Thứ Hai, 3 tháng 3, 2025

 

Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo về xây dựng đề án tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội tại Nghị quyết 127

Tại Kết luận số 127-KL/TW, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo về xây dựng đề án về tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Kết luận số 127-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư ngày 28-2-2025 về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo về xây dựng đề án tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội tại Nghị quyết 127
 Ảnh minh họa/ qdnd.vn

Theo Kết luận số 127-KL/TW, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo về xây dựng đề án về tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội như sau:

"Giao Quân ủy Trung ương căn cứ Kết luận số 126-KL-TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng kế hoạch tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội phù hợp (trong đó có tổ chức của cơ quan quân sự cấp huyện), chủ động đề xuất thời gian báo cho Bộ Chính trị theo tiến độ của kết luận này". 

Trước đó, tại Kết luận số 126-KL-TW về nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội với nội dung là: "Giao Quân ủy Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, các cấp ủy, tổ chức đảng có liên quan nghiên cứu định hướng tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội (trong đó có tổ chức của cơ quan quân sự cấp huyện); đề xuất bổ sung, sửa đổi các cơ chế, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan, báo cáo Bộ Chính trị trong quý III năm 2025".

* Cũng tại Kết luận số 127-KL/TW, Bộ Chính trị giao Đảng ủy Chính phủ chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương và các cơ quan liên quan chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng đề án, tờ trình Bộ Chính trị về sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, tiếp tục sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã. 

 MIỄN HỌC PHÍ TỪ MẦM NON ĐẾN PHỔ THÔNG: HƯỚNG ĐẾN NỀN GIÁO DỤC CÔNG BẰNG, NHÂN VĂN


Chủ trương miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập được đánh giá là quyết định sáng suốt của Bộ Chính trị, mang tính nhân văn, đúng đắn và hợp lòng dân, đặc biệt trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình.


Từ ngày 1.9.2025, Nhà nước sẽ thực hiện miễn học phí cho tất cả học sinh công lập từ mầm non 5 tuổi đến trung học cơ sở (đến hết lớp 9).


Bước ngoặt lịch sử của giáo dục Việt Nam


Tại cuộc họp ngày 28.2, Bộ Chính trị đã thống nhất quyết định thực hiện miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết THPT công lập trên phạm vi cả nước. Thời điểm thực hiện từ đầu năm học mới 2025-2026 (tháng 9.2025 trở đi). Chính sách này đã thu hút sự quan tâm đặc biệt với nhiều ý kiến ủng hộ.


Trao đổi với phóng viên Báo Đại biểu Nhân dân, GS.TS Đinh Quang Báo, Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội bày tỏ vui mừng trước việc Bộ Chính trị quyết định thực hiện miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập trên phạm vi cả nước.


Theo GS Đinh Quang Báo, đây là quyết định rất sáng suốt của Bộ Chính trị, không chỉ nhận được sự hoan nghênh rất lớn của dư luận xã hội, không chỉ là niềm vui của mỗi gia đình mà còn là hạnh phúc của đất nước. Trên thế giới, nhiều quốc gia, trong đó có những nước nghèo cũng đã có quyết sách miễn học phí cho học sinh.


GS Đinh Quang Báo chia sẻ, người Việt Nam có truyền thống rất hiếu học, nhiều gia đình thậm chí vay tiền để cho con đi học, bố mẹ dù nghèo đến đâu vẫn dùng đến những đồng tiền cuối cùng cho con ăn học.


“Tôi thậm chí đã từng nghe tới câu chuyện có người cha nghèo bán cả đất, cả nhà để nuôi con đi học. Để thấy rằng đối với Việt Nam, giáo dục là gia sách hàng đầu, là một truyền thống lâu đời”, GS Đinh Quang Báo nói.


Ông nhấn mạnh, thế hệ sau là kế tục của mỗi gia đình, cũng là kế tục của đất nước, là tương lai của đất nước. Vì vậy, việc đặt vấn đề ưu tiên cho thế hệ sau về học phí là vô cùng đúng đắn.


GS Đinh Quang Báo cũng đề xuất ngoài việc miễn học phí cho học sinh, tới đây cũng nên có chính sách hỗ trợ về sách giáo khoa, ít nhất cho những khu vực vùng sâu vùng xa, những vùng nghèo trên cả nước.


“Hiện nay, đã có một số khu vực học sinh được hỗ trợ sách giáo khoa nhưng diện còn rất hẹp, theo tôi cần phải mở rộng hơn nữa. Tại nhiều nước trên thế giới, sách giáo khoa cũng đã được cung cấp miễn phí cho trường phổ thông công lập”, GS Đinh Quang Báo cho hay.


Hướng đến một nền giáo dục công bằng


Đồng ý kiến, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục Việt Nam, TS Nguyễn Tùng Lâm nhìn nhận, chính sách miễn học phí cho học sinh từ tiểu học đến THPT công lập không chỉ mang đến lợi ích trực tiếp cho học sinh và gia đình mà còn góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ và phát triển bền vững.


Thứ nhất, chính sách này hướng đến một nền giáo dục bình đẳng – nơi tất cả học sinh, bất kể hoàn cảnh kinh tế gia đình, đều có cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng. Điều này góp phần "xóa nhòa" khoảng cách giáo dục giữa các tầng lớp xã hội và đảm bảo sự công bằng.


Thứ hai, chính sách miễn học phí giảm bớt gánh nặng tài chính cho các gia đình, đặc biệt là những gia đình có thu nhập thấp hoặc trung bình. Khi không phải lo lắng về học phí, các em sẽ tập trung hơn vào việc học và nâng cao kết quả học tập. Từ đó, khuyến khích học sinh tiếp tục học lên cao hơn, tăng tỷ lệ hoàn thành chương trình GDPT.


"Đây là chủ trương thúc đẩy Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng giáo dục, nâng cao chất lượng giảng dạy và tạo ra môi trường học tập tốt hơn cho học sinh. Các quyết sách này không chỉ góp phần xây dựng một hệ thống giáo dục bền vững và chất lượng cao, mà còn hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực tương lai của đất nước", TS Nguyễn Tùng Lâm kỳ vọng.


Việc Bộ Chính trị quyết định thực hiện miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập trên phạm vi cả nước là một quyết định nhân văn, đúng đắn và hợp lòng dân, đặc biệt trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình.


Thông qua chính sách miễn học phí cho học sinh công lập sẽ khuyến khích học sinh tích cực hơn trong học tập; tạo điều kiện cho các em đến trường, nhất là học sinh ở những vùng nông thôn còn khó khăn hay học sinh ở vùng sâu, vùng xa nhưng không được hưởng các chính sách ưu tiên, hỗ trợ.


Tuy vậy, theo TS Nguyễn Tùng Lâm băn khoăn, xét đến yếu tố chất lượng giáo dục, trường tư thục có thể cung cấp cơ sở vật chất và chương trình giảng dạy phong phú hơn, nhưng chi phí học tập lại cao hơn. Do đó, có thể khiến nhiều học sinh không có khả năng tài chính để tiếp cận môi trường này.


"Không chỉ vậy, khi nhiều gia đình chuyển con em từ trường tư sang trường công để hưởng lợi từ chính sách miễn học phí, vô tình tạo áp lực lên trường công. Các trường công có thể gặp khó khăn bởi phải tiếp nhận số lượng học sinh quá lớn, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. Ngân sách nhà nước cũng chịu áp lực để duy trì các trường công lập, trong khi trường tư thục lại không được hỗ trợ”, TS Nguyễn Tùng Lâm chỉ rõ.


Một số ý kiến khác cho rằng, cần mở rộng chính sách miễn học phí cho học sinh ngoài công lập và giảm bớt các khoản thu không cần thiết tại các trường. Điều này giúp tạo điều kiện học tập bình đẳng hơn cho tất cả học sinh, bất kể học tại trường công lập hay ngoài công lập.


Theo thầy Trần Mạnh Tùng (giáo viên Toán tại Hà Nội), hiện nay, các trường ngoài công lập cũng đóng góp rất lớn vào sự nghiệp giáo dục, giảm tải áp lực cho hệ thống công lập và tạo ra nhiều mô hình giáo dục đa dạng, chất lượng cao. Nếu chính sách hỗ trợ tương ứng cho học sinh ngoài công lập, sẽ tránh nguy cơ tạo ra sự dịch chuyển lớn từ trường tư sang trường công và gây mất cân bằng hệ thống giáo dục./.


XT81/Báo Đại biểu Nhân dân

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỌC TẬP SUỐT ĐỜI!

         Tổng Bí thư Tô Lâm có bài viết với tiêu đề "Học tập suốt đời". Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của đồng chí Tổng Bí thư.
Cách mạng khoa học công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, tạo nên sự biến cách to lớn trong đời sống xã hội, đặt ra những yêu cầu mới, nhu cầu mới, nhiệm vụ mới, suy nghĩ mới, hành động mới với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là tận dụng tối đa thời cơ, vận hội, đi tắt đón đầu, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Để thực hiện thắng lợi yêu cầu, nhiệm vụ, trọng trách trong giai đoạn mới, học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành những người hữu dụng đang là đòi hỏi cấp thiết đối với từng cá nhân, mỗi công dân, đặc biệt là những cán bộ, nhân viên trong hệ thống chính trị.

Học tập suốt đời không phải là vấn đề mới. Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào toàn dân, toàn quân xóa nạn mù chữ, Người căn dặn: "… Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm"[1]; "Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình"[2]. Trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong những năm đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng cả nước thành xã hội học tập. Chủ trương học tập suốt đời được đề cập trong nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000, Kết luận số 14-KL/TW, ngày 26/7/2002, Hội nghị Trung ương 6 khoá IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, XI, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế", Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định "Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời"[3] bởi "Người Cách mạng phải học suốt đời, học trong sách vở, học lẫn nhau và học từ nhân dân; "bể học" mênh mông, không bao giờ cạn.

Thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng, việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đã trở thành phong trào, thành nhu cầu, thành nếp văn hóa và đạt nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, đã hình thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất từ giáo dục mầm non đến đào tạo sau đại học; các loại hình trường, lớp, loại hình đào tạo được đa dạng hóa, mang lại cơ hội học tập cho người dân ở mọi lứa tuổi. Phương thức cung ứng, kết nối giữa các trình độ đào tạo được cải thiện; mạng lưới, quy mô giáo dục mở rộng khắp các vùng, miền của đất nước; các phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài từng bước đi vào chiều sâu, thực chất hơn ở hầu khắp các địa phương; môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, gắn với cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, gia đình văn hóa. Trong nhiều dòng họ, làng, xã, thôn, bản phong trào thi đua học tập phát triển mạnh. Ý thức học tập suốt đời đã và đang thấm sâu vào từng gia đình, từng khu dân cư, từng cơ sở đào tạo, từng vùng, miền... Đã có nhiều tấm gương tiêu biểu là nông dân, người lao động, cán bộ, giáo viên tích cực tự học, sáng tạo trong lao động, công tác, có nhiều đóng góp cho cộng đồng; nhiều tấm gương tiêu biểu trong áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, có nhiều nghiên cứu, sáng kiến giải pháp hiệu quả mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn, trong sản xuất và đời sống; nhiều người lớn tuổi nhờ tự học, tự nghiên cứu áp dụng kiến thức, kinh nghiệm để sản xuất đã giúp gia đình thoát nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới và đóng góp cho kinh tế-xã hội ở địa phương. Những mô hình mới, những tấm gương sáng về tinh thần học không bao giờ muộn, có nhiều người ở tuổi "thất thập cổ lai hy" những vẫn theo học cao học, làm luận án tiến sĩ chỉ với mục đích học để làm gương cho con cháu noi theo và khuyên con cháu "học, học nữa, học mãi"; "Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại"[4], góp phần để đất nước ta đạt được những thành tựu vĩ đại sau gần 40 năm đổi mới.

Bên cạnh kết quả, thực hiện chủ trương học tập suốt đời vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; việc tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn, ngại khó, ngại khổ trong học tập, không đào sâu suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học. Tình trạng hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chủ nghĩa cá nhân, bệnh kinh nghiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ, chất lượng phục vụ Nhân dân; ảnh hưởng đến tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo, không đủ nền tảng kiến thức và tự tin về năng lực đề xuất và thực hiện những sáng kiến, giải pháp đột phá. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thỏa mãn với kiến thức đã học trong các trường lớp, cơ sở đào tạo, hoặc chạy theo việc học để hoàn thiện bằng cấp đủ điều kiện thăng tiến, không chịu nghiên cứu, học hỏi thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, kiến thức, kỹ năng hội nhập và khả năng thích ứng... Một bộ phận biểu hiện ngại học, không có khái niệm học thường xuyên, học suốt đời nên trở thành lạc hậu, bảo thủ, không thích nghi và bắt nhịp với "guồng quay" hối hả của nhịp sống "vũ bão" thời khoa học và công nghệ 4.0 và X.0.

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: HỌC TẬP SUỐT ĐỜI- Ảnh 2.
Đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới để vươn mình, để "sánh vai" với thế giới như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của toàn dân tộc. Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài đưa đất nước, dân tộc bước vào xã hội giàu mạnh, người dân ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển; hơn lúc nào hết, chúng ta cần có những cán bộ có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh-gọn-mạnh; hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả và thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cách mạng 4.0 đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số khiến một phần nội dung giảng dạy tại nhà trường hôm nay có thể thành lạc hậu, lỗi thời sau vài năm; hơn thế, những điều phổ biến hiện nay thì 10 năm trước còn chưa xuất hiện và có 65% những công việc hiện nay sẽ bị thay thế bởi công nghệ trong những năm tới. Với thế giới phức tạp, không ổn định và biến đổi khôn lường, tri thức phải không ngừng được bổ sung, tuổi thọ con người dài hơn, thời gian về hưu đủ dài, buộc người cao tuổi phải học và hoạt động để không bị lạc hậu với xã hội hiện đại.

Trong bối cảnh đó, học tập suốt đời trở thành một quy luật sống; không chỉ giúp mỗi cá nhân nhận biết, thích nghi, không tụt hậu trước sự biến đổi từng ngày của thế giới hiện tại, làm giàu trí tuệ, hoàn thiện nhân cách, vượt qua khó khăn, thử thách để ngày càng tiến bộ và định vị bản thân trong xã hội hiện đại; cao hơn, đây là chìa khoá quan trọng để nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, là con đường duy nhất, hướng đi tất yếu của mọi quốc gia để đảm bảo sự phát triển thịnh vượng, bền vững. Học tập suốt đời giúp mỗi thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường trở thành nước dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và xã hội chủ nghĩa.

Chỉ khi đẩy mạnh thực chất học tập suốt đời, chúng ta mới giàu có những ý tưởng, giải pháp, sáng kiến để giải quyết những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, những vấn đề mới, chưa có tiền lệ; khắc phục triệt để những "điểm nghẽn" trong cơ chế, chính sách, biểu hiện hình thức trong tự phê bình và phê bình; xóa bỏ tình trạng trì trệ, lúng túng trong giải quyết công việc tại các địa phương, cơ quan, đơn vị; tạo ra được đội ngũ cán bộ dũng cảm, nhận thức đúng quy luật khách quan, chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ, dám nói những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, từ cuộc sống sinh động, từ đòi hỏi của đổi mới và yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; có quyết tâm, dám chịu trách nhiệm về kết quả công việc, lĩnh vực, ngành mà mình đảm trách, dám nhận lỗi, sửa sai, chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, biết làm chủ bản thân và công việc; dám chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng và nếu cần, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân. Khi đó, chúng ta sẽ xây dựng thành công đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, có khát vọng vươn lên, khát vọng phát triển, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình để hiện thực hoá nhiệm vụ cách mạng, tạo ra đột phá vì lợi ích của nhân dân, vì sự phát triển của đất nước.

Xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời chỉ thành công khi mỗi công dân ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với việc tự học tập suốt đời; mỗi cán bộ, đảng viên luôn ý thức rõ học tập suốt đời là nhiệm vụ cách mạng với thái độ nghiêm túc và ý thức tự giác cao. Qua học tập suốt đời để nhận thức được trách nhiệm đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn, thời điểm cụ thể; có năng lực làm chủ, năng lực tổ chức cuộc sống; để không ngừng tiến bộ, có sức khoẻ, có chất lượng sống tốt hơn; hiểu biết, giữ gìn và góp phần xây dựng truyền thống văn hóa dân tộc; tin tưởng vào tương lai đất nước, vào đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mỗi công dân cần không ngừng học tập về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp, kinh nghiệm làm việc và khả năng phối hợp trong tập thể để nâng cao tính kỷ luật của tổ chức, năng suất lao động và phát huy sức mạnh tổng hợp; mỗi cán bộ, đảng viên cần học về tư cách người cán bộ cách mạng, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân; không ngừng tự học tập, tự cập nhật kiến thức mới, tham gia tích cực phong trào "học tập số", phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học công nghệ, kiến thức số; tích cực tuyên truyền, vận động người thân, gia đình, dòng họ tự học tập suốt đời. Qua học tập suốt đời để hoàn thành được mọi nhiệm vụ mà Đảng, cách mạng và nhân dân giao phó.

Mỗi cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp cần nhận thức rõ mục tiêu chính của học tập suốt đời là phát triển con người xã hội chủ nghĩa, từ đó xác định các nội dung học tập suốt đời cho cán bộ, đảng viên, thành viên gắn với phát động thi đua, đánh giá, biểu dương, khen thưởng. Đảng, Nhà nước sẽ sớm tổng kết, đánh giá, nghiên cứu ban hành quy định, quy trình, đổi mới quan điểm đánh giá, sàng lọc, quy hoạch đội ngũ cán bộ, nhằm xây dựng hoàn chỉnh bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh, hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân; bảo vệ cán bộ sẵn sàng đi tiên phong, sẵn sàng "vượt rào" đột phá vì lợi ích chung. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục theo định hướng mở, linh hoạt, liên thông, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi công dân và thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động. Có các giải pháp cụ thể nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, ý nghĩa của học tập suốt đời và sự đóng góp của học tập suốt đời đối với nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của nguồn nhân lực quốc gia. Theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện thí điểm các đề xuất đổi mới, sáng tạo; chủ động phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời động viên, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hoặc xem xét, điều chỉnh, có quyết định phù hợp với tình hình thực tế; có chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại do nguyên nhân khách quan.

Chúng ta đang sống trong thời đại mà mà tri thức, kiến thức, hiểu biết sẽ giúp con người phát huy cao độ tiềm năng để tận dụng tốt các cơ hội, ứng phó hiệu quả với những thách thức để phát triển bền vững; cũng là thời đại mà khối lượng kiến thức của nhân loại tăng lên hằng ngày theo cấp số nhân. Chỉ khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhà nhà, người người thực hiện hiệu quả học tập suốt đời, xây dựng được đội ngũ cán bộ dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, chúng ta mới vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng./.
-------------------
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.6, tr.61
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.333
[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t1, tr.137
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.208.
Yêu nước ST.

Kẻ phá hoại mang tên "nặc danh"

Chuyện tán phát đơn thư nặc danh nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân, gây tư tưởng hoài nghi, mất đoàn kết nội bộ, nhất là trước thềm đại hội đảng các cấp vốn không có gì xa lạ. Gần đây, hành vi tiêu cực, phá hoại, đáng lên án này có xu hướng diễn biến phức tạp, khó dự báo.

Nặc danh là thoái hóa

Hành vi tố cáo nặc danh là trò "ném đá giấu tay", vốn là hành vi của những kẻ xấu xa, đáng buồn là trong số đó có cả cán bộ, đảng viên.

Theo Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn vẫn tiềm ẩn phức tạp, còn tình trạng công dân gửi đơn đến nhiều nơi, vượt cấp, có nhiều đơn trùng, đơn khuyết danh, mạo danh hoặc hết thời hiệu xử lý; một số vụ việc đã được các cấp, các ngành giải quyết hết thẩm quyền, có lý, có tình, nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo. Còn tại Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng, từ năm 2020 đến nay, Ban Nội chính Tỉnh ủy đã tiếp nhận và xử lý tổng số 54 đơn tố cáo nặc danh. 

Xét về bản chất, tố cáo nặc danh là hành vi xấu xí của những người không có ý thức xây dựng tập thể; thiếu tinh thần trung thực, thẳng thắn; thiếu “chí công vô tư” đối với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, tình trạng tố cáo nặc danh ngày càng trở nên phức tạp và khó lường. Không chỉ đơn thư nặc danh mà còn có những biến tướng như: Cuộc gọi, tin nhắn thoại, tin nhắn văn bản, thư điện tử, đáng chú ý là hiện tượng sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để thu âm giọng nói giả, dàn dựng, cắt ghép video clip, nhất là video clip “nóng” để đe dọa, tống tiền...

Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã nhấn mạnh: Cần giải quyết dứt điểm, đúng quy định đơn, thư tố cáo, khiếu nại, trước hết là đối với những tổ chức đảng, đảng viên có liên quan trực tiếp đến nhân sự đại hội; kiên quyết xử lý đối tượng lợi dụng dịp tổ chức đại hội để tố cáo sai sự thật, gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến nhân sự đại hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi nặc danh nhưng về cơ bản là xuất phát từ tư tưởng vị kỷ, hẹp hòi, lòng hận thù, sự ganh ghét, đố kỵ, nhất là những mâu thuẫn liên quan đến tình cảm, kinh tế, quyền lợi, địa vị...

Tình trạng này không chỉ tồn tại ở riêng một cơ quan, đơn vị nào mà diễn ra ở nhiều tổ chức, đoàn thể, địa phương. Đối tượng tiến hành cũng rất đa dạng, bao gồm những người có mâu thuẫn trực tiếp và cả thành phần bị xúi giục, cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc...

Thông qua đó nhằm thực hiện mục đích tống tiền hoặc bôi xấu, làm giảm sút niềm tin của tập thể đối với cá nhân, tiến tới “hạ bệ” đối phương. Nếu không chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý, ngăn chặn kịp thời sẽ trở thành mầm mống nguy hiểm dẫn đến tư tưởng hoài nghi, mất đoàn kết nội bộ; làm vướng bận lãnh đạo, chỉ huy; gây phương hại cho tập thể, cá nhân; nguy hiểm hơn là tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá.

Phát huy dân chủ đi đôi với siết chặt kỷ cương

Đơn thư nặc danh là hành vi không có giá trị, bởi lẽ: “Khi nhận được thông tin có nội dung tố cáo nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo hoặc qua kiểm tra, xác minh không xác định được người tố cáo hoặc người tố cáo sử dụng họ tên của người khác để tố cáo hoặc thông tin có nội dung tố cáo được phản ánh không theo hình thức quy định tại Điều 22 của Luật này thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không xử lý theo quy định của Luật này”.

Trong Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm cũng đã chỉ rõ, đảng viên không được: “Tố cáo có nội dung mang tính bịa đặt; cùng người khác viết, ký tên trong đơn tố cáo; viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Gửi hoặc tán phát đơn khiếu nại, tố cáo dưới mọi hình thức đến nơi không có thẩm quyền giải quyết”.

Để khắc phục tình trạng nêu trên, cần tăng cường phát huy dân chủ đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Bởi lẽ, phát huy rộng rãi dân chủ sẽ góp phần khơi dậy, động viên trí tuệ, sáng tạo của tập thể; bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân; củng cố, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng và toàn xã hội; đồng thời, là biện pháp quan trọng để ngăn chặn, phòng ngừa những biểu hiện tiêu cực.

Mặt khác, siết chặt kỷ luật, kỷ cương sẽ góp phần tạo sức răn đe để mỗi cán bộ, đảng viên luôn nâng cao tinh thần “thượng tôn pháp luật”; khắc phục tình trạng “dân chủ” quá trớn, “dân chủ” vô nguyên tắc mà nặc danh chính là một biểu hiện cụ thể.

Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần thường xuyên học tập, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, đặc biệt là Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Hướng dẫn số 02-HD/TW ngày 9-12-2021 về hướng dẫn thực hiện một số nội dung Quy định số 22-QĐ/TW; Luật Tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành...; đồng thời, xác định đây là bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân.

Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị cần tăng cường các biện pháp quản lý, thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng, kịp thời giải quyết thỏa đáng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các đối tượng thuộc quyền; triển khai chặt chẽ, thận trọng, đúng quy trình ở từng khâu, từng bước các mặt công tác, nhất là những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm như: Công tác nhân sự cán bộ, công tác thi đua-khen thưởng, công tác chính sách... không để xảy ra tình trạng quan liêu, độc đoán, mất dân chủ, gây bức xúc dẫn đến tố cáo sai quy định, tố cáo vượt cấp hoặc tố cáo nặc danh...

Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ, đảng viên khi tham gia sinh hoạt thì “nhất ngồi lỳ, nhì đồng ý” nhưng sau khi có quyết nghị của tập thể lại cố tình thực hiện hành vi phá hoại.

Sưu tầm

Đánh giá cán bộ

KHÂU QUAN TRỌNG NHẤT LẠI LÀ KHÂU YẾU NHẤT?

Quan trọng là như thế, ấy vậy mà Đại hội XII của Đảng vẫn phải đau xót thừa nhận: “Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu nhất qua nhiều nhiệm kỳ”. Câu hỏi đặt ra là trong rất nhiều thiết sót, lỗi lầm mắc phải, phải chăng vì chúng ta đangthiếu những cán bộ trong sạch, có đủ tâm, đủ tầm, có văn hóa lãnh đạo... cho nên mới phát hiện, giới thiệu, bồi dưỡng thế hệ cán bộ kế tiếp không trong sạch, không có tâm, chưa đủ tầm, thiếu văn hóa?Phải chăng do phương pháp phát hiện, đánh giá cán bộ của chúng ta còn chưa chuẩn mực; hay do chính lỗi thờ ơ, vô cảm của mỗi đảng viên trong hàng triệu đảng viên đã tạo nên mảnh đất màu mỡ cho "mầm" sai phạm lớn lên.

Chọn sai cán bộ là có tội với đồng bào

Muốn phát hiện, chọn được cán bộ tốt, mỗi cán bộ trước hết phải sửa mình như lời Bác dạy: "Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng"... thì chúng ta mới có thể giới thiệu cho Đảng những người có đủ đức, đủ tài, có văn hóa lãnh đạo, hành xử nhân văn... khi họ gánh vác việc quản trị quốc gia.

Để phát hiện, đánh giá đúng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng. Chẳng những xem xét công tác của họ, mà còn phải xét cách sinh hoạt của họ. Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không. Chẳng những xem xét họ đối với ta thế nào, mà còn phải xem xét họ đối với người khác thế nào. Phải biết ưu điểm của họ, mà cũng phải biết khuyết điểm của họ, không nên chỉ xem công việc của họ trong một lúc, mà phải xem cả công việc của họ từ trước đến nay.

 Cố Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: Trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, ở bất kỳ lĩnh vực, địa phương nào, cán bộ bao giờ cũng đóng vai trò quyết định; công tác cán bộ không chỉ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng, nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Không phải ngẫu nhiên mà Bác Hồ bắt đầu chuẩn bị thành lập Đảng bằng việc đào tạo và huấn luyện cán bộ. Bác khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém"; "Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng".

Biết rõ cán bộ mới có thể cất nhắc một cách đúng mực. Cất nhắc cán bộ, phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất định chạy. Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào. Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gũi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không. Lại phải xem người ấy xứng với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc. Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ.

Thế nhưng, thực tế mấy năm qua đã chứng minh, việc phát hiện, đánh giá cán bộ còn nhiều sơ hở, sai sót, vì thế mà đã "lọt lưới" nhiều cán bộ biến chất, nhưng lại giữ chức vụ cao trong bộ máy công quyền. Việc phát hiện, đánh giá cán bộ theo “cảm tính”, theo mối quan hệ “thân thuộc” cộng thêm tình trạng nể nang, né tránh khi đánh giá, nhận xét cán bộ cấp trên… được cho là một trong các nguyên nhân hà hơi tiếp sức cho nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao, thậm chí cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương, Bộ trưởng, Thứ trưởng... "leo" lên các vị trí trọng yếu... hòng vun vén lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm.

Thật đáng buồn khi công tác phát hiện, đánh giá sai cán bộ khiến chúng ta trả giá đắt. Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trong phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng năm 2019, triển khai nhiệm vụ năm 2020, ngày 10/01/2020 chỉ rõ: Từ năm 2016 đến nay, đã thi hành kỷ luật 1.111 tổ chức Đảng, 18.265 cấp ủy viên các cấp và 54.573 đảng viên. Trong đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật 8 tổ chức Đảng, 45 đảng viên; Ủy ban Kiểm tra Trung ương thi hành kỷ luật 111 đảng viên. Trong số đảng viên bị kỷ luật, có 92 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, gồm: 2 ủy viên Bộ Chính trị, 21 ủy viên và nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 38 sĩ quan trong lực lượng Công an, Quân đội… Nhìn vào con số như thế này, có đảng viên chân chính nào lại không đau lòng.

Thời gian vừa qua, không ít trường hợp cán bộ được bổ nhiệm “thần tốc”, trái quy định của Đảng và Nhà nước, gây bức xúc trong dư luận nhân dân. Một chủ doanh nghiệp tư nhân sau gần 5 tháng đã trở thành một cán bộ tương đương cấp sở; một nữ nhân viên sau một thời gian ngắn đã lên chức trưởng phòng và còn tiếp tục được quy hoạch chức danh phó giám đốc sở; tình trạng bổ nhiệm người nhà, người thân đã trở thành phổ biến ở một số địa phương khi câu nói cả họ làm quan trở thành sự mỉa mai của người dân khi nói về công tác cán bộ. Điều đáng nói là những hành vi vi phạm như thế diễn ra trong một thời gian dài.

Nguyên nhân thì đã được chỉ rõ: Chủ yếu là do kẽ hở trong cơ chế, quy chế, quy định để cán bộ xấu có thể "vận dụng" và cố tình "lách" làm khác, làm trái. Báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương tại Hội nghị toàn quốc ngành Tổ chức Xây dựng Đảng năm 2017 nhận định rằng: “Công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế, yếu kém, sơ hở; còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, cấp trên “sợ” cấp dưới trước thời điểm lấy phiếu tín nhiệm hoặc đánh giá cán bộ cuối năm. Còn tình trạng cấp dưới chưa thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả sự chỉ đạo, lãnh đạo của cấp trên. Ở một số nơi, một số trường hợp tuy thực hiện “đúng” quy trình nhưng vẫn không chọn “trúng” người, “đúng” việc, gây bức xúc trong xã hội, như các trường hợp: Nguyễn Xuân Sơn, Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đình Duy... Tình trạng trên phải chăng là do: Còn sơ sài, thiếu chặt chẽ, thiếu dân chủ trong việc giới thiệu quy hoạch, giới thiệu nhân sự. Còn kẽ hở trong quy trình, thủ tục thẩm định, đề bạt, điều động, bổ nhiệm”?.

Đánh giá, bố trí sử dụng cán bộ không thể nể nang, cục bộ

Sở dĩ chúng ta làm chưa tốt khâu phát hiện và đánh giá cán bộ;  chưa có những tiêu chí cụ thể và giải pháp khoa học để khắc phục tình trạng này chính là do không ít cán bộ, đảng viên của chúng ta chưa thực sự trong sạch; chưa thực sự chí công vô tư. Đúng như Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng khẳng định: “Đánh giá, bố trí sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ”.

Kinh nghiệm cho thấy, chỉ có phát hiện đúng người thực sự trong sạch, thực sự tự trọng, thực sự vì nước,vì dân từ khi còn chưa là cán bộ "to", rèn luyện họ và bố trí họ đúng nơi, đúng việc, có sự giám sát chặt chẽ của các cấp ủy đảng và nhân dân, thì mới làm cho họ thấy rõ trách nhiệm lớn lao của mình mà chuyên tâm việc chính nghĩa, chứ không phải để cho họ thấy các kẽ hở, thấy lợi lộc mà đắm chìm vào. Đánh giá đúng cán bộ là công việc khó khăn, phức tạp, song để xây dựng đội ngũ cán bộ; bố trí, sử dụng đúng cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới thì nhất thiết phải tiến hành nghiêm túc và thực chất phần việc này.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã chứng minh, trong bất kỳ giai đoạn, triều đại  hay chế độ nào, việc dùng người luôn là công việc hệ trọng liên quan trực tiếp tới sự an - nguy, thịnh – suy và tồn vong của một quốc gia. Vì thế, ngay từ khi nước Việt Nam mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi việc phát hiện, rèn luyện, sử dụng cán bộ là khâu trọng yếu: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”. Mà cái gốc của người cán bộ như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong bài viết: "Về một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng", chỉ rõ: "Người cán bộ phải vừa có Đức, vừa có Tài, trong đó Đức là gốc". Chữ Đức của người cán bộ, như Bác Hồ dạy chính là người cán bộ cần -kiệm - liêm - chính. Người cán bộ có đức sẽ làm cho tài năng thêm phát triển, bởi người thực sự có đức bao giờ cũng khiêm tốn, chịu khó học tập, phấn đấu nâng cao tài năng của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng giao cho.

Đáng tiếc, thời gian qua, rất nhiều cán bộ thay vì suy nghĩ để nêu ra chương trình hành động; rèn luyện đạo đức, tác phong, học tập nâng cao trình độ chuyên môn hay trau dồi lý luận chính trị thì lại bày mưu tính kế, tập hợp nhóm lợi ích, phân chia quyền lợi, sống phè phỡn, đục khoét ngân sách của đất nước. Thứ họ thiếu lớn nhất để trở thành một cán bộ có tâm, có tầm, hết lòng vì nước, vì dân chính là lòng tự trọng. Khi họ không còn lòng tự trọng nữa, họ tìm mọi cách để đạt được mục đích "làm quan" nhằm thỏa mãn dục vọng cá nhân. Họ không từ một thủ đoạn nào, từ quỵ lụy, cúi mình nịnh nọt, chạy chọt, làm hại đồng loại để mưu lợi cho mình, để đặt được chân vào hệ thống lãnh đạo.

Thật đau buồn là con số cán bộ đánh mất lòng tự trọng vẫn còn tồn tại. Trước mỗi kỳ Đại hội Đảng các cấp, những con người đánh mất tự trọng ấy lại tham gia một cuộc marathon với những bước chạy không bao giờ kết thúc: Chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy phiếu bầu, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội... Và cũng chính sự thờ ơ, vô cảm, thiếu dũng khí của nhiều đảng viên đã "chắp cánh" cho những tham quan này tồn tại; sự thiếu dũng cảm của hàng ngàn đảng viên cũng gián tiếp sinh ra một thế hệ cán bộ chỉ muốn leo cao để vơ vét cá nhân như Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh... và nhiều cán bộ khác nữa.

Nói ra những điều đau đớn như thế để thấy, đánh giá cán bộ là khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước. Kết quả đánh giá cán bộ là cơ sở cho việc quyết định bố trí, sử dụng hợp lý đối với cán bộ, tạo niềm tin cho nhân dân. Để góp phần thực hiện tốt khâu quan trọng là đánh giá cán bộ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”; ban hành Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế, kết luận, quy trình… nhằm từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ để thực hiện, như: Quy định số 89-QĐ/TW về khung tiêu chuẩn chức danh, khung tiêu chí đánh giá đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Quy định số 90-QĐ/TW về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá đối với cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý; Quy định số 105-QĐ/TW về phân cấp quản lý cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử…

Có thể thấy rõ, việc có được bộ tiêu chí như vậy mới chỉ phần nào khắc phục được tình trạng thiếu chuẩn mực trong đánh giá cán bộ hiện nay. Để khắc phục tình trạng này, bảo đảm dân chủ, công bằng, công khai, chính xác và gắn trách nhiệm cụ thể đối với việc phát hiện, đánh giá cán bộ, cần mạnh dạn áp dụng các phương pháp đánh giá cán bộ tiên tiến, như dựa trên những quy định về tiêu chuẩn của từng chức danh; tiêu chí đánh giá đối với từng đối tượng cán bộ; hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị của họ theo chức trách nhiệm vụ được giao, thể hiện ở khối lượng, chất lượng hiệu quả công tác trên các lĩnh vực họ được phân công lãnh đạo, quản lý. Ngoài ra cũng cần tính tới những yếu tố mang tính khoa học như thời gian hoàn thành công việc đó nhanh hay chậm; cách thức xử lý tình huống có thỏa đáng và những giải pháp sáng tạo trong công việc cũng như xem xét tiến trình tại nhiều thời điểm khác nhau... Mục đích cuối cùng là tìm ra chân giá trị thực sự của người cán bộ có đức, có tài, có văn hóa để tiếp tục bồi dưỡng, rèn luyện, sử dụng.

Sưu tầm

Tuyển chọn, đào tạo, rèn luyện cán bộ cần đặt lên hàng đầu

Công tác cán bộ cực kỳ phức tạp vì nó liên quan đến con người, là "công tác con người". Chính vì thế, quá trình tuyển chọn, rèn luyện, đào tạo, sử dụng và quản lý, giám sát cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp cao, cán bộ quản lý nhiều con người, nhiều tài sản đòi hỏi công tâm, minh bạch, tỷ mỉ, sâu sát nhưug cũng phải rất nhân văn. Việc rèn luyện cán bộ phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, công tâm, để những cán bộ của Đảng phải thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực. Những bài học đau lòng trong thời gian qua về xử lý cán bộ sai phạm nhắc nhở mỗi chúng ta không bao giờ được buông lỏng công tác rèn luyện, giáo dục cán bộ.

Kiên quyết loại bỏ những cán bộ không còn đủ phẩm chất

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam từng nhiều lần khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Xuất phát từ quan điểm đó, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Ngay trong thời gian chuẩn bị thành lập Đảng, Người đã đặt công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ lên hàng đầu; tập hợp những thanh niên yêu nước, mở các lớp huấn luyện để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, với đội ngũ cán bộ vững vàng, kiên định, dày dạn bản lĩnh, được tôi luyện qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, quân và dân ta đã lập nên những kỳ tích trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, làm rạng danh đất nước Việt Nam.

Cùng với đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng tốt đội ngũ cán bộ, điều rất quan trọng là phải thường xuyên và kiên quyết đấu tranh, làm trong sạch bộ máy, loại bỏ những cán bộ không đủ phẩm chất. Ngay từ những ngày đầu của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quyết tâm đấu tranh chống những căn bệnh dễ mắc trong bộ máy Nhà nước: Làm trái, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, hách dịch, ăn hối lộ, hủ hóa. Tháng 11/1946, trả lời trước kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I về những thành viên của Chính phủ không trong sạch, Người nói: “Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết”.

Công tác cán bộ là công tác cực kỳ phức tạp, vì nó liên quan đến con người, là "công tác con người". Chính vì thế, sau khi phát hiện được cán bộ, công việc rèn giũa cán bộ phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, thật sự trong sáng, khách quan để những cán bộ của Đảng phải tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác. Hay nói cách khác là phải vừa có đức vừa có tài, trong đó đức là gốc.

Kế thừa tư tưởng trên, trong các giai đoạn sau này, công tác cán bộ luôn được Đảng ta coi trọng. Qua mỗi kỳ đại hội, quan điểm, tư tưởng đổi mới công tác tổ chức cán bộ càng được thể hiện rõ hơn, phù hợp hơn với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng ở mỗi giai đoạn. Nhiệm kỳ nào, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị cũng ban hành nghị quyết, chỉ thị chuyên đề hoặc đề cập đến những vấn đề liên quan đến công tác tổ chức cán bộ: Hội nghị Trung ương 3, khóa VII có Nghị quyết về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; các hội nghị Trung ương trong nhiệm kỳ Đại hội VIII ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về công tác tổ chức cán bộ; Hội nghị Trung ương 6, khóa IX ban hành Kết luận về việc tiếp tục thực hiện các Nghị quyết Trung ương 3, khóa VII và các Hội nghị Trung ương 3, Hội nghị Trung ương 7, khóa VIII về công tác tổ chức cán bộ… Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 khóa VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 9 khóa X, Đảng ta đã nhận định, đội ngũ cán bộ có sự trưởng thành cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Phần đông cán bộ được đào tạo cơ bản cả về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và kiến thức khoa học, được nâng cao về trình độ nhận thức, trình độ quản lý và khả năng vận dụng lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII cũng đã phân tích đánh giá cụ thể và chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong công tác cán bộ. Trong đó, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ rõ: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái”.

Cần quy trình chặt chẽ, khoa học, nhất quán, công tâm

Công tác cán bộ là công tác cực kỳ phức tạp, vì nó liên quan đến con người, là "công tác con người". Chính vì thế, sau khi phát hiện được cán bộ, công việc rèn giũa cán bộ phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, thật sự trong sáng, khách quan để những cán bộ của Đảng phải tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác. Hay nói cách khác là phải vừa có đức vừa có tài, trong đó đức là gốc.

Để giáo dục, rèn luyện đảng viên, trước hết cần hiểu rõ, trong mỗi con người hay một tập thể đều tồn tại cả mặt tốt và xấu, cái thiện và cái ác, tính lành và tính dữ, vì vậy, phải dựa chắc vào những mặt tốt, những nhân tố tích cực để từng bước đấu tranh, khắc phục những mặt ch­ưa tốt trong mỗi tổ chức, mỗi con người; phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con ng­ười nảy nở như­ hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi.

Chính vì tầm quan trọng của công tác này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã thẳng thắn chỉ rõ: Không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cho cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán; trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình; để nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng hoặc để xảy ra tham nhũng, thất thoát, vụ việc tiêu cực lớn ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, kiên quyết không để lọt những người không chịu nghiên cứu học hỏi; bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức, uy tín giảm sút; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính... Nói tóm lại là thiếu rèn luyện.

Nhìn vào thực tế có thể thấy bên cạnh những thành tựu nổi bật, vẫn còn những mặt yếu kém xuất phát từ nhận thức về tư tưởng, chính trị kém dẫn tới phai nhạt lý tưởng và sa sút phẩm chất đạo đức. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã khẳng định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”, nguyên nhân do công tác rèn luyện cán bộ đảng viên chưa làm tốt. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ khoá XII đến nay, gần 100 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý đã bị kỷ luật; một số cán bộ đã bị xử lý hình sự. Sự thiếu rèn luyện ở một bộ phận không ít cán bộ, đảng viên đã và đặt ra yêu cầu giáo dục, rèn luyện, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên càng trở nên cấp thiết.

Tăng cường công tác rèn luyện, giám sát cán bộ để cán bộ không bị "lạc lối" đã được Đảng đặc biệt quan tâm. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã trở về với đúng vị trí: Là công việc gốc của Đảng khi đặt trong mối quan hệ với nội dung vai trò của cán bộ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ hiện nay đã được tiến hành thường xuyên, có sự kiểm tra sát xao, theo hướng rèn cán bộ phải “lấy tự học làm cốt"; học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn với thực tế.

Nói thì to tát như vậy song rèn cán bộ chỉ gói gọn là rèn đức và rèn tài. Bởi vì, suy cho cùng, đã làm cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo đư­ợc nhân dân. Quá trình giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên cũng chính là quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân - là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, là nguồn gốc, nguyên nhân sinh ra quan liêu, cửa quyền công thần, kiêu ngạo, tham ô, lãng phí và bao điều xấu xa khác. Để thành công, cả tập thể cần tích cực tự phê bình và phê bình trong nội bộ mỗi tổ chức Đảng; th­ường xuyên xây dựng và chỉnh đốn Đảng cũng là một trong những biện pháp quan trọng để giáo dục, rèn luyện đảng viên, xây dựng đội ngũ đảng viên đủ "đức" và "tài" đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng. Cuộc đấu tranh khắc phục những mặt xấu, xây dựng những mặt tốt của mỗi cán bộ, đảng viên không tách rời sự giáo dục của Đảng, của tổ chức, của đoàn thể, nh­ưng trực tiếp quyết định vẫn là nhân tố chủ quan của từng con ngư­ời cụ thể.

Ngọc càng mài càng sáng

Nhân cách của cán bộ lãnh đạo là tổng hòa các yếu tố về phẩm chất và năng lực, nhất là yêu cầu về đạo đức. Nói một cách dễ hiểu nó là tổng hòa của tài và đức. Theo Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng phải có đủ tài và đức - đó là điều kiện cần và đủ; trong đó, đạo đức được coi là gốc của nhân cách và tài giữ vai trò quan trọng. Khắc ghi lời Bác dặn “Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn… chính trị là đức, chuyên môn là tài. Có tài mà không có đức thì hỏng”, cho nên người cán bộ không những phải luyện tài: làm giàu tri thức, bồi dưỡng tư duy, cách nhìn tổng thể, biện chứng, chủ động, sáng tạo... mà còn phải rèn luyện đạo đức cách mạng, như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Và quan điểm của Bác khi rèn luyện một người cán bộ thật giản dị và thiết thực. Bác dạy cán bộ của mình và Bác gương mẫu thực hành cần-kiệm - liêm-chính. Những ai thực sự cần - kiệm - liêm- chính thì đó chính là người cán bộ có đạo đức. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định, người cán bộ phải vừa có đức vừa có tài, trong đó đức là gốc.

Điều này phù hợp với định hướng của Đảng ta về công tác cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược. Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan khi nói về công tác cán bộ đã thẳng thắn chỉ ra: Trong tình hình mới có nhiều thay đổi, công tác rèn luyện cán bộ của chúng ta còn nhiều sơ hở, liên quan tới cả cán bộ cấp cao, có cả cấp Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương, bộ trưởng... Để đào tạo được đội ngũ cán bộ chiến lược mẫu mực, cần cả "tâm" và "tầm". Tâm và tầm thực chất chính là đạo đức và tài năng. Càng là cán bộ cấp cao thì càng đòi hỏi cao hơn về hai yếu tố này. Bởi vì, người cán bộ cấp cao, cán bộ chiến lược điều cần nhất là sự trong sạch (trong sạch ắt phải là người cần-kiệm - liêm-chính), vì không trong sạch thì không thể nói được ai, chỉ đạo được cái gì. Còn tài năng chính là việc nhìn xa trông rộng. Cán bộ chiến lược khác người thường ở chỗ, người thường chỉ nhìn cái cụ thể, còn cán bộ chiến lược phải có hiểu biết rộng, từ đó đề ra những quyết sách mang tính chiến lược của quốc gia.

Như vậy có thể thấy, tư tưởng của Bác về cần-kiệm - liêm-chính không chỉ dừng ở những chi tiết cụ thể, mà từ những điều cụ thể ấy, nó bao hàm ý nghĩa lớn lao hơn rất nhiều, đó là tương lai, là sinh mệnh của đất nước. Điều ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị nhân văn và tính thời sự nóng hổi, thiết thực đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn dân.

Sưu tầm

Xứng đáng là lực lượng nòng cốt giữ vững “phên giậu” Tổ quốc.

 Ngày 3-3-1959, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 100/TTg thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang (CANDVT) - tiền thân của Bộ đội Biên phòng (BĐBP) ngày nay. Từ đây nước ta chính thức có một lực lượng vũ trang chuyên trách công tác nội địa, biên phòng, tập trung thống nhất từ trung ương đến cơ sở. Cũng từ đó, ngày 3-3 hằng năm trở thành Ngày truyền thống của BĐBP.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó

Ngay từ khi ra đời, tuy thiếu thốn nhiều mặt nhưng cán bộ, chiến sĩ BĐBP đã nhanh chóng triển khai lực lượng, xây dựng đồn, trạm, vận động người dân và đồng bào dân tộc định canh, định cư; xây dựng cơ sở chính trị; phòng tuyến bảo vệ biên giới, bờ biển, giới tuyến quân sự tạm thời, bảo vệ Đảng, Nhà nước và các mục tiêu nội địa quan trọng.

Trong các giai đoạn khác nhau của cuộc kháng chiến giành độc lập tự do cho dân tộc, nhất là trong các giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các đơn vị BĐBP đã tích cực tham gia chống chiến tranh phá hoại miền Bắc; làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào; chi viện cho cách mạng miền Nam, bảo vệ Trung ương Cục, bảo vệ vùng giải phóng; tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.      

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã mở ra giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam, giai đoạn cả nước cùng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, lúc này, bọn phản động câu kết với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch triển khai kế hoạch “hậu chiến” hòng chống đối chính quyền, chống phá lâu dài cách mạng Việt Nam.

Trước tình hình đó, những người lính quân hàm xanh đã khẩn trương triển khai hệ thống đồn, trạm, vận động nhân dân xây dựng phòng tuyến bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, cùng các đơn vị của Quân đội, Công an và nhân dân cả nước đấu tranh chống kế hoạch “hậu chiến”, củng cố hệ thống chính trị cơ sở mới thành lập ở các tỉnh biên giới phía Nam.

Không chỉ giữ vững biên cương Tổ quốc, BĐBP còn thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Với quan điểm “giúp bạn là tự mình giúp mình”, BĐBP đã giúp bạn Lào củng cố cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, bảo vệ trị an, phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân; cùng lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia đấu tranh chống Khmer Đỏ, đánh đổ chế độ diệt chủng ở Campuchia.

Tấm lòng đoàn kết, thủy chung, tình hữu nghị vô tư, trong sáng của người chiến sĩ quân hàm xanh Việt Nam đã để lại những tình cảm tốt đẹp trong lòng nhân dân nước bạn Lào và Campuchia, góp phần tăng cường tình đoàn kết, hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng.

Kế thừa truyền thống, đổi mới đồng bộ, toàn diện công tác biên phòng, xây dựng BĐBP vững mạnh toàn diện

Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, công tác biên phòng đứng trước những yêu cầu mới: Vừa phải giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới Tổ quốc, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu, hợp tác, phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và nhân dân.

Ngày 8-8-1995, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) ra Nghị quyết số 11-NQ/TW về “Xây dựng BĐBP trong tình hình mới” đã quyết định chuyển lực lượng BĐBP từ Bộ Công an sang Bộ Quốc phòng và xác định nhiệm vụ công tác biên phòng trong tình hình mới. Ngày 28-9-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về "Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia". Đây là một chiến lược quan trọng, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối quốc phòng, an ninh, thể hiện rõ tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng về xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 8-8-1995 và Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28-9-2018, Bộ tư lệnh BĐBP tham mưu Bộ Quốc phòng trình Quốc hội và Chính phủ ban hành những văn bản pháp luật hết sức quan trọng về xây dựng Bộ đội Biên phòng và nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng để từ đó làm cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng, tiến hành các hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới và thực thi nhiệm vụ, công tác biên phòng trong tình hình mới.

Theo đó, trong những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật của BĐBP tiếp tục lập thành tích cao khi phá được nhiều đường dây ma túy, buôn lậu, xuất nhập cảnh trái phép, mua bán người… có tổ chức, xuyên quốc gia. BĐBP tích cực xây dựng nền biên phòng toàn dân gắn với thế trận biên phòng toàn dân; tích cực tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, góp phần nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động nhân dân tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới của Tổ quốc.

Công tác đối ngoại biên phòng cũng là một điểm sáng trong đối ngoại quốc phòng. Những năm qua, Bộ tư lệnh BĐBP đã ký khoảng 60 văn bản hợp tác về biên phòng với lực lượng quản lý, bảo vệ biên giới các nước láng giềng; giải quyết hài hòa, đúng chủ trương, đối sách, pháp luật các vụ việc về biên giới, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, tạo sự ổn định trên biên giới. Các đơn vị BĐBP đã duy trì và thực hiện tốt công tác phối hợp với lực lượng bảo vệ biên giới các nước láng giềng trong quản lý, bảo vệ biên giới, đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép, góp phần xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Định kỳ hằng năm tổ chức các cuộc diễn tập phòng, chống tội phạm, di cư tự do, xuất nhập cảnh trái phép, tuần tra liên hợp nhằm nâng cao khả năng phối hợp giữa các lực lượng hai bên biên giới. Tổ chức gần 200 cặp đồn-trạm Biên phòng kết nghĩa với các đơn vị bảo vệ biên giới nước bạn và trên 200 cụm bản hai bên biên giới.

Trải qua 66 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ BĐBP luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, lập nhiều chiến công hiển hách, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới, giữ gìn bình yên cho nhân dân; tích cực tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Không chỉ là “lá chắn thép” nơi biên cương, BĐBP còn góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, phát triển, tô thắm truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ biên giới, giữ vững “phên giậu” Tổ quốc.