có tiếng nói phản biện nhằm làm cho chính sách được thực thi một cách tốt hơn mà là để giành giữ lá phiếu cho đảng mình trong các lần bầu cử tiếp theo.

Nhìn vào đời sống chính trị của các quốc gia tổ chức theo chế độ đa đảng đối lập, chúng ta sẽ thấy các đảng chính trị để tranh giành quyền lực, họ không dựa trên lợi ích của đông đảo người dân nhằm giải quyết các vấn đề mà xuất phát từ lợi ích của đảng phái, thậm chí là lợi ích cá nhân hẹp hòi. 


Nhận diện, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền


Phủ nhận nền tảng tư tưởng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam là mục tiêu chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động. Âm mưu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền ở nước ta là một thủ đoạn nham hiểm, tinh vi. Vì vậy, việc xác định các luận cứ khoa học để đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái là góp phần bảo vệ tính đúng đắn, cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và về đảng cầm quyền nói riêng là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ tư tưởng của Người. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng và công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là nhân tố cơ bản quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội để đưa ra những luận điệu tinh vi, xảo trá nhằm đánh lạc hướng nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò cầm quyền của Đảng ta.

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động cho rằng: “Hồ Chí Minh tự gán cho đảng cộng sản cầm quyền, chứ Chủ nghĩa Mác-Lênin không nói đến đảng cộng sản cầm quyền, mà chỉ nói đến đảng lãnh đạo cách mạng”.

Thực chất, đây là cách nhìn nhận cực đoan, phiến diện, tuyệt đối hóa một mặt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền; là luận điệu vô cùng nguy hiểm nhằm tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nghi ngờ, dao động, mất niềm tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng hiện nay.

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về đảng cộng sản, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Sau khi đã giành được chính quyền thì nhiệm vụ hàng đầu của giai cấp công nhân là phải tăng cường nền chuyên chính vô sản để hoàn thành những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng, triệt để xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội để tiến lên chủ nghĩa cộng sản”(1).

Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tiếp tục lãnh đạo chính quyền thực hiện các nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân giành thắng lợi, đưa đất nước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Hồ Chí Minh khẳng định, Đảng ta là đảng cầm quyền, thể hiện sự trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin về đảng cộng sản, đóng vai trò là hạt nhân lãnh đạo quyết định nhất trong thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Thứ hai, các thế lực thù địch suy diễn: “Đảng cộng sản cầm quyền trong tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đến đảng độc quyền”.

Luận điệu này thực chất là xuyên tạc phương thức lãnh đạo và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền nhà nước và xã hội. Ngay từ rất sớm, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã quan tâm đến phương thức lãnh đạo của đảng cộng sản cầm quyền và chỉ rõ: Đảng lãnh đạo chính quyền nhà nước và xã hội bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng lãnh đạo chính quyền bằng công tác cán bộ, bởi Người cho rằng: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng".

Đồng thời, Đảng lãnh đạo chính quyền bằng công tác kiểm tra, kiểm soát và thông qua vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng cầm quyền thật sự trong sạch, vững mạnh, “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, trên cơ sở nền tảng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, xem đó là quy luật phát triển đảng; chú trọng xây dựng tinh thần đoàn kết, nhất trí, kỷ luật nghiêm minh, tự giác trong Đảng; coi trọng xây dựng mối đoàn kết gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Thứ ba, các thế lực thù địch cố tình bịa đặt cho rằng: “Hồ Chí Minh nêu tư tưởng đảng cầm quyền là để củng cố quyền lực cá nhân”.

Sự xuyên tạc trắng trợn ấy nhằm bôi nhọ danh dự lãnh tụ, phủ nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Đảng, dân tộc ta và cách mạng thế giới. Họ đã không hiểu và cố tình không hiểu về vị thế, uy tín, niềm tin của nhân dân, của dân tộc ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người thực sự xứng đáng trên cương vị Chủ tịch nước mà Đảng, Nhà nước, nhân dân và cả dân tộc giao phó. Người được toàn thể nhân dân tín nhiệm và bạn bè quốc tế khâm phục, kính trọng, ngưỡng mộ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng ta không phải là đảng làm quan mà Đảng phải lo đời sống cho nhân dân”(2) và ngay đến cả tương, cà, mắm, muối của dân, Đảng đều phải lo. Khi trả lời các nhà báo nước ngoài năm 1946, Người khẳng định: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui... Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, chiến đấu, hy sinh vì nước, vì dân, vì lý tưởng cao đẹp, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng mà không một thế lực nào có thể phủ nhận được.

Thứ tư, các thế lực thù địch quy kết: “Hồ Chí Minh nhấn mạnh đảng cầm quyền là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn lạm dụng, lợi dụng quyền lực, tham nhũng của cán bộ, đảng viên trong cơ quan Đảng, Nhà nước hiện nay”.

Đây là luận điệu quy kết, chụp mũ hết sức thô thiển nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, làm mất phương hướng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay.

Thực tế cho thấy, hiện tượng lạm dụng, lợi dụng quyền lực của một số cán bộ, đảng viên dẫn đến thoái hóa, biến chất, vướng vào tham nhũng, tiêu cực là do họ sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham lam, vụ lợi, cục bộ địa phương. Tuyệt nhiên những hiện tượng đó không phải là toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên, mà chỉ ở một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trên thực tế, đại đa số cán bộ, đảng viên luôn giữ gìn đạo đức cách mạng trong sáng, cống hiến hết mình vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và nhân dân.

Ngay sau khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự báo những nguy cơ suy thoái của một đảng cầm quyền, trực tiếp là đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Người chỉ ra các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đảng cầm quyền: Sai lầm về đường lối, quan liêu, xa rời thực tiễn, xa rời nhân dân và chủ nghĩa cá nhân. Trong đó, chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh gốc, nó đẻ ra hàng trăm thứ bệnh, thói hư tật xấu của cán bộ, đảng viên, nên Người đặc biệt quan tâm đến việc phòng, chống các nguy cơ, nhất là phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.

Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên của Đảng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dự báo mà còn luôn giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ vững đạo đức cách mạng, không sa vào chủ nghĩa cá nhân; đồng thời cán bộ, đảng viên phải rèn luyện phấn đấu “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Thứ năm, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng: “Hồ Chí Minh nói đảng cầm quyền là mâu thuẫn với chính quyền nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

Đây là ý đồ xảo trá, tinh vi của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc bản chất đảng cầm quyền, gây hoài nghi về sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Nhà nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, thì tư tưởng về đảng cầm quyền với chính quyền nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là hoàn toàn thống nhất, không có gì mâu thuẫn. Bởi vì, Nhà nước Việt Nam ra đời là kết quả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, theo đó Đảng mới trở thành đảng cầm quyền.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, Đảng phải đóng vai trò tiên phong, lãnh đạo nhân dân làm cách mạng giành thắng lợi, thiết lập nên chính quyền nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, Đảng cầm quyền và chính quyền của nhân dân không hề mâu thuẫn, mà luôn quan hệ gắn bó mật thiết trong một chỉnh thể thống nhất. Khi nói đến đảng cầm quyền là nói đến vai trò lãnh đạo chính quyền nhà nước và xã hội, là nhân tố bảo đảm chắc chắn nhất để chính quyền nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Người nhấn mạnh: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân; quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Từ những cơ sở nêu trên, chúng ta có thể khẳng định rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đảng cầm quyền không mâu thuẫn với chính quyền nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mà đó là sự thống nhất, biện chứng không thể tách rời, đồng thời càng khẳng định mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.

Để phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền nói riêng, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, khi thì bóc tách, khi thì đối lập, lúc thì quy chụp, bịa đặt, xuyên tạc tư tưởng của Người với mục đích gạt bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh trong nền tảng tư tưởng của Đảng, dẫn đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội ở Việt Nam.

Vì vậy, cùng với sự tỉnh táo, nêu cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết vạch trần âm mưu, thủ đoạn đen tối của các thế lực thù địch, chúng ta cần không ngừng nghiên cứu, học tập, nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

TRƯỜNG TỒN MÃI MÃI


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi đã trở thành thiên anh hùng ca bất hủ, khẳng định chân lý và niềm tin bất diệt: Một dân tộc có thể đất không rộng, người không đông, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, vũ khí còn thô sơ, phương tiện quân sự thiếu thốn trăm bề, nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt, bản lĩnh, trí tuệ và đạo đức của một Đảng cách mạng chân chính, sự chung sức “trên dưới đồng lòng, nhất hô bá ứng” thì dân tộc ấy vẫn có thể làm nên những sự kiện lịch sử vĩ đại có tầm vóc và đi vào lịch sử của dân tộc và thế giới như một địa chỉ đỏ, một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa điển hình ở khu vực và trên thế giới.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Trong quá trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, ba cột mốc chói lọi bằng vàng: Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Chiến thắng Điện Biên Phủ và Chiến thắng mùa Xuân 1975 mãi mãi sáng ngời trong sử sách. Nhân dân Việt Nam đã làm nên câu chuyện thần kỳ tưởng chừng không thể làm được giữa thế kỷ XX. Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế kém phát triển, đánh thắng những cường quốc, đế quốc chủ yếu bằng sức của chính mình, nêu gương anh dũng, bất khuất, trí tuệ, tài năng trước toàn thế giới”.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 càng làm sáng ngời chân lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh, quân đội trong thời đại ngày nay: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều phụ thuộc vào trạng thái tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”, “Chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng của các dân tộc nhất định thành công” (2) và quan điểm của Đảng, Bác Hồ kính yêu: “Không một quân đội nào, không có khí giới nào có thể đánh gục ngã được tinh thần hy sinh của cả dân tộc; nhất là ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của quân và dân ta”.

Thực tiễn quá trình đấu tranh gian khổ chống ách đô hộ của thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, đặc biệt là quyết định táo bạo đầy sáng suốt trong thay đổi phương châm tác chiến ở tầm chiến lược: “Lựa tình thế, chớp thời cơ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là minh chứng sinh động nhất về bản chất cách mạng, tiến bộ, chính nghĩa và nhân văn sâu sắc của Cách mạng Tháng Tám. Thực tiễn đấu tranh cách mạng đó đã bác bỏ mọi quan điểm sai trái, bôi đen của các thế lực thù địch, phản động về sự kiện lịch sử này, càng khẳng định rõ bản chất cách mạng của Đảng ta: Đảng của dân, do dân, dựa vào dân và vì dân, lãnh đạo nhân dân chiến đấu vì hòa bình, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Qua đó càng làm sáng ngời mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân - Đảng hết lòng vì dân, dân một lòng tin và theo Đảng, càng thấm đẫm tầm vóc, giá trị, ý nghĩa lý luận và bài học thực tiễn sâu sắc quý báu của thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trong thời đại ngày nay.

Thắng lợi vang dội của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 đã một lần nữa khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần quyết tử “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của dân tộc Việt Nam anh hùng. Bản lĩnh Việt Nam, tầm vóc và tinh thần Cách mạng Tháng Tám mãi âm vang, trường tồn, bất diệt, mãi là nguồn động lực to lớn khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; truyền cảm hứng, cổ vũ và lan tỏa các giá trị truyền thống cao đẹp cho các thế hệ trên hành trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Sự tráo trở của những kẻ vô ơn


Những ngày thu lịch sử, càng gần đến kỷ niệm 79 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2- 9, mỗi người con đất Việt lại thêm một lần khắc ghi về nguồn cội, về giá trị hòa bình và lịch sử truyền thống hào hùng của dân tộc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám - nơi kết tinh, hội tụ và tỏa sáng ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu - chính là một trong những biểu tượng lịch sử vĩ đại như vậy của dân tộc. Từ đây, một trang sử vàng chói lọi trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam đã được mở ra, nhân dân đã thực sự được làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của quốc gia, dân tộc mình. Sự kiện đó như một thiên anh hùng ca bất hủ, ngàn năm sáng mãi, sẽ còn lưu danh đến muôn đời, một chiến công chói lọi, đã viết tiếp trang sử vàng của dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh.

Chiến thắng ấy có giá trị, tầm vóc, ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc, không chỉ góp phần đánh bại tàn dư của chế độ phong kiến, chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phát xít mà còn là tấm gương sáng ngời, cổ vũ động viên mạnh mẽ cho các quốc gia, dân tộc đang mất độc lập, tự do noi theo. Từ hào khí thắng lợi to lớn ấy đã tạo nên sức mạnh quật khởi, ý chí và niềm tin bất diệt, cổ vũ toàn thể dân tộc Việt Nam kiên cường, quyết chí bền gan đấu tranh giành độc lập dân tộc, để rồi liên tiếp giành được những thắng lợi mang tính lịch sử, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Với tầm vóc và ý nghĩa vĩ đại của thắng lợi Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc” (1).

Ấy vậy mà, đi ngược lại với niềm tự hào của toàn dân tộc, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tung lên các trang mạng xã hội các bài viết với giọng điệu hết sức lạc lõng, hằn học, phản động, cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử. Họ tổ chức các diễn đàn nhằm kêu gọi, kích động, tổ chức các hoạt động phản kháng, chống phá cách mạng nước ta, phủ nhận, bóp méo sự thật về giá trị nhân văn và ý nghĩa thời đại của sự kiện lịch sử trọng đại này hòng hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch, bất mãn, cơ hội chính trị không từ mọi thủ đoạn để xuyên tạc bản chất, ý nghĩa, tính chính nghĩa của Cách mạng Tháng Tám. Chúng thản nhiên phán xét, phủ nhận lịch sử, công lao, sự hy sinh và máu xương của cha ông ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống ách đô hộ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, xuyên tạc và bôi nhọ tầm vóc, ý nghĩa, giá trị lịch sử to lớn của sự kiện trọng đại này. Chúng đưa ra luận điệu công kích hết sức hàm hồ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò to lớn của Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam, xuyên tạc thành quả của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9.

Xét về bản chất, xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử chính là một thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, đổi trắng thay đen, mục đích tạo sự hoài nghi, gây hoang mang, xáo trộn trong dư luận xã hội, nhất là thế hệ trẻ - rường cột tương lai của đất nước đối với truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc. Với dã tâm phá hoại, lối tư duy lệch lạc, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thản nhiên quy chụp yếu tố quyết định làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám với việc thành lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền hoàn toàn là do gặp thời, ăn may, do hoàn cảnh khách quan đem lại - phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh chứ Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh không có vai trò, công cán gì.

Thể hiện rõ bản chất phản động và thói lộng ngôn, xảo biện, những kẻ “lật sử” còn tiếp tục nhai lại luận điệu cũ rích, cố tình đơm đặt, vu khống nhằm hạ bệ lãnh tụ, chúng cho rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh du nhập Chủ nghĩa Mác - Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp vào Việt Nam đã gây ra thảm cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm, đi lên chủ nghĩa xã hội là lựa chọn hết sức sai lầm. Trắng trợn và lố bịch hơn, chúng còn rêu rao rằng: Cách mạng Tháng Tám đã đưa dân tộc ta vào chỗ chết, là nguyên nhân trực tiếp đưa dân tộc đến thảm họa của hai cuộc chiến tranh (1945 -1954) và (1954 - 1975), làm cho đất nước bị tàn phá, dân tộc bị phân ly, để lại tàn dư nghèo nàn và đói khổ, tham nhũng và bất công xã hội cho đến ngày nay. Nực cười hơn, chúng còn ảo tưởng đến ấu trĩ khi cho rằng, không cần tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, độc lập dân tộc vẫn có thể có được với biện pháp đàm phán hòa bình, chỉ cần “khéo hạ mình xin chính quốc” trao trả độc lập thì tự khắc tránh được cảnh đầu rơi máu chảy cho cả dân tộc. Và, chỉ có lựa chọn con đường phát triển theo định hướng tư bản của các nước phương Tây thì Việt Nam mới có thể nhanh chóng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Tệ hại hơn nữa, chúng còn đưa ra những luận điệu hết sức hàm hồ: Đến Đại hội XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn khẳng định con đường đi lên CNXH - lôgic tất yếu của Cách mạng Tháng Tám, kiên định với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự lạc nhịp, lỗi thời, là không phù hợp với quy luật và xu thế phát triển chung của lịch sử, là hiện tượng trái với quy luật mà chính Các Mác đã nêu trong lý luận về hình thái kinh tế xã hội; chủ nghĩa xã hội là một quái thai của lịch sử, cần sửa chữa và loại bỏ ngay lập tức...

Xét về bản chất, đây chính là thủ đoạn chiến tranh tâm lý, là cái bẫy “bôi nhọ lịch sử” của các thế lực thù địch, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, cần nhận diện sự thật và kiên quyết phản bác mạnh mẽ. Những kẻ xảo biện, ngông cuồng đó không phải không biết rằng, để có được thắng lợi “trời long, đất lở” của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, biết bao nhiêu máu xương của các anh hùng liệt sĩ, đồng chí, đồng bào Việt Nam đã đổ xuống trong suốt hơn 80 năm mà “gan không núng, chí không mòn”.

Ấy vậy mà, với dã tâm thâm độc, mưu đồ bất chính, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn bất chấp mọi thủ đoạn xấu xa, cố tình bóp méo sự thật, làm sai lệch bản chất, phủ nhận tính chính nghĩa, nhân văn, nhân đạo, phủ nhận giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám và công lao của biết bao thế hệ các anh hùng liệt sĩ, đồng chí, đồng bào.

Với những chiêu bài cũ kỹ, các thế lực phản động, thù địch đã cố tình xuyên tạc lịch sử, âm mưu kích động, chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Song, những luận điệu đó đã không thể lừa phỉnh, qua mặt được bất kỳ ai. Và, chính điều vô lý ấy lại càng tôn vinh thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, càng khẳng định rõ hơn tầm vóc, giá trị và ý nghĩa của chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dù 79 năm đã đi qua, nhưng hơn bao giờ hết, mỗi người dân Việt Nam càng thêm hiểu lịch sử dân tộc, thêm yêu và trân quý giá trị của hòa bình và độc lập, càng khắc ghi niềm tự hào dân tộc và biết ơn sâu sắc công lao to lớn của thế hệ cha anh.


Bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh


Bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở sự hình thành tư tưởng của Người. Đó là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta; là kết quả của sự kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc: Truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tự cường, đoàn kết, nhân ái, khoan dung, tinh thần cộng đồng, lạc quan yêu đời, cần cù, thông minh, sáng tạo; là sự tiếp thu có chọn lọc, có phê phán các quan điểm của các trường phái triết học, quan điểm tư tưởng cổ, kim, đông, tây; tinh thần cách mạng, tinh thần độc lập tự do của các dân tộc; kinh nghiệm của các cuộc cách mạng thế giới... vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và trở thành tư tưởng của mình.

Tư tưởng Hồ Chí Minh còn là kết quả của sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của nhân loại, học tập kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế; là ý chí của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng, một

Hai là, Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận và phương pháp luận để đề ra cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Quán triệt, cụ thể hóa Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; luôn đứng vững trên lập trường, quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để quyết định đúng đắn, sáng tạo đường lối, quan điểm cho phù hợp với từng giai đoạn cách mạng; Kiên định nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giải quyết đúng đắn những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Quá trình đề ra cương lĩnh, đường lối cách mạng, chủ trương, giải pháp lãnh đạo của Đảng, nhất quyết phải căn cứ, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận, phương pháp luận, nhưng không được dập khuôn, máy móc, giáo điều, kinh viện; phải trên cơ sở thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, quán triệt sâu sắc quan điểm “Nước lấy dân làm gốc”; nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước; thực hiện đúng nguyên tắc: Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Ba là, Đảng tuyên truyền giáo dục Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, làm cho hệ tư tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống văn hóa, tinh thần của toàn xã hội.

 Căn cứ vào đường lối, quan điểm của Đảng, nghị quyết, chỉ thị hướng dẫn của cấp trên và tình hình thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị để xác định rõ nội dung, hình thức và phương pháp tiến hành tổ chức nghiên cứu, học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với từng đối tượng. Nội dung tuyên truyền, giáo dục, học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống và chuyên sâu gắn với tình hình thực tiễn. Đồng thời, đẩy mạnh hơn nữa việc đổi mới hình thức, phương pháp tiến hành công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Đặc biệt, cần “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng, tuyên truyền, học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Mỗi cán bộ, đảng viên đều phải học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị” [7].

Bốn là, đấu tranh chống hệ tư tưởng tư sản, chủ nghĩa cơ hội, xét lại, khắc phục chủ nghĩa giáo điều, bảo vệ Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hiện nay, “bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm” trong bối cảnh quốc tế, khu vực còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định; các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam… là mảnh đất màu mỡ để những kẻ xét lại có điều kiện trỗi dậy như “nấm độc sau mưa”.

Để đấu tranh chống hệ tư tưởng tư sản, chủ nghĩa cơ hội, xét lại, khắc phục chủ nghĩa giáo điều, bảo vệ Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết phản kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin và đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân. Chỉ kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân mới có thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, nhân sinh quan cách mạng để xem xét, nhận định, phân tích một cách khách quan, toàn diện các hiện tượng chính trị - xã hội đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ trên thế giới, khu vực và trong nước để có thái độ, trách nhiệm và đề ra quyết sách chính trị đúng đắn, giải quyết hợp lý, hợp tình mọi vấn đề chính trị - xã hội.

Thường xuyên xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Phải vận dụng một cách khoa học, sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng vào những điều kiện lịch sử, cụ thể, từng thời điểm thích hợp. Đồng thời, phải làm tốt công tác tư tưởng, công tác tổ chức, cán bộ, để toàn Đảng tạo thành một khối thống nhất về ý chí và hành động, thực sự là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân, của cả dân tộc Việt Nam. “Tăng cường nền tảng tư tưởng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”[8]; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh với quan điểm, tư tưởng chống chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại. Sở dĩ như vậy, bởi hai đối tượng đấu tranh này thường cấu kết với nhau, dựa vào nhau để chống phá Chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội hiện thực và phong trào cách mạng thế giới. Trong đó, việc đấu tranh với quan điểm, tư tưởng chống chủ nghĩa xã hội phải kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng. Nhưng đối với chủ nghĩa cơ hội, xét lại phải hết sức thận trọng, cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, biết tôn trọng, chờ đợi và không can thiệp vào công việc nội bộ từng đảng để tránh đẩy bạn thành thù, tạo ra mâu thuẫn trong nội bộ phong trào Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế.

Hơn 94 năm lãnh đạo và trưởng thành, 38 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta, nhân dân ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Điều đó là một minh chứng sinh động, khẳng định bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tuyệt đối trung thành và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Song, chúng ta cũng cần nhận thức sâu sắc rằng, con đường mà chúng ta đang đi tới là không dễ dàng, bằng phẳng, mà phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ. Nhưng chúng ta luôn tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên nền tảng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất định sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh được hiện thực hóa trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; các quan điểm sai trái, thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận sẽ sớm bị vạch trần bởi tính chất phản khoa học, phản cách mạng của chúng.

Trong tình hình hiện nay, công tác nghiên cứu lý luận, cần chú trọng hơn nữa việc nâng cao tính khoa học, tính tư tưởng và sự mạnh dạn khám phá, sáng tạo. Xây dựng môi trường dân chủ thảo luận, tranh luận khoa học, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của cá nhân và tập thể trong nghiên cứu lý luận. Khẩn trương ban hành quy chế dân chủ trong công tác nghiên cứu lý luận chính trị. Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan nghiên cứu lý luận, cải tiến tổ chức nghiên cứu lý luận phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn.  Phát huy hơn nữa trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân trong việc bổ sung, phát triển làm phong phú thêm kho tàng lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện Đảng cầm quyền.

Bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin

Bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện ở cơ sở hình thành Chủ nghĩa Mác, bao gồm: Tiền đề kinh tế, chính trị  - xã hội, đó là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản - giữa tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất đã trở nên gay gắt và trở thành mâu thuẫn chủ yếu của xã hội. Giữa thế kỷ XIX, giai cấp công nhân đã bước lên vũ đài chính trị chống chủ nghĩa tư bản ở nhiều nước: Pháp, Đức, Anh, Bỉ…, điển hình là Công xã Paris năm 1871, song đều thất bại, nguyên nhân chủ yếu do thiếu một lý luận cách mạng, khoa học dẫn đường và một lực lượng tiên phong lãnh đạo phong trào của giai cấp công nhân.

C.Mác đã kế thừa, tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tiền đề lý luận để sáng tạo ra học thuyết cách mạng, khoa học cho giai cấp vô sản. Với Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã đánh dấu sự ra đời của Chủ nghĩa Mác (1848) với ba bộ phận hợp thành: Triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. 

Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trên thế giới đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản làm cho mâu thuẫn giữa các nước đế quốc không thể điều hòa được, dẫn tới chiến tranh đế quốc. Trong điều kiện đó, V.I.Lênin nhận định: Cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một vài nước, thậm chí ở một nước tư bản kém phát triển. Do sự xâm chiếm và đô hộ các nước thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, trên thế giới đã xuất hiện phong trào giải phóng dân tộc, đấu tranh chống đế quốc giành lại nền độc lập ở các nước thuộc địa. Vì vậy, cách mạng vô sản ở các nước đế quốc và phong trào giải phóng dân tộc có mối quan hệ khăng khít với nhau, cùng chống một kẻ thù chung.

Trong hoàn cảnh đó, bằng hoạt động lý luận sắc bén của mình, V.I.Lênin đã viết một loạt tác phẩm, tiêu biểu như: “Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao”; “Làm gì”; “Một bước tiến, hai bước lùi”; “Nhà nước và cách mạng”... Với những tác phẩm đó, V.I.Lênin đã đấu tranh không khoan nhượng với mọi kẻ thù của chủ nghĩa Mác, kịch liệt phê phán chủ nghĩa xét lại, cơ hội, tả khuynh, hữu khuynh, giáo điều, bảo vệ sự trong sáng của Chủ nghĩa Mác; vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác để giải quyết những vấn đề của cách mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. Đặc biệt, V.I.Lênin đã kế thừa Chủ nghĩa Mác, sáng tạo học thuyết về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bolshevik Nga, đứng đầu là V.I.Lênin, cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga (1917) thành công rực rỡ.

Những cống hiến lý luận của V.I.Lênin trong việc phát triển sáng tạo học thuyết Mác đã tạo nên một hệ thống lý luận thống nhất của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Vì vậy, một giai đoạn mới trong sự phát triển của Chủ nghĩa Mác đã gắn liền với tên tuổi và cống hiến của V.I.Lênin, cũng từ đây, hệ tư tưởng của giai cấp vô sản được gọi là Chủ nghĩa Mác Lênin.

Chúng ta cần khẳng định, Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học, thể hiện trong toàn bộ các nguyên lý cấu thành học thuyết, trước hết là các nguyên lý cơ bản; là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan khoa học và phương pháp luận mác-xít; là học thuyết giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người với con đường, lực lượng, phương thức đạt mục tiêu đó; là một học thuyết mở, không ngừng được đổi mới, được phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại. Với bản chất cách mạng và khoa học của mình, Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hệ tư tưởng, thành vũ khí lý luận của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Như một tất yếu lịch sử, vào một ngày tháng 7-1920, đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo (Pháp), Nguyễn Ái Quốc lập tức bị cuốn hút bởi tính chất cách mạng triệt để của nó, vì nó đã giải đáp thỏa đáng những điều mà bấy lâu nay Nguyễn Ái Quốc hằng mong ước, đợi chờ. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [1], cách mạng vô sản phải do chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo và Người chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt... Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” [2]. Nguyễn Ái Quốc cho rằng: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng học thuyết chân chính nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin” [3]; từ đó Người khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản"[4].


Người đứng đầu hứa thật, làm thật để giữ gìn danh dự đảng viê


Để có được danh dự và lòng tự trọng, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên nỗ lực phấn đấu kiên trì, bền bỉ, nêu cao tinh thần dũng cảm và đức hy sinh trọn đời mình cho Đảng, cho Tổ quốc và nhân dân. Đây là “cuộc đấu tranh nội tâm” trong bản thân mỗi cán bộ, đảng viên mà cốt lõi là phải biết chiến thắng chủ nghĩa cá nhân.

1. Danh dự và lòng tự trọng là một trong những phẩm chất cao quý của mỗi con người. Khi bàn về danh dự và lòng tự trọng, người xưa thường nói: “Đói cho sạch rách cho thơm”, "Chết trong còn hơn sống đục” để giáo dục con người phải giữ gìn phẩm giá trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đây cũng chính là thể hiện ý chí, khí phách, bản lĩnh cao cả của người cách mạng. Điều ấy rất đúng với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong giai đoạn hiện nay. Bởi danh dự và lòng tự trọng là phẩm chất cao đẹp để người đứng đầu luôn giữ được đức liêm chính trong thực thi công vụ; không bị gục ngã trước những cám dỗ vật chất, tiền tài, danh vọng; khẳng định được niềm tin, sự kỳ vọng của nhân dân khi họ quyết định lựa chọn lá phiếu để bầu mình vào các cơ quan quyền lực của Nhà nước.

Danh dự và lòng tự trọng của người đứng đầu là một trong những phẩm chất cao quý, nền tảng đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Người có danh dự và lòng tự trọng tự ý thức được giá trị của bản thân, vị trí công việc mình đang làm, luôn đề cao trách nhiệm, tận tâm, tận lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; không tham lam, tham nhũng, không đam mê quyền lực, không lấy của công làm của riêng, không lợi dụng chức vụ và quyền lực để mưu cầu lợi ích cá nhân; biết tôn trọng cấp dưới, quý trọng nhân dân, nhờ vậy mà nhận được sự tin tưởng, yêu mến từ mọi người.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của việc nêu cao danh dự và lòng tự trọng của cán bộ, đảng viên. Người coi đây là một phẩm chất cao đẹp của đạo đức cách mạng. Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, danh dự và lòng tự trọng của cán bộ, đảng viên được Người chỉ rõ ở “tư cách của người kách mệnh”, tập trung ở các mối quan hệ và chuẩn mực ứng xử “với mình, với người và với việc”. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, danh dự và lòng tự trọng của cán bộ, đảng viên được Bác nêu ra ở “tư cách của cán bộ, đảng viên”. Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Bác chỉ ra các chuẩn mực, cũng là yêu cầu về danh dự và lòng tự trọng của cán bộ, đảng viên là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân. Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Có thể khẳng định, xuyên suốt trong tư tưởng của Hồ Chí Minh khi đề cập về danh dự và lòng tự trọng chính là đức tính nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên và người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trong tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính và phòng, chống chủ nghĩa cá nhân.

2. Kinh nghiệm lịch sử lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong gần 40 năm đổi mới đất nước cho thấy, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, người đứng đầu và chính quyền các cấp có tâm, có tầm, có trí tuệ, biết đề cao danh dự và lòng tự trọng để hiện thực hóa đường lối chính trị đã đề ra là nhân tố quan trọng để sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đi tới thắng lợi. Thực tế đã có rất nhiều cán bộ, đảng viên khi được nhân dân tin tưởng, lựa chọn bầu vào các vị trí cơ quan quyền lực của Nhà nước ở Trung ương và địa phương luôn chú trọng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, nêu cao danh dự và lòng tự trọng, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, xây dựng cơ quan, đơn vị, địa phương ngày càng vững mạnh, tạo được niềm tin và sự mến phục của nhân dân.

Tuy nhiên, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên và người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương coi thường danh dự và lòng tự trọng, không giữ gìn được lời hứa hẹn, cam kết của mình với nhân dân, không chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân cho nên đã tha hóa, biến chất, tham ô, tham nhũng tạo dư luận không tốt trong xã hội, làm tổn thương niềm tin của nhân dân khi tin tưởng bầu họ vào các cơ quan quyền lực của Nhà nước.

Trong thời gian qua, Đảng ta hết sức coi trọng việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, qua đó góp phần sàng lọc và loại bỏ những cán bộ, đảng viên không giữ gìn danh dự và lòng tự trọng, coi thường pháp luật Nhà nước, kỷ luật Đảng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Trong giai đoạn 2012-2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; 50 sĩ quan cấp tướng trong LLVT. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 1-2024, Đảng đã thi hành kỷ luật 105 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 22 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng. Đáng chú ý là 2/3 đảng viên bị xử lý kỷ luật là do sai phạm từ nhiệm kỳ trước đó, nhưng đến nhiệm kỳ này, sau khi bổ nhiệm mới phát hiện ra. Điều đó cho thấy, phát hiện và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên trước khi tiến hành đại hội là việc làm quan trọng để những lá phiếu của nhân dân thực sự có ý nghĩa khi tín nhiệm lựa chọn những người thực sự tin cậy để gánh vác công việc của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

3. Danh dự và lòng tự trọng của người đứng đầu không phải được “đánh bóng” bằng những mỹ từ hô hào, khẩu hiệu, đăng đàn, mà phải được thể hiện qua sự nỗ lực học tập, rèn luyện không ngừng của họ.

Muốn vậy, trước hết người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các cấp bất luận trong tình huống nào cũng phải tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng; thường xuyên rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nói và làm theo nghị quyết của Đảng; chấp hành đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; không đam mê quyền lực chính trị, không lợi dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích chính trị. Quan trọng hơn là người đứng đầu các cấp phải có trách nhiệm thực hiện lời thề danh dự trong lễ kết nạp đảng viên và lời hứa hẹn với cử tri, với nhân dân trước thềm bầu cử và trong lễ tuyên thệ, nhậm chức của mình.

Người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các cấp phải luôn đề cao trách nhiệm nêu gương trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ và trong cuộc sống, sinh hoạt hằng ngày; có lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị, không phô trương, xa hoa, lãng phí, không tự cao, tự đại; hết lòng, hết sức vì tập thể, vì lợi ích chính đáng của cấp dưới và của người dân, việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh; không kèn cựa địa vị, độc đoán, chuyên quyền; không quan liêu, xa rời quần chúng.

Trong tình hình hiện nay, để xứng đáng là "người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân", người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các cấp cần làm việc nghiêm túc, hiệu quả, hết lòng vì nhiệm vụ được giao; không ích kỷ, cơ hội, thực dụng, ganh ghét, đố kỵ; không xu nịnh, tâng bốc cấp trên; có ý thức chủ động tự phê bình và phê bình, “tự soi, tự sửa”, khi có khuyết điểm thì thành khẩn nhận trách nhiệm và nghiêm túc sửa chữa; chân tình, thẳng thắn góp ý cho đồng chí, đồng đội, không vu khống, bôi nhọ, chỉ trích để hạ bệ người khác; không huênh hoang, ba hoa, có trách nhiệm với lời nói và lời hứa của mình. Danh dự và lòng tự trọng chỉ thực sự được đề cao và ghi nhận khi người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các cấp xác định những tiêu chí phấn đấu trung thực, lành mạnh cho bản thân mình, thấm nhuần lời Bác dạy: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

Danh dự và lòng tự trọng của người đứng đầu còn thể hiện sâu sắc ở khía cạnh sống và làm việc có trách nhiệm, tuân thủ kỷ luật, thượng tôn pháp luật, tự giác hoàn thành tốt những công việc của mình mà không cần người khác nhắc nhở, thẳng thắn thừa nhận khuyết điểm của bản thân và kiên quyết sửa chữa; không làm những việc trái với lương tâm, không để đồng tiền và quyền lực tha hóa bản thân; không để người nhà, người thân lợi dụng danh nghĩa trục lợi cá nhân, làm điều phi pháp; biết dựa vào sức lực của chính mình để phát triển, không trông chờ từ các mối quan hệ không trong sáng; phân biệt được ai là kẻ nịnh bợ, cơ hội; ai là người trí sáng, tâm trong; luôn đề cao trách nhiệm nêu gương trong công việc, lối sống và các mối quan hệ xã hội.

Danh dự và lòng tự trọng là điều thiêng liêng nhất, cao quý nhất của mỗi người cán bộ, đảng viên. Nêu cao danh dự và lòng tự trọng của người đứng đầu là giữ gìn uy tín, niềm tin trong phiếu bầu của nhân dân. Đúng như lời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắn gửi: “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho có ý nghĩa, để không phải xót xa ân hận vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, vô liêm sỉ; tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”.